Thứ Ba, 23 tháng 1, 2024

Không có chức danh nghề nghiệp Phóng viên cao đẳng

 

Năm 2014, ông N.H. Quỳnh được UBND cấp huyện tuyển dụng là viên chức tại Đài Truyền thanh huyện, trình độ Cao đẳng báo chí, ngạch Phóng viên cao đẳng, mã 17a.144.

Tháng 10/2022, ông Quỳnh học xong Đại học Luật và có thêm bằng Trung cấp lý luận chính trị, Quản lý nhà nước chương trình chuyên viên.

Ông Quỳnh hỏi, với những tiêu chuẩn trình độ như trên thì ông đã đủ điều kiện để thay đổi chức danh nghề nghiệp sang ngạch Phóng viên hạng III chưa?

Về vấn đề này, Bộ Thông tin và Truyền thông trả lời như sau:

Theo quy định của pháp luật từ trước đến nay (Quyết định số 428/TCCP-VC ngày 2/6/1993 của Bộ trưởng – Trưởng Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ về việc ban hành tiêu chuẩn nghiệp vụ ngạch công chức ngành Văn hóa – Thông tin; Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTTTT-BNV ngày 7/4/2016 của Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Nội vụ; Thông tư số 13/2022/TT-BTTTT ngày 26/8/2022 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông), phóng viên chỉ có 3 hạng (hạng III, hạng II và hạng I), không có quy định về chức danh nghề nghiệp Phóng viên cao đẳng.

Đề nghị ông Quỳnh làm việc với đơn vị nơi công tác để nghiên cứu, xem xét quy định về xét chuyển chức danh nghề nghiệp tại Điều 29 và Điều 30 Nghị định số 115/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức Phóng viên hạng III hoặc Biên tập viên hạng III đã được quy định tại Thông tư số 13/2022/TT-BTTTT để bảo đảm quyền lợi, chế độ theo quy định của pháp luật.

Bệnh hình thức khiến con người bị mê hoặc và hủy hoại nền tảng tinh thần xã hội

Không ngẫu nhiên mà Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra rằng, phải “kiên quyết khắc phục bệnh hình thức”, vì đây là những biểu hiện lệch chuẩn văn hóa, lệch chuẩn đạo đức. Đã nói đến lệch chuẩn giá trị văn hóa có nghĩa là đã chỉ ra nguy cơ lâu dài cho sự phát triển bền vững của đất nước, dân tộc. Do đó, việc nhận diện, phê phán, khắc phục bệnh hình thức cần phải được coi là một trong những việc làm cấp bách hiện nay nhằm giữ gìn nền tảng tinh thần lành mạnh cho quốc gia và thể chế chính trị-xã hội. 1. Mong muốn có vẻ ngoài đẹp đẽ, hấp dẫn người khác là một khao khát chính đáng của con người. Nhu cầu trang điểm, làm đẹp xuất hiện. Ban đầu nó là một nhu cầu tâm lý lành mạnh, hướng tới cái đẹp. Đó là nhu cầu được hơn cái phần tự nhiên vốn có, đầu tiên là ở bề ngoài, là vẻ hấp dẫn người khác. Ở cây cối hay loài vật cũng có nhu cầu hấp dẫn đối tượng nhưng chỉ có ở con người điều đó mới được thực hành một cách có ý thức, có kỹ năng. Đó cũng là một phần của cuộc sống. Nó bắt đầu từ con người, từ khát vọng hướng tới cái đẹp. Từ con người, sự việc mở rộng ra những gì liên quan đến con người. Từ chuyện của cá nhân mở rộng ra phạm vi xã hội. Từ khởi đầu là tâm lý, dần dần vượt ra khỏi khuôn khổ, muốn vươn tới cái ngoài mình, lớn hơn, không có của mình nhưng có thể đem lại cho mình lợi ích. Cũng vẫn là cho con người nhưng chuyện “làm đẹp” từ chuyện của cá nhân đã dần dần mở ra các hoạt động khác, liên quan đến người khác ở phạm vi rộng lớn hơn. Rồi từ những vẻ đẹp tự nhiên ban đầu, nhu cầu ấy mở dần ra những lĩnh vực khác như danh tiếng, địa vị, tiền tài... Nhưng mở đến đâu là vừa, theo hướng nào là phù hợp, làm thế nào là thiết thực là vấn đề của nhận thức, là những giá trị văn hóa. Cùng với sự vận động và biến đổi trong quá trình “xã hội hóa”, khao khát ban đầu đã bị biến đổi dần theo hướng vụ lợi. Đầu tiên là danh rồi từ danh sinh ra lợi, từ nhu cầu ban đầu ít gắn với giá trị kinh tế, lợi ích vật chất dần dần khao khát ấy ngày càng tỏ ra thích ứng với những đam mê vật chất hơn. Thế cho nên, từ xa xưa người ta đã phải đề ra những nguyên tắc, tiêu chuẩn mang tính đạo đức rồi sau đó là pháp lý để hạn chế những việc đi quá giới hạn này. Khi vượt qua những giới hạn đạo đức và pháp luật, nhu cầu “được hưởng nhiều hơn những thứ cá nhân ấy có” trở thành một khuyết tật không chỉ của cá nhân nữa mà là của cộng đồng. Nó trở thành căn bệnh của cả cá nhân và xã hội. Một khi thói háo danh, chuộng hình thức trở nên quá đà sẽ thành một mối nguy cơ cho xã hội vì nó làm lệch lạc giá trị tinh thần của xã hội. Người xưa đúc kết “Y phục xứng kỳ đức” và “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” là để nhắc nhở con người đừng quá đà mà mắc sai lầm khi đề quá cao hình thức, chạy theo hình thức mà quên mất cái thực chất, cái quyết định nên giá trị sự vật là ở chính cái phần nội dung của nó. 2. Nhìn lại lịch sử dân tộc có thể thấy một bài học xương máu: Khi nào bệnh hình thức trở thành một “quốc nạn” thì đất nước sẽ lao đao. Vua chúa, quan lại đua đòi ăn chơi, đám người có của coi sự hơn người về dinh thự, tiền bạc, quyền lực, danh vọng thể hiện “đẳng cấp” xã hội của họ sẽ dẫn đến sự suy thoái của dân khí, sẽ làm suy yếu sức mạnh quốc gia Hưng Đạo Đại vương từng phải khuyến cáo tướng sĩ ở thời bình đừng quên những ngày gian khổ chiến tranh, đừng mải nghĩ đến chuyện vui chơi mà sao nhãng luyện tập vì điều đó liên quan đến chuyện thắng thua, còn mất không chỉ của cá nhân họ mà còn của quốc gia. Nguyễn Trãi cũng từng mắng Lương Đăng khi được giao lo chuyện lễ lạt ở tầm quốc gia chỉ chăm chú vào tiêu khiển, ăn chơi, làm đẹp lòng vua quan mà quên đi sứ mệnh của người làm nghề. Đưa ra mấy ví dụ nhỏ thế để muốn nói rằng thói chạy theo cái bề ngoài, hoặc nghiêm trọng hơn là căn bệnh hình thức vốn gắn với những nhận thức chưa đúng của con người có thể gây hại cho chính con người và xã hội. 3. Nhu cầu làm đẹp là nhu cầu tự nhiên của con người nhưng khi nhu cầu ấy trở thành “bệnh” thì nó đã biến dạng sang một cấp độ khác. Thời xưa đã thế, thời nay cũng thế. Thể chế xã hội nào cũng có những nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp để cho “bệnh” hình thức xuất hiện. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng căn bệnh tệ hại này bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân bắt nguồn từ đề cao cá nhân mình, vọng tưởng về vị trí và quyền lực của mình, cho mình có quyền ban phát chân lý và đứng cao hơn tất cả, kể cả luật pháp nên mọi thứ cá nhân ấy làm “chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể”. Bệnh hình thức bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân - lối sống chỉ mưu lợi cho cá nhân và đồng bọn. Nó có thể làm suy yếu xã hội, gây ra nguy cơ cho một đơn vị, cộng đồng, thậm chí quốc gia. Bởi như Bác Hồ từng cảnh báo: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân Như vậy, bệnh hình thức không chỉ là một căn bệnh thuộc về đạo đức cá nhân nữa mà nó là biểu hiện sự tha hóa của cá nhân, một tổ chức chính trị. Nó là nguồn gốc của thói vị kỷ, là nguồn gốc sinh ra căn bệnh chủ nghĩa cá nhân. Căn bệnh này, ở các mức độ nặng nhẹ khác nhau tồn tại song song với sự tồn tại của con người nên để tránh nó, con người phải luôn đấu tranh với nó để làm lành mạnh xã hội. Cuộc đấu tranh này không chỉ nhìn từ góc nhìn đạo đức mà trước hết phải từ những chủ trương, đường hướng đúng đắn, được cụ thể ra bằng những điều luật, cơ chế, bằng những biện pháp tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả ở mọi cấp độ, đặc biệt ở góc độ nêu gương, tu thân. Việc này không thể giao cho một tổ chức chính trị - xã hội hay một ngành nào quản lý, thực hiện mà phải làm đồng bộ, liên tục, quyết liệt. Cái đích của nhiệm vụ này không phải chỉ là nhằm giải quyết một vấn đề nảy sinh trong một thời điểm nào đó của xã hội mà nó đòi hỏi phải làm thường xuyên, đồng bộ, liên tục, quyết liệt. Ở bình diện phát triển xã hội bền vững, đích của nó là dân khí quốc gia, là nền tảng tinh thần của sự phát triển, là bảo đảm cho một xã hội phồn vinh và hạnh phúc. Vì vậy mà Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra, phải “kiên quyết khắc phục bệnh hình thức” vì đây là những biểu hiện lệch chuẩn văn hóa, lệch chuẩn đạo đức. Đã nói đến lệch chuẩn giá trị văn hóa có nghĩa là đã chỉ ra nguy cơ lâu dài cho sự phát triển bền vững của đất nước, dân tộc. 4. Nhìn vào thực trạng xã hội hiện nay, chúng ta không khỏi lo lắng vì căn bệnh hình thức, phô trương không còn là của cá nhân, không chỉ là căn bệnh đua đòi, chướng tai gai mắt mà đã ăn sâu vào ý thức của một bộ phận không nhỏ của xã hội, có trường hợp đã bộc lộ ra ở tầm chính sách. Nó không còn là chuyện hình thức vặt, hào nhoáng nhất thời mà là một phần của sự suy thoái, băng hoại nhân cách cán bộ, đảng viên, nguyên tắc tổ chức, lạm dụng chính sách gây ra những tổn hại lớn cả về kinh tế lẫn nền tảng tinh thần của xã hội Khi người ta cố tình hiểu sai một đường lối đúng đắn để phát triển đất nước với mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài nên đã ồ ạt mở các trường đại học mới, nhất loạt nâng cấp các cơ sở cao đẳng lên đại học. Cơ cấu ngành nghề sai, thực lực đội ngũ giáo viên yếu, cơ sở vật chất thiếu thốn, năng lực người học không đáp ứng được yêu cầu tiếp nhận tri thức... nhưng để có thành tích, việc “vơ bèo vạt tép” cho đủ chỉ tiêu được giao đã diễn ra ở nhiều nơi. Chỉ tiêu này gồm cả danh và lợi: Trường đại học thu hút nhiều người học, hoàn thành trách nhiệm xã hội, uy tín trường được nâng cao, thu nhập của trường tăng, cán bộ quản lý ngành được ghi nhận là có tầm nhìn... Nhưng hệ quả của quá trình này là trong khoảng hai chục năm qua chúng ta đã cấp bằng cấp thật cho nhiều đối tượng đào tạo “nửa thật, nửa giả”, khiến nhiều sản phẩm của quá trình đào tạo này dở thầy, dở thợ.Tệ sính bằng cấp, chuộng hư danh... đã làm nảy sinh những cuộc “chạy marathon” bằng cấp, học vị. Nhiều “lò ấp” đã đẻ ra những người có học vị tiến sĩ nhưng thực ra rất khó dùng họ vào việc gì. Rồi nhờ tiền bạc, quan hệ, họ “chui” vào cơ quan nhà nước. Số cán bộ này khiến cho nhiều cơ quan nhà nước bị xuống cấp cả ở năng lực chuyên môn lẫn ý thức nghề nghiệp. Họ lũng đoạn cơ quan nơi họ được sử dụng, có khi ngồi ở vị trí lãnh đạo, điều hành. Nhiều ban lãnh đạo của nhiều địa phương, cơ quan, tổ chức xã hội vi phạm khuyết điểm, vi phạm pháp luật đã bị xử lý. Chất lượng giáo dục phổ thông cũng chịu sự “tàn phá” của thói giả dối, bệnh thành tích. Một bộ phận người lớn đã làm hỏng nhiều người trẻ bằng những lựa chọn lệch chuẩn của mình. Nguy cơ không phải chỉ đối với cá nhân đứa trẻ mà là với cả một thế hệ, ở hướng đi, ở nhận thức quyền lợi và trách nhiệm công dân trước các vấn đề xã hội. Những chuyện vi phạm pháp luật trong tuyển sinh, tuyển chọn cán bộ ở nhiều cơ quan, nhiều cấp bậc từ thấp đến cao, ở mọi địa phương là hồi chuông báo động cho tình trạng này. Thời gian qua, người ta thấy khá nhiều vụ lùm xùm xung quanh suy tôn các danh hiệu, giải thưởng cao quý, kể cả giải thưởng cấp nhà nước về khoa học - công nghệ, văn học-nghệ thuật. Đây là sự tôn vinh các giá trị tinh thần trước đây vốn được coi là cao quý “không gì mua được” vì nó thuần túy là sự tôn vinh những giá trị đích thực. Thế nhưng những kiện tụng, ì xèo, thậm chí bị tước danh hiệu đã xảy ra-điều mấy chục năm về trước chưa hề có. Còn các danh hiệu “kỷ lục này nọ” thì không ít trường hợp gây ra sự nhạo báng của xã hội. Nó bị biến thành phương tiện để mua danh, để đánh bóng cá nhân. Nhiều lúc dư luận xã hội chê cười việc làm ấy nhưng sau khi sự phê phán về mặt đạo đức xã hội chìm xuống, không có cơ quan nào xử lý về mặt pháp luật hay hành chính thì trong hồ sơ của họ vẫn nghiễm nhiên tồn tại những danh hiệu này. Người ta nói đến khá nhiều những danh hiệu không xứng đáng là “danh hiệu của các hội đồng” chứ không phải là giá trị đích thực. 5. Căn bệnh háo danh, chạy theo hình thức tưởng nhỏ mà không nhỏ. Từ góc độ đạo đức, nếu nó là của cá nhân thì tác hại không thật lớn nhưng nếu nó bị thổi lên như là căn bệnh của một thời thì rất nguy hiểm. Vì như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, nó có nguồn gốc của chủ nghĩa cá nhân mà chủ nghĩa cá nhân thì không bao giờ đem lại điều gì tích cực cho xã hội. Nó chỉ mang ý nghĩa tiêu cực, chỉ phá hoại và khi ở mức cao nhất, nó có thể gây ra sức mạnh hủy hoại nền tảng tinh thần của một quốc gia. Sự nguy hiểm của chủ nghĩa cá nhân là nó luôn khoác cái áo vì tập thể, vì tương lai, vì cộng đồng nên nó vẫn có thể mê hoặc con người. Nguy hiểm hơn là khi vẫn có những tổ chức và cá nhân có quyền lực là bệ đỡ cho nó. Do vậy, cần nhận thức thấu đáo về mối nguy hại của căn bệnh này và phải có những biện pháp thật sự nghiêm khắc để phòng ngừa, chữa trị và đẩy lùi căn bệnh hình thức, phô trương trong xã hội nói chung, trong bộ máy công quyền nói riêng.

Giữ phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ sau khi nghỉ hưu

Nhận diện những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ rõ: “Sa sút ý chí phấn đấu...”; “Cơ hội, vụ lợi, chỉ lo vun vén cá nhân...”; “Mê tín dị đoan”; “Cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi”... Soi chiếu vào hành vi, việc làm thiếu chuẩn mực của một số ít cán bộ Quân đội sau khi nghỉ hưu, chúng tôi thấy cần thiết phải lên tiếng góp ý, đấu tranh, nhằm khắc phục những biểu hiện “lệch chuẩn”, góp phần giữ vững phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trước những cám dỗ, cạm bẫy... Xin kể một chuyện... Tôi lên mạng tìm kiếm thông tin chữa bệnh khớp theo phương pháp y học cổ truyền cho người thân. Ngay sau đó, trang Facebook cá nhân xuất hiện nhan nhản thông tin quảng cáo liên quan đến nội dung này. Tôi tương tác vào tài khoản của một sĩ quan Quân đội nghỉ hưu. Chủ tài khoản giới thiệu, bản thân từng là bộ đội tham gia chiến đấu trên chiến trường K, bị bệnh khớp âm ỉ lâu năm, đau nhức, rất khổ sở. Mặc dù đã đi điều trị tại các bệnh viện uy tín trong và ngoài Quân đội nhưng không khỏi. Chỉ đến khi được người quen mách cho một bài thuốc Đông y, kiên trì điều trị sau 3 tháng thì bệnh khỏi hẳn. Vì muốn giúp ích cho đời nên anh sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm cho những ai đang bị bệnh khớp hành hạ. Chủ tài khoản nhấn mạnh rằng, việc này hoàn toàn là “làm phúc”, không đòi hỏi bất cứ điều gì từ người bệnh... Nhìn thấy hình ảnh chủ tài khoản là cựu chiến binh (CCB), quân phục chỉnh tề, quân dung tươi tỉnh, kèm những lời thoạt đọc có vẻ rất chân tình, nhiều người đã vào tài khoản này tương tác. Tôi được chủ tài khoản cung cấp số điện thoại. Khi gọi nói chuyện, anh thể hiện thái độ rất niềm nở, hỏi thăm sức khỏe bản thân, gia đình tôi, tâm sự về đời binh nghiệp rồi dẫn dắt vào câu chuyện bị bệnh khớp do phải “ăn bờ, ngủ bụi” trên chiến trường nhiều năm“Đời binh nghiệp của anh em mình khổ lắm em ạ! Lăn lộn trên thao trường mưa nắng, ai rồi về già cũng bị thấp khớp cả thôi. Mắc bệnh rồi thì chữa. Chưa mắc bệnh thì phòng ngừa. Bài thuốc này tốt lắm. Có tốn kém ban đầu một chút còn đỡ gấp trăm lần bệnh diễn biến nặng phải đi bệnh viện”, anh nói và đề nghị tôi cung cấp thông tin cá nhân, địa chỉ để gửi thuốc đến tận nơi. Liên tục những ngày sau đó, tôi nhận được điện thoại của một người phụ nữ, xưng là nhân viên chăm sóc khách hàng của một cơ sở y học cổ truyền tại miền Trung. Người này nói, đã nhận được hồ sơ đăng ký chữa bệnh của tôi, do bác “X”, là thượng tá Quân đội nghỉ hưu chuyển đến. Một liệu trình điều trị 3 tháng, hết 10 triệu đồng. Người này đề nghị tôi chuyển tiền cọc và cam kết sẽ gửi thuốc đến đúng địa chỉ, chữa khỏi bệnh. “Anh là bộ đội, cứ kiểm chứng thông tin qua bác “X” là rõ. Bên em bảo đảm uy tín, không làm ăn nhập nhèm đâu”, người này nhấn giọng. Đến đây thì tôi đã rõ! Thượng tá CCB nọ đã sắm vai “chim mồi” để dụ khách hàng là bệnh nhân trên mạng xã hội, sau đó cung cấp thông tin cho “cơ sở chữa bệnh”. Tôi liên lạc lại, khuyên anh không nên lấy hình ảnh, danh dự của một CCB ra cho người ta lợi dụng mồi chài làm ăn. Chẳng biết khi “dụ” được một “con mồi”, anh được chia phần trăm bao nhiêu, nhưng cái kiểu chữa bệnh mà không cần khám, không cần gặp bệnh nhân, chỉ liên lạc qua mạng xã hội rồi gửi thuốc cho bệnh nhân uống thì đủ biết, chất lượng của cái gọi là “cơ sở Đông y” đó như thế nào? Cái đánh mất không chỉ là tiền và sức khỏe của các bệnh nhân bị “dụ”, mà quan trọng nhất là hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong trường hợp này đã bị ảnh hưởng rất xấu Vì tin vào bộ quân phục anh mặc, tin vào quân hàm anh mang, tin một sĩ quan Quân đội đã trải qua chiến trường... nên nhiều bệnh nhân mới làm theo. Đến khi “tiền mất tật mang”, khó tránh khỏi việc người ta quay lại chửi anh, xúc phạm nhân phẩm Bộ đội Cụ Hồ, anh thấy thế nào? Nghe tôi khuyên, anh im lặng. Sau đó, trên nền tảng Facebook, tôi không thấy tài khoản mang tên anh xuất hiện nữa. Khi danh nghĩa Bộ đội Cụ Hồ bị lợi dụng Trên đây là một ví dụ cụ thể trong rất nhiều kiểu hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ sau khi nghỉ hưu bị không ít tổ chức, cá nhân lợi dụng nhằm trục lợi, xuất hiện nhan nhản trên không gian mạng hiện nay. Phổ biến là lấy danh nghĩa bộ đội để mồi chài chữa bệnh, bán hàng, cung cấp dịch vụ dưỡng sinh, chăm sóc sức khỏe người cao tuổi... Thậm chí, có một số trường hợp núp bóng các hình thức dưỡng sinh để truyền đạo trái phép. Trên mạng xã hội đang lan truyền clip cổ xúy phương pháp chữa bệnh ung thư theo "đạo pháp" của một số sĩ quan cao cấp nghỉ hưu, với những phát ngôn thiếu chuẩn mực. Không chỉ có CCB xuất hiện với danh nghĩa bệnh nhân, trong các nội dung liên quan đến sức khỏe, còn có những clip lan truyền hình ảnh của những “bác sĩ quân y”, kèm thông tin cá nhân cụ thể. Điều đáng bàn là phát ngôn của những “bác sĩ quân y” này rất phản khoa học. Mới đây, trên nền tảng TikTok lan truyền clip của một người xưng là “sĩ quan cao cấp, bác sĩ quân y” nghỉ hưu, ca ngợi hết lời một phương pháp chữa bệnh bằng phương thức tín ngưỡng. Người này nói rằng, cả một đời đi làm thầy thuốc, chỉ đến khi gặp được phương pháp này mới tìm thấy “chân ái cuộc đời”. Từ việc ca ngợi hết lời một hình thức tín ngưỡng, “bác sĩ quân y” này đã phủ nhận, xổ toẹt cả nền y học hiện đại mà anh vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của chính môi trường ấy. Những biểu hiện tương tự xuất hiện trên các nền tảng mạng xã hội khiến nhiều CCB bức xúc, phản ánh về Báo Quân đội nhân dân, đề nghị tòa soạn lên tiếng góp ý, đấu tranh chấn chỉnh, khắc phục. Rõ ràng, việc lấy hình ảnh, danh nghĩa Bộ đội Cụ Hồ như một kiểu bình phong để quảng bá các hình thức, sản phẩm nhằm trục lợi đã gây nhiễu thông tin, ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.Điểm chung dễ nhận thấy là những cá nhân CCB bị lợi dụng, khi xuất hiện trong các bức ảnh, clip nêu trên thường mặc quân phục chỉnh tề, một số người còn đeo cả huân, huy chương. Theo dõi một cách có hệ thống những hiện tượng này, không khó để nhận ra hình ảnh, lời nói của những CCB đó chính là sản phẩm được dàn dựng tinh vi, bài bản, rất có ý đồ của các tổ chức, cá nhân, nhằm lèo lái, dẫn dụ để tạo dựng lòng tin từ công chúng. Từ những biểu hiện trục lợi về tiền bạc, một số trường hợp sẽ bị dẫn dụ, mua chuộc, phát ngôn phục vụ cho ý đồ tuyên truyền mang sắc màu tôn giáo, chính trị, trái quan điểm của Đảng. Nó để lại những hệ quả khó lường đối với môi trường văn hóa, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng. Cùng với các biểu hiện lợi dụng hình ảnh, danh nghĩa Bộ đội Cụ Hồ, thời gian gần đây, trên các nền tảng mạng xã hội, phổ biến nhất là Facebook, YouTube..., còn diễn ra tình trạng nhiều tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ thẩm mỹ, chăm sóc sức khỏe mạo danh các bệnh viện, bác sĩ Quân đội để trục lợi. Hiện tượng này xuất hiện nhan nhản như một “mê hồn trận”, gây nhiễu loạn thông tin. Hậu quả là người dân, bệnh nhân nhẹ dạ cả tin lãnh đủ. Tại sao hình ảnh, danh nghĩa Bộ đội Cụ Hồ sau khi nghỉ hưu lại bị lợi dụng? Ai cũng biết rõ, xưa nay trong đời sống xã hội, trong lòng nhân dân, Bộ đội Cụ Hồ là một danh xưng mang giá trị di sản văn hóa phi vật thể. Bộ đội là niềm tin, là chỗ dựa, là niềm tự hào của nhân dân. Chính vì vậy, nhiều tổ chức, cá nhân trong chiến lược xây dựng, phát triển thương hiệu sản xuất, kinh doanh, rất muốn hợp tác, liên kết với các doanh nghiệp Quân đội, CCB có tên tuổi, uy tín, như một cách để tạo dựng lòng tin, xây dựng thương hiệu trên thương trường. Những đối tượng có tư tưởng trục lợi, các thành phần bất mãn, cực đoan chính trị cũng bám vào đặc điểm này để dụ dỗ, lôi kéo, thậm chí mua chuộc một số CCB để phục vụ ý đồ riêng. Họ có sẵn kịch bản để thực hiện một cách tinh vi, khiến không ít người khi đã rơi vào vòng xoáy này rất khó cưỡng. Khi danh nghĩa Bộ đội Cụ Hồ bị lợi dụng để thực hiện các hành vi trái đạo đức xã hội, vi phạm pháp luật, hậu quả để lại rất khó lường. Dễ thấy nhất là nó làm méo mó, hoen ố hình ảnh, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, gây xói mòn lòng tin của nhân dân, tổn hại đến nền tảng tư tưởng của Đảng. Chính vì vậy, việc nhận diện để đấu tranh phê bình là vô cùng cần thiết.

Tâm lý bất mãn - trạng thái nguy hiểm dễ bị kẻ xấu lợi dụng

Trong cơ quan, đơn vị, cũng như xã hội thường có những người bất đắc chí, không được toại nguyện theo nhu cầu bản thân, từ đó sinh ra trạng thái buồn chán, bất mãn, luôn nhìn đời bằng lăng kính xám màu. Đây chính là một trạng thái tâm lý nguy hiểm, dễ bị kẻ xấu lợi dụng. Thế lực thù địch luôn dùng các thủ đoạn thao túng tâm lý để lôi kéo, kích động các đối tượng nói trên thực hiện theo mưu đồ của chúng hòng gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ cơ quan, tổ chức, cũng như gây bất ổn xã hội. Do đó, cần những giải pháp hiệu quả để hạn chế, ngăn chặn hiện tượng trên. Tôi có quen một nghệ sĩ tài danh. Tuy nhiên, đáng tiếc là người nghệ sĩ này có một con mắt nhìn đời rất u ám. Bất cứ việc gì, dù là những việc tốt lành, những thành tựu, thành công của đất nước, anh cũng luôn nhìn dưới góc nhìn đầy nghi kỵ, với đủ thuyết âm mưu và đều có xu hướng phủ nhận những thành tựu ấy, cho rằng đó chỉ là sự “đánh bóng, không đúng thực tế”, “không thực chất”. Ngay cả thành công của bóng đá Việt Nam trong những năm qua, anh cũng cho là “do ăn may”. Theo cách nghĩ của anh thì đất nước Việt Nam luôn đầy rẫy những yếu kém, bất cập, tiêu cực, không minh bạch và “có nằm mơ mới bắt kịp được trình độ phát triển của các nước trên thế giới”. Chính cách nhìn đời u ám ấy khiến anh luôn có một trạng thái tâm lý đầy bức bối. Những người có trạng thái tâm lý như trên không hiếm gặp. Đáng lo ngại có cả những cán bộ, đảng viên, thay vì thể hiện tính tiền phong, gương mẫu, hăng hái trong thi đua thực hiện nhiệm vụ thì lại có trạng thái tâm lý rất tiêu cực, ngồi đâu cũng nói xấu lãnh đạo cấp trên, nói xấu đồng nghiệp, để từ đó ảnh hưởng tới chất lượng công tác của bản thân, tới uy tín của cơ quan, đơn vị, địa phương, gây tâm lý hoài nghi trong quần chúng, nhân dân. Có nhiều nguyên nhân tạo ra trạng thái tâm lý đó, nhưng có lẽ chủ yếu xuất phát từ sự bất mãn cá nhân, do những mong muốn, nguyện vọng của bản thân không được đáp ứng, tích tụ lâu ngày hình thành tâm lý bất mãn, thậm chí thù ghét mọi thứ xung quanh Trong cơ quan, đơn vị rất khó tránh việc xuất hiện những người bất đắc chí, ấy là vì họ chưa được đề bạt, cất nhắc, bổ nhiệm; chưa được vào biên chế; chưa được nâng lương, thăng quân hàm đúng niên hạn; chất lượng hoàn thành công việc không được đánh giá cao; bị kỷ luật vì có vi phạm, khuyết điểm... Nếu những trạng thái tâm lý này không được kịp thời phát hiện, sớm có biện pháp giải tỏa thì lâu ngày sẽ tạo thành một căn bệnh bất mãn kinh niên, rất nguy hiểm cho sự ổn định của cơ quan, đơn vị, tổ chức. Việc có cách nhìn bi quan, u ám về cuộc sống, về môi trường làm việc trước hết ảnh hưởng tới bản thân mỗi con người. Những người mang tâm lý ủ dột, bức xúc thì kết quả lao động, sản xuất, thực hiện nhiệm vụ thường không tốt. Họ thường không muốn làm việc, không muốn cống hiến tối đa năng lực của mình, vì thế rất khó phát triển, thậm chí còn bị thụt lùi. Vì họ thường tự kỷ ám thị, cường điệu thái quá về những mặt trái, những hiện tượng tiêu cực trong môi trường xung quanh, từ đó tự đánh mất động lực để phấn đấu.Họ nghĩ rất tiêu cực rằng có làm việc, cống hiến tới đâu thì kết quả cuối cùng dành cho bản thân vẫn không tương xứng với công sức bỏ ra. Trạng thái tâm lý đó hết sức nguy hiểm, bởi không chỉ ảnh hưởng tới chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của nhân sự trong cơ quan, đơn vị mà còn có thể dẫn đến những rủi ro khó lường khác. Đáng chú ý là các thế lực xấu, thù địch luôn ra sức lợi dụng, sử dụng các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị làm lực lượng xung kích, tiên phong để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”. Những kẻ xấu, thế lực thù địch thường lợi dụng tâm lý bất ổn của một số cá nhân trong cơ quan, tổ chức và nhóm người trong xã hội để tiếp tục bơm thông tin xấu độc, lôi kéo, kích động, thao túng tâm lý, từ đó tạo ra ý muốn phản kháng.Ở nước ta, theo thống kê, đến nay có khoảng 77,93 triệu người dùng internet. Sự phát triển của mạng xã hội khiến các thông tin xấu độc có cơ hội luồn lách đi sâu vào đời sống của mỗi con người, rất khó kiểm soát. Các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng mạng xã hội để thao túng tâm lý, kiểm soát tâm trí con người bằng cách đưa thông tin sai sự thật, xuyên tạc, bịa đặt, dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, mất niềm tin, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động sự gây rối, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội Chúng ta thấy rất đáng tiếc có những cán bộ, công chức vốn là người tốt, nhưng khi công việc, cuộc sống không được như ý thì sinh ra bất mãn, bỗng “nghe theo đài địch” từ đó tuyên truyền thông tin, quan điểm sai trái. Nếu không được phát hiện và có những giải pháp kịp thời thì những người này càng ngày càng trượt dài theo con đường tăm tối, trở thành những phần tử gây rối, thậm chí chống Đảng, chống Nhà nước. Nhận thức được vấn đề nêu trên, các cơ quan, đơn vị, địa phương cần quan tâm, thực hiện tốt một số biện pháp như sau: Thứ nhất, xây dựng lối suy nghĩ tích cực, lối sống tích cực trong cơ quan, đơn vị, địa phương. Cán bộ, đảng viên phải tích cực nêu gương, phải là những tấm gương sáng về công tác, lao động, học tập để tạo niềm tin cho tập thể, cho quần chúng, nhân dân. Thứ hai, quan tâm, giải quyết tốt các chế độ, chính sách cho cán bộ, đảng viên, quân nhân, công chức, viên chức, người lao động. Lãnh đạo đơn vị nên thường xuyên động viên, thăm hỏi, giải quyết tốt các vướng mắc phát sinh trong quá trình công tác, lao động, học tập, sinh hoạt của đội ngũ cán bộ, nhân viên thuộc quyền. Thứ ba, kịp thời nắm bắt tâm lý, tình cảm, đời sống cá nhân của từng cán bộ, nhân viên trong cơ quan, đơn vị mình. Quan sát kỹ các trạng thái, cử chỉ, hành động giao tiếp hằng ngày để nắm bắt và phát hiện những biểu hiện tâm lý bất ổn, những vấn đề phát sinh, từ đó có giải pháp cụ thể để giải quyết Thứ tư, chủ động cung cấp thông tin chính thống, giải đáp kịp thời mọi thắc mắc của cán bộ, nhân viên trong cơ quan, đơn vị. Trước những sự kiện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội... nhất là những sự kiện phức tạp, nhạy cảm thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận, các cơ quan chức năng cần thông tin kịp thời, chính xác cho công chúng và định hướng suy nghĩ, hành động theo hướng có lợi cho Đảng, Nhà nước và nhân dân. Thứ năm, nâng cao hiệu lực, hiệu quả kiểm soát, quản lý thông tin, phòng, chống tin giả, tin đồn, thông tin xấu độc trên không gian mạng. Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng trong kiểm tra, xác minh, điều tra, truy vết và xác định các hành vi, đối tượng có biểu hiện thông tin sai trái, xuyên tạc để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Thứ sáu, tiếp tục thực hiện tốt công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xây dựng môi trường cơ quan, đơn vị, địa phương lành mạnh, minh bạch. Tựu trung, mỗi cán bộ, đảng viên, nhân viên cũng như mỗi người trong xã hội cần luôn tỉnh táo nhận diện để bản thân có một đôi mắt nhìn đời tinh anh, một lăng kính chính xác, không tô hồng, cũng không bôi đen sự thật. Cần luôn giữ một tinh thần lạc quan, một năng lượng tích cực, hết sức tránh sa vào trạng thái tâm lý tiêu cực không chỉ làm khổ bản thân mà còn có hại cho cơ quan, đơn vị, tổ chức và xã hội.

Điều trị "căn bệnh" đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm

Trong kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa XV, đại biểu Tô Văn Tám (Kon Tum) phát biểu tranh luận tại hội trường ngày 31-5-2023 cho rằng: Hiện tượng cán bộ né tránh, sợ trách nhiệm là có, đã có từ rất lâu rồi và đến hiện tại, tình trạng này dường như nặng và phức tạp hơn. Phó chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, ông Ngô Trung Thành thì nhấn mạnh: “Bệnh” đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm do sợ sai của cán bộ giờ không chỉ phổ biến ở các địa phương mà đã lây lan lên cấp Trung ương và tiếp tục lan rộng từ khu vực công đến khu vực tư. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn và yêu cầu cán bộ, đảng viên phải “hết sức nêu cao tinh thần trách nhiệm trước nhiệm vụ, công việc được giao, dù là việc lớn hay việc nhỏ, việc đơn giản hay phức tạp, nhiệm vụ bình thường hay quan trọng, bí mật”. Vì vậy, hiện tượng cán bộ đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm, không dám làm là đi ngược với lời dạy của Bác Hồ. Từ lâu, hiện tượng đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm đã được Ðảng, Nhà nước nhận diện, chỉ rõ và đưa vào trong các văn bản chính thức của Đảng, Nhà nước. Đó là, tình trạng né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức, nhất là người đứng đầu. Thường gặp ở những cán bộ có bổn phận thực thi, giải quyết những vấn đề, những công việc thuộc phạm vi mình phụ trách nhưng lại trốn tránh trách nhiệm, tìm cách đẩy sang cho người khác, đẩy lên cấp trên, hoặc đẩy xuống cấp dưới... Qua nghiên cứu, theo dõi chúng tôi cho rằng, những cán bộ, công chức mang “căn bệnh” này thường phân thành hai nhóm: Thứ nhất, những cán bộ có hiểu biết, nhưng lại sợ vi phạm pháp luật nên không dám làm. Thứ hai, cán bộ suy thoái về tư tưởng chính trị, cán bộ đùn đẩy, né tránh, sợ sai, sợ trách nhiệm, cán bộ không muốn làm vì không có lợi ích gì. Nhóm thứ nhất thì có thể khắc phục được ngay. Vì từ trước đến nay, trong bất kỳ thời điểm nào hay ở bất kỳ cơ quan, đơn vị, địa phương nào cũng tồn tại một số ít cán bộ có bản chất như vậy. Vấn đề là cơ quan, đơn vị, địa phương đó có nhận diện được hay không và khi nhận diện được thì xử lý thế nào? Đối với nhóm thứ hai, đây là nhóm cán bộ chiếm khá đông trong số cán bộ đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm. Đây là trở lực lớn nhất gây tắc nghẽn công việc trong toàn hệ thống, khiến việc giải quyết nhiều công việc chính đáng của người dân, doanh nghiệp bị đình trệ, làm kìm hãm sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Vì vậy, cần bắt cho đúng “bệnh” để có những phương thuốc đặc trị. Theo chúng tôi, “căn bệnh” đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm xuất phát từ những nguyên nhân sau: Về khách quan, pháp luật Nhà nước có những điểm thiếu cụ thể, chưa đồng bộ; một số văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, nhất là các văn bản dưới luật còn thiếu tính đồng nhất, khó thực hiện; chưa có quy định trách nhiệm rõ ràng và quy định cụ thể về bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Thêm một lý do nữa là công tác thanh tra, kiểm tra của Đảng, Nhà nước ngày càng đi vào thực chất, hiệu quả, cùng với tinh thần chống tham nhũng, tiêu cực “không có ngoại lệ, không có vùng cấm, bất kể người đó là ai” mà Đảng, Nhà nước đã và đang tiến hành công khai quyết liệt và ngày càng hiệu quả những năm qua... làm cho những cán bộ này sợ trách nhiệm, không dám làm hoặc đùn đẩy. Về chủ quan, “căn bệnh” này sinh ra từ nhận thức về quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, ý thức về vị trí công tác, về vai trò, trách nhiệm của một số cán bộ, công chức chưa cao. Xét đến cùng, căn bệnh này sinh ra do thiếu trách nhiệm, nhưng cũng có những trường hợp là một bộ phận cán bộ năng lực hạn chế, trình độ hạn chế, do vậy, việc nắm bắt các quy định của pháp luật cũng hạn chế nên làm việc gì cũng sợ sai, dẫn đến né tránh hoặc đùn đẩy. Một bộ phận khác không phải do trình độ, năng lực hạn chế, nhưng không muốn làm vì không có lợi ích gì... Chữa dứt “căn bệnh” đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm đồng nghĩa với việc xóa bỏ được những cản trở để đất nước ta phát triển nhanh và bền vững, vì vậy cần làm tốt một số vấn đề sau: Thứ nhất, từ góc độ vĩ mô, Đảng, Nhà nước cần hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật; tập trung rà soát bất cập, sửa đổi những quy định, nhất là các quy định pháp luật có liên quan đến cán bộ, công chức, viên chức theo hướng rõ ràng, minh bạch, đồng bộ, thống nhất, không chồng chéo, mâu thuẫn; có hành lang pháp lý bảo vệ, khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đương đầu khó khăn, dám đột phá vì lợi ích chung. Công tác đánh giá cán bộ cũng cần phải được đổi mới, cách đánh giá cần giúp người được giao việc, nhất là việc mới, việc khó vững tâm tin rằng, nếu mình làm vì lợi ích chung thì sẽ được nhìn nhận, đánh giá đúng. Bên cạnh đó, những trường hợp cán bộ đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm để xảy ra chậm trễ hoặc không quyết định những vấn đề, công việc thuộc thẩm quyền thì phải kiểm điểm, xử lý trách nhiệm tập thể, cá nhân liên quan theo đúng quy định. Kịp thời rà soát, thay thế hoặc điều chuyển sang công việc khác đối với cán bộ, công chức năng lực yếu, không dám làm, né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm, để trì trệ và không đáp ứng yêu cầu công việc Thứ hai, hiện nay, phát triển kinh tế của nước ta theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu, với tốc độ nhanh nên có thể các văn bản quy phạm pháp luật có chỗ còn chưa theo kịp với thực tiễn, vì vậy cũng có thể dẫn đến cái sai của cán bộ. Nếu như cái sai nào của cán bộ đều bị quy trách nhiệm một cách cứng nhắc, quan liêu, thậm chí là hình sự hóa nó thì dễ dẫn tới hiện tượng sợ trách nhiệm và không dám làm trong đội ngũ cán bộ. Vì vậy, cần quyết tâm không hình sự hóa quan hệ kinh tế đơn thuần; khoan hồng với những vi phạm có tính chất khách quan, không vụ lợi cá nhân, không tham ô, tham nhũng, đồng thời sớm thể chế hóa Kết luận 14 của Bộ Chính trị về khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Chúng tôi thiết nghĩ, ý kiến này được cho là “liều thuốc đặc trị” cho tình trạng cán bộ đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm hiện nay. Thứ ba, gần 3 năm qua là giai đoạn Đảng ta quyết liệt thực hiện các giải pháp về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong Đảng, bộ máy Nhà nước và các địa phương. Thế nên có quan điểm cho rằng, việc chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua "gắt quá" nên cán bộ, đảng viên sợ vi phạm pháp luật, sợ “vào lò” mà... không dám làm. Chúng ta không thể đồng tình với quan điểm này. Bởi vì Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Do đó, chống tham nhũng là việc phải làm cương quyết, thường xuyên, liên tục, như rửa mặt, như cơm ăn, nước uống hằng ngày. Tinh thần chống tham nhũng, tiêu cực “không có ngoại lệ, không có vùng cấm, bất kể người đó là ai” cần phải tiếp tục bền bỉ hơn nữa. Mọi vi phạm kỷ luật của Đảng phải được xử lý theo quy định của Đảng, mọi vi phạm pháp luật đều phải xử lý theo quy phạm pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, quá trình xử lý cũng cần phải phân tích từng trường hợp, từng sự việc một cách khoa học, cụ thể, xem xét kỹ cả yếu tố khách quan, chủ quan, công bằng, công minh, có lý, có tình để dân phục, dân tin và bản thân người bị xử lý kỷ luật cũng tâm phục, khẩu phục. Thứ tư, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát, trong đó có giải pháp kiểm soát việc thực thi quyền lực của người đứng đầu; xác định, làm rõ trách nhiệm của tập thể và gắn trách nhiệm cá nhân, cá thể hóa trách nhiệm trong từng công đoạn giải quyết công việc theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII để mỗi cán bộ, đảng viên thấy được trách nhiệm của mình, ủy ban kiểm tra các cấp cũng làm hết trách nhiệm của mình. Đây được xem là giải pháp lớn, hiệu quả phòng, chống “căn bệnh” đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm của cán bộ, đảng viên hiện nay Thứ năm, phát huy vai trò gương mẫu về mọi mặt của người đứng đầu. Thủ trưởng phải thật sự tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, sai trái; công tâm, công bằng, thật sự là trung tâm, hạt nhân đoàn kết; trọng dụng người tài, biết trân trọng, lắng nghe các ý kiến đóng góp, thậm chí là các ý kiến khác biệt. Đồng thời, phải quyết liệt xử lý những người không làm được việc hoặc đùn đẩy, sợ sai, né tránh trách nhiệm. Có như vậy mới khắc phục triệt để được “căn bệnh” đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm của cán bộ, đảng viên hiện nay.Thực tế cho thấy, vai trò của người lãnh đạo, người đứng đầu rất quan trọng. Bởi vì hiện nay, có nhiều việc không phải cán bộ không làm được, nhưng có thể còn nhiều lý do khiến họ e ngại, trong đó có lý do là sự bảo vệ, tin tưởng của người đứng đầu. Do đó, người đứng đầu nhất thiết phải có bản lĩnh chính trị, đồng thời phải có kiến thức lý luận và thực tiễn sâu sắc để làm điểm tựa cho cán bộ của mình, tin tưởng, khuyến khích họ thực hiện nhiệm vụ. Tóm lại, “căn bệnh” đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm của cán bộ, đảng viên hiện nay là một trong những trở lực to lớn đến quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước nói chung, từng cơ quan, đơn vị, địa phương nói riêng. Trên cơ sở nhận thức rõ tình trạng này, Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp thể hiện trong nhiều văn bản chính thức của Đảng, Nhà nước nhằm nhanh chóng khắc phục tình trạng trên, thúc đẩy sự phát triển nhanh, bền vững đất nước. Dưới góc độ mỗi cán bộ, đảng viên, hơn lúc nào hết, các công bộc của nhân dân cần chấm dứt ngay việc đùn đẩy, nể nang, né tránh trách nhiệm, thay vào đó là tiên phong, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung, vì sự phát triển của đất nước.

Bệnh hình thức khiến con người bị mê hoặc và hủy hoại nền tảng tinh thần xã hội

Không ngẫu nhiên mà Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra rằng, phải “kiên quyết khắc phục bệnh hình thức”, vì đây là những biểu hiện lệch chuẩn văn hóa, lệch chuẩn đạo đức. Đã nói đến lệch chuẩn giá trị văn hóa có nghĩa là đã chỉ ra nguy cơ lâu dài cho sự phát triển bền vững của đất nước, dân tộc. Do đó, việc nhận diện, phê phán, khắc phục bệnh hình thức cần phải được coi là một trong những việc làm cấp bách hiện nay nhằm giữ gìn nền tảng tinh thần lành mạnh cho quốc gia và thể chế chính trị-xã hội. 1. Mong muốn có vẻ ngoài đẹp đẽ, hấp dẫn người khác là một khao khát chính đáng của con người. Nhu cầu trang điểm, làm đẹp xuất hiện. Ban đầu nó là một nhu cầu tâm lý lành mạnh, hướng tới cái đẹp. Đó là nhu cầu được hơn cái phần tự nhiên vốn có, đầu tiên là ở bề ngoài, là vẻ hấp dẫn người khác. Ở cây cối hay loài vật cũng có nhu cầu hấp dẫn đối tượng nhưng chỉ có ở con người điều đó mới được thực hành một cách có ý thức, có kỹ năng. Đó cũng là một phần của cuộc sống. Nó bắt đầu từ con người, từ khát vọng hướng tới cái đẹp. Từ con người, sự việc mở rộng ra những gì liên quan đến con người. Từ chuyện của cá nhân mở rộng ra phạm vi xã hội. Từ khởi đầu là tâm lý, dần dần vượt ra khỏi khuôn khổ, muốn vươn tới cái ngoài mình, lớn hơn, không có của mình nhưng có thể đem lại cho mình lợi ích. Cũng vẫn là cho con người nhưng chuyện “làm đẹp” từ chuyện của cá nhân đã dần dần mở ra các hoạt động khác, liên quan đến người khác ở phạm vi rộng lớn hơn. Rồi từ những vẻ đẹp tự nhiên ban đầu, nhu cầu ấy mở dần ra những lĩnh vực khác như danh tiếng, địa vị, tiền tài... Nhưng mở đến đâu là vừa, theo hướng nào là phù hợp, làm thế nào là thiết thực là vấn đề của nhận thức, là những giá trị văn hóa. Cùng với sự vận động và biến đổi trong quá trình “xã hội hóa”, khao khát ban đầu đã bị biến đổi dần theo hướng vụ lợi. Đầu tiên là danh rồi từ danh sinh ra lợi, từ nhu cầu ban đầu ít gắn với giá trị kinh tế, lợi ích vật chất dần dần khao khát ấy ngày càng tỏ ra thích ứng với những đam mê vật chất hơn. Thế cho nên, từ xa xưa người ta đã phải đề ra những nguyên tắc, tiêu chuẩn mang tính đạo đức rồi sau đó là pháp lý để hạn chế những việc đi quá giới hạn này. Khi vượt qua những giới hạn đạo đức và pháp luật, nhu cầu “được hưởng nhiều hơn những thứ cá nhân ấy có” trở thành một khuyết tật không chỉ của cá nhân nữa mà là của cộng đồng. Nó trở thành căn bệnh của cả cá nhân và xã hội. Một khi thói háo danh, chuộng hình thức trở nên quá đà sẽ thành một mối nguy cơ cho xã hội vì nó làm lệch lạc giá trị tinh thần của xã hội. Người xưa đúc kết “Y phục xứng kỳ đức” và “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” là để nhắc nhở con người đừng quá đà mà mắc sai lầm khi đề quá cao hình thức, chạy theo hình thức mà quên mất cái thực chất, cái quyết định nên giá trị sự vật là ở chính cái phần nội dung của nó. 2. Nhìn lại lịch sử dân tộc có thể thấy một bài học xương máu: Khi nào bệnh hình thức trở thành một “quốc nạn” thì đất nước sẽ lao đao. Vua chúa, quan lại đua đòi ăn chơi, đám người có của coi sự hơn người về dinh thự, tiền bạc, quyền lực, danh vọng thể hiện “đẳng cấp” xã hội của họ sẽ dẫn đến sự suy thoái của dân khí, sẽ làm suy yếu sức mạnh quốc gia. Hưng Đạo Đại vương từng phải khuyến cáo tướng sĩ ở thời bình đừng quên những ngày gian khổ chiến tranh, đừng mải nghĩ đến chuyện vui chơi mà sao nhãng luyện tập vì điều đó liên quan đến chuyện thắng thua, còn mất không chỉ của cá nhân họ mà còn của quốc gia. Nguyễn Trãi cũng từng mắng Lương Đăng khi được giao lo chuyện lễ lạt ở tầm quốc gia chỉ chăm chú vào tiêu khiển, ăn chơi, làm đẹp lòng vua quan mà quên đi sứ mệnh của người làm nghề. Đưa ra mấy ví dụ nhỏ thế để muốn nói rằng thói chạy theo cái bề ngoài, hoặc nghiêm trọng hơn là căn bệnh hình thức vốn gắn với những nhận thức chưa đúng của con người có thể gây hại cho chính con người và xã hội. 3. Nhu cầu làm đẹp là nhu cầu tự nhiên của con người nhưng khi nhu cầu ấy trở thành “bệnh” thì nó đã biến dạng sang một cấp độ khác. Thời xưa đã thế, thời nay cũng thế. Thể chế xã hội nào cũng có những nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp để cho “bệnh” hình thức xuất hiện. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng căn bệnh tệ hại này bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân bắt nguồn từ đề cao cá nhân mình, vọng tưởng về vị trí và quyền lực của mình, cho mình có quyền ban phát chân lý và đứng cao hơn tất cả, kể cả luật pháp nên mọi thứ cá nhân ấy làm “chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể”. Bệnh hình thức bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân - lối sống chỉ mưu lợi cho cá nhân và đồng bọn. Nó có thể làm suy yếu xã hội, gây ra nguy cơ cho một đơn vị, cộng đồng, thậm chí quốc gia. Bởi như Bác Hồ từng cảnh báo: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân Như vậy, bệnh hình thức không chỉ là một căn bệnh thuộc về đạo đức cá nhân nữa mà nó là biểu hiện sự tha hóa của cá nhân, một tổ chức chính trị. Nó là nguồn gốc của thói vị kỷ, là nguồn gốc sinh ra căn bệnh chủ nghĩa cá nhân. Căn bệnh này, ở các mức độ nặng nhẹ khác nhau tồn tại song song với sự tồn tại của con người nên để tránh nó, con người phải luôn đấu tranh với nó để làm lành mạnh xã hội Cuộc đấu tranh này không chỉ nhìn từ góc nhìn đạo đức mà trước hết phải từ những chủ trương, đường hướng đúng đắn, được cụ thể ra bằng những điều luật, cơ chế, bằng những biện pháp tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả ở mọi cấp độ, đặc biệt ở góc độ nêu gương, tu thân. Việc này không thể giao cho một tổ chức chính trị - xã hội hay một ngành nào quản lý, thực hiện mà phải làm đồng bộ, liên tục, quyết liệt. Cái đích của nhiệm vụ này không phải chỉ là nhằm giải quyết một vấn đề nảy sinh trong một thời điểm nào đó của xã hội mà nó đòi hỏi phải làm thường xuyên, đồng bộ, liên tục, quyết liệt. Ở bình diện phát triển xã hội bền vững, đích của nó là dân khí quốc gia, là nền tảng tinh thần của sự phát triển, là bảo đảm cho một xã hội phồn vinh và hạnh phúc. Vì vậy mà Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra, phải “kiên quyết khắc phục bệnh hình thức” vì đây là những biểu hiện lệch chuẩn văn hóa, lệch chuẩn đạo đức. Đã nói đến lệch chuẩn giá trị văn hóa có nghĩa là đã chỉ ra nguy cơ lâu dài cho sự phát triển bền vững của đất nước, dân tộc. 4. Nhìn vào thực trạng xã hội hiện nay, chúng ta không khỏi lo lắng vì căn bệnh hình thức, phô trương không còn là của cá nhân, không chỉ là căn bệnh đua đòi, chướng tai gai mắt mà đã ăn sâu vào ý thức của một bộ phận không nhỏ của xã hội, có trường hợp đã bộc lộ ra ở tầm chính sách. Nó không còn là chuyện hình thức vặt, hào nhoáng nhất thời mà là một phần của sự suy thoái, băng hoại nhân cách cán bộ, đảng viên, nguyên tắc tổ chức, lạm dụng chính sách gây ra những tổn hại lớn cả về kinh tế lẫn nền tảng tinh thần của xã hội Khi người ta cố tình hiểu sai một đường lối đúng đắn để phát triển đất nước với mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài nên đã ồ ạt mở các trường đại học mới, nhất loạt nâng cấp các cơ sở cao đẳng lên đại học. Cơ cấu ngành nghề sai, thực lực đội ngũ giáo viên yếu, cơ sở vật chất thiếu thốn, năng lực người học không đáp ứng được yêu cầu tiếp nhận tri thức... nhưng để có thành tích, việc “vơ bèo vạt tép” cho đủ chỉ tiêu được giao đã diễn ra ở nhiều nơi. Chỉ tiêu này gồm cả danh và lợi: Trường đại học thu hút nhiều người học, hoàn thành trách nhiệm xã hội, uy tín trường được nâng cao, thu nhập của trường tăng, cán bộ quản lý ngành được ghi nhận là có tầm nhìn... Nhưng hệ quả của quá trình này là trong khoảng hai chục năm qua chúng ta đã cấp bằng cấp thật cho nhiều đối tượng đào tạo “nửa thật, nửa giả”, khiến nhiều sản phẩm của quá trình đào tạo này dở thầy, dở thợ. Tệ sính bằng cấp, chuộng hư danh... đã làm nảy sinh những cuộc “chạy marathon” bằng cấp, học vị. Nhiều “lò ấp” đã đẻ ra những người có học vị tiến sĩ nhưng thực ra rất khó dùng họ vào việc gì. Rồi nhờ tiền bạc, quan hệ, họ “chui” vào cơ quan nhà nước. Số cán bộ này khiến cho nhiều cơ quan nhà nước bị xuống cấp cả ở năng lực chuyên môn lẫn ý thức nghề nghiệp. Họ lũng đoạn cơ quan nơi họ được sử dụng, có khi ngồi ở vị trí lãnh đạo, điều hành. Nhiều ban lãnh đạo của nhiều địa phương, cơ quan, tổ chức xã hội vi phạm khuyết điểm, vi phạm pháp luật đã bị xử lý. Chất lượng giáo dục phổ thông cũng chịu sự “tàn phá” của thói giả dối, bệnh thành tích. Một bộ phận người lớn đã làm hỏng nhiều người trẻ bằng những lựa chọn lệch chuẩn của mình. Nguy cơ không phải chỉ đối với cá nhân đứa trẻ mà là với cả một thế hệ, ở hướng đi, ở nhận thức quyền lợi và trách nhiệm công dân trước các vấn đề xã hội. Những chuyện vi phạm pháp luật trong tuyển sinh, tuyển chọn cán bộ ở nhiều cơ quan, nhiều cấp bậc từ thấp đến cao, ở mọi địa phương là hồi chuông báo động cho tình trạng này. Thời gian qua, người ta thấy khá nhiều vụ lùm xùm xung quanh suy tôn các danh hiệu, giải thưởng cao quý, kể cả giải thưởng cấp nhà nước về khoa học - công nghệ, văn học-nghệ thuật. Đây là sự tôn vinh các giá trị tinh thần trước đây vốn được coi là cao quý “không gì mua được” vì nó thuần túy là sự tôn vinh những giá trị đích thực. Thế nhưng những kiện tụng, ì xèo, thậm chí bị tước danh hiệu đã xảy ra-điều mấy chục năm về trước chưa hề có. Còn các danh hiệu “kỷ lục này nọ” thì không ít trường hợp gây ra sự nhạo báng của xã hội. Nó bị biến thành phương tiện để mua danh, để đánh bóng cá nhân. Nhiều lúc dư luận xã hội chê cười việc làm ấy nhưng sau khi sự phê phán về mặt đạo đức xã hội chìm xuống, không có cơ quan nào xử lý về mặt pháp luật hay hành chính thì trong hồ sơ của họ vẫn nghiễm nhiên tồn tại những danh hiệu này. Người ta nói đến khá nhiều những danh hiệu không xứng đáng là “danh hiệu của các hội đồng” chứ không phải là giá trị đích thực. 5. Căn bệnh háo danh, chạy theo hình thức tưởng nhỏ mà không nhỏ. Từ góc độ đạo đức, nếu nó là của cá nhân thì tác hại không thật lớn nhưng nếu nó bị thổi lên như là căn bệnh của một thời thì rất nguy hiểm. Vì như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, nó có nguồn gốc của chủ nghĩa cá nhân mà chủ nghĩa cá nhân thì không bao giờ đem lại điều gì tích cực cho xã hội. Nó chỉ mang ý nghĩa tiêu cực, chỉ phá hoại và khi ở mức cao nhất, nó có thể gây ra sức mạnh hủy hoại nền tảng tinh thần của một quốc gia. Sự nguy hiểm của chủ nghĩa cá nhân là nó luôn khoác cái áo vì tập thể, vì tương lai, vì cộng đồng nên nó vẫn có thể mê hoặc con người. Nguy hiểm hơn là khi vẫn có những tổ chức và cá nhân có quyền lực là bệ đỡ cho nó. Do vậy, cần nhận thức thấu đáo về mối nguy hại của căn bệnh này và phải có những biện pháp thật sự nghiêm khắc để phòng ngừa, chữa trị và đẩy lùi căn bệnh hình thức, phô trương trong xã hội nói chung, trong bộ máy công quyền nói riêng.

Sao lại suy diễn, phát ngôn tùy tiện?

Nhận tin nhắn người bạn thân khoe được tặng giấy khen dịp tổng kết năm của cơ quan, Hải vừa làm việc vừa thỉnh thoảng ngó màn hình điện thoại vì tài khoản Facebook của bạn đang phát trực tiếp phần trao thưởng tại buổi lễ. Hải rất ngạc nhiên và vui mừng vì vừa mới chuyển về cơ quan một năm mà Minh đã phấn đấu tốt, được khen thưởng. Sân khấu buổi tổng kết, trao thưởng của cơ quan Minh hoành tráng, nhiều phần thưởng lần lượt được trao đến tập thể, cá nhân xuất sắc. Nhưng chờ mãi chưa thấy đến lượt Minh lên nhận thưởng. Rồi người dẫn chương trình tuyên bố chuyển sang tiết mục văn nghệ và kết thúc chương trình, thông báo những cá nhân chưa được nhận thưởng sẽ ủy quyền cho các phòng, ban tổ chức trao sau. Cuối tuần, Hải gặp Minh, chưa kịp chúc mừng đã thấy Minh bức xúc: - Đúng là của cho không bằng cách cho. Được khen thưởng mà như nhận đồ ban phát. Thật chán cái cơ chế xin-cho này. Hỏi ra mới biết, do chương trình buổi tổng kết năm có nhiều nội dung nên phần trao thưởng được rút gọn. Điều đáng nói là Minh vẫn hào hứng chờ đợi một buổi trao thưởng trang trọng ở phòng. Vì lý do bận nhiều việc cuối năm nên trưởng phòng gọi Minh vào phòng riêng trao trực tiếp, không có ai chứng kiến nên cũng chẳng có những tràng vỗ tay, lời chúc mừng của đồng nghiệp. - Vì cuối năm bận rộn nên việc trao thưởng chưa được trang trọng, chu đáo. Nhưng cái quan trọng là sự nỗ lực của cậu đã được tổ chức ghi nhận-Hải lựa lời động viên. - Chắc vì mấy tay làm công tác tổ chức ghét tôi nên mới đẻ ra cái kịch bản trao thưởng bất công như thế!-Minh bực dọc. - Cậu nói thế là không đúng rồi. Cậu được khen thưởng không do một cá nhân quyết định, mà tập thể, ban lãnh đạo cân nhắc, lựa chọn, đề nghị, thẩm định. Cậu quy kết khen thưởng như ban phát làm người nghe hiểu sai mục đích, ý nghĩa của công tác thi đua-khen thưởng. Nguy hiểm hơn là cậu lại đổ lỗi cho cơ chế xin-cho. Việc nhỏ này chẳng liên quan gì đến cơ chế xin-cho cả. Cậu bức xúc việc cá nhân mà phát ngôn không đúng khiến người khác hiểu sai, đối tượng xấu biết chuyện sẽ lợi dụng chuyện này để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Vậy là cậu đang mắc vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, có những phát ngôn đả kích, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đấy! Chưa kể mọi người thấy cậu có thái độ hằn học, nặng ích kỷ cá nhân sẽ dần xa lánh cậu...

Nhận thức sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là một cách phòng ngừa sự suy thoái về tư tưởng chính trị

Chủ tịch Hồ Chí Minh là trường hợp hiện hữu của lịch sử khi đã “trở thành huyền thoại ngay từ khi còn sống” và thời gian càng lùi xa, sức sống và giá trị trong tư tưởng của Người càng tỏa sáng. Việc luận giải sức sống bất hủ của tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn, vững tin hơn vào nền tảng tư tưởng của Đảng mà tự thân những giá trị to lớn trong tư tưởng của Người là sự phủ nhận hữu hiệu đối với các ý kiến lệch lạc, xuyên tạc Hồ Chí Minh của các phần tử cơ hội chính trị. Mặt khác, việc khẳng định những giá trị trường tồn trong tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là một cách giúp cán bộ, đảng viên phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị và những biểu hiện lười nhác, xem nhẹ việc học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thế kỷ 20 đầy bão tố đã khép lại cùng với sự đóng góp của nhiều vĩ nhân, trong đó có Hồ Chí Minh. Điều làm nên sức mạnh và sức sống của tư tưởng Hồ Chí Minh chính là những đặc tính tiêu biểu toát lên từ tư tưởng của Người. 1. Nội dung căn cốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, phù hợp với quy luật phát triển của thời đại. Khát vọng tự do là đặc tính của con người nên khi chủ nghĩa thực dân đẩy vô số dân tộc vào vòng nô lệ, cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc là xu thế tất yếu của thời đại. Ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh trở thành đại diện của các dân tộc bị áp bức đấu tranh cho quyền được làm người, quyền được sống trong bình đẳng và tự do. Được trang bị phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin và bằng trải nghiệm thực tiễn, Hồ Chí Minh đưa ra những phát kiến ở tầm thời đại về con đường cứu nước và phương hướng dựng nước của dân tộc Việt Nam: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” và “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Hồ Chí Minh có hệ thống quan điểm hết sức sáng tạo về phương thức giải phóng, đó là cách mạng thuộc địa phải tiến hành một cách chủ động, sáng tạo, không thụ động trông chờ vào cách mạng chính quốc và sẽ thành công trước cách mạng chính quốc. Thực hiện tư tưởng của Người, dân tộc Việt Nam không chỉ giành được độc lập, tự do mà thắng lợi của nhân dân Việt Nam còn góp phần làm tan vỡ hệ thống thuộc địa trên quy mô toàn thế giới. Vì thế, Hồ Chí Minh được mệnh danh là người đã đẩy bánh xe lịch sử theo hướng tiến bộ. Nhà bác học người Anh Béctơrăng Rútxen đã viết: “Sự nghiệp vô tư và quên mình của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho nền độc lập và thống nhất của Việt Nam suốt hơn nửa thế kỷ nay đã làm cho Người trở thành không những là lãnh tụ của dân tộc Việt Nam mà còn là kiến trúc sư nổi tiếng của thế giới đã thoát khỏi chủ nghĩa thực dân”. 2. Tư tưởng Hồ Chí Minh kết tinh những giá trị vĩnh hằng của nhân loại là hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Thế giới tôn vinh Hồ Chí Minh là Nhà văn hóa hòa bình bởi Người luôn nỗ lực giải quyết xung đột với dân tộc khác bằng con đường đối thoại văn hóa, khi buộc phải tự vệ thì Người chủ động hạn chế không gian chiến tranh ở Việt Nam để bảo vệ hòa bình khu vực và thế giới. Hồ Chí Minh rất yêu chuộng hòa bình nhưng đó phải là hòa bình thực sự-hòa bình trong độc lập, tự do bởi đúng như Người đã tuyên bố: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Với Hồ Chí Minh, độc lập, tự do không chỉ là mục tiêu chính trị mà còn là giá trị đạo đức. Một con người yêu nước, một dân tộc có lòng tự tôn sẽ không cam tâm sống cuộc đời nô lệ. Khi thế giới còn đầy rẫy sự bất công, tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Hồ Chí Minh đã trở thành chân lý lớn của thời đại. 3. Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện khát vọng đoàn kết và hợp tác hữu nghị giữa các dân tộc. Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên khẳng định: “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mạng thế giới. Ai làm cách mệnh trên thế giới đều là đồng chí của dân An Nam”. Có thể coi đây là khởi phát của chiến lược đoàn kết quốc tế của Người. Cần nhấn mạnh rằng, chiến lược ấy ra đời không chỉ vì mục tiêu chính trị mà còn xuất phát từ tình cảm đồng loại: “Quan sơn muôn dặm một nhà/ Vì trong bốn biển đều là anh em”. Tình cảm ấy ở người cộng sản Nguyễn Ái Quốc hết sức sâu đậm nên từ năm 1923, nhà thơ Xô viết Ôxip Manđenxtam đã cảm nhận: “Qua phong thái thanh cao, trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta như nghe thấy được ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới”. Khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: Việt Nam sẵn sàng “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”. Người không ngừng giáo dục nhân dân về tình hữu nghị, về đạo lý “giúp bạn là tự giúp mình”. “Chiến tranh lạnh” đẩy các quốc gia vào thế “đối đầu” nhưng Hồ Chí Minh vẫn kiên trì khẳng định: “Các nước dù chế độ xã hội khác nhau và hình thái ý thức khác nhau cũng đều có thể chung sống hòa bình được”. Hồ Chí Minh là người luôn tìm cách quy tụ thay cho loại trừ, luôn nỗ lực tìm ra “mẫu số chung” chứ không “khoét sâu” sự khác biệt. Với tinh thần “tìm sự thống nhất trong đa dạng”, Hồ Chí Minh không chỉ là người có tư duy quốc tế hiện đại, tinh thần khoan dung văn hóa mà còn là đại sứ của Việt Nam trên toàn cầu. 4. Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện tinh thần đổi mới và hội nhập-xu thế lớn của thời đại ngày nay. Hồ Chí Minh là người đặc biệt nhạy bén với cái mới. Người định nghĩa cách mạng cũng từ góc độ này: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”. Trung thành với Chủ nghĩa Mác nhưng Người vẫn đặt câu hỏi: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”. Từ nhận thức đó, Hồ Chí Minh không chỉ vận dụng mà còn phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin bằng một loạt luận điểm mới, phù hợp với cách mạng Việt Nam. Lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Người căn dặn cán bộ tuyệt đối không được giáo điều, bảo thủ. Trong "Di chúc" để lại, mặc dù không trực tiếp sử dụng khái niệm “đổi mới” nhưng Người đã phác thảo một chiến lược đổi mới trên nét lớn và căn dặn: “Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”. Sự nghiệp đổi mới do Đại hội VI của Đảng đề xướng đã trở lại đúng tinh thần đó và thành tựu do đổi mới mang lại thực sự vĩ đại. Đó là minh chứng cho khả năng dự báo chiến lược của Hồ Chí Minh. Khi thế giới đang phát triển với tốc độ nhanh chưa từng có như hiện nay, tư tưởng đổi mới của Hồ Chí Minh càng trở nên ý nghĩa.

Tin giả - sự nguy hại và phương cách ngăn chặn

Tin giả đang nổi lên thành vấn nạn tại nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, vấn nạn tin giả diễn ra tràn lan, gây thiệt hại lớn trên nhiều lĩnh vực, phương diện, nhất là các thế lực thù địch sử dụng tin giả để thực hiện âm mưu, thủ đoạn chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và dân tộc ta. Do vậy, ngăn chặn, triệt phá tin giả, thông tin xấu độc là nhiệm vụ cấp thiết trong kỷ nguyên số. Tin giả - hậu quả thật Tin giả còn được gọi là tin rác hoặc tin tức giả mạo, là thông tin cố ý bịa đặt hoặc dùng thủ thuật lừa bịp bằng cách lan truyền qua phương tiện truyền thông hay mạng xã hội (MXH). Tin giả thường được tạo ra để tác động đến tư tưởng, quan điểm, tình cảm, cảm xúc, thái độ, hành vi của người dân, gây ảnh hưởng tiêu cực đến diễn biến thực tiễn, nhằm thực hiện các mục đích chính trị, lợi ích kinh tế hay ý đồ xấu xa của chủ thể tiến hành. Trong điều kiện mới với xu thế phát triển nhanh của MXH và các nền tảng MXH xuyên biên giới, kéo theo việc các thế lực thù địch tăng cường lợi dụng, tung tin giả ngày càng phổ biến với nhiều chiêu trò, cách thức, thậm chí rất khó nhận diện, đấu tranh, đẩy lùi. Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ người dân sử dụng internet rất cao. Bởi vậy, khi tin giả xuất hiện thì cường độ, tốc độ lan truyền nhanh, tác động rất lớn đến đời sống trên không gian mạng và cộng đồng xã hội. Ví như, khoảng cuối tháng 3, đầu tháng 4-2022, loạt tin đồn thất thiệt trên MXH về việc một số doanh nghiệp ngoài nhà nước niêm yết trên sàn chứng khoán bị thanh tra chuyên đề (hoạt động phát hành trái phiếu và việc thực hiện pháp luật về kế toán, thuế, chứng khoán) gây hoang mang cho nhà đầu tư và gây thiệt hại nghiêm trọng cho các doanh nghiệp. Ngay sau đó, dù có thông tin chính thống để đính chính, trấn an cổ đông, nhà đầu tư nhưng cổ phiếu của các doanh nghiệp này vẫn liên tục giảm mạnh. Điều đó cho thấy, chỉ vì tin giả mà kinh tế đất nước bị ảnh hưởng, chi phối rất nghiêm trọng. Tương tự, tin giả xuất hiện trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là những vấn đề, lĩnh vực "nóng", "nhạy cảm" liên quan đến công tác nhân sự, bầu cử, bỏ phiếu tín nhiệm, xử lý kỷ luật cán bộ cấp cao... Tin giả cũng thường xuất hiện trước những sự kiện chính trị trọng đại của Đảng, đất nước, Quân đội với tần suất ngày càng nhiều và mức độ nguy hiểm, phức tạp khó lường. Đặc biệt, thời gian gần đây xuất hiện nhiều tin giả về tình hình sức khỏe của một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội, gây xáo trộn đến tư tưởng, tình cảm và niềm tin của quần chúng; thậm chí còn tạo ra sự hoang mang, tâm lý tiêu cực trong đời sống xã hội. Rõ ràng, tin giả là một loại thông tin không có thật, nhưng hệ quả và tác hại của nó thì có thật; ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều lĩnh vực đời sống xã hội, nhất là an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, quốc phòng, an ninh. Chẳng hạn, vào những năm 80, 90 của thế kỷ 20, trên địa bàn Tây Nguyên, các thế lực phản động ở nước ngoài cấu kết với FULRO tung tin giả về việc người Kinh đang chiếm đất của người Thượng, rồi kích động, lôi kéo một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số tụ tập biểu tình, gây rối chính trị ở nhiều địa bàn Tây Nguyên vào các năm 2001, 2004. Tương tự, những sự vụ, sự việc diễn ra ở Thái Bình (năm 1997), Mường Nhé, Điện Biên (năm 2011) và các "điểm nóng" ở Tây Bắc, Tây Nghệ An, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ... đều bắt đầu từ những tin tức giả mạo, bịa đặt một cách trắng trợn. Hay sự kiện diễn ra ở Bình Thuận và hàng chục địa phương trong nước năm 2018 là bài học đau lòng, khi kẻ thù bịa ra tin giả về việc cán bộ Trung ương “tự quyết” cho nước ngoài thuê đất đặc khu trong 99 năm là nhằm hiện thực lợi ích nhóm của một bộ phận cán bộ... Tin giả ấy đã tạo ra sự bức xúc trên MXH, rồi lan ra đời sống, gây nhiều tổn thất cả về vật chất lẫn tinh thần. Làm gì để khống chế, đẩy lùi tin giả? Là quốc gia có nhiều nỗ lực và đạt kết quả quan trọng trong phòng, chống, xử lý tin giả, đến nay, Việt Nam đã hoàn thiện các quy định pháp luật, tăng cường biện pháp quản lý thông tin trên MXH; ban hành các quy định, quy trình xử lý tin sai sự thật; tăng cường hợp tác để yêu cầu các nền tảng xuyên biên giới loại bỏ thông tin sai lệch, vi phạm pháp luật; thiết lập Trung tâm an ninh mạng quốc gia... Thế nhưng, những nỗ lực nêu trên vẫn chưa đủ sức hạn chế, khống chế một cách hiệu quả tình trạng tin giả đang có xu hướng gia tăng trên MXH. MXH với đặc tính dễ ẩn danh, lan truyền nhanh, khó xác minh, truy vết... đã và đang trở thành môi trường thuận lợi cho việc tán phát tin giả. Hơn thế, trong điều kiện mới, các lực lượng thù địch đang ra sức chống phá cách mạng Việt Nam, trong đó, việc tung tin giả được sử dụng như một mũi công kích chủ yếu. Để khắc chế, đẩy lùi vấn nạn tin giả, với trách nhiệm rất cao, Việt Nam đã đề xuất thành lập đội phản ứng của ASEAN về tin giả và được các quan chức cao cấp ASEAN đồng thuận, ủng hộ. Tuy nhiên, việc tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế, cách thức vận hành đội phản ứng nhanh để đi vào hoạt động hiệu quả vẫn còn là bài toán nan giải. Cùng với đó, việc phát huy vai trò của Trung tâm an ninh mạng quốc gia và Trung tâm phòng, chống tin giả tuy đạt kết quả bước đầu khả quan nhưng vẫn thụ động; chủ yếu là ứng phó, xử lý sự cố, sự việc khi có tình huống mà chưa đề cao đúng mức tính chủ động trong dự báo, ngăn chặn, đẩy lùi tin giả từ sớm, từ xa...ùng với đó, để khống chế, đẩy lùi tin giả thì công tác cung cấp, định hướng thông tin chính thống phải được xem là giải pháp trọng yếu, ưu tiên hàng đầu. Theo đó, cơ quan chức năng phải thực sự “đi trước, đón đầu” trong việc cung cấp thông tin chính xác, đồng bộ, rộng khắp; biến thông tin chính thống thành dòng chủ lưu trong đời sống thông tin xã hội để ngăn chặn, phòng ngừa, đẩy lùi tin giả. Khi xuất hiện tình huống tin giả, cơ quan chức năng cần có ngay các giải pháp quản lý, khống chế cả về số lượng, phạm vi, mức độ, cường độ lây lan của tin giả trên không gian mạng. Phải nỗ lực khắc chế, đẩy lùi tin giả từ khi chúng vừa manh nha hình thành, hay chí ít là khi chúng xuất hiện nhỏ lẻ, chứ không thể để tin giả lây lan rộng khắp, trở thành "điểm nóng" trên MXH rồi mới “theo đuôi”, đi tìm cách khắc phục, xử lý... Vấn đề đáng bàn ở đây là vì sao những tin tức giả mạo, bịa đặt trắng trợn vẫn có thể xuất hiện kéo dài trên MXH, gây hậu quả nghiêm trọng, nhưng chưa có cơ quan chức năng kịp thời đứng ra nhận trách nhiệm hoặc chủ động đấu tranh, cung cấp thông tin chính thống nhằm điều chỉnh, uốn nắn, định hướng dư luận ở những thời điểm nhạy cảm? Phải chăng vẫn còn vướng mắc nào đó về mặt cơ chế, hay là do chi phối bởi căn bệnh sợ trách nhiệm? Đây là vấn đề cần nhìn nhận thấu đáo để nghiêm khắc rút kinh nghiệm và có giải pháp khắc phục. Trên tinh thần đó, cùng với việc tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống, đẩy lùi vấn nạn tin giả, Việt Nam cần có những quy định chặt chẽ hơn trong việc xử lý khủng hoảng truyền thông; hoàn thiện quy định, quy chế phát ngôn định hướng dư luận; quy rõ trách nhiệm đối với người đứng đầu và cơ quan chức năng trong việc quản lý, đấu tranh với vấn nạn tin giả. Đó là những vấn đề cần lưu tâm, ưu tiên thực hiện Một giải pháp quan trọng nữa là cần đẩy mạnh hợp tác giữa các cơ quan quản lý truyền thông Việt Nam và các quốc gia trên thế giới trong việc phát hiện, khống chế, đẩy lùi tin giả; tăng cường phối hợp giữa các tổ chức nghiên cứu độc lập, tổ chức xác minh và nhà cung cấp MXH để đối phó với vấn nạn tin giả trong khu vực và trên thế giới; tăng cường phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa các cấp, ngành, cơ quan, địa phương trong cả nước nhằm chủ động ngăn chặn, phát hiện, đấu tranh và xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân có hành vi tán phát, ủng hộ, cổ xúy tin giả nhằm những mục đích tiêu cực, phản động, vi phạm pháp luật.

Cảnh giác trước các âm mưu lôi kéo, kích động

xem thông tin kết thúc phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân; khủng bố; tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép; che giấu tội phạm” xảy ra tại huyện Cư Kuin (tỉnh Đắk Lắk), nhiều bác nghỉ hưu ở khu phố 7, phường Xuân Khanh (Sơn Tây, Hà Nội) không khỏi bất ngờ. Trong giờ uống trà buổi tối, chuyện này được bàn luận sôi nổi. - Tôi nghĩ với tính chất, hành vi khủng bố dã man, tàn bạo, nguy hiểm, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng như vậy thì mức án các bị cáo phải chịu nặng hơn. Thực tế, không chỉ người dân nước ta mà cả thế giới đều lên án mạnh mẽ hành vi khủng bố. Các nước đều đấu tranh kiên quyết và triệt để, không khoan nhượng với tội phạm khủng bố... Cựu chiến binh Sơn vừa dứt lời, bác Mẫn cũng bày tỏ bức xúc: - Đúng thế! Đó là chưa kể, những kẻ khủng bố hoạt động có tổ chức nhằm thực hiện mưu đồ lật đổ chính quyền nhân dân, chống phá đất nước, làm xáo trộn cuộc sống bình yên của cả huyện, cả tỉnh. Tại phiên tòa, tất cả bị cáo và luật sư bào chữa, trợ giúp viên pháp lý cho các bị cáo đều đồng ý với bản luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Ngay một số trang mạng phản động lần này cũng không thể có ý kiến phản đối tội danh của các bị cáo, bởi những hành vi nguy hiểm và tội lỗi các bị cáo gây ra đã quá rõ ràng. Đáng lẽ tòa phải tuyên phạt thích đáng hơn. Thấy các “bạn hưu” đều không đồng tình với mức án “nhẹ” mà tòa sơ thẩm tuyên phạt các bị cáo trong vụ khủng bố ở Đắk Lắk vào đêm 10-6, rạng sáng 11-6-2023, bác Hòa, nguyên là cán bộ ngành tư pháp, giải thích: - Các bác nói cũng hợp lý, vì với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội khủng bố gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng như vậy thì mức án pháp luật quy định rất nặng. Tại phiên tòa, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt tử hình đối với 2 bị cáo, tù chung thân đối với 11 bị cáo, các bị cáo khác đề nghị mức án từ 12 tháng đến 20 năm tù giam. Khi nói lời sau cùng, các bị cáo đều bày tỏ đã nhận rõ hành vi phạm tội của mình và rất ăn năn hối cải, xin được Đảng, Nhà nước, pháp luật, nhân dân và Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt để sớm về đoàn tụ với gia đình, làm lại cuộc đời. Đồng thời, các bị cáo cũng xin lỗi những gia đình người bị hại và mong được tha thứ; mong mọi người không nghe theo kẻ xấu, không làm những hành vi sai trái, vi phạm pháp luật. Nhận thấy hầu hết bị cáo là người dân tộc thiểu số, hiểu biết còn hạn chế, dễ bị các đối tượng xấu lợi dụng, dụ dỗ, lôi kéo, kích động làm những việc trái pháp luật; sau khi xem xét khách quan, toàn diện vụ án, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, đặc biệt là thực hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử đã tuyên phạt các bị cáo mức án thấp hơn Viện Kiểm sát nhân dân đề nghị. Cụ thể là tuyên phạt 10 bị cáo mức án tù chung thân, các bị cáo khác bị phạt từ 9 tháng đến 20 năm tù. Như vậy, mức án này thể hiện rõ chính sách nhân văn của Đảng, Nhà nước ta, hợp lý và hợp tình. Nếu các bị cáo có trình độ hiểu biết mà phạm tội thì chắc sẽ bị xử phạt nặng hơn, các bác ạ! Nghe ông Hòa phân tích thấu đáo, mọi người đều gật gù bày tỏ sự đồng tình. Cựu chiến binh Thắng tiếp lời: - Tôi thấy bài học rút ra là mỗi chúng ta phải hết sức cảnh giác để không bị lôi kéo, kích động. Các cấp chính quyền cần tăng cường tuyên truyền để người dân hiểu biết pháp luật, nhận rõ những âm mưu, thủ đoạn chống phá đất nước. Mỗi gia đình, từng khu dân cư cũng phải thường xuyên quan tâm làm tốt việc này để chủ động phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, phản động. Kẻ xấu sẽ không dụ dỗ, lôi kéo được người dân làm những việc trái pháp luật nếu cán bộ, đảng viên từ cấp cơ sở sâu sát bám nắm, làm cho nhân dân hiểu và có tinh thần cảnh giác, ý thức tự giác chấp hành pháp luật, các ông nhỉ?

GIÁ TRỊ CỦA TÌNH BẠN, CỦA NIỀM TIN

 Thủ đô Bucharest của Romania vừa trải qua một trận bão tuyết. Tuyết từng lớp dày trên mái nhà, trên vỉa hè, trên từng chiếc ô tô, không gian phủ một màu trắng xóa. Đang giữa trưa mà nhiệt độ ngoài trời xuống đến -13 độ C, lạnh tê buốt như có hàng nghìn mũi kim đâm vào da thịt.

Thế mà gian phòng tiệc chiêu đãi, nơi có sự tham dự của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Thủ tướng Romania Ion-Marcel Ciolacu, dường như ấm áp hơn khi tiếng đàn Cello của nghệ sĩ Đinh Hoài Xuân ngân lên. Bài “Trở về đất mẹ” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương với bao cung bậc thăng trầm khiến những người Việt Nam xa quê như chìm đắm trong cảm giác mênh mang về với quê hương thân thương, với bao người ruột thịt. Tiếng đàn da diết thấu tận tâm can người nghe. Đinh Hoài Xuân là một trong những nghệ sĩ xuất sắc từ sự kết hợp giữa nền giáo dục Việt Nam và Romania. Chị là tiến sĩ chuyên ngành biểu diễn đầu tiên của Việt Nam, bảo vệ luận án tại Romania. Mặc dù có rất nhiều học viện âm nhạc danh tiếng trên thế giới mời gọi, sẵn sàng cấp học bổng nhưng Đinh Hoài Xuân đã chọn Romania là nơi chắp cánh cho sự nghiệp của mình. Chị chia sẻ rằng luôn biết ơn những vị giáo sư đáng kính, giản dị, chân thành, đầy tình người của Romania. Sự giúp đỡ tận tâm của họ đã đưa sự nghiệp của chị sang một trang mới đầy tươi sáng.
Hợp tác giáo dục Việt Nam-Romania là điểm nổi bật trong quan hệ hợp tác giữa hai nước. Từ năm 1960 đến nay, Romania đã đào tạo khoảng 4.000 sinh viên, nghiên cứu sinh Việt Nam, trong đó nhiều người trở thành nhà khoa học, giáo sư, tiến sĩ đầu ngành trong các lĩnh vực và nhiều vị là bộ trưởng, thứ trưởng... Năm 2023, hai bên ký Chương trình hợp tác trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022-2026. Số lưu học sinh đi học diện Hiệp định từ năm 2004 đến 2023 là 139 người, gồm 31 tiến sĩ, 32 thạc sĩ, 76 đại học...
Đáng quý là sự giúp đỡ đào tạo của Romania đối với sinh viên Việt Nam bắt đầu từ những năm tháng mà Việt Nam còn trong khói lửa chiến tranh, đầy rẫy khó khăn, cơm ăn chưa no, áo chưa đủ mặc. Nhà báo Hồ Quang Lợi, Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam-Romania, nguyên Phó chủ tịch Thường trực Hội Nhà báo Việt Nam cảm động ứa nước mắt khi nhắc lại những năm tháng được học tập tại Khoa Văn của Đại học Tổng hợp Bucharest. Hồi ấy, vì nhà nghèo, không đủ tiền để đánh máy luận văn, cậu sinh viên đành xin bà giáo sư cho viết tay luận văn tốt nghiệp. Bà giáo sư nhìn cậu sinh viên nghèo trìu mến và đồng ý. Luận văn tốt nghiệp ấy dài tới 200 trang, dày đặc chữ viết tay nắn nót, được chấm điểm tối đa kèm theo dòng chữ nhận xét: “Bản luận văn của một sinh viên xuất sắc”. Đến nay, bản luận văn vẫn được lưu giữ trân trọng tại Đại học Tổng hợp Bucharest.
Chuyến thăm và làm việc với Trường Đại học Kỹ thuật xây dựng Bucharest của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cũng đong đầy những kỷ niệm. Thủ tướng Phạm Minh Chính vốn là sinh viên xuất sắc của ngôi trường danh tiếng này, Chủ tịch Hội Sinh viên Việt Nam tại nước Cộng hòa Romania, tốt nghiệp năm 1984. Trong chuyến thăm và làm việc của Thủ tướng Phạm Minh Chính, thầy Hiệu trưởng Trường Đại học Kỹ thuật xây dựng Bucharest đã trân trọng trao tới tay Thủ tướng Phạm Minh Chính bản sao luận văn tốt nghiệp và bảng điểm. Thầy hiệu trưởng cho biết, Thủ tướng Phạm Minh Chính là niềm tự hào của nhà trường, không chỉ xuất sắc trong học tập mà còn thể hiện rõ tư duy tổ chức ngay từ thời đi học.
Còn rất nhiều câu chuyện cho thấy ân tình giữa hai quốc gia, giữa những con người Việt Nam và Romania. Romania là một trong 10 nước đầu tiên trên thế giới công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam (ngày 3-2-1950); là một trong những quốc gia đầu tiên ủng hộ Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và giúp Việt Nam xây dựng, phát triển kinh tế.
Romania đã có những sự ủng hộ, giúp đỡ về cơ sở vật chất, kỹ thuật, đào tạo nhân lực cho Việt Nam. Trong đó, Romania đã giúp Việt Nam xây dựng Nhà máy Xi măng Hải Phòng, Mỏ apatit Lào Cai, một số mỏ than ở Quảng Ninh, giúp nhiều thiết bị công nghiệp, nông nghiệp, quốc phòng...
Sau khi Romania thay đổi thể chế chính trị (tháng 12-1989), hai nước tiếp tục quan hệ hữu nghị truyền thống trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi.
Khi Romania giữ vai trò Chủ tịch luân phiên Liên minh châu Âu (EU) năm 2019 đã hỗ trợ rất lớn, thúc đẩy Việt Nam và EU hoàn tất đàm phán, ký kết Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam-EU (EVIPA) vào ngày 30-6-2019. Hiệp định EVFTA đã được Hội đồng châu Âu thông qua ngày 30-3-2020; Hiệp định EVIPA đang tiếp tục trong quá trình phê chuẩn bởi Nghị viện của tất cả các nước thành viên EU. Romania là một trong những nước đầu tiên phê chuẩn cả hai hiệp định này.
Đặc biệt, trong những thời điểm ngặt nghèo của đại dịch Covid-19, khi mỗi liều vaccine sẽ cứu sống được một con người, Romania là nước thành viên EU đầu tiên ủng hộ vaccine cho Việt Nam với 300.000 liều vào tháng 8-2021, đúng vào thời điểm dịch bệnh tại Việt Nam bùng phát mạnh nhất.
"Việt Nam không bao giờ quên sự hỗ trợ, giúp đỡ chí tình, chí nghĩa, hợp tác chặt chẽ của Romania trong rất nhiều lĩnh vực suốt gần 75 năm qua", Thủ tướng khẳng định.
Sự tình nghĩa ấy giữa hai quốc gia đã mang lại niềm tin chính trị, đặc biệt là trong giai đoạn mà thế giới đang trải qua những biến cố khó lường. Tại hội đàm, hai Thủ tướng đã nhấn mạnh với giá trị của quan hệ hợp tác hữu nghị truyền thống gắn bó suốt gần 75 năm qua, hai nước cần hợp tác chặt chẽ hơn nữa trong mọi lĩnh vực. Những thông điệp tại diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam-Romania từ hai vị Thủ tướng cho thấy hai bên đều sẵn sàng tạo những điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp của hai nước cùng đầu tư. Thủ tướng Ion-Marcel Ciolacu đánh giá Việt Nam là một trong những thị trường tiềm năng nhất của Romania tại châu Á-Thái Bình Dương. Hai bên cần tận dụng cơ hội thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực thương mại, logistics, du lịch và đưa Romania trở thành cửa ngõ của Việt Nam vào châu Âu trong bối cảnh Romania sắp gia nhập khu vực Schengen vào tháng 3-2024.
Trao đổi bên lề diễn đàn, ông Nguyễn Văn Tới, Giám đốc Công ty TNHH Xuất nhập khẩu HP&DT, nguyên Chủ tịch Hội Doanh nghiệp Việt Nam tại Romania cho biết, cuộc sống tại Romania đối với người Việt Nam nhìn chung rất yên bình và có nhiều cơ hội để hợp tác kinh doanh, ví dụ như trong lĩnh vực bất động sản, nông nghiệp hay xuất khẩu lao động. Ông cũng cho biết uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng tăng khiến cộng đồng người Việt Nam tại Romania rất tự hào và người dân địa phương cũng ngày càng tôn trọng. Ông Tới tin tưởng chuyến thăm chính thức Romania của Thủ tướng Phạm Minh Chính sẽ làm cho việc hợp tác giữa hai quốc gia chặt chẽ và hiệu quả hơn nữa trong thời gian tới.
Sau khi kể lại những ân tình của người Việt Nam và người Romania, của du học sinh Việt Nam với các thầy cô giáo Romania năm xưa, cuối bài phát biểu tại Trường Đại học Kỹ thuật xây dựng Bucharest, Thủ tướng Phạm Minh Chính xúc động nhắc lại câu ngạn ngữ của Romania "Orice sa fie nou, dar prierenul vechi”, nghĩa là “tất cả mọi thứ có thể qua đi nhưng tình bạn luôn luôn ở lại". Tình bạn, niềm tin đã được gây dựng suốt gần 75 năm qua của Việt Nam và Romania chính là thứ tài sản quý giá, cần được gìn giữ và phát huy, để hai nước tiếp tục tăng tốc phát triển trong thời gian tới./.
ST

CÒN MÃI NHỮNG KỶ NIỆM

 “Đối với tôi, Đại tướng Chu Huy Mân là người đồng chí, người bạn chiến đấu thân thiết, người cán bộ mà tôi đặt nhiều niềm tin khi đồng chí được giao những nhiệm vụ quan trọng”. Đó là những lời nhận xét của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về đồng chí Chu Huy Mân.

Trọn đời thực hiện lời hứa trước Đảng kỳ
Đồng chí Chu Huy Mân tên thật là Chu Văn Điều, sinh ngày 17-3-1913, tại xã Yên Lưu, tổng Yên Trường, phủ Hưng Nguyên (nay là xã Hưng Hòa, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An). Tham gia cách mạng từ năm 16 tuổi, để giữ bí mật và che mắt địch khi hoạt động, đồng chí mang nhiều bí danh khác nhau, nhưng cái tên Chu Huy Mân (Huy: Trong sáng, Mân: Ngọc) được ông dùng nhiều nhất, cho đến cuối đời.
Là một thanh niên yêu nước, căm thù bọn đế quốc, phong kiến nên ngay từ khi được cán bộ Đảng tuyên truyền, giác ngộ, Chu Văn Điều đã hăng hái làm liên lạc cho họ. Đồng thời, ông tích cực vận động nông dân Yên Lưu gia nhập tổ chức Nông hội đỏ và Hội tán trợ. Trong cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh, nhất là khi tham gia Tự vệ đỏ, một trong những đội quân tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam, được tin tưởng cử làm Đội phó Đội Tự vệ đỏ của xã, Chu Văn Điều luôn dũng cảm, dẫn đầu đoàn biểu tình, trấn áp kẻ thù và bảo vệ nhân dân. Tháng 11-1930, Chi bộ Yên Lưu đã làm lễ kết nạp Chu Văn Điều vào đội ngũ những người cộng sản.
Nhớ lại giây phút ý nghĩa ấy, đồng chí Chu Huy Mân đã viết trong cuốn hồi ký “Thời sôi nổi”: “Dưới cờ đỏ búa liềm trang nghiêm và linh thiêng, có mặt cán bộ thượng cấp là Nguyễn Phong Sắc và Lê Mao về dự cùng các đồng chí trong Chi bộ Yên Lưu, tôi xúc động giơ nắm tay tuyên thệ tự nguyện vào Đảng, suốt đời hy sinh, chiến đấu vì Tổ quốc, vì nhân dân... Lời hứa thiêng liêng đêm đó đã theo tôi suốt cả cuộc đời”.
Cũng thời điểm này, thực dân Pháp bắt đầu đàn áp phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh. Đội phó Chu Huy Mân đã thành Đội trưởng Đội Tự vệ đỏ. Ngoài việc bảo vệ cơ quan ấn loát và vận chuyển tài liệu của Xứ ủy Trung Kỳ, ông còn chỉ huy đội tự vệ tham gia luyện tập quân sự, bảo vệ quần chúng trong các cuộc đấu tranh, trừng trị bọn phản cách mạng, vận động thanh niên lấy lúa của địa chủ phong kiến chia cho dân nghèo để cứu đói, mở các lớp học dạy chữ Quốc ngữ cho nhân dân... Tháng 6-1931, do có kẻ phản bội chỉ điểm, cả hai cơ sở ấn loát của Xứ ủy đều bị địch vây ráp. Chu Huy Mân bình tĩnh cất giấu hết tài liệu và dụng cụ in ấn rồi chạy đánh lạc hướng quân địch, giải thoát cho các cán bộ ấn loát của Xứ ủy. Sau đó, ông được nhân dân nuôi giấu cho đến khi bọn lính rút lên Vinh mới sang huyện Nghi Lộc, nơi đóng quân của cơ quan Xứ ủy tiếp tục hoạt động.
Từ đây, ông trải qua bao thời kỳ cách mạng của Đảng, từ hoạt động bí mật khi Đảng chưa giành chính quyền, bị giam cầm ở các nhà tù đế quốc đến khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công; rồi hơn 30 năm lăn lộn ở các chiến trường, làm nhiệm vụ quốc tế, xây dựng đất nước với nhiều trọng trách như: Trung đoàn trưởng, Bí thư Đảng ủy Trung đoàn 72, 74-các trung đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội ta; Chính ủy Đại đoàn 316; Chính ủy, Bí thư Đảng ủy kiêm Tư lệnh Quân khu 4; Chính ủy Quân khu 5, Bí thư Khu ủy Liên khu 5; Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh kiêm Chính ủy Mặt trận B3-Tây Nguyên; 26 năm là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 10 năm là Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; 5 năm là Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước; 3 khóa là đại biểu Quốc hội... “Đồng chí luôn nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, dũng cảm và sáng tạo, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng Tổ quốc. Đại tướng Chu Huy Mân là một cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước, một tướng lĩnh xuất sắc, chính trị, quân sự song toàn của Quân đội ta, là một tấm gương sáng cho toàn quân, toàn dân học tập”-sinh thời, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khẳng định.
Trong ký ức đồng đội
Chúng tôi đã có dịp gặp và trò chuyện với “Hùm xám Đường số 4” Đặng Văn Việt (1920-2021) tại nhà riêng của ông ở phố Minh Khai (quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội). Bấy giờ ông vẫn rất khỏe mạnh và minh mẫn. Ông quen biết đồng chí Chu Huy Mân từ thời kỳ đầu Cách mạng Tháng Tám năm 1945 tại Huế, song thời gian họ gắn bó nhiều nhất là khi ở Trung đoàn 174 (Cao-Bắc-Lạng). Hầu hết các trận đánh lớn của đơn vị, trừ trận Bông Lau-Lũng Phầy (tháng 9-1949), Trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt và Chính ủy Chu Huy Mân đều sát cánh. Hai người dành cho nhau một lòng tin tuyệt đối. Mọi việc về quân sự-tham mưu, tác chiến ở mặt trận, Chính ủy tin ở Trung đoàn trưởng đã đánh là thắng, là thu được chiến lợi phẩm, bắt được tù binh, hàng binh. Còn mọi việc về công tác chính trị, công tác Đảng, Chính ủy là người có nhiều kinh nghiệm dạn dày nên Trung đoàn trưởng tuyệt đối tin tưởng. “Ngoài công việc chung, chúng tôi cũng có những quan tâm nhỏ cho nhau. Tôi nhớ có lần sau trận đánh lớn, qua nhiều ngày quá vất vả, tôi mệt đến mức phải nằm trên lưng ngựa không còn đủ sức để ngồi vững nữa. Sau trận đánh, Chính ủy quyết định buộc tôi phải đi nghỉ an dưỡng. Mọi việc của đơn vị, anh lo hết...”, đồng chí Đặng Văn Việt kể.
Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, được sự tin tưởng, phân công của Trung ương, đồng chí Chu Huy Mân tiếp tục có mặt ở những chiến trường nóng bỏng nhất. Đặc biệt, trong Chiến dịch Plei Me, trên cương vị là Tư lệnh kiêm Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên, đồng chí Chu Huy Mân đã có nhiều quyết định quan trọng trong việc tổ chức, chỉ đạo các lực lượng, góp phần làm nên chiến thắng lịch sử, mở ra giai đoạn mới cho cách mạng Việt Nam. Trong hồi ký của mình, Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên Chủ nhiệm Chính trị Mặt trận Tây Nguyên kể: “Đầu tháng 10-1965, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên nhận được điện báo của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh thông qua quyết tâm, kế hoạch Chiến dịch Plei Me. Đêm trước cuộc họp của Đảng ủy Mặt trận nghiên cứu những ý kiến chỉ đạo của trên, anh Chu Huy Mân đã làm việc riêng với tôi đến tận 1 giờ sáng và gợi ý cho cơ quan chính trị mặt trận nhiều vấn đề. Hôm sau, cuộc họp vừa kết thúc, anh liền dẫn một đoàn cán bộ đi quan sát địa hình chiến trường tại khu vực đồn Plei Me và thế bố phòng của địch để quyết định phương thức tiến hành vây điểm. Đồng thời, anh cũng đi thị sát khu vực dự kiến đánh viện binh địch giải tỏa Plei Me khi bị ta vây ép. Sau khi đoàn về, Bộ tư lệnh Mặt trận đã quyết định bổ sung phương án tác chiến chiến dịch. Đó là đánh thiệt hại nặng lực lượng cơ động quân ngụy, làm suy yếu chỗ dựa bình định của địch, đồng thời khẩn trương chuẩn bị đánh phủ đầu quân Mỹ, góp phần đánh bại chiến lược đánh nhanh, giải quyết nhanh, tiến lên đánh bại chiến lược Chiến tranh cục bộ của Mỹ”.
Mới đây, gặp Trung tướng Nguyễn Quốc Thước để tìm hiểu thêm tư liệu về Đại tướng Chu Huy Mân, chúng tôi cũng được nghe kể về một câu chuyện thú vị khác. Chuyện là, sau Chiến dịch Plei Me, Bộ tư lệnh Mặt trận tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm. Sau khi kết luận, đánh giá trận đánh và rút ra những bài học kinh nghiệm từ trận đầu tiêu diệt gọn một tiểu đoàn Mỹ, Tư lệnh kiêm Chính ủy phát động phát huy Chiến thắng Plei Me, động viên toàn mặt trận quyết tâm diệt Mỹ với khẩu hiệu “Bám thắt lưng Mỹ mà đánh, quyết bắt cho được tù binh Mỹ”. “Để thể hiện quyết tâm, anh Mân đã có một hành động thực tế, giản dị nhưng sâu sắc và cũng rất dí dỏm là giao cho mỗi đồng chí chính ủy trung đoàn (lúc này ở B3, đơn vị chiến đấu cấp cao nhất là trung đoàn) một đoạn dây thừng với yêu cầu người lãnh đạo của đơn vị phải trực tiếp cùng chiến sĩ quần lộn với địch, xáp vào để tiêu diệt và bắt cho được tù binh Mỹ. Hình ảnh sống động ấy đã gây ấn tượng cho chúng tôi sau này khi về chỉ huy đơn vị”, Trung tướng Nguyễn Quốc Thước kể.
Còn đồng chí Đoàn Duy Thành, nguyên Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kể rằng, thời công tác ở Hải Phòng với cương vị Chủ tịch UBND thành phố, rồi Bí thư Thành ủy Hải Phòng, ông từng có nhiều lần tiếp xúc với Ủy viên Bộ Chính trị Chu Huy Mân. Chênh nhau đến 13 tuổi, nhưng do cùng sở thích học Hán tự và từng bị tù đày trong nhà tù của thực dân Pháp nên mỗi lần làm việc hay trò chuyện, hai người dễ tìm được tiếng nói chung. “Tôi nhớ một lần đi thăm việc đào kênh Cái Tráp, có xảy ra sự cố nhỏ, nhưng cũng vui. Đó là khi chuẩn bị tàu cho Đại tướng và đoàn ra nơi đào kênh, đồng chí chỉ huy đã báo cáo là mọi tình huống đều chuẩn bị chu đáo. Nhưng đồng chí đó không lường trước là thủ trưởng đi xem kỹ hiện trường nên thời gian kéo dài. Khi đi thì nước thủy triều lên, tàu, thuyền đi lại dễ dàng; lúc về thủy triều xuống, tàu không cập được bến, mọi người đều phải xắn quần lội bì bõm, bùn nước lên tận đầu gối. Anh Mân đã gần 70 tuổi mà vẫn lội rất khỏe, rất vui và không hề phàn nàn!”, đồng chí Đoàn Duy Thành kể./.
St