Chủ Nhật, 4 tháng 2, 2024

KHÔNG MỘT THẾ LỰC NÀO CÓ THỂ HẠ THẤP, PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

  

Thời gian qua, lợi dụng tình hình thế giới có những diễn biến phức tạp, khó lường cùng một số mặt khó khăn của đất nước, các thế lực thù địch gia tăng hoạt động chống phá cách mạng nước ta trên nhiều hướng, đặc biệt trên môi trường mạng xã hội hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ coi đây là đột phá khẩu, con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất để xóa bỏ mọi thành quả của cách mạng Việt Nam mà Đảng và Nhân dân ta đã dày công vun đắp, tạo dựng. Nhưng thực tiễn đã khẳng định, không một thế lực nào có thể hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. 


Họ cho rằng: (1). Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước và dân tộc là phi logic, phi lịch sử, lẽ ra phải là đội ngũ tinh túy của giới tinh hoa mới phù hợp; (2). Xuyên tạc, phủ nhận vai trò lịch sử và thành quả đấu tranh cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng; (3). Đảng Cộng sản Việt Nam tuy đã thành công trong việc lãnh đạo giành lại độc lập dân tộc và xây dựng đất nước, nhưng hiện nay, một bộ phận lớn cán bộ cao cấp của Đảng thoái hóa, biến chất, tham nhũng, tiêu cực cho nên Đảng không còn là đội ngũ tiên phong để lãnh đạo đất nước nữa, v.v. Những luận điệu trên thể hiện mưu đồ đen tối, thâm hiểm, xuyên tạc, bịa đặt, hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Song, chúng ta có đầy đủ cơ sở khoa học và những luận cứ xác đáng để bác bỏ luận điệu sai lầm, phản động, phản khoa học đó. 


1. Việc xác lập vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước và dân tộc 


Trong suốt chiều dài lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc, ông cha ta đã mở mang bờ cõi, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; vừa từng bước xây dựng đất nước, vừa kiên quyết đấu tranh chống giặc ngoại xâm, chiến thắng nhiều đế quốc hung hãn, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và độc lập dân tộc. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, triều đình nhà Nguyễn đã không giữ được độc lập dân tộc. Trong bối cảnh đó, với truyền thống yêu nước nồng nàn, các tầng lớp nhân dân ta đã liên tiếp vùng lên chống giặc. Song, các phong trào: Cần Vương, Duy Tân, Đông Du và các cuộc khởi nghĩa: Yên Thế, Yên Bái,... cùng hàng chục cuộc đấu tranh khác đều bị thực dân Pháp thẳng tay đàn áp, dìm trong biển máu. Sự đô hộ của thực dân Pháp gần một thế kỷ đã chứng tỏ cả giai cấp phong kiến và đại diện cho các thế lực tư sản đã hết vai trò lịch sử, vận mệnh của dân tộc và đất nước lâm vào tình thế bế tắc, không có đường ra. Vấn đề bức thiết đặt ra lúc đó là bằng con đường nào, cách thức nào, tổ chức lực lượng thế nào để đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại độc lập dân tộc. 


Vấn đề vô cùng bức thiết này đã được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh) đưa ra lời giải đáp. Trong suốt 30 năm đi tìm đường cứu nước, Người đã nhận rõ con đường giành độc lập dân tộc phải là con đường cách mạng vô sản. Nguyễn Ái Quốc đã gieo hạt, gây mầm và tạo dựng sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Với kỳ công của Người, đã kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam chuyển hóa thành một sự kiện trọng đại: năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục và rèn luyện đã được dân tộc giao phó, giành lại độc lập dân tộc và xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Lịch sử 94 năm của Đảng là hành trình thực hiện nhiệm vụ vô cùng khó khăn, phức tạp nhưng rất đỗi vinh quang. 


2. Những thành quả to lớn của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng 


Thứ nhất, Đảng xác định và lãnh đạo nhân dân thực hiện mục tiêu lý tưởng của sự nghiệp cách mạng: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Vừa ra đời, Đảng ta đã chủ trương tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Chủ trương đó đã được nhân dân đồng tình cao và trở thành lẽ đương nhiên; chủ nghĩa xã hội lúc này không chỉ là mục tiêu lựa chọn mà còn là xung lực thúc đẩy lịch sử Việt Nam chuyển mình, là con đường để dân tộc Việt Nam tạo dựng cơ đồ đất nước ngày càng bền vững. Mục tiêu lý tưởng và sự lựa chọn độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta, xét về logic là một tất yếu khách quan; xét về lịch sử là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu và xu thế của thời đại. Đó là hệ giá trị cơ bản nhất cho đất nước Việt Nam vừa qua, hôm nay và mai sau; là con đường duy nhất để kiến tạo và phát triển đất nước. 


Thứ hai, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giành lại giang sơn cho đất nước, độc lập, tự do cho dân tộc. Nhận thức và hành động theo sự lựa chọn con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dưới ngọn cờ của Đảng, toàn thể nhân dân ta chung sức, chung lòng tiến hành cuộc cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thách thức và đã giành được những thắng lợi vĩ đại, như: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954; đại thắng mùa Xuân năm 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; chiến thắng chiến tranh biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc. 


Thứ ba, Đảng lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội với các nội dung, mục tiêu, nhiệm vụ được hình thành trên cơ sở tổng kết hoạt động thực tiễn và nâng tầm lý luận. “Xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhiệm vụ tổng thể của toàn Đảng, Nhà nước và toàn dân ta nhằm đưa nước ta thành nước tiên tiến với mục tiêu cao cả: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo, có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”. 


Bước ngoặt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là việc Đảng ta phát động và lãnh đạo tổ chức thực hiện sự nghiệp đổi mới, tạo ra bước đột phá lớn và toàn diện, làm xoay chuyển tình hình đưa đất nước tiến lên. Chính đổi mới đã đưa đất nước ta từ chỗ thiếu thốn, hàng năm phải nhập lương thực để đảm bảo mức sống tối thiểu, nay trở thành nước xuất khẩu gạo và nhiều mặt hàng nông sản đứng nhất nhì thế giới. Chưa bao giờ nhịp độ phát triển và đổi thay từ nông thôn tới thành thị, từ miền núi đến đồng bằng lại nhanh chóng, mạnh mẽ như hiện nay. Cũng chưa bao giờ phong cách sống và làm việc của mọi người lại có những nét mới mẻ, tươi vui và sinh động như hôm nay. Đổi mới đã đem đến một sức sống mới cho đất nước, tiếp sức và nâng bước cho đôi chân chúng ta trên con đường hạnh phúc. Sau gần 40 năm đổi mới, “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. 


3. Đảng và Nhà nước ta kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và đã đạt được những kết quả tích cực 


Nhận thức rõ tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất trong một bộ phận cán bộ, đảng viên sẽ làm suy yếu Đảng, giảm quyền lực của Nhà nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình chung của đất nước, Đảng và Nhà nước có quyết tâm chính trị rất cao trong đấu tranh phòng, chống các biểu hiện tiêu cực này. Nó trở thành nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị. 


Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII năm 1994, Đảng ta đã xác định nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội khác là một trong bốn nguy cơ đối với Đảng. Các nhiệm kỳ tiếp theo, Đảng ta thường xuyên ban hành các nghị quyết liên quan đến phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất. Đại hội XII của Đảng xác định rõ các nhiệm vụ trọng tâm, trong đó điều đầu tiên là: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. 


Cụ thể hóa các quan điểm, chủ trưởng của Đảng, Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống các tệ nạn này; các cơ quan chuyên trách được kiện toàn, đẩy mạnh hoạt động và phát huy hiệu quả. Cùng với những giải pháp quyết liệt trong nước, Việt Nam đã tham gia và ký kết nhiều văn bản pháp lý quốc tế về phòng, chống tham nhũng. Với quyết tâm chính trị cao của Đảng và Nhà nước, sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận, hưởng ứng của nhân dân, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thoái hóa, biến chất đã đạt được những kết quả tích cực. Trả lời phỏng vấn Thông tấn xã Việt Nam nhân dịp đầu năm 2023, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Năm 2022, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã được Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, có nhiều điểm mới, đạt nhiều kết quả cụ thể, được cán bộ, đảng viên, nhân dân và dư luận quốc tế đồng tình ủng hộ, đánh giá cao”. Đồng thời, chỉ rõ: “Trước một số ý kiến cho rằng, nếu quá tập trung vào chống tham nhũng sẽ làm “nhụt chí”, “chùn bước” những người dám nghĩ, dám làm, sẽ làm “chậm sự phát triển đất nước”; có thể khẳng định và thực tế đã chứng minh hoàn toàn ngược lại, chính nhờ làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, chúng ta giữ vững ổn định chính trị xã hội, phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng quan hệ đối ngoại, củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân và bạn bè quốc tế”. 


Sự thật không thể phủ nhận rằng chặng đường từ khi có Đảng là chặng đường rất đỗi vinh quang trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó đã chứng tỏ con đường cách mạng giải phóng dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta đã lựa chọn là đúng đắn, sáng tạo. Hiện nay, đường lối đổi mới và hội nhập quốc tế do Đảng ta khởi dựng, lãnh đạo, tổ chức thực hiện rất phù hợp với nhịp bước của thời đại. Đổi mới và hội nhập quốc tế là hai nhiệm vụ chiến lược thực hiện mục tiêu chung phát triển đất nước. Thành công của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế đã làm thay đổi rõ rệt diện mạo của đất nước, tăng cường xung lực cho đời sống xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Đất nước ta ngày càng lớn mạnh, vững chắc, tạo phong độ mới, thế mới, lực mới để vươn tầm, có đủ sức lực và trí tuệ để sánh vai cùng bạn bè thế giới. Chúng ta tin tưởng rằng, đất nước ngày càng phát triển vững chắc, tươi sáng hơn với mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Chính điều đó đã khẳng định, không một thế lực nào có thể hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam./. 

ST


Những giải pháp, nhiệm vụ để phát huy hơn nữa vai trò khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm xây dựng đất nước ngày càng giàu, mạnh, văn minh

 Thứ nhất, chủ động, tích cực đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, quán triệt sâu rộng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, trách nhiệm và hành động của cơ quan, tổ chức, đơn vị (nhất là cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp, người đứng đầu, đảng viên, cán bộ, công chức,...). Nâng cao hiệu quả và tiếp tục đổi mới, chú trọng đầu tư nhiều hơn nữa cho công tác dân vận (về con người, nguồn lực, phương tiện,...) để sẵn sàng “đi trước một bước”, làm cho nhân dân hiểu, nhân dân tin, nhân dân ủng hộ theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” để ý Đảng luôn hợp lòng dân.

Bên cạnh đó, thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo đảm an sinh, cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân. Đa dạng hóa các hình thức vận động quần chúng, tổ chức thực hiện sâu rộng, hiệu quả phong trào thi đua “dân vận khéo”; nhân rộng những mô hình dân vận điển hình, hiệu quả nhằm lan tỏa những giá trị tốt đẹp trong toàn xã hội. Giải quyết kịp thời, đúng pháp luật ngay tại cơ sở kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân, nhất là những vấn đề bức xúc xã hội nổi cộm, các vụ việc phức tạp kéo dài, tiềm ẩn nguy cơ gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Thực hiện tốt công tác tiếp dân, tăng cường đối thoại, giải quyết thực chất, dứt điểm các vụ việc phức tạp; đồng thời, cần xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”.

Thứ hai, phát huy tiềm năng, sức mạnh của nhân tố con người, khơi dậy khát vọng, tinh thần và ý chí phát triển, lòng yêu nước, niềm tự hào, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận toàn dân tộc. Chú trọng phát huy giá trị văn hóa, tính tích cực chính trị, năng lực lao động, cống hiến, đổi mới sáng tạo của con người Việt Nam; nâng cao ý chí tự lực, tự cường trong mỗi người dân trước vận mệnh và tương lai của đất nước. Coi trọng việc phát huy động lực, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, ưu tiên cho các lĩnh vực then chốt; tập trung nâng cao, tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục - đào tạo, đẩy mạnh chuyển giao ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo; xây dựng chính sách mới có tính đột phá hơn để thu hút, sử dụng, trọng dụng, đãi ngộ người tài....

Thứ ba, thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả lĩnh vực của đời sống, từ kinh tế - xã hội đến chính trị, văn hóa,...; xây dựng hình thức thích hợp để nhân dân tham gia ý kiến; tổ chức chu đáo, thiết thực việc lấy ý kiến các tầng lớp nhân dân, bảo đảm để nhân dân được thẳng thắn bày tỏ ý kiến đóng góp; khuyến khích trao đổi, tranh luận với tinh thần xây dựng về những vấn đề có ý kiến khác nhau. Giải quyết tốt nhiệm vụ kiểm soát trong thực hiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”... Đồng thời, cần khắc phục mọi biểu hiện “vi phạm dân chủ”, “coi nhẹ dân chủ” hoặc “dân chủ hình thức”; phát huy dân chủ, đề cao pháp luật, kỷ luật, kỷ cương trong toàn xã hội; tăng cường giám sát, tổng kết thực hiện nghị quyết, chỉ thị.

Thứ tư, giải quyết hài hòa, thống nhất về lợi ích cơ bản, chủ yếu giữa các giai cấp, tầng lớp, giữa các vùng, miền, giữa các dân tộc, tôn giáo nhằm tạo sự đồng thuận, thống nhất cao trong toàn xã hội. Lợi ích đó phải được thể hiện qua mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Chú trọng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của nhân dân, không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Theo đó, trong mọi quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước phải lấy lợi ích của nhân dân làm cơ sở, cần đem “tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân” và phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

Thứ năm, đấu tranh chống các âm mưu chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết toàn dân tộc. Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị dùng mọi thủ đoạn thâm độc hòng thực hiện âm mưu “chia để trị”; chúng tìm mọi cách chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc bằng những thủ đoạn, chiêu bài tinh vi, thâm độc hòng phá hoại đất nước ta từ bên trong. Đặc biệt, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên kích động nhân dân, thổi phồng, khuếch đại các vấn đề “nhạy cảm” trong xã hội; lợi dụng cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, những yếu kém trong quản lý của các cấp chính quyền ở một số nơi; thực hiện những chiêu trò đánh lạc hướng dư luận,... hòng khiến người dân từ nghi ngờ, dẫn đến mất lòng tin vào Đảng, chế độ, làm suy giảm tinh thần cách mạng của nhân dân. Do đó, cần đặc biệt chú trọng, nâng cao tinh thần cảnh giác, trách nhiệm công dân, sự đồng thuận xã hội, ý thức, trách nhiệm cộng đồng, tự lực, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; chống mọi biểu hiện tư tưởng hẹp hòi, cục bộ, chủ nghĩa cá nhân,... để không ngừng củng cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

LHQ-ST

Vai trò, sự sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc trong chuẩn bị và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

 

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời 3/2/1930 là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Đó là kết quả tất yếu của những điều kiện khách quan và chủ quan, trong đó vấn đề quan trọng hàng đầu là quá trình chuẩn bị công phu lâu dài và sự sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc.

Quá trình chuẩn bị

Ngày 11/11/1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu, Trung Quốc. Người được Quốc tế Cộng sản giao nhiệm vụ trên cương vị Ủy viên đoàn Chủ tịch Hội Quốc tế nông dân phụ trách theo dõi và chỉ đạo phong trào nông dân ở Châu Á; vừa chuẩn bị những tiền đề tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời của một chính Đảng vô sản ở Việt Nam.

Qua nghiên cứu tình hình thực tiễn Nguyễn Ái Quốc đã có nhiều biện pháp sáng tạo, phù hợp với trình độ nhận thức của nhân dân từng bước tuyên truyền đưa chủ nghĩa Mác-Lênin thâm nhập vào xã hội Việt Nam, đấu tranh với các trào lưu phi vô sản khác: Như tư tưởng phong kiến, tư tưởng tư sản... giác ngộ lập trường cứu nước giải phóng dân tộc theo hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, theo con đường cách mạng vô sản. Chủ động mở lớp huấn luyện cho những thanh niên yêu nước Việt Nam có mặt tại Quảng Châu về con đường cứu nước, giải phóng dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, huấn luyện xong cử họ về nước hoạt động tuyên truyền cách mạng. Từ đó chọn lọc những thanh niên yêu nước, trung kiên thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. Đây là một tổ chức mang tính chất quá độ, vừa tầm thích hợp. Thể hiện chủ trương rất đúng đắn, một cống hiến to lớn, sáng tạo trong chuẩn bị tiền đề tổ chức cho Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời.

Sáng tạo trong tổ chức Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản

Sau một thời gian hoạt động Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên bị tan rã, những người cộng sản chia làm nhiều phái. Nguyễn Ái Quốc bằng nhãn quan chính trị sắc xảo, nhạy bén ngày 23/01/1929 đã từ Xiêm tới Trung Quốc, quyết định triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản vào dịp tết Canh Ngọ năm 1930, để các đại biểu thuận lợi trong việc đi lại và đánh lạc hướng sự chú ý theo dõi của bọn mật thám Pháp. Người đã chọn địa điểm tổ chức Hội nghị tại Cửu Long, Hương Cảng, Trung Quốc. Vì Hương Cảng lúc này là thuộc địa của Anh, chính quyền sở tại ít chú ý tới những hoạt động yêu nước của người Việt Nam.

Từ ngày 06/01 đến ngày 07/02/1930, Hội nghị đã được tiến hành dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc. Tham dự hội nghị có hai đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng là Trịnh Đình Cửu và Nguyễn Đức Cảnh; hai đại biểu của An Nam Cộng sản Đảng là Nguyễn Thiệu và Châu Văn Liêm. “Riêng Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng cộng sản Việt Nam”.

Để chỉ đạo Hội nghị tiến hành đạt mục đích thành lập một Đảng Cộng sản duy nhất ở Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc xác định rõ vấn đề quan trọng hàng đầu là phải tự phê bình và phê bình giải quyết tốt những thành kiến của các tổ chức cộng sản dẫn đến tình trạng xung đột, công kích lẫn nhau, phải xoá bỏ những khuyết điểm đó và thành thật hợp tác để hợp nhất các tổ chức cộng sản. Với vai trò là đại diện cho Quốc tế Cộng sản và khả năng thuyết phục cảm hoá lòng người, những vấn đề bất đồng khó giải quyết lâu nay đã được hòa giải nhanh chóng.

Kết quả phê bình và tự phê bình đó dẫn tới sự thống nhất thành lập một Đảng Cộng sản. Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản có đầy đủ quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến phong trào cách mạng ở Đông Dương, tôi nói cho họ biết những sai lầm và họ đã phải làm gì. Họ đồng ý thống nhất vào một đảng”. Tiếp đó, bàn về việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và thảo luận thông qua Chính cương, Điều lệ, kế hoạch thực hiện việc thống nhất trong nước các tổ chức cộng sản, cử ban chấp hành Trung ương lâm thời. Hội nghị đã thảo luận sôi nổi và tán thành ý kiến chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, hợp nhất Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Về tên Đảng được Nguyễn Ái Quốc đưa ra Hội nghị hợp nhất ngày 03/02/1930 thông qua là Đảng Cộng sản Việt Nam, khác với chỉ thị của Quốc tế Cộng sản là lập Đảng Cộng sản Đông Dương. Đây là sự vận dụng sáng tạo nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản, Đảng phải có cơ cấu tổ chức phù hợp điều kiện, thời gian hoạt động của Đảng, với nhiệm vụ của Đảng phải giải quyết; lúc này, Đông Dương là thuộc địa của Pháp, gồm có ba dân tộc Việt - Miên - Lào sinh sống, có lịch sử quốc gia dân tộc hàng ngàn năm, có phong tục tập quán nền văn hoá riêng. Phong trào công nhân ở từng quốc gia dân tộc cũng khác nhau, nên đặt tên Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở quán triệt và tôn trọng nguyên tắc về quyền dân tộc tự quyết của chủ nghĩa Mác - Lênin. Giai cấp công nhân và đội tiền phong của nó mang bản chất quốc tế nhưng trước hết phải tự quyết về vận mệnh của dân tộc mình. Phải giành lấy chính quyền, phải tự xây dựng thành một giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc.

Sự sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc còn thể hiện rõ trong phương pháp hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng đều ra đời và hoạt động vì mục tiêu giải phóng dân tộc và nhân dân lao động. Nếu thi hành theo đúng văn bản tài liệu của Quốc tế Cộng sản chỉ đạo thì rất nhiều vấn đề khó khăn phức tạp sẽ xảy ra. Lựa ai là “chân chính cộng sản”, ai sẽ là không chân chính…? Và một ban thay mặt cho các tổ chức cộng sản mà “ít nhất một nửa số ủy viên của ban đó phải là những công nhân tích cực, lãnh tụ của phong trào quần chúng” (3). Nguyễn Ái Quốc đã chuyển nguyên khối các tổ chức đó vào Đảng Cộng sản Việt Nam, chứ không giải thể rồi lựa chọn những thành viên của các tổ chức đó để kết nạp vào Đảng như điều kiện thành lập Đảng Cộng sản ở Đông Dương do Quốc tế Công sản nêu ra.

Hội nghị hợp nhất thành công đã quyết định công bố các văn kiện đầu tiên của Đảng, bao gồm: Chính cương vắn tắt; Sách lược vắn tắt; Điều lệ vắn tắt và lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, nhằm động viên, cổ vũ đảng viên và quần chúng tin tưởng phẩn khởi bước vào giai đoạn đấu tranh mới sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời.

Như vậy, chỉ trong vòng một tháng, ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam đã thống nhất vào trong một Đảng duy nhất - Đảng Cộng sản Việt Nam. Đến đây có thể khẳng định bằng sự tổ chức tài tình, sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử trọng đại trước giai cấp công nhân và cả dân tộc Việt Nam.

Sưu tầm

Về phát huy vai trò nòng cốt, quyết định của quần chúng nhân dân trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

 Thực tiễn cho thấy, mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, xác định mục tiêu hạnh phúc, ấm no của nhân dân là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa trên quan điểm xây dựng “các cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam(11). Thời gian tới, cần tập trung nghiên cứu, điều chỉnh một số nội dung, giải pháp nhằm nâng cao vai trò của quần chúng nhân dân trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cụ thể:

Một là, xác định rõ hơn vị trí, vai trò, bản chất của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay (giai cấp sản xuất của cải vật chất cơ bản cho xã hội, nơi tập hợp trí tuệ, ý chí giải phóng toàn thể dân tộc, đất nước mỗi khi bị áp bức; giai cấp tiên tiến, đi đầu trong sự nghiệp phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc). Mặt khác, phát huy vai trò của giai cấp nông dân trong bối cảnh chuyển đổi từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh hay tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu hiện nay. Đặc biệt, không ngừng nỗ lực xây dựng chính sách nhằm giải quyết tốt lợi ích của nhân dân trong nhiều vấn đề, như thu hồi đất sản xuất, đầu tư nguồn lực cho nông nghiệp, giải quyết lao động; xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, nông thôn sinh thái, đô thị hiện đại,...

Hai là, phát huy vai trò, năng lực của đội ngũ trí thức; tập trung đầu tư giáo dục để hình thành đội ngũ trí thức đủ tâm, đủ tầm, có bản lĩnh,... góp phần thúc đẩy tinh thần đổi mới, sáng tạo, tạo chuyển biến tích cực trong tư duy phát triển và quản trị quốc gia. Cần ban hành các nghị quyết, chỉ thị, quyết định mới về chế độ, chính sách hỗ trợ, đãi ngộ nhằm thu hút, phát huy vai trò đội ngũ trí thức trong bối cảnh mới; đẩy mạnh đầu tư phát triển khoa học - công nghệ hiện đại, phục vụ đổi mới sáng tạo. Phát huy vai trò tư vấn, phản biện, tham mưu chủ trương, chính sách của đội ngũ trí thức.

Ba là, chú trọng phát triển đội ngũ doanh nhân vì mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đẩy lùi nguy cơ tụt hậu, nâng cao vị thế của Việt Nam theo tinh thần xây dựng “đội ngũ doanh nhân lớn mạnh về số lượng và chất lượng, có tinh thần cống hiến cho dân tộc, có chuẩn mực văn hóa, đạo đức tiến bộ và trình độ quản trị, kinh doanh giỏi”(12). Xây dựng Chiến lược quốc gia phát triển đội ngũ doanh nhân đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Tạo hành lang pháp lý và môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, an toàn để doanh nhân phát triển(13).

Bốn là, tăng cường giáo dục thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, văn hóa, bồi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào, tự tôn dân tộc, nuôi dưỡng hoài bão, khát vọng vươn lên; tạo mọi điều kiện để mỗi cá nhân phát triển lành mạnh, toàn diện, hài hòa cả về trí tuệ, thể chất và giá trị thẩm mỹ,... Chăm lo xây dựng, bảo vệ quyền lợi và phát huy vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong thời đại mới. Bên cạnh đó, coi trọng, ghi nhớ công lao, đóng góp của các thế hệ cán bộ lão thành cách mạng, cựu chiến binh, cán bộ hưu trí, người cao tuổi trong xây dựng và bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Phát huy vai trò của cựu chiến binh trong giáo dục lòng yêu nước, truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ, phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tham gia xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; tích cực giúp nhau làm kinh tế, cải thiện, nâng cao đời sống, làm giàu hợp pháp, góp phần xây dựng, phát triển đất nước(14). Mặt khác, tích cực tiếp thu, phát huy trí tuệ, kinh nghiệm sống, lao động, học tập,... của người cao tuổi trong xã hội, cộng đồng và gia đình.

Năm là, bảo đảm sự bình đẳng, công bằng giữa các dân tộc, kiên định mục tiêu đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển. Quan tâm tới tính đặc thù của từng vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc; phòng, chống tư tưởng kỳ thị dân tộc, dân tộc cực đoan, dân tộc hẹp hòi; nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tiếp tục vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời đẹp đạo”, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước.

Sáu là, khơi dậy mọi tiềm năng, sức sáng tạo của mỗi người dân Việt Nam góp phần để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Bên cạnh đó, tiếp tục nghiên cứu, xây dựng các chính sách nhằm xác lập địa vị pháp lý vững chắc, phát triển kinh tế và đời sống, hòa nhập với xã hội nước sở tại cho người Việt Nam ở nước ngoài; nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ công dân, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao lòng tự hào, tự trọng, tự tôn dân tộc; động viên đồng bào hướng về đất nước. Đẩy mạnh vận động người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là thế hệ trẻ, gắn bó với quê hương, trở thành cầu nối giữa Việt Nam với các nước(15).

LHQ-ST

Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

 “Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, là cội nguồn sức mạnh để dân tộc ta mãi mãi trường tồn và phát triển, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, là đường lối chiến lược, có ý nghĩa sống còn của cách mạng Việt Nam”(1). Hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã khẳng định, khi đất nước đứng trước tình thế, hoàn cảnh gian lao, thử thách mang tính bước ngoặt, “nếu biết khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, phát huy sức mạnh vĩ đại của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, thì con thuyền cách mạng Việt Nam sẽ vượt qua mọi thác ghềnh, phong ba bão táp, để cập bến bờ vinh quang”(2). Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc là chủ trương xuyên suốt, thống nhất của Đảng ta, được thể hiện trực tiếp trong nội dung nhiều văn kiện, nghị quyết, quyết định, chỉ thị qua các thời kỳ cách mạng. Đến nay, khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được củng cố vững chắc, tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, giữ vững ổn định chính trị - xã hội. Trong giai đoạn mới, Đảng ta xác định: “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(3). Nhìn chung, việc phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc được biểu hiện trực tiếp ở việc nâng cao vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, cụ thể:

Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Theo đó, yếu tố “quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc là tiếp tục tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện, xây dựng Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”(4). Thời gian qua, tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị được đổi mới, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; chú trọng hoàn thiện mô hình tổ chức của hệ thống chính trị, khắc phục sự chồng chéo, bất hợp lý nhằm hoàn thiện thể chế, bảo đảm đồng bộ, liên thông giữa quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về tổ chức bộ máy; phương thức lãnh đạo, năng lực dự báo, tầm nhìn chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương được đổi mới.

Mặt khác, Đảng tiến hành kiểm tra đối với các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước và các tổ chức chủ yếu khác trong hệ thống chính trị; phát hiện, xử lý kịp thời tình trạng tham ô, tham nhũng, thoái hóa, biến chất, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ; bảo đảm làm trong sạch Đảng và hệ thống chính trị, giữ vững niềm tin trong nhân dân. Nâng cao chất lượng, hiệu quả, hình thành nền nếp trong triển khai các quy định về tổ chức và hoạt động của Đảng, như Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng”.

 Hai là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có vai trò quan trọng trong việc phát huy tốt sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước”(5); đồng thời, nhấn mạnh mọi chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân và “lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(6). Mặt khác, Nhà nước phải không ngừng “cải thiện toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”(7) và luôn vì mục tiêu “phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc cường thịnh, trường tồn(8).

Thời gian qua, bộ máy nhà nước được xây dựng theo hướng ngày càng tinh gọn, trong sạch, vững mạnh. Mặt khác, cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 tập trung vào sáu nội dung cơ bản, đó là: cải cách thể chế; cải cách thủ tục hành chính; cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; cải cách chế độ công vụ; cải cách tài chính công và xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số.

Đến nay, nhiệm vụ xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số được chú trọng, từng bước vận hành hiệu quả các trung tâm hành chính công nhằm đáp ứng yêu cầu của công dân và xã hội; đồng thời, tiếp tục triển khai hiệu quả cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp giải quyết thủ tục hành chính,... từ đó, không ngừng củng cố lòng tin trong nhân dân. Bên cạnh đó, tập trung nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế phân cấp, bảo đảm thống nhất, thông suốt trong lãnh đạo, quản lý, điều hành cũng như phân định rõ quyền hạn và trách nhiệm trong quản lý kinh tế - xã hội từ Trung ương đến địa phương; phát huy tính chủ động, tích cực, tự chịu trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương, bảo đảm phục vụ tốt nhất người dân, doanh nghiệp. 

 Ba là, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội không ngừng đổi mới, sáng tạo, đa dạng hóa phương thức vận động quần chúng, coi trọng các phong trào thực tiễn, hạn chế việc ra nhiều nghị quyết, chỉ thị, chỉ đạo điều hành chung chung; phương thức vận động các giai tầng trong xã hội, đặc biệt là đối với đồng bào theo tôn giáo, đồng bào dân tộc thiểu số và người Việt Nam ở nước ngoài được đổi mới; chủ động nghiên cứu, xây dựng, đề xuất chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài để thu hút, huy động mọi nguồn lực cho phát triển.

Hiện nay, hoạt động giám sát và phản biện xã hội của người dân được đẩy mạnh; đồng thời, chú trọng kết hợp chặt chẽ và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra, kiểm toán nhà nước, giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; tăng cường sức mạnh tổng hợp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát, kiểm tra, tránh chồng chéo, trùng lặp, lãng phí nguồn lực, không hiệu quả. Mặt khác, cơ chế hoạt động, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từng bước được hoàn thiện; có sự hiệp thương, phối hợp thống nhất hành động giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên để phát động, triển khai sâu rộng và nâng cao chất lượng các phong trào thi đua, vận động từng tổ chức, tầng lớp nhân dân chăm lo, bảo vệ lợi ích hợp pháp chính đáng của đoàn viên, hội viên, tạo nên sự lan tỏa và tạo dựng niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa trên tinh thần “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng(9).

Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII đã có sự tổng kết, đánh giá khách quan, khoa học về những kết quả, thành tích đã đạt được cùng những hạn chế, khuyết điểm và bài học kinh nghiệm sau 20 năm thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 12-3-2003, của Hội nghị Trung ương 7 khóa IX, “Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, cụ thể: 1- Công tác xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã được Trung ương, Quốc hội, Chính phủ quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện thông qua các nghị quyết, chỉ thị, luật định, chiến lược hành động và đạt được nhiều kết quả tích cực; trình độ nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về đại đoàn kết toàn dân tộc được nâng lên; sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được phát huy trên mọi lĩnh vực,...; 2- Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn những khó khăn, thách thức cần được giải quyết triệt để, như tình trạng phân hóa giàu nghèo, di cư trái phép; tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp; tỷ lệ cán bộ là người đồng bào dân tộc thiểu số trong chính quyền còn khá thấp; hoạt động chống phá, gây chia rẽ của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, hiện đại, tác động xấu đến mối quan hệ gắn bó giữa các dân tộc; việc cụ thể hóa trong thực tiễn chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở một số lĩnh vực, địa bàn còn hạn chế, hiệu quả chưa cao,... Từ đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra các yêu cầu nhiệm vụ, giải pháp trong tình hình mới, như khẩn trương, nghiêm túc xây dựng, triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chủ trương, chính sách, đồng thời giữ vững vai trò tiên phong, hạt nhân lãnh đạo của Đảng; không ngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước trong xây dựng và thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc; tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng theo hướng sáng tạo, thực sự đại diện cho quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, phục vụ công cuộc phát triển đất nước(10),...; thống nhất ban hành Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24-11-2023, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”.

Giáo dục thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, văn hóa, bồi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào, tự tôn dân tộc, nuôi dưỡng hoài bão, khát vọng vươn lên_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

LHQ-ST

Nhựa sống được ươm mầm, sinh sôi từ tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tạo động lực cho mảnh đất Tây Nguyên nỗ lực phấn đấu, vươn lên, cống hiến ngày càng lớn vào công cuộc bảo vệ và phát triển đất nước

 Tây Nguyên là vùng đất trải dài từ Kon Tum tới Lâm Đồng, bao gồm 5 tỉnh, với diện tích trên 54 nghìn km2 và dân số 5,5 triệu người (chiếm 1/6 diện tích cả nước; lớn thứ ba trong 6 vùng kinh tế - xã hội); được coi là “phên giậu phía tây của Tổ quốc”, là “nóc nhà của Đông Dương”; bao gồm 52 dân tộc thiểu số (chiếm tỷ lệ khoảng 36% dân số toàn vùng), mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên sự giàu có, đa dạng bản sắc(15). Đây là vùng đất có nhiều tiềm năng, lợi thế về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên trong phát triển, giữ vai trò tâm điểm trong kết nối Đông - Tây; có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, bảo đảm quốc phòng - an ninh đối với cả nước...

Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số nói chung và đồng bào vùng Tây Nguyên nói riêng ngày càng phát triển, tiến bộ, văn minh. Trên cơ sở đánh giá khách quan, khoa học về những kết quả, thành tích đã đạt được cùng những hạn chế, khuyết điểm và bài học kinh nghiệm sau 20 năm thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 12-3-2003, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, Đảng ta thống nhất ban hành Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24-11-2023, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”. Một số thành quả tại vùng đã được ghi nhận, như các chương trình mục tiêu quốc gia được triển khai thực hiện hiệu quả, đời sống vật chất, tinh thần của người dân từng bước được cải thiện, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; chính sách dân tộc, tôn giáo được thực hiện tốt, khơi dậy và nâng cao ý thức đoàn kết, tính tự lực, tự cường trong việc phát triển sản xuất, giảm nghèo; giá trị văn hóa các dân tộc được bảo tồn, kế thừa và phát huy, một số di tích văn hóa, lịch sử được tu bổ, tôn tạo, trong đó Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là “kiệt tác truyền khẩu” và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại,...

Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách, tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số nói chung và đồng bào vùng Tây Nguyên nói riêng ngày càng phát triển_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Tuy nhiên, thực tiễn đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên hiện nay còn một số khó khăn, bất cập, như khoảng cách giàu - nghèo giữa các nhóm dân tộc chậm được thu hẹp, sự thụ hưởng lợi ích từ các chính sách chưa đồng đều; đất sản xuất, đất ở của đồng bào chậm được giải quyết; tâm lý ỷ lại vẫn còn ở một số nhóm người; ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa ở một số bộ phận người dân còn mờ nhạt,... Đặc biệt, tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, vấn đề tôn giáo, dân tộc, tranh chấp đất đai còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp; các thế lực thù địch vẫn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, đất đai,... để kích động, chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam(16).

Để phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh và kịp thời giải quyết hạn chế, khó khăn, vướng mắc, hướng tới đẩy mạnh phát triển “nguồn nhân lực, ổn định dân cư, ưu tiên bảo tồn và khôi phục các giá trị văn hóa truyền thống, bản sắc của các dân tộc vùng Tây Nguyên”(17), cần tiếp tục thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, giữ gìn và phát huy tinh thần đại đoàn kết dựa trên chỉ dẫn, quan điểm và tư tưởng Hồ Chí Minh, xem đó là truyền thống quý báu, sức mạnh nội sinh không thể thay thế, đồng thời, đặc biệt chú trọng nhiệm vụ tuyên truyền, quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8, khóa XIII về tiếp tục phát huy truyền thống đại đoàn kết dân tộc, hướng tới xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, từ đó, tạo cơ sở, điều kiện thuận lợi nhất cho các địa phương vùng Tây Nguyên phát triển bền vững. Có thể khẳng định, nhiệm vụ thực hiện đoàn kết dân tộc ở vùng Tây Nguyên hiện nay là củng cố tình đoàn kết, gắn bó giữa người Kinh với các dân tộc khác; đoàn kết các dân tộc thiểu số trong vùng với nhau; đoàn kết người dân các dân tộc tại chỗ và di cư từ nơi khác đến. Bên cạnh đó, nghiêm túc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước(18) trong phát triển kinh tế - xã hội một cách hiệu quả, thiết thực.

Hai là, thực hiện tốt chính sách dân tộc đặt trong mối quan hệ đồng bộ, hài hòa với chính sách phát triển kinh tế - xã hội; khắc phục bất cập, hạn chế, thiếu sót đặt ra trong thực tiễn thực thi chính sách, không ngừng nâng cao hiệu quả triển khai các nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch trong thực tế; giải quyết tốt các vấn đề lịch sử có liên quan đến dân tộc, tôn giáo, đất đai trên toàn vùng. Mặt khác, các dân tộc vùng Tây Nguyên cần phát huy hơn nữa tinh thần tự lực, tự cường, tránh để các thế lực phản động, thù địch gây chia rẽ, kích động, gây hận thù,... để sẵn sàng cùng đồng bào cả nước tương trợ lẫn nhau, nỗ lực vượt qua gian nan, thử thách, hướng tới xây dựng cuộc sống ấm no, bình yên và hạnh phúc trên tinh thần “Cả nước vì Tây Nguyên; Tây Nguyên vượt khó vươn lên cùng cả nước và vì cả nước!”(19).

Ba là, trong công cuộc xây dựng đất nước, phát triển đời sống, cần thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ, “xây” và “chống”, cụ thể: 1- Tiếp tục tuyên truyền, phổ biến sâu rộng quan điểm, đường lối của Đảng, hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước tới cơ sở; kịp thời đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, thù địch chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở vùng Tây Nguyên bằng các luận điểm khoa học, các kết quả nghiên cứu thực tiễn; 2- Cảnh giác, phòng ngừa, kịp thời đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch tiến hành tại vùng Tây Nguyên, nhất là đối với các lực lượng đã lộ diện; ngăn chặn từ xa đối với các nguy cơ tiềm ẩn bằng việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở và chú trọng xây dựng thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc./.

LHQ-ST

Tình cảm của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh

 Nhằm hưởng ứng, ủng hộ lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như thực hiện chủ trương, chỉ đạo sâu sát của Đảng, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đồng bào vùng Tây Nguyên đã nỗ lực phát huy truyền thống đoàn kết, kiên cường, bất khuất để cùng kề vai, sát cánh, anh dũng chiến đấu chống giặc ngoại xâm, đem hết sức mình xây dựng, bảo vệ thành quả cách mạng, lập nên những chiến công vang dội; cống hiến cho đất nước những người con ưu tú, xả thân vì Tổ quốc và vun đắp cho mối tình đoàn kết, keo sơn giữa các dân tộc, tiêu biểu như Đinh Núp (dân tộc Ba-na), Y Buông, A Tranh (dân tộc Xơ-đăng), N’Trang Lơng (dân tộc Mơ-nông) hoặc các vị cách mạng tiền bối, như Y Ngông Niê Kđăm, Y Bih Alêô (dân tộc Ê-đê), Nay Đer (dân tộc Gia-rai), Pi Năng Tắc (dân tộc Ra Glai),...

Ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu trút hơi thở cuối cùng trong niềm tiếc thương vô hạn của đồng bào cả nước. Thời khắc đó, chấp hành Chỉ thị của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Thường vụ Khu ủy khu V, từ ngày 4 đến ngày 10-9-1969, tại vùng giải phóng các tỉnh vùng Tây Nguyên, các ban tang lễ được thành lập để tổ chức lễ tang và truy điệu Người. Đồng bào Tây Nguyên, kể cả đồng bào trong vùng địch tạm chiếm ai nấy đều tiếc thương, đau buồn khi nghe tin Người mất, như trong câu thơ của nhà thơ Tố Hữu: “Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa”! Bằng mọi hình thức công khai hay bí mật, nhiều đồng bào đã tiến hành để tang Người trong 7 ngày, có nơi tới tận 9 ngày... Riêng anh hùng dân tộc Ba-na, Đinh Núp tự mình để tang Người trọn vẹn 100 ngày, đồng thời nhiều làng đánh chiêng tang báo tin cho nhau...; từ trẻ em đến cụ già đều tỏ lòng đau thương vô hạn.

Điều tiếc nuối nhất, lúc sinh thời, do bối cảnh đất nước bị chiến tranh, điều kiện đi lại khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh không thể thực hiện được niềm mong mỏi vào thăm miền Nam. Hàng vạn đồng bào Tây Nguyên không có may mắn được trực tiếp gặp Người như người dân những địa phương mà Người đã đặt chân đến, nhưng đồng bào vẫn cảm nhận được tình yêu thương, sự quan tâm của Người đối với mình. Đồng bào Tây Nguyên đáp lại tấm ân tình đó bằng niềm tin yêu, lòng biết ơn, kính trọng sâu sắc và sự ủng hộ chân thành. Điều này đã được cụ Y Bih Alêô, từng là Phó Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Ủy viên Hội đồng Cố vấn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam khẳng định: “Tình cảm của Bác đối với Tây Nguyên là sức mạnh vô biên, nó luôn luôn tràn đầy như nước sông Ba và cao như ngọn núi Ea Đrăng... Chúng tôi nhớ lời Bác và uống rượu cần thề với nhau sẽ mãi mãi đi theo con đường của Bác vạch ra để giải phóng quê hương”(11).

Tình cảm của đồng bào vùng Tây Nguyên đối với Bác thật sâu sắc, thậm chí, đã hóa thân vào nếp sống sinh hoạt tinh thần, văn hóa hằng ngày trong kho tàng ca dao, tục ngữ nơi đây, tiêu biểu trong số đó, có thể nhắc đến một số câu ca dao nổi bật, thường xuyên xuất hiện, như “Người Êđê chưa gặp mặt Bác Hồ/ Mà trong bụng thương hơn cha hơn mẹ” (Ca dao dân tộc Ê-đê); “Vùng Tây Nguyên rừng thiêng nước độc/ Tám, chín năm ở với Bác Hồ lúa mọc đầy nương” (Ca dao dân tộc Mơ-nông); hay “Chúng ta theo hoa đỏ/ Chúng ta theo Cụ Hồ” (Đồng bào H-rê). Thêm vào đó, đồng bào Ê-đê, Gia-rai, Ba-na cũng thường hát: “Nằm ngủ nhắc tên Hồ Chí Minh/ trời tan bóng tối, ấm năm canh”; trong ngôn ngữ dân tộc mình, người Ê-đê gọi Hồ Chủ tịch là Awa Hồ, người Ba-na gọi là Bok Hồ, người Gia-rai gọi là “Ơi”... Ở tỉnh Kon Tum, gần như gia đình đồng bào dân tộc thiểu số nào cũng treo ảnh Bác Hồ ở vị trí trang trọng nhất trong nhà, việc được tặng ảnh Bác Hồ cũng là món quà vô cùng quý giá đối với đồng bào.

Tiếp thu tình cảm, tư tưởng cũng như trí tuệ, tầm nhìn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xuyên suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cũng như trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên luôn sát cánh cùng đồng bào cả nước, một lòng theo Đảng, tin theo cách mạng quyết tâm đánh giặc, xây dựng làng chiến đấu, góp lương thực nuôi bộ đội, nuôi giấu cán bộ...; vượt qua gian nan, thử thách để dần xóa đói, giảm nghèo, xây dựng buôn, làng hạnh phúc, ấm no; hình ảnh Bác Hồ như đang hiện hữu làm điểm tựa tinh thần và cổ vũ đồng bào. Cụ Y Bih Alêô đã khẳng định: “Người Tây Nguyên chưa được tận mắt nhìn con người thật của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhưng Bác đi vào lòng đồng bào Tây Nguyên như gió mùa xuân luồn vào rừng già thấm mát và bền vững. Ai cũng thấy mình là người con trai, con gái của Bác Hồ”(12); còn bác sĩ nổi tiếng Y Ngông bày tỏ: “Lòng kính yêu Bác Hồ của nhân dân Tây Nguyên nhiều như cây rừng, cao như núi đá, dài như nước suối”(13).

Vào ngày 11-4-1978, ở thành phố Buôn Ma Thuột (tỉnh Đắk Lắk), cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đã thay mặt Đảng, Nhà nước phát biểu rằng: “Khi còn sống, Bác Hồ vô cùng thương nhớ Tây Nguyên! Trung ương Đảng, Chính phủ và nhân dân cả nước đánh giá cao sự hy sinh không bờ bến và lòng dũng cảm tuyệt vời của đồng bào Tây Nguyên và đồng bào tỉnh Đắk Lắk. Tổ quốc ta, nhân dân ta và các thế hệ mai sau đời đời nhớ ơn các liệt sĩ từ khắp mọi miền đất nước đã ngã xuống trên chiến trường Buôn Ma Thuột và Tây Nguyên(14).

LHQ-ST

Cảnh giác trước các âm mưu lôi kéo, kích động

 

Xem thông tin kết thúc phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân; khủng bố; tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép; che giấu tội phạm” xảy ra tại huyện Cư Kuin (tỉnh Đắk Lắk), nhiều bác nghỉ hưu ở khu phố 7, phường Xuân Khanh (Sơn Tây, Hà Nội) không khỏi bất ngờ. Trong giờ uống trà buổi tối, chuyện này được bàn luận sôi nổi.

- Tôi nghĩ với tính chất, hành vi khủng bố dã man, tàn bạo, nguy hiểm, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng như vậy thì mức án các bị cáo phải chịu nặng hơn. Thực tế, không chỉ người dân nước ta mà cả thế giới đều lên án mạnh mẽ hành vi khủng bố. Các nước đều đấu tranh kiên quyết và triệt để, không khoan nhượng với tội phạm khủng bố...

Cựu chiến binh Sơn vừa dứt lời, bác Mẫn cũng bày tỏ bức xúc:

- Đúng thế! Đó là chưa kể, những kẻ khủng bố hoạt động có tổ chức nhằm thực hiện mưu đồ lật đổ chính quyền nhân dân, chống phá đất nước, làm xáo trộn cuộc sống bình yên của cả huyện, cả tỉnh. Tại phiên tòa, tất cả bị cáo và luật sư bào chữa, trợ giúp viên pháp lý cho các bị cáo đều đồng ý với bản luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Ngay một số trang mạng phản động lần này cũng không thể có ý kiến phản đối tội danh của các bị cáo, bởi những hành vi nguy hiểm và tội lỗi các bị cáo gây ra đã quá rõ ràng. Đáng lẽ tòa phải tuyên phạt thích đáng hơn. 

Thấy các “bạn hưu” đều không đồng tình với mức án “nhẹ” mà tòa sơ thẩm tuyên phạt các bị cáo trong vụ khủng bố ở Đắk Lắk vào đêm 10-6, rạng sáng 11-6-2023, bác Hòa, nguyên là cán bộ ngành tư pháp, giải thích:

- Các bác nói cũng hợp lý, vì với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội khủng bố gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng như vậy thì mức án pháp luật quy định rất nặng. Tại phiên tòa, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt tử hình đối với 2 bị cáo, tù chung thân đối với 11 bị cáo, các bị cáo khác đề nghị mức án từ 12 tháng đến 20 năm tù giam. Khi nói lời sau cùng, các bị cáo đều bày tỏ đã nhận rõ hành vi phạm tội của mình và rất ăn năn hối cải, xin được Đảng, Nhà nước, pháp luật, nhân dân và Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt để sớm về đoàn tụ với gia đình, làm lại cuộc đời. Đồng thời, các bị cáo cũng xin lỗi những gia đình người bị hại và mong được tha thứ; mong mọi người không nghe theo kẻ xấu, không làm những hành vi sai trái, vi phạm pháp luật. Nhận thấy hầu hết bị cáo là người dân tộc thiểu số, hiểu biết còn hạn chế, dễ bị các đối tượng xấu lợi dụng, dụ dỗ, lôi kéo, kích động làm những việc trái pháp luật; sau khi xem xét khách quan, toàn diện vụ án, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, đặc biệt là thực hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử đã tuyên phạt các bị cáo mức án thấp hơn Viện Kiểm sát nhân dân đề nghị. Cụ thể là tuyên phạt 10 bị cáo mức án tù chung thân, các bị cáo khác bị phạt từ 9 tháng đến 20 năm tù. Như vậy, mức án này thể hiện rõ chính sách nhân văn của Đảng, Nhà nước ta, hợp lý và hợp tình. Nếu các bị cáo có trình độ hiểu biết mà phạm tội thì chắc sẽ bị xử phạt nặng hơn, các bác ạ!

Nghe ông Hòa phân tích thấu đáo, mọi người đều gật gù bày tỏ sự đồng tình. Cựu chiến binh Thắng tiếp lời:

- Tôi thấy bài học rút ra là mỗi chúng ta phải hết sức cảnh giác để không bị lôi kéo, kích động. Các cấp chính quyền cần tăng cường tuyên truyền để người dân hiểu biết pháp luật, nhận rõ những âm mưu, thủ đoạn chống phá đất nước. Mỗi gia đình, từng khu dân cư cũng phải thường xuyên quan tâm làm tốt việc này để chủ động phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, phản động. Kẻ xấu sẽ không dụ dỗ, lôi kéo được người dân làm những việc trái pháp luật nếu cán bộ, đảng viên từ cấp cơ sở sâu sát bám nắm, làm cho nhân dân hiểu và có tinh thần cảnh giác, ý thức tự giác chấp hành pháp luật, các ông nhỉ?

Ngăn ngừa suy thoái trong công nghiệp văn hóa

 Tư duy phiến diện và hành động “ăn xổi”

Công nghiệp văn hóa là một khái niệm có biên độ tư duy và phạm vi ứng dụng rộng, đa ngành, đa lĩnh vực, đa phương thức. Trên thế giới, tùy vào trình độ phát triển kinh tế-xã hội và đặc trưng văn hóa, mỗi quốc gia có cách phát triển CNVH khác nhau.

Tại Việt Nam, CNVH trên thực tế đang là lĩnh vực khá non trẻ. Trong thời kỳ đổi mới, hội nhập, Đảng, Nhà nước ta đã có định hướng phát triển CNVH từ sớm và tư duy phát triển CNVH được bổ sung, phát triển qua từng nhiệm kỳ, từng giai đoạn phát triển đất nước. Tuy nhiên, việc đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống trên lĩnh vực này vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế.

Hội nghị toàn quốc về phát triển các ngành CNVH của Chính phủ ngày 22-12-2023 đã chỉ rõ: Nội dung, hình thức sản phẩm, dịch vụ trong các lĩnh vực CNVH còn hạn chế (thiếu những sản phẩm, tác phẩm lớn, phản ánh được hơi thở, sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước; một số tác phẩm có biểu hiện "lệch chuẩn"); dễ bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài...

Sự “lệch chuẩn” trong CNVH, từ những góc nhìn cận cảnh trên thực tế, có thể thấy, nó xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ về mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển CNVH của Đảng. Từ đó dẫn đến tư duy phiến diện trong một bộ phận tổ chức, cá nhân làm văn hóa. Lối tư duy ấy sinh ra cách làm thực dụng, “ăn xổi”. Đơn cử, tại TP Hồ Chí Minh, ngành công nghiệp giải trí có sự bứt phá, vươn lên bằng các mô hình xã hội hóa. Sự huy động các nguồn lực, trong đó có nguồn lực từ kiều bào và hợp tác quốc tế đã thổi một luồng gió mới cho thị trường giải trí ở TP Hồ Chí Minh.

Hàng loạt mô hình sân khấu xã hội hóa, hãng phim tư nhân, công ty dịch vụ giải trí... ra đời, đem đến cho thị trường sự đa dạng về loại hình, phong phú về sản phẩm. Nhưng rồi, chỉ được một thời gian, nhiều mô hình đã bị thoái trào, nhiều doanh nghiệp giải thể, nhiều sân khấu đóng cửa, một số hãng phim chỉ còn cái tên trong quá khứ. Thậm chí, không ít tổ chức, cá nhân (trong đó có một số người nổi tiếng) vi phạm pháp luật đã bị truy tố.

Nhìn từ khía cạnh văn hóa tư tưởng, có thể thấy, điều đáng lo ngại hiện nay chính là những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống trong CNVH. Để kiếm nhiều tiền, muốn nhanh chóng nổi tiếng, không ít tổ chức, cá nhân sẵn sàng sử dụng chiêu trò phản cảm bằng mọi giá. Sự xuất hiện nhan nhản các danh hiệu tự phong, kiểu như: “Nữ hoàng”, “ông vua”, “nam thần”, “thánh nữ”, “ngôi sao”... cùng việc “bội thực” các cuộc thi nhan sắc khiến tình trạng “lệch chuẩn” trong thị trường giải trí ngày càng phức tạp. Bên cạnh đó là sự “lệch chuẩn” về tư tưởng, nội dung tác phẩm.

Những ồn ào dư luận xoay quanh một số bộ phim điện ảnh, tác phẩm văn học thời gian qua cho thấy, nhiều giá trị cốt lõi của văn hóa, truyền thống dân tộc bị “hư cấu” theo những góc nhìn phiến diện. Phẩm chất anh hùng, lòng yêu nước hun đúc nên cốt cách dân tộc bị “pha loãng”, trở nên hời hợt, nhạt nhòa. Thậm chí, có lúc nó bị biến thành công cụ, chi tiết để chọc cười, câu khách...

Xu thế tất yếu và tính cấp thiết “lấy xây để chống”

Nguyên nhân căn bản của những hạn chế, bất cập nêu trên chính là do môi trường CNVH bị chi phối, ảnh hưởng bởi chủ nghĩa cá nhân. Thực trạng này đòi hỏi phải chấn chỉnh, khắc phục cách làm “ăn xổi”, manh mún, chụp giật; đồng thời phải đổi mới mạnh mẽ nhận thức, tư duy và hành động trong CNVH. Báo cáo tổng kết công tác năm 2023 của ngành tuyên giáo TP Hồ Chí Minh do đồng chí Phan Nguyễn Như Khuê, Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy TP Hồ Chí Minh trình bày tại hội nghị ngày 28-12-2023 cũng nêu rõ: Công tác đấu tranh, phòng, chống luận điểm xấu độc trên không gian mạng thuộc lĩnh vực văn học, nghệ thuật chưa kịp thời; việc thực hiện cơ chế đặt hàng tác phẩm văn học nghệ thuật đối với đội ngũ sáng tạo ngoài công lập chưa tạo được sự thu hút đối với các nguồn lực xã hội...

Phát triển CNVH là xu thế tất yếu. Trong chiến lược phát triển Việt Nam hùng cường, tiềm năng, thế mạnh từ văn hóa dân tộc cần được khai mở, tận dụng, phát triển một cách mạnh mẽ, toàn diện. Đại hội XIII của Đảng xác định: “Khẩn trương triển khai có trọng tâm, trọng điểm ngành CNVH và dịch vụ văn hóa trên cơ sở xác định và phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam, vận dụng có hiệu quả các giá trị, tinh hoa và thành tựu mới của văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của thế giới”.

Để CNVH phát triển bền vững với tinh thần khẩn trương theo định hướng của Đảng, phương châm kết hợp “xây” và “chống”, “lấy xây để chống” cần được nhất quán từ chủ trương vĩ mô đến ứng dụng, phát triển các mô hình, loại hình từ cơ sở. Chính sách kinh tế trong văn hóa và văn hóa trong kinh tế được Đảng ta xác định trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (năm 1998) chính là một trong những nguyên tắc nền tảng để đổi mới tư duy, hành động “xây” và “chống” trong CNVH. Mục tiêu phát triển đã được Chính phủ xác định rõ, đến năm 2030 đạt 7% tổng sản phẩm trong nước (GDP) từ CNVH.

Cơ cấu CNVH bao gồm nhiều lĩnh vực, song ưu tiên phát triển các ngành có nhiều lợi thế, tiềm năng, như: Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, thủ công mỹ nghệ, quảng cáo, phần mềm và các trò chơi giải trí, truyền hình và phát thanh, thời trang, du lịch văn hóa...

Các ngành ưu tiên phát triển cũng chính là những lĩnh vực chứa đựng nhiều yếu tố nhạy cảm. Thời cơ cho CNVH rất lớn, nhưng thách thức cũng đến từ chính yếu tố nhạy cảm của nó mà nhiều khi hiệu lực luật pháp không can thiệp được.

Để “xây” và “chống” có hiệu quả, phải lấy vũ khí văn hóa đạo đức đẩy lùi mầm mống phản văn hóa, quét sạch chủ nghĩa cá nhân trong hoạt động văn hóa. Mục tiêu kinh tế của CNVH không chỉ có việc nâng tầm, nâng chất lượng các yếu tố về nhân lực, vật chất, công nghệ... mà cần coi trọng giá trị cốt lõi của văn hóa. Cùng với đẩy mạnh công tác giáo dục lý luận chính trị, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong môi trường CNVH, cần phát huy vai trò của các tổ chức hội, đoàn, hiệp hội từ Trung ương đến địa phương trong quản lý, định hướng lao động nghề nghiệp của văn nghệ sĩ và doanh nghiệp.

Để “xây” tốt thì phải ngăn ngừa mầm mống suy thoái ngay từ tư duy, ý tưởng sáng tạo, biểu diễn, phổ biến tác phẩm. Vai trò nòng cốt của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trong các hội, đoàn, hiệp hội cần được đề cao để hội viên các ngành, các lĩnh vực có môi trường lao động, cống hiến lành mạnh, đúng định hướng của Đảng. Muốn CNVH phát triển bền vững, phải đầu tư có trọng tâm, trọng điểm để có tác phẩm lớn.

Tác phẩm lớn xứng tầm thời đại luôn được hình thành trên nền tảng truyền thống văn hóa, cốt cách dân tộc. Rời bỏ giá trị cốt lõi ấy, tác phẩm chỉ là sự vay mượn, lai căng, nó có thể gây sốt thị trường ở một lúc, một nơi nào đó, nhưng chắc chắn khó tránh khỏi "chết yểu". Mà bản chất CNVH thì không thể nào chấp nhận những "cái chết" kiểu như vậy.

Tư tưởng, tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên

 Có thể khẳng định, sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nguyên tắc giữ gìn sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sự đoàn kết gắn bó giữa các dân tộc, tôn giáo. Người khẳng định, như một lẽ tự nhiên, “Nước ta là một nước thống nhất gồm nhiều dân tộc”(1); đồng thời, các dân tộc anh em trong đất nước luôn “gắn bó ruột thịt với nhau trên một lãnh thổ chung và trải qua một lịch sử lâu đời cùng nhau lao động và đấu tranh để xây dựng Tổ quốc tươi đẹp”(2). Theo đó, trong nhiều bài viết, bài nói chuyện, Người luôn khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của nhiệm vụ xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên tinh thần “Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị”(3).

Mặt khác, Người lý giải ngọn nguồn sức mạnh xuyên suốt cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, tự do và bảo vệ Tổ quốc là “nhờ sức đoàn kết tranh đấu chung của tất cả các dân tộc”(4), bởi vậy, Người chủ trương tất cả dân tộc “đều bình đẳng và phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ nhau như anh em. Đồng bào miền xuôi phải ra sức giúp đỡ đồng bào miền ngược cùng tiến bộ về mọi mặt”(5); đồng thời, chính sách dân tộc phải hướng đến mục đích “thực hiện sự bình đẳng giúp nhau giữa các dân tộc để cùng nhau tiến lên chủ nghĩa xã hội”(6).

Đặc biệt, đối với đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên, Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa có dịp đến thăm trực tiếp, nhưng Người luôn lo lắng, trăn trở, suy tư một cách bao quát, toàn diện nhiều vấn đề, trong xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc ngày càng vững mạnh, hướng tới hoàn thành nhiệm vụ nâng cao chất lượng cuộc sống đồng bào gắn với công cuộc bảo vệ Tổ quốc. Điều này được thể hiện ở hai khía cạnh chính sau:

Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định đồng bào vùng Tây Nguyên là một bộ phận không thể tách rời trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam; đồng thời, đánh giá cao tinh thần đoàn kết và ý chí cách mạng bất khuất của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên.

Sinh thời, Người nhiều lần khẳng định đồng bào các dân tộc là những người anh em trong cùng một nhà; đồng thời, luôn căn dặn đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý phải chú trọng chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc cả nước nói chung và đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên nói riêng. Năm 1946, trong “Thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Playcu” (lá thư được dịch ra nhiều thứ tiếng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên), Người cho rằng: “Ðồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Ðê, Xê Ðăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau... Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt”(7).

Trong một số văn bản, Người nhất quán dùng từ đồng bào (cùng bào thai) để gọi các dân tộc vùng Tây Nguyên, qua đó gợi nhớ đến truyền thuyết nguồn gốc “con Lạc - cháu Hồng”, “con Rồng - cháu Tiên” để gửi đến nhân dân vùng Tây Nguyên thông điệp về tinh thần đoàn kết với nội dung: Dù đồng bào ở Tây Nguyên là người Thượng hay người xuôi lên, dù Nam hay Bắc đều là con một nhà, chung một mẹ Việt Nam; chính vì vậy, phải yêu thương đoàn kết lẫn nhau, chỉ có đoàn kết mới chiến thắng giặc ngoại xâm, mới xây dựng và bảo vệ quốc gia - dân tộc bền vững. Những từ “ta”, “chúng ta” được Người lặp đi, lặp lại nhiều lần như để khẳng định và nhấn mạnh một đặc điểm chung, một chân lý hiển nhiên rằng đất nước Việt Nam luôn thuộc về tất cả dân tộc Việt Nam.

Bên cạnh đó, Người cho rằng, quân và dân các tỉnh vùng Tây Nguyên, từ già trẻ, gái trai, Kinh, Thượng đều có tinh thần nêu cao truyền thống anh hùng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, thi đua diệt giặc, lập công, giữ gìn buôn, rẫy,... góp phần to lớn cùng đồng bào cả nước đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược. Đồng thời, Người “nhiệt liệt khen ngợi các anh hùng, chiến sĩ thi đua, dũng sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng, cán bộ, chiến sĩ và toàn thể đồng bào Tây Nguyên đã dũng cảm chiến đấu, xây dựng hậu phương vững mạnh, phục vụ tiền tuyến, lập công vẻ vang”(8).

Thứ hai, Người xác định rõ nghĩa vụ và trách nhiệm chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; đồng thời, chủ trương phát huy mạnh mẽ giá trị tinh thần đoàn kết các dân tộc trong bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đời sống mới.

Người luôn nêu cao tinh thần đoàn kết của đồng bào các dân tộc và vạch rõ âm mưu thâm độc của thực dân, đế quốc hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân; căn dặn đồng bào phải đoàn kết chặt chẽ, kiên quyết đấu tranh đập tan âm mưu, thủ đoạn của thực dân, đế quốc, góp phần bảo vệ chính quyền, giữ gìn nền độc lập của Tổ quốc. Riêng với đồng bào Tây Nguyên, Người kêu gọi “Đồng bào và chiến sĩ Tây Nguyên đã đoàn kết càng phải đoàn kết chặt chẽ hơn nữa, cố gắng không ngừng, phát huy mạnh mẽ thắng lợi đã giành được, luôn luôn nêu cao cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu của địch”(9).

Có thể nói, vùng đất Tây Nguyên hùng vĩ đã sản sinh không ít người con ưu tú, anh hùng, có nhiều đóng góp lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, mà nhiều người trong số họ may mắn được diện kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh, như ông Y Ngông Niê Kđăm, anh hùng Núp, Thiếu tướng Y Blôk Êban, cụ Y Bih Alêô, Nghệ sĩ nhân dân Y Brơm, Nhà giáo ưu tú Nay Hwin... Các cá nhân từng được gặp Bác đều mang trong mình nhiều ấn tượng tốt đẹp, luôn ghi nhớ, trân trọng tình cảm cũng như sự quan tâm của Người với đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên. Như lời kể của cụ Y Ngông Niê Kđăm: “Lời Bác nói đến đâu thấm đến đó. Tôi thấy Bác gần gũi với các dân tộc Tây Nguyên quá. Bác như một nhân vật hiện ra từ giấc mơ của các dân tộc Tây Nguyên”(10); với cương vị công tác của mình, ông còn vinh dự được gặp Bác trong nhiều dịp khác, đối với ông, từng khoảnh khắc được gặp Bác là từng kỷ niệm sâu sắc, ý nghĩa, hằn sâu trong trái tim xuyên suốt sự nghiệp làm cách mạng của bản thân. Trong những lần gặp gỡ những người con ưu tú từ vùng Tây Nguyên, Bác đều ân cần hỏi thăm sức khỏe, tình hình đời sống đồng bào Tây Nguyên và căn dặn phải không ngừng nêu cao tinh thần đoàn kết cùng đánh đuổi thực dân Pháp để bảo vệ độc lập; luôn coi Tây Nguyên là một bộ phận không thể tách rời của nước Việt Nam thống nhất.

Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành nhiều tình cảm sâu đậm cùng những trăn trở, khát khao của mình với đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên, đó là sự quan tâm, yêu mến, thiết tha, mong muốn mảnh đất Tây Nguyên ngày càng được phát triển, mọi người đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, phát huy tinh thần tự lực, tự cường vươn lên, đoàn kết gắn bó keo sơn trên mảnh đất Việt Nam. Mặt khác, Người cũng thể hiện tư tưởng về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, theo đó không chỉ riêng các dân tộc Tây Nguyên, mà ở đâu là con dân nước Việt đều không phân biệt giai cấp, thành phần dân tộc, tôn giáo và luôn có vị trí đặc biệt trong trái tim và tư tưởng của Người - đó chính là nét đẹp cao quý trong tầm vóc lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh.

LHQ-ST