Thứ Ba, 3 tháng 12, 2024

 XÂY DỰNG Ý THỨC BẢO VỆ TỔ QUỐC TỪ SỚM, TỪ XA CHO CÁN BỘ, CHIẾN SĨ

Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, xây dựng, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện. Quân đội ta luôn mang trong mình bản chất cách mạng, truyền thống Bộ đội Cụ Hồ - Bộ đội của dân - Bộ đội vì dân.

Đó chính là cội nguồn sức mạnh, góp phần làm nên mọi thắng lợi của QĐND Việt Nam trong các giai đoạn cách mạng trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Gần 78 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy bản chất cách mạng, truyền thống Bộ đội Cụ Hồ, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội đã không quản ngại gian khổ, hy sinh, cùng toàn dân chiến đấu, chiến thắng các thế lực xâm lược, giành độc lập dân tộc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội và ngày nay đang tiến hành thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN), hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Mặc dù còn nhiều khó khăn, thử thách trên con đường phát triển nhưng Quân đội ta luôn một lòng sắt son với Đảng, tận trung với nước, tận hiếu với dân; không ngừng nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống.

Trong giai đoạn hiện nay, việc giữ vững và phát huy bản chất cách mạng, truyền thống, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ của quân đội thể hiện rõ nét ở việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”; thực hiện “giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ trên, cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, thường xuyên giáo dục, quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về bảo vệ Tổ quốc "từ sớm, từ xa”; “giữ nước từ khi nước chưa nguy”.

Quan điểm bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược, tính chủ động, sáng tạo của Đảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan điểm này là sự kế thừa bài học, kế sách “giữ nước từ khi nước chưa nguy” của tổ tiên, của ông cha ta trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Nhờ sớm nêu cao tinh thần chủ động giữ nước mà chúng ta luôn giữ vững non sông, bờ cõi, khẳng định nền độc lập, tự chủ, bảo toàn chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia.

Quan điểm bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” là tổng thể các tư tưởng, hành động của Đảng, Nhà nước và nhân dân diễn ra từ trước, nhằm sớm phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi, triệt tiêu những âm mưu, hành động chống phá chế độ, xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ, lợi ích quốc gia - dân tộc, không để Tổ quốc bị động, bất ngờ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, phát triển đất nước theo định hướng XHCN. Tư duy chiến lược về bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” của Đảng gồm nhiều nội dung, trong đó tập trung vào một số vấn đề cơ bản, như: Chủ động nắm, nghiên cứu, phân tích, dự báo chính xác tình hình thế giới, khu vực, trong nước; xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng vững mạnh; phát huy sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”; phương thức bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”; đẩy mạnh công tác đối ngoại, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN... Những nội dung đó cần được thường xuyên quán triệt để mỗi cán bộ, chiến sĩ, nhất là đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp hiểu rõ và hành động đúng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”.

Hai là, tập trung xây dựng QĐND Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó trong mọi tình huống.

Xây dựng QĐND là chủ trương lớn, thể hiện tầm nhìn chiến lược nhằm không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, bảo đảm cho quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, thực sự là lực lượng nòng cốt bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có nhiều bài viết và phát biểu chỉ đạo về xây dựng QĐND. Đặc biệt, trong bài “Xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh một số nội dung trọng tâm mà Đảng bộ Quân đội và toàn quân phải tiếp tục quán triệt, tổ chức triển khai thực hiện tốt. Đó là: (1) Quân đội phải tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, gắn bó máu thịt với nhân dân...; (2) Tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh, "gương mẫu, tiêu biểu", đáp ứng sự tin tưởng, kỳ vọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân; (3) Đặc biệt coi trọng xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân; (4) Chủ động nghiên cứu, nắm, dự báo đúng tình hình, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước chủ trương về quân sự, quốc phòng; xử lý có hiệu quả các tình huống, bảo đảm trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng không để bị động, bất ngờ; chuẩn bị sẵn sàng các giải pháp tổng thể, hóa giải nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; ứng phó có hiệu quả với các thách thức an ninh phi truyền thống trong tình hình mới; (5) Phát huy tốt vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; (6) Thực hiện đồng bộ các giải pháp xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; một số quân, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; tạo tiền đề vững chắc để phấn đấu từ năm 2030 xây dựng quân đội hiện đại. Đặc biệt, toàn quân tiếp tục nỗ lực thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng QĐND Việt Nam tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại.

Ba là, tiếp tục phát huy truyền thống, phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ trong bối cảnh, tình hình quốc tế, trong nước với nhiều diễn biến phức tạp, khó lường.

Phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ là giá trị văn hóa quân sự bền vững được hình thành và phát triển trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta. Việc tiếp tục phát huy, bồi đắp phẩm chất cao quý đó trong tình hình hiện nay sẽ tạo sức lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống xã hội và trong quân đội, góp phần xây dựng môi trường văn hóa quân sự lành mạnh, tăng cường bản chất cách mạng, xây dựng QĐND “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, trước hết là xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị. Để làm được điều đó, các cấp ủy đảng trong quân đội cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn làm tốt công tác giáo dục, quán triệt, rèn luyện, trau dồi cho cán bộ, chiến sĩ những phẩm chất tốt đẹp, giá trị nhân văn của Bộ đội Cụ Hồ đã được lưu giữ, kế thừa, không ngừng phát triển qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị của Bộ Chính trị (khóa XII, khóa XIII) và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới, gắn với Phong trào Thi đua Quyết thắng và các cuộc vận động, các phong trào khác; tạo điều kiện để cán bộ, chiến sĩ được thử thách, rèn luyện và hoàn thiện nhân cách người quân nhân cách mạng, tạo môi trường thuận lợi để phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ luôn phát huy và tỏa sáng.

Phát huy truyền thống, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới, góp phần thực hiện hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”; “giữ nước từ khi nước chưa nguy” là sự thể hiện sâu sắc tình cảm, sự tôn kính, trách nhiệm của Quân đội ta đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu; đồng thời cũng là trách nhiệm của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ QĐND hiện nay và mai sau đối với lớp lớp cán bộ, chiến sĩ QĐND thế hệ đi trước đã xây dựng, bồi đắp hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ-Bộ đội của dân. Bất luận trong điều kiện nào, hoàn cảnh khó khăn đến mấy, giá trị, phẩm chất, bản lĩnh Bộ đội Cụ Hồ luôn phải được phát huy, phát triển và tỏa sáng, nhất là trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”.

Báo QĐND

 MẶC TRANG PHỤC DÂN QUÂN TỰ VỆ TRÁI PHÉP CÓ THỂ BỊ PHẠT CAO NHẤT TỚI 4 TRIỆU ĐỒNG.

Hiện nay tình trạng mang mặc, sử dụng trang phục dân quân tự vệ, đội mũ có gắn sao trái phép xảy ra khá phổ biến. Việc sử dụng trái phép loại trang phục dành cho Dân quân tự vệ là hành vi vi phạm pháp luật. Cá biệt, có tình trạng sử dụng trang phục Dân quân tự vệ để giả danh lực lượng thu lợi bất chính và hành vi này phải được nghiêm cấm.

Theo điều 14, Luật Dân quân tự vệ 2019 quy định: Các hành vi bị nghiêm cấm về Dân quân tự vệ:

1. Thành lập, tham gia, tài trợ tổ chức, huấn luyện, điều động, sử dụng Dân quân tự vệ trái pháp luật.

2. Trốn tránh, chống đối, cản trở việc tổ chức, huấn luyện, hoạt động và thực hiện nghĩa vụ tham gia Dân quân tự vệ.

3. Giả danh Dân quân tự vệ.

4. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, nhiệm vụ của Dân quân tự vệ được giao xâm phạm lợi ích của quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

5. Sản xuất, vận chuyển, mua bán, thu gom, tàng trữ, sử dụng, chiếm giữ trái pháp luật vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ, trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật, trang phục, sao mũ, phù hiệu, tài sản của Dân quân tự vệ.

6. Phân biệt đối xử về giới trong công tác Dân quân tự vệ.

Vậy sử dụng trang phục hoặc đội mũ có gắn sao của Dân quân tự vệ trái phép bị phạt bao nhiêu tiền?

Theo khoản 26, Điều 1, Nghị định 37/2022/NĐ-CP quy định: Vi phạm quy định về sử dụng quân trang (Trang phục Dân quân tự vệ)

1. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đội mũ có gắn quân hiệu hoặc sao mũ của dân quân tự vệ trái phép;

b) Mặc quân phục có gắn cấp hiệu hoặc phù hiệu, cành tùng, biển tên quân nhân, biểu tượng quân binh chủng trái phép;

c) Mặc trang phục của dân quân tự vệ khi không thực hiện nhiệm vụ.

2. Hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này.”./.

Nguồn: Luật dân quân tự vệ năm 2019 #DQTVxavinhloihuyentanhungtinhlonganquankhu7

0 bình luận

 

 

Anh Hoai Công đã chia sẻ một bài viết.

55 phút  ·

 NGUỒN GỐC TÊN GỌI "ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG”

Mùa Hè năm 1954, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Đây là chiến thắng quyết định, dẫn tới kết quả của Hiệp định Geneve, trong đó các bên cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia. Đồng thời thực dân Pháp phải rút hoàn toàn khỏi Đông Dương, các nước Đông Dương sẽ tiến hành tổng tuyển cử tự do để tiến tới thống nhất nước nhà.

Nhân loại còn biết đến Điện Biên Phủ như một “Waterloo của thế kỷ XX”, là “hồi chuông báo tử của thực dân Pháp trên khắp quả địa cầu”, là “ngọn hải đăng trên biển cả”, là “ánh đèn pha chiếu sáng con đường đi của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới”… góp phần cổ vũ các phong trào đấu tranh giành độc lập của các nước thuộc địa trên thế giới. Bước sang thời kỳ chống Mỹ, đã có nhiều trận đánh lớn tiếp nối, trong đó có một “Điện Biên Phủ” hết sức oanh liệt diễn ra trên bầu trời Hà Nội mà báo chí thường gọi là “Điện Biên Phủ trên không”. Vậy cụm từ “Điện Biên Phủ trên không” xuất hiện từ bao giờ?

Theo Trung tá Lưu Trọng Lân - Nguyên Phó trưởng Phòng Tác huấn, Bộ Tham mưu Quân chủng PK-KQ, tác giả cuốn sách “Điện Biên Phủ trên không - Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam”, ông được nghe nhạc sĩ nổi tiếng Phạm Tuyên kể lại: Đêm 26-12-1972, Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên thắng lớn. Trong không khí hồ hởi, ngay sáng hôm sau 27-12, tại phòng giao ban của Đài Tiếng nói Việt Nam, Tổng Giám đốc Trần Lâm thông báo: “Đêm qua bộ đội ta bắn rơi 8 chiếc B-52. Riêng Hà Nội diệt 5 pháo đài bay, có 4 chiếc rơi tại chỗ. Từ Sở chỉ huy tối cao, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã biểu dương các đơn vị lập công và ra lời kêu gọi: “Kẻ địch thua đau và nhất định sẽ thất bại hoàn toàn. Nhưng, chúng vẫn còn ngoan cố kéo dài cuộc tập kích. Các đơn vị hãy bắn rơi nhiều B-52 hơn nữa, hãy giáng cho không quân Mỹ một đòn “Điện Biên Phủ” ngay trên bầu trời Hà Nội, Thủ đô thân yêu của chúng ta”.

Lời của Đại tướng đã tạo cho Nhạc sĩ Phạm Tuyên niềm xúc động sâu sắc. Ý nghĩ sáng tác một bài hát mang tên “Hà Nội - Điện Biên Phủ” bỗng lóe lên trong trí óc ông. Ngay đêm hôm đó, trong căn hầm của Đài Tiếng nói Việt Nam giữa lòng Thủ đô rực lửa chiến đấu, những nốt nhạc, những lời ca hùng tráng tuôn chảy trên giấy, dưới ngòi bút của ông: “B-52 tan xác cháy sáng bầu trời. Hào khí Thăng Long ánh lên ngời ngời. “Rồng” ta lao vút... Một trận Điện Biên nay sẽ vùi mộng xâm lăng. Hà Nội ơi!”. Sáng 28-12, cầm bản nhạc trên tay, Nhạc sĩ Phạm Tuyên đến tòa soạn Báo Nhân Dân, bài ca “Hà Nội - Điện Biên Phủ” của ông liền được đăng trên Báo Nhân Dân và phát hành ngay sáng 29-12. Và cũng trong ngày hôm ấy, khi chiến dịch Phòng không bảo vệ Hà Nội còn đang tiếp diễn, trong chương trình “Tiếng hát gửi về Nam” của Đài Tiếng nói Việt Nam, bài hát đã được phát đi trên làn sóng điện, để rồi những ngày tiếp theo, nó được lan tỏa đi muôn phương, đến với bạn bè năm châu, bốn biển.

"Hãy giáng cho không quân Mỹ một đòn Điện Biên Phủ ngay trên bầu trời Hà Nội” - lời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và “Một Điện Biên nay vùi mộng xâm lăng, Hà Nội ơi!” - lời trong bài hát của Nhạc sĩ Phạm Tuyên phải chăng là những gợi ý đầu tiên cho sự ra đời của tên gọi đặc biệt “Điện Biên Phủ trên không”?

Thực tế là sau khi thua trận đánh mang tính quyết định trên bầu trời Hà Nội, cũng giống như sau thất bại của thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ năm 1954, đế quốc Mỹ đã buộc phải ký Hiệp định Paris ngày 27-1-1973, cam kết tôn trọng các quyền cơ bản của Nhân dân Việt Nam, chấp nhận rút quân ra khỏi Việt Nam… tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho Nhân dân ta tiến lên giành toàn thắng vào mùa Xuân năm 1975. Tuy nhiên, ở đây vẫn còn một dấu hỏi là: Báo nào, đài nào đã sử dụng cụm từ “Điện Biên Phủ trên không” đầu tiên? Câu hỏi khó khăn ấy đã khiến cán bộ, nhân viên của Bảo tàng PK-KQ vào cuộc. Họ đã đến các thư viện lớn, lật từng trang báo (Nhân Dân, Quân đội nhân dân, Hà Nội mới…) phát hành trong những ngày tháng hào hùng cuối năm 1972, đầu năm 1973. Cuối cùng họ đã đạt kết quả, tìm ra được đáp số: Đó là Báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của Đảng Lao động Việt Nam (Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay). Trong số ra ngày 29-12-1972, bên cạnh bài hát “Hà Nội - Điện Biên Phủ” của Nhạc sĩ Phạm Tuyên, ở trang 2,  chuyên mục “Viết tại chỗ về Hà Nội - Điện Biên Phủ có một dòng chữ: “Hà Nội đang thắng một trận Điện Biên Phủ trên không”.

Như vậy, cái tên đầy hình ảnh và ý nghĩa “Điện Biên Phủ trên không” ấy đã xuất hiện đầu tiên trên tờ Báo Nhân Dân và lập tức được làng báo phương Tây hưởng ứng. Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” từ đó đã nhiều lần được nhắc đến trên các sách, báo, các đài phát thanh, truyền hình trong nước và nước ngoài trong suốt 50 năm qua để nói đến chiến thắng lịch sử trong 12 ngày đêm của quân và dân ta, trong đó có sự đóng góp to lớn của Bộ đội PK-KQ.

 TƯỞNG HÀ NỘI NHƯ "CHỐN KHÔNG NGƯỜI", B-52 MỸ THUA NHỤC NHÃ VÌ CHỦ QUAN KHINH ĐỊCH

Mỹ tuyên bố: "Giờ đây Không quân Mỹ có thể ném bom vào bất cứ mục tiêu nào trên lãnh thổ Bắc Việt Nam như đi dạo chơi". Và sự kiêu ngạo đó đã phải trả giá đắt.

Kết quả sau 12 ngày đêm có 81 máy bay Mỹ bị ta bắn rơi, trong đó có 34 chiếc B-52. Đi đôi với tổn thất về máy bay, phía Mỹ còn phải chịu tổn thất không bù đắp được là mất rất nhiều phi công. Tổn thất về máy bay của Mỹ chỉ tính riêng B-52 đã lên tới 17,6% (34/193 chiếc); cùng với 43 giặc lái (trong đó có 33 phi công lái máy bay chiến lược B-52), chưa kể số máy bay bị thương, mất tích và số phi công chết theo máy bay.

Với thất bại này buộc Tổng thống Mỹ Nixon buộc phải tuyên bố ngừng ném bom từ Vĩ tuyến 20 trở ra và chấp nhận họp lại Hội nghị Paris về Việt Nam. Ngày 27-01-1973, Hiệp định Paris về “chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” được ký kết.

Chiến thắng "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" là một trong những chiến thắng vĩ đại trong lịch sử của dân tộc ta, có ý nghĩa to lớn trên nhiều phương diện như chính trị, quân sự, ngoại giao, khẳng định đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng, của Bác Hồ kính yêu; cũng như tinh thần, ý chí quyết chiến, quyết thắng, sức sáng tạo của cán bộ, chiến sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam.

Nguồn ST

 6 NGƯỜI VIỆT NAM ĐƯỢC UNESCO TÔN VINH DANH NHÂN VĂN HOÁ

1. Nguyễn Trãi: Tôn vinh năm 1980, nhân dịp kỷ niệm 600 năm ngày sinh.

2. Hồ Chí Minh: Tôn vinh năm 1990, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh.

3. Nguyễn Du: Tôn vinh năm 2015, nhân dịp kỷ niệm 250 năm ngày sinh.

4. Chu Văn An: Tôn vinh năm 2019, nhân dịp kỷ niệm 650 năm ngày mất.

5. Nguyễn Đình Chiểu: Tôn vinh năm 2022, nhân dịp kỷ niệm 200 năm ngày sinh.

6. Hồ Xuân Hương: Tôn vinh năm 2022, nhân dịp kỷ niệm 250 năm ngày sinh.

 HỒ CHỦ TỊCH - VỊ ANH HÙNG KHÔNG NGHĨ TỚI MÌNH...

_________________________________________

U. Bớcsét (Ôxtrâylia)

Nói tới một con người mà cả cuộc đời đã để lại ân tình sâu nặng cho nhân dân thì không có một ai khác ngoài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, điều ân hận là Người đã qua đời trước khi hoàn thành sự nghiệp cách mạng và đạt được mục đích giành độc lập hoàn toàn cho một nước Việt Nam thống nhất mà Người đã cống hiến cả đời mình, nhưng ít nhất thì Người cũng đã ra đi với một lòng tin tưởng vào thắng lợi không còn bao xa nữa.

Đồng chí Hồ Chí Minh là một người đã cảm hóa tất cả mọi người Việt Nam từ già đến trẻ. Người là một con người thẳng thắn, khiêm tốn, giản dị. Hình ảnh anh hùng không nghĩ tới mình trước sau như một của Người, từ cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Minh trước đây đến cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt cộng (Mặt trận Dân tộc giải phóng) ngày nay, đã cổ vũ, trở thành tấm gương cho hàng chục vạn thanh niên Việt Nam thà chết, không chịu làm nô lệ.

Từ khi bắt đầu ném bom miền Bắc, Mỹ đã dùng mọi cách tàn phá những công trình công nghiệp, y tế, giáo dục – tất cả đều được xây dựng sau khi thắng Pháp – hầu như tất cả những di sản của tổ tiên để lại cũng đều bị bom đạn Mỹ biến thành những đống gạch vụn, nhưng toàn thể nhân dân miền Bắc Việt Nam đều tuân theo lời dạy của Hồ Chủ tịch: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, dù có bị tàn phá nặng nề đến như thế nào, dù cả Hà Nội và Hải Phòng cũng bị tàn phá chăng nữa.

Trong thời gian miền Bắc bị ném bom ác liệt nhất, một nông dân Việt Nam đã nói với tôi: “Ném bom quả là đáng sợ thật, nhưng so với ách chiếm đóng của bọn thực dân thì không nghĩa lý gì. Có bị tàn phá thì chúng tôi lại xây dựng lại”.

Làm việc ở ngoài hiên

Một chuyện điển hình về Hồ Chủ tịch là sau khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Người đã đặt Văn phòng Chủ tịch ở một căn nhà nguyên là chỗ ở của những nhân viên phục vụ phủ toàn quyền của Pháp trước đây. Còn phủ toàn quyền, Người chỉ chuyên dành cho các cuộc tiếp đãi chính thức.

Khi tôi hỏi Người: “Văn phòng của Chủ tịch đâu?”. Câu trả lời của Người làm cho tôi kinh ngạc: “Lúc nào trời tối thì ở ngoài hiên, khi trời mưa thì ở trong buồng ngủ”.

Sự thực là Người không có một ngôi nhà nào khác. Khi tôi đến thăm Người, với bộ quần áo vải nâu mà những người nông dân thường mặc và đôi dép cao su lốp ô tô, Người ra đón tôi như đón một người quen cũ. Tác phong giản dị, không cầu kỳ đó, Hồ Chủ tịch suốt đời không thay đổi.

Một con người nói ngắn gọn, dễ hiểu

Một đặc điểm nữa của Hồ Chủ tịch là Người trình bày những sự việc hết sức phức tạp bằng những lời lẽ rất ngắn gọn, dùng những hình ảnh hết sức trong sáng khiến cho ai cũng có thể hiểu được.

Sau khi Mỹ đưa quân đội chiến đấu vào miền Nam Việt Nam, có dư luận cho rằng chúng sẽ tiến công ra miền Bắc. Tôi hỏi Hồ Chủ tịch là nếu quân Mỹ làm như vậy thì kết quả sẽ ra sao?

Hồ Chủ tịch đã để cho tôi liên tưởng tới chuyện: “Con cáo bị mắc bẫy một chân” rồi trả lời tôi: “Nếu cứ giãy giụa lung tung định hòng thoát bẫy thì còn chân kia cũng sẽ mắc nốt. Nếu Mỹ dám tiến công miền Bắc thì kết quả rồi sẽ như vậy”.

Lần đầu tiên được gặp Hồ Chủ tịch, tôi cũng đã được thấy những hình ảnh tả thực, được nghe những câu nói ngắn gọn như những lời tiên tri như vậy. Đó là vào đầu tháng 3-1954. Tuy mới đặt chân lên đất nước Việt Nam, nhưng trên đường tới đây tôi đã được nghe Đài phát thanh Hà Nội – lúc này vẫn đang ở trong tay người Pháp - đưa tin về tình hình hoạt động của quân Pháp ở phía sau quân “Việt Minh” từ căn cứ Điện Biên Phủ. Khi đó tên Điện Biên Phủ mới bắt đầu được nói tới trong cuộc chiến tranh, do đó tôi đã hỏi Hồ Chủ tịch về Điện Biên Phủ. Hồ Chủ tịch đặt ngửa chiếc mũ lên bàn, chỉ vào đáy mũ và nói: “Đây là Điện Biên Phủ, một thung lũng có núi bao bọc xung quanh”. Sau đó Người vòng tay theo vành mũ, nói tiếp: “Quân viễn chinh Pháp ở dưới thung lũng này, chúng tôi từ trên núi ở xung quanh bao vây chúng. Chúng nhất định không thể thoát được”.

Đó là xu thế tất nhiên và lịch sử đã chứng minh rằng Hồ Chủ tịch đã nói đúng.

Khi Mỹ bắt đầu ném bom miền Bắc, tôi lại hỏi Hồ Chủ tịch là Người nghĩ như thế nào đối với việc Mỹ tuy thừa nhận là chúng không thể thắng trong cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam nhưng lại huênh hoang là bằng cách ném bom miền Bắc chúng sẽ có thể thắng được. Hồ Chủ tịch trả lời: “Mỹ đã tính lầm nếu cho rằng dựa vào việc tàn phá miền Bắc bằng bom đạn, chúng sẽ có thể thắng ở miền Nam”, “chúng tôi quyết không ngừng chiến đấu, dù là 5 năm, 10 năm, 20 năm hay lâu hơn nữa. Cuộc chiến đấu của chúng tôi là chính nghĩa, chúng tôi sẽ được sự ủng hộ của nhân dân toàn thế giới kể cả nhân dân Mỹ. Chúng tôi sẽ thắng”.

Ấn tượng nổi bật nhất mà bất cứ ai lần đầu tiên gặp Hồ Chủ tịch cũng đều cảm thấy là trí tuệ tập trung ở đôi mắt đen ngời sáng của Người, là lòng nhân đạo và sức hấp dẫn làm cho người tới thăm thấy gần gũi ngay với Người. ấn tượng thứ hai là khả năng đi thẳng vào cốt lõi của vấn đề bằng những lời lẽ ngắn gọn và rất đúng. Điều này chứng tỏ Người nắm rất chắc một cách toàn diện nội dung bàn luận.

Người không những biết sử dụng rất nhiều thứ tiếng Âu, á mà đồng thời còn rất hiểu tình hình trong nước của những người khách đến thăm.

Lịch sử sẽ dành cho Người vinh dự của một vị lãnh tụ vĩ đại mà thế kỷ XX đã sinh ra. Nhân dân Việt Nam sẽ mãi mãi ca ngợi Người.

Trích từ sách: Người là Hồ Chí Minh, (Tập hồi ký), Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội, 1995.

Hình Ảnh:Bác Hồ trong những ngày ở chiến khu Việt Bắc từ 1951-1953.

 Viettel trên đường giúp Việt Nam ‘không phụ thuộc vào bất kỳ nguồn cung vũ khí nào’

-----

Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội (Viettel) sẽ đem tới Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam 60 sản phẩm thể hiện năng lực sáng tạo, tiềm năng sản xuất trang thiết bị công nghệ hiện đại không thua kém nước ngoài của Viettel và nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam.

Viettel đặt trách nhiệm vì nền công nghiệp quốc phòng hiện đại của Việt Nam, liên tục mở rộng nghiên cứu làm chủ, sản xuất các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật có nhu cầu cấp bách, các loại vũ khí thế hệ mới, góp phần hiện đại hóa Quân đội, tự chủ nguồn cung và giảm sự phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài.

Ngoài ra, Viettel còn đang tập trung đẩy mạnh “toàn cầu” và “xuất khẩu”, trong đó, mục tiêu doanh thu xuất khẩu trên tổng doanh thu công nghiệp công nghệ cao lên đến hơn 50%, qua đó, góp phần khẳng định và quảng bá hình ảnh Viettel - Việt Nam ra nước ngoài.

Gian hàng quân sự của Viettel tại Triển lãm Quốc phòng

Tại sự kiện quan trọng và quy mô lần này, Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội (Viettel) là một trong những đơn vị của Việt Nam có nhiều sản phẩm tham gia trưng bày, giới thiệu rộng rãi với bạn bè quốc tế.

Tại triển lãm, Viettel có hai gian trưng bày. Gian hàng về quân sự giới thiệu tổng số 60 sản phẩm (6 sản phẩm ngoài trời và 54 sản phẩm trong nhà). Theo thông tin trên báo Quân đội nhân dân, gian hàng còn lại tại khu trưng bày chung của Cục kinh tế Bộ Quốc phòng với 16 nhóm sản phẩm thuộc lĩnh vực dân sự, gồm những sản phẩm chuyển đổi số, hỗ trợ cho các lĩnh vực như y tế số, gia đình số, giáo dục số, tài chính số, logistics, doanh nghiệp số, chính quyền số, giao thông số cùng những sản phẩm nghiên cứu sản xuất công nghiệp công nghệ cao.

Được biết, đây là các sản phẩm được giới thiệu đều nằm trong danh sách những sản phẩm quan trọng, hiện tại đang được Viettel đầu tư triển khai và đã thương mại cả trong và ngoài nước.

Bên cạnh việc tạo ra nguồn doanh thu tốt cho Tập đoàn hàng đầu thuộc Bộ Quốc phòng, các sản phẩm này còn thể hiện được năng lực sáng tạo, sản xuất của Viettel cũng như nền công nghiệp quốc phòng – quân sự Việt Nam trong lĩnh vực công nghệ cao.

Phổ biến hình ảnh công nghiệp quốc phòng của Viettel-Việt Nam ra thế giới

Doanh nghiệp cho biết, tham gia triển lãm, Viettel sẽ giới thiệu năng lực nghiên cứu sản xuất, nắm bắt xu thế phát triển của thế giới, marketing tại chỗ, xác định đối tác, khách hàng tiềm năng.Từ đó, phổ biến hình ảnh công nghiệp quốc phòng của Viettel-Việt Nam ra thế giới. Qua đó, Viettel cũng mong muốn đẩy mạnh hợp tác, tạo ra các hợp đồng thương mại sau sự kiện.

Tập đoàn cho hay, những triển lãm quốc tế uy tín sẽ là điểm đến thường xuyên của Viettel trong giai đoạn phát triển thứ tư của Tập đoàn. “Viettel tập trung đẩy mạnh “toàn cầu” và “xuất khẩu”, trong đó, mục tiêu doanh thu xuất khẩu trên tổng doanh thu công nghiệp công nghệ cao lên đến hơn 50%”, - đơn vị nhấn mạnh.

Đáng chú ý, Viettel mong muốn mang đến những sản phẩm quân sự cũng như dân sự tốt nhất, do đó, với tinh thần không ngừng cải tiến, phát triển, hướng đến người dùng.Tính đến nay, Viettel đã cung cấp tới Bộ Quốc phòng hơn 50 chủng loại với hàng trăm nghìn sản phẩm, chu kỳ cải tiến từ 6 tháng đến một năm tùy dòng sản phẩm.Cũng như Sputnik trước đó đề cập, Viettel gây bất ngờ cho chính người Mỹ khi đạt tới 12 bằng sáng chế tại hoa Kỳ.Viettel đã được cấp 66 sáng chế, giải pháp hữu ích và 2 Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và Công nghệ.

Từ năm 2013 đến nay, Viettel đã cung cấp hơn 2.000 bộ vật tư dự phòng cho các sản phẩm do Viettel sản xuất. Tất cả các sản phẩm do Viettel nghiên cứu, làm chủ hoàn toàn về mặt công nghệ và sản xuất giúp công tác bảo đảm kỹ thuật được nhanh chóng, thuận tiện, chủ động.

Các sản phẩm được cung cấp kèm theo các Bộ vật tư dự phòng theo hướng người sử dụng cuối có thể tự thay thế bảng mạch, nhanh chóng khắc phục sự cố. Từ những năng lực sẵn có, Viettel mong muốn mang đến những thế mạnh của mình, giới thiệu ra quốc tế.

Việt Nam không lệ thuộc vào một quốc gia nào để trang bị vũ khí

Trước đó, hôm 24/1, trả lời báo chí nước ngoài tại cuộc họp báo giới thiệu về Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam 2022, Thiếu tướng Nguyễn Việt Hùng, Phó Chính ủy Tổng cục Công nghiệp quốc phòng (Bộ Quốc phòng) cho biết, Việt Nam đang hướng đến việc tự chủ cung ứng vật tư, sản xuất ngành công nghiệp quốc phòng.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã làm chủ những công nghệ mới như hệ thống radar, hệ thống quang điện tử và một số trang thiết bị khác sẽ được trưng bày trong Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam 2022.

Đặc biệt, Quốc phòng Việt Nam là nền quốc phòng toàn dân, mang tính chất hòa bình, tự vệ; tích cực, chủ động, kiên quyết, kiên trì ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, do đó, theo Phó Chính ủy Tổng cục Công nghiệp quốc phòng (Bộ Quốc phòng), Việt Nam là một đất nước yêu chuộng hòa bình, trong lịch sử, các cuộc chiến đấu của Việt Nam là cuộc chiến tranh nhân dân.“Những sản phẩm của công nghiệp quốc phòng sẽ trưng bày tại triển lãm đều mang tính chất nổi bật nhất của nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam”, - thiếu tướng Nguyễn Việt Hùng nhắc lại.

Mũi nhọn hiện đại hoá nền quốc phòng

Lĩnh vực nghiên cứu sản xuất của Viettel nói chung và các sản phẩm Viettel mang đến triển lãm nói riêng được Viettel xác định là những mũi nhọn để đóng góp chung vào sự phát triển quốc phòng, an ninh, bám sát theo nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI.Viettel đặt trách nhiệm vì nền công nghiệp quốc phòng hiện đại của Việt Nam. Do đó, Viettel liên tục mở rộng nghiên cứu làm chủ, sản xuất các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật có nhu cầu cấp bách, các loại vũ khí thế hệ mới, góp phần hiện đại hóa Quân đội.

Nhìn từ các chia sẻ của Phó Chính ủy Tổng cục Công nghiệp quốc phòng (Bộ Quốc phòng) có thể thấy, Viettel đang đi đúng hướng trong nỗ lực tăng cường tự lực, tự chủ trong chế tạo, sản xuất các trang thiết bị vũ khí, công nghệ hiện đại và giảm sự phụ thuộc tối đa vào nguồn cung nước ngoài. Tập đoàn Viettel sẽ tiếp tục mở rộng nghiên cứu sản xuất các loại khí tài thông minh hơn, chính xác hơn, tin cậy hơn theo mô hình C5ISR - mô hình tác chiến hiện đại được áp dụng ở nhiều nước có nền khoa học quân sự tiên tiến.

Những thiết bị quân sự của Viettel đã đem lại hiệu quả thiết thực, được các đơn vị đánh giá cao về chất lượng và tính năng kỹ, chiến thuật, phù hợp với điều kiện khí hậu, nhu cầu huấn luyện và tác chiến của Quân đội. Bên cạnh đó, tập đoàn cũng bảo đảm tính bảo mật, chủ động trong sản xuất, hỗ trợ kỹ thuật, bảo hành bảo trì, giá thành cạnh tranh so với sản phẩm cùng loại của nước ngoài, tiết kiệm hàng nghìn tỷ đồng cho ngân sách.

Hướng đến là nòng cốt trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng, Viettel quyết tâm đi ngay vào chinh phục công nghệ quân sự hiện đại nhất.

Trong lĩnh vực công nghiệp điện tử viễn thông, Viettel mong muốn làm chủ các thiết bị hạ tầng của mạng 5G và triển khai diện rộng trên mạng lưới và tiến tới xuất khẩu, hoàn thiện và đưa vào ứng dụng các sản phẩm chipset 5G cho thiết bị hạ tầng mạng 5G.

Bên cạnh đó, Viettel xây dựng nền tảng kết nối vạn vật (IoT) và phát triển các chuẩn kết nối thiết bị IoT tạo ra hệ sinh thái IoT của người Việt, bảo đảm an toàn an ninh thông tin cho người dân và quốc gia, tiếp tục phát triển các thiết bị trong hệ sinh thái sản phẩm IoT cho hộ gia đình, y tế, giáo dục, giao thông, nhà máy thông minh.

Viettel cũng nghiên cứu các công nghệ năng lượng xanh tập trung vào công nghệ lưu trữ năng lượng và công nghệ quản lý sử dụng năng lượng bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, hạn chế tối đa phát thải vào môi trường.Bên cạnh đó, những công nghệ lõi Viettel đã làm chủ trong lĩnh vực quân sự hoàn toàn sử dụng chéo được cho cả dân sự. Từ đó, giúp giảm thiểu chi phí, tăng tính công nghệ của sản phẩm, tạo ra những giải pháp lưỡng dụng vừa góp phần nâng cao tiềm lực quốc phòng, vừa giúp phát triển kinh tế đất nước.

ST

 CHÍNH UỶ, CHÍNH TRỊ VIÊN: NGƯỜI CẦM SÚNG, PHẤT CỜ

 

Thực tiễn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta gần 76 năm qua cho thấy, ở bất kỳ thời điểm nào, chất lượng bộ đội, nhất là chất lượng về chính trị luôn phụ thuộc lớn vào tư cách, phẩm chất, năng lực của đội ngũ chính ủy, chính trị viên.

 

Tháng 12/1946, hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân, dân Hà Nội cùng quân, dân cả nước đứng lên chiến đấu. Các chính trị viên luôn sát cánh động viên, cùng bộ đội chiến đấu dũng cảm trên các chiến hào, trong từng góc phố, đánh bật nhiều đợt tiến công của quân Pháp.

 

Điển hình như Chính trị viên Lê Gia Định đã đập kíp bom ba càng, dũng cảm hy sinh ngay trước thềm Bắc Bộ Phủ, diệt cả tiểu đội địch. Các chiến sĩ Vệ quốc đoàn chiến đấu đến người cuối cùng tại Nhà máy Điện Yên Phụ, đầu cầu Long Biên…; giao tranh quyết liệt với quân Pháp ở nhiều vị trí quan trọng trong thành phố. Đại đội 134 gan góc chiến đấu suốt ngày đêm, bẻ gãy nhiều đợt tiến công của địch; các chiến sĩ quyết tử dùng bom ba càng xông lên diệt xe tăng địch, nhiều đồng chí dũng cảm hy sinh. Đại đội trưởng Vũ Công Định dùng tiểu liên, súng ngắn, sau đó đánh giáp lá cà với địch và hy sinh dũng cảm; Chính trị viên Lê Chí Thực cùng cán bộ, chiến sĩ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng...

 

Ngày 14/02/1947, Tiểu đoàn Quyết tử 101, sau 57 ngày đêm chiến đấu giữ Liên khu 1, chỉ còn 130 tay súng. Tiểu đoàn phó Nguyễn Hùng, Bí thư Khu bộ Ngô Lê Động hy sinh. Chính trị viên kiêm Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Khu Đồng Xuân Đỗ Tần và Chính trị viên Lê Thản bị thương vẫn bám trụ, chỉ huy đơn vị chiến đấu.

 

Trong Chiến dịch Biên giới 1950, chiến sĩ La Văn Cầu không chút do dự nhờ đồng đội chặt cánh tay bị thương, tiếp tục lao lên đánh bộc phá; Đại đội trưởng Trần Cừ lấy thân mình bịt hỏa điểm, tạo thuận lợi cho đơn vị xông lên diệt địch... Trong các trận chiến đấu đó, người chính trị viên đã làm tốt công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng cán bộ, chiến sĩ, khơi dậy lòng căm thù giặc, xác định ý chí quyết tâm chiến đấu và chiến thắng, tạo nên sức mạnh chính trị, tinh thần to lớn để bộ đội chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

 

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, đội ngũ chính uỷ, chính trị viên cùng cơ quan chính trị quán triệt quyết tâm của Trung ương và Tổng Quân ủy tới cán bộ, chiến sĩ, vượt khó khăn gian khổ, hy sinh, đoàn kết một lòng đưa chiến dịch đến toàn thắng. Có được thành công đó trong mỗi giai đoạn chiến dịch là công việc vô cùng khó khăn của người chính uỷ, chính trị viên, bởi động viên bộ đội có ý chí quyết tâm đã khó, nhưng làm công tác tư tưởng khi thay đổi phương án tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc” càng khó khăn hơn. Đội ngũ chính uỷ, chính trị viên đã tiến hành khẩn trương, liên tục công tác giáo dục, thuyết phục, chỉ đạo giải quyết từ chi bộ, từ cán bộ, đảng viên đến quần chúng, nên dù gặp vô vàn khó khăn, bộ đội vẫn nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh, nhanh chóng kéo pháo ra, khẩn trương cấu trúc lại trận địa, bảo đảm thực hiện đúng phương châm "đánh chắc, tiến chắc". Trong cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ, đã xuất hiện bao tấm gương hy sinh quên mình, tiêu biểu như: Cù Chính Lan, Phan Đình Giót, Bế Văn Đàn, Tô Vĩnh Diện... Người chiến sĩ được giáo dục, rèn luyện, thử thách trong khói lửa chiến tranh đã chiến đấu, hy sinh tất cả cho lý tưởng độc lập, tự do của dân tộc. Công tác Đảng, công tác chính trị trong các chiến dịch đã có sự phát triển toàn diện và ở đỉnh cao, nổi bật là việc đặc biệt coi trọng công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, xây dựng và củng cố quyết tâm chiến đấu cho bộ đội, lấy chi bộ làm cơ sở.

 

Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, vai trò đội ngũ chính uỷ, chính trị viên tiếp tục được phát huy, luôn đi đầu, gương mẫu trong mọi lời nói, việc làm, là linh hồn, ngọn cờ để cán bộ, chiến sĩ noi theo, đồng thời làm tốt công tác Đảng, công tác chính trị, tạo nên sức mạnh to lớn trong công tác, huấn luyện và chiến đấu. Với khẩu hiệu: “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, đội ngũ chính uỷ, chính trị viên bằng năng lực, phẩm chất của mình đã động viên, khơi dậy trong cán bộ, chiến sĩ tinh thần “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, với niềm tin mãnh liệt: “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù”, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”…, để động viên bộ đội chiến đấu, chiến thắng.

 

Biết bao tấm gương quên mình của người chiến sĩ xuất hiện trong chiến đấu và phẩm chất người chính uỷ, chính trị viên cũng được thể hiện sâu sắc, sáng chói. Tiêu biểu như hành động của Chính trị viên Nguyễn Viết Xuân trong trận chiến đấu ngày 18/11/1964 trên trọng điểm Cha Lo, miền tây Quảng Bình. Trong khói bom, lửa đạn của quân thù, Nguyễn Viết Xuân dù bị thương, gãy nát chân phải, vẫn tiếp tục chỉ huy, động viên bộ đội chiến đấu... Và trong giây phút trận địa gần như im hẳn tiếng súng bắn trả, chỉ còn tiếng máy bay địch gầm rít, tiếng bom rơi, bỗng vang lên lời hô của Chính trị viên Nguyễn Viết Xuân: “Phản lực Mỹ không có gì đáng sợ. Nhằm thẳng quân thù mà bắn!”. Hành động anh dũng tuyệt vời đó đã tiếp thêm ý chí, sức mạnh cho cán bộ, chiến sĩ Đại đội 3 vững vàng trên mâm pháo, tiếp tục nhả đạn đánh máy bay địch. Khẩu đội trưởng Nguyễn Duy Dĩnh, quần áo bốc lửa vẫn bình tĩnh chỉ huy khẩu đội bắt mục tiêu; các chiến sĩ: Nguyễn Văn Hường, Nguyễn Đặng, Đặng Văn Đinh bị thương nặng vẫn tiếp tục cùng đồng đội chiến đấu cho đến kết thúc trận đánh...

 

Mệnh lệnh chiến đấu: “Nhằm thẳng quân thù mà bắn!” của Chính trị viên Nguyễn Viết Xuân đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của bộ đội phòng không và quân, dân cả nước, trở thành khẩu hiệu hành động và được phát động thành phong trào thi đua bắn rơi thật nhiều máy bay Mỹ... Như vậy, chính uỷ, chính trị viên không chỉ là người cầm cờ, phất cờ ở vị trí tiên phong trong chiến đấu, huấn luyện, công tác; “phất cờ” trong lòng chiến sĩ; là linh hồn, sức mạnh, ý chí của bộ đội trong các trận chiến đấu đầy hy sinh, gian khổ, mà còn là người chắc tay súng, trực tiếp chiến đấu, động viên bộ đội, biến sức mạnh tinh thần của người chiến sĩ thành sức mạnh vô địch để chiến thắng kẻ thù./.

 LÁ CỜ ĐỎ SAO VÀNG NIỀM TỰ HÀO DÂN TỘC

 

 

 

Lá cờ đỏ sao vàng in trên nền cờ đỏ thắm vô cùng thiêng liêng cao cả. Nền cờ đỏ tượng trưng cho nhiệt huyết cách mạng, biểu tượng cho sự chiến đấu và chiến thắng. Màu vàng của ngôi sao tượng trưng cho linh hồn dân tộc, năm cánh sao vàng tượng trưng cho các tầng lớp nhân dân cùng đoàn kết trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

 

 

 

Lá cờ đỏ sao vàng mãi mãi là biểu tượng thiêng liêng cao cả của dân tộc Việt Nam, còn là  khát vọng hoà bình, là ước mơ, là lý tưởng cho các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Việt Nam ta đã trở thành biểu tượng  của tinh thần kiên cường bất khuất chống giặc ngoại xâm và áp bức nô dịch, vì vậy khắp các châu lục, nơi nào có áp bức người dân đều dương cao cờ đỏ sao vàng. Màu cờ như là biểu hiện cho ý chí của một dân tộc bé nhỏ dám đương đầu và đã chiến thắng những đế quốc hùng mạnh.

 

 

 

Màu cờ đỏ sao vàng giờ đây kiêu hãnh tung bay trong mọi sự kiện diễn ra của đất nước, nó còn hiện diện trên thế giới, cho các quốc gia vẫn còn đang chìm ngập trong khói lửa chiến tranh, trong sự bất công và bạo ngược. Bên cạnh đó, nó còn là hình ảnh tiêu biểu cho nghĩa vụ quốc tế thiêng liêng và cao đẹp, tuy khác nhau về màu da, ngôn ngữ và ý thức hệ, thế nhưng, ta hoàn toàn có thể nhận ra ở họ đều có chung một tiếng nói Việt Nam.

 

 

 

Thắng  lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa xuân vĩ đại năm 1975, Cờ đỏ sao vàng được tung bay trên đỉnh Dinh Độc lập đã mở ra một bước ngoặc lịch sử vĩ đại mang tên thời đại Hồ Chí Minh. Trong niềm vui hân hoan sau ngày đại thắng, ngày 4/1/1977, nhân dân hai miền cầm trên tay những lá cờ đỏ sao vàng vẫy chào chuyến tàu đặc biệt: Chuyến tàu thống nhất, chuyến tàu của sum họp, đoàn tụ gia đình Bắc - Nam. 

 

 

 

Ngày nay, trên mọi nẻo đường hoan ca của dân tộc Việt Nam ở trong nước cũng như trên trường Quốc tế đều có hình bóng lá Quốc kỳ, nhìn lá cờ tung bay tựa như có niềm hân hoan, niềm tự hào trong lòng mỗi người dân đất Việt, để chúng ta thêm vững bước trên con đường xây dựng đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như mong ước của Bác Hồ kính yêu .

 

 

 

 CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA - CHÌA KHÓA CHO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẤT NƯỚC

 

 

 

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một chủ trương lớn, xuyên suốt nhiều nhiệm kỳ. Cũng nhờ đó, mà nền trưởng kinh tế luôn giữ tốc độ trên 6% mỗi năm, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực với tỉ trọng đóng góp của công nghiệp và dịch vụ vào GDP đạt khoảng 70%.

 

 

 

Tuy nhiên, để đưa đất nước trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vẫn cần một quyết tâm cao, nỗ lực lớn và cả các giải pháp mang tính đột phá.

 

 

 

Đây là lý do Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết về "Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045" - một Nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng để lãnh đạo quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

 

 

 

Đầu tháng 2 năm nay, Tập đoàn Samsung đã đầu tư thêm gần 1 tỷ USD để mở rộng hoạt động sản xuất của Nhà máy tại Thái Nguyên. Như vậy, đến nay tổng vốn đầu tư của tập đoàn này vào Việt Nam đã lên hơn 19 tỷ USD.

 

 

 

Không chỉ Samsung, nhiều tập đoàn lớn tại nhiều quốc gia trên thế giới cũng đang tiếp tục chọn Việt Nam là để mở rộng đầu tư đưa Việt Nam trở thành 1 trung tâm sản xuất mới nổi của toàn cầu.

 

 

 

Hiện Việt Nam là 1 trong 20 nước thu hút dòng vốn FDI lớn nhất thế giới vào các ngành sản xuất và dịch vụ. Riêng khu vực này đang đóng góp đến hơn 20% GDP và chiếm tới hơn 70% giá trị xuất khẩu.

 

 

 

Doanh nghiệp FDI phát triển sẽ là tiền đề để cho các khu vực doanh nghiệp khác phát triển. Tuy nhiên điều này dường như vẫn chưa đúng với Việt Nam.

 

 

 

Hiện ở nước ta khu vực kinh tế tư nhân đang chiếm tỉ trọng khoảng 40% GDP và 85% lực lượng lao động nhưng lại chưa thực sự trở thành một động lực quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước.

 

 

 

Thực tế, hầu hết các doanh nghiệp tư nhân vẫn chưa đủ điều kiện để tham gia được vào chuỗi giá trị toàn cầu và chuỗi giá trị của các doanh nghiệp FDI. Do lạc hậu về công nghệ, chất lượng nhân lực thấp và không đồng đều, hạn chế về năng lực quản trị, nên kết quả là hiện chỉ có khoảng 1/5 doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia một số chuỗi giá trị toàn cầu và chỉ 14% thành công trong việc liên kết với đối tác nước ngoài.

 

 

 

Thực trạng này, cũng đã được đưa ra để thảo luận tại Hội nghị lần thứ 6 khi Trung ương thảo luận về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong đó, Trung ương cũng chỉ rõ, nội lực của nền kinh tế nước ta còn yếu, năng lực độc lập, tự chủ còn thấp và phụ thuộc nhiều vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Đặc biệt, công nghiệp phát triển thiếu bền vững, giá trị gia tăng thấp và chưa tham gia sâu vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

 

 

 

Xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh với năng lực sản xuất mới, tự chủ

 

 

 

Thời gian qua, khoa học, công nghệ đã đóng góp đáng kể cho tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế, đóng góp trên 30% tổng giá trị gia tăng trong nông nghiệp. Giá trị sản phẩm công nghệ cao, ứng dụng công nghệ tăng từ 26% năm 2010 lên trên 40% trong những năm gần đây.

 

 

 

Mặc dù vậy, Việt Nam vẫn còn nhiều điều kiện hạn chế về nguồn lực tài chính, nhân lực, trình độ khoa học công nghệ. Năng lực công nghệ của doanh nghiệp công nghiệp trong nước còn thấp.

 

 

 

Bên cạnh phát huy nội lực về khoa học, công nghệ, một tư duy mới của Đảng đã được thể hiện trong Nghị quyết Đại hội XIII và Nghị quyết 52 của Bộ Chính trị về "Một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ Tư". Nếu theo tư duy cũ chỉ dựa vào năng lực nội sinh thì chắc chắn Việt Nam sẽ ngày càng tụt hậu xa hơn về công nghệ so với khu vực và thế giới. Chính vì thế, cần có chiến lược thu hút công nghệ từ bên ngoài.

 

 

 

10 năm qua, tăng trưởng kinh tế nước bình quân 6,17%/năm, chất lượng tăng trưởng được cải thiện, quy mô nền kinh tế tăng nhanh, cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực với tỉ trọng đóng góp của công nghiệp và dịch vụ vào GDP đạt khoảng 72,7% năm 2020.

 

 

 

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa thực hiện được mục tiêu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Các đột phá chiến lược chưa có sự bứt phá. Nội lực của nền kinh tế còn yếu và quá trình đô thị hóa cũng chưa đồng bộ, chưa thực sự gắn kết chặt chẽ với công nghiệp hoá, hiện đại hóa và xây dựng nông thôn mới.

 

 

 

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một chủ trương lớn, nhất quán, là nhiệm vụ chiến lược, nhiệm vụ trung tâm, quan trọng hàng đầu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong suốt những năm Đổi mới. Mới đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết về "Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045". Đây là Nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng để lãnh đạo quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

 

 

 

Việc Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được đánh giá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện nền kinh tế và đời sống xã hội ngày càng dựa nhiều hơn vào sự phát triển của công nghiệp, dịch vụ trên nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

 

 

 

Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương cũng nêu rõ: Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là sự nghiệp của toàn dân và cả hệ thống chính trị, lấy con người là trung tâm, doanh nghiệp là chủ thể, đảm bảo hài hòa giữa phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

 

 

 

Phấn đấu đến 2030, Việt Nam cơ bản đạt được các tiêu chí của nước công nghiệp, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Xây dựng được nền công nghiệp quốc gia vững mạnh với năng lực sản xuất mới, tự chủ, khả năng thích ứng, chống chịu cao, từng bước làm chủ công nghệ lõi, công nghệ của các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp mũi nhọn. Còn đến 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, thuộc nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu Châu Á.

 

 

 

Cương lĩnh xây dựng đất nước năm 2011 đề ra nhiệm vụ: "Đến giữa thế kỷ 21, xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa". Đại hội XIII cũng phấn đấu đến năm 2030 đưa Việt Nam trở thành một nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao", đến năm 2045 "Trở thành nước phát triển, thu nhập cao".

 

 

 

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ là chìa khóa. Nghị quyết số 29 được ban hành sẽ là những định hướng lớn cho tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở đường cho sự phát triển của đất nước trong thời gian tới.

 

 

 

Báo Điện tử VTV News

ƯU TIÊN TĂNG TRƯỞNG, TẠO NỀN TẢNG VỮNG CHẮC ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO KỶ NGUYÊN MỚI

 Sáng 1-12, tại Hà Nội, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII; tình hình kinh tế - xã hội năm 2024, giải pháp tăng tốc, phát triển kinh tế-xã hội năm 2025 và tháo gỡ những điểm nghẽn, nút thắt về thể chế.

Tại Hội nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính truyền đạt chuyên đề “Báo cáo kinh tế - xã hội năm 2024, giải pháp tăng tốc phát triển kinh tế - xã hội năm 2025”.

Theo Thủ tướng Phạm Minh Chính, triển khai các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư, Quốc hội; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các cấp, ngành, địa phương đã bám sát tình hình thực tiễn, tập trung chỉ đạo triển khai quyết liệt, linh hoạt, hiệu quả nhiệm vụ, giải pháp trên các lĩnh vực, trong đó: Ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Tập trung thực hiện 3 đột phá chiến lược, nhất là về thể chế; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh không cần thiết, gây phiền hà, sách nhiễu cho người dân, doanh nghiệp. Tạo động lực, nền tảng phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ; thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Chú trọng phát triển văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội; phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, nhất là cơn bão số 3; tăng cường quốc phòng, an ninh; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; đẩy mạnh đối ngoại và hội nhập quốc tế...

Thủ tướng cho biết, tình hình kinh tế - xã hội 11 tháng năm 2024 đạt nhiều kết quả quan trọng, tốt hơn cùng kỳ trên hầu hết các lĩnh vực. Dự kiến 15/15 chỉ tiêu chủ yếu đạt và vượt kế hoạch, nhất là mục tiêu tăng trưởng: Tăng trưởng cả năm ước đạt trên 7% (thuộc nhóm số ít các nước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực và thế giới); kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, lạm phát được kiểm soát dưới 4%. Tính đến cuối tháng 11, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ước đạt khoảng 715 tỷ USD, tăng 15,3%, xuất siêu trên 23 tỷ USD; ước cả năm đạt 807,7 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay. Thu hút FDI là điểm sáng và nằm trong nhóm 15 nước đang phát triển thu hút FDI lớn nhất thế giới...

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng chỉ ra một số tồn tại lớn, trong đó, thể chế, pháp luật vẫn là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, nhất là quan điểm, quy trình, phương thức, phương pháp xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; đầu tư nguồn lực tài chính, con người cho công tác xây dựng pháp luật chưa tương xứng với yêu cầu thực tiễn...

Nhấn mạnh năm 2025 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, kỷ niệm 95 năm thành lập Đảng, 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, 135 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 80 năm thành lập Nước và là năm tiến hành đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV với kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; cùng với đó, tình hình thế giới, trong nước khó khăn, thách thức và thời cơ, thuận lợi đan xen. Trong bối cảnh đó, Thủ tướng nhấn mạnh: “Tất cả các cấp, ngành, địa phương phải có tư duy đổi mới, đột phá với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, tổ chức thực hiện kịp thời, linh hoạt, hiệu quả với tinh thần “dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung”; “đã nói là làm, đã cam kết là phải thực hiện; đã làm, đã thực hiện là phải có hiệu quả”; “Đảng đã chỉ đạo, Chính phủ đã thống nhất, Quốc hội đồng tình, nhân dân ủng hộ, thì chỉ bàn làm, không bàn lùi”.

Thủ tướng cho biết, Trung ương xác định mục tiêu tổng quát năm 2025 là năm tăng tốc, bứt phá, tháo gỡ khó khăn, vượt qua thách thức; lấy ổn định làm tiền đề thúc đẩy phát triển và phát triển để làm cơ sở cho ổn định; phấn đấu đạt kết quả cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm 2021-2025. Tiếp tục ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng trên cơ sở giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn và có thặng dư cao. Đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng chống chịu và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Một số chỉ tiêu chủ yếu gồm 15 chỉ tiêu chủ yếu; trong đó tăng trưởng GDP khoảng 6,5-7%; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 4.900 USD; tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân khoảng 4,5%; tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân 5,3-5,4%; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giảm khoảng 0,8-1%; bội chi ngân sách nhà nước khoảng 3,8% GDP; nợ công khoảng 35-38% GDP…

Đặc biệt, Thủ tướng nhấn mạnh, phải ưu tiên cho tăng trưởng, phấn đấu tăng trưởng GDP đạt khoảng 8% để tạo đà, tạo lực, tạo khí thế thực hiện kế hoạch cả giai đoạn 2021-2030, hoàn thành ít nhất 3.000km đường bộ cao tốc, cơ bản hoàn thành Sân bay Long Thành, các công trình lớn; xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước…; trên cơ sở đó tạo tiền đề, nền tảng vững chắc để đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình để trở thành quốc gia giàu mạnh, thịnh vượng và nhân dân ngày càng hạnh phúc, ấm no.

Trên cơ sở đó, theo Thủ tướng, Chính phủ xác định một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, gồm 8 nhóm giải pháp. Nhóm giải pháp thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế là “đột phá của đột phá”; tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả; xây dựng cơ chế, chính sách đủ mạnh để cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Nhóm giải pháp thứ hai, tiếp tục ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn và có thặng dư cao; giữ đà, giữ nhịp và tăng tốc, bứt phá, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 8%.

Nhóm giải pháp thứ ba, huy động tối đa các nguồn lực xã hội. Nhóm giải pháp thứ tư, đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng chiến lược, nhất là các dự án lớn, quan trọng, trọng điểm quốc gia.

Nhóm giải pháp thứ năm, bảo đảm cung ứng điện trong mọi tình huống, đáp ứng nhu cầu cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng cả trước mắt và lâu dài. Nhóm giải pháp thứ sáu, đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí.

Nhóm giải pháp thứ bảy, chú trọng phát triển văn hóa, bảo đảm an sinh xã hội, chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. Nhóm giải pháp thứ tám, bảo đảm ổn định chính trị, bảo vệ vững chắc, độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ; đẩy mạnh đối ngoại và hội nhập quốc tế.

 

TINH GỌN BỘ MÁY: KHÓ VẠN LẦN DÂN LIỆU CŨNG XONG

 Thực tiễn mô hình tổng thể tổ chức bộ máy Nhà nước ta từ năm 1945 đến nay, gồm: Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Theo từng giai đoạn cụ thể, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, tổ chức bộ máy và nền hành chính Việt Nam luôn có sự điều chỉnh phù hợp.

Nhân tố có ý nghĩa quyết định thành công vào sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc là tiếp tục tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tăng cường cải cách nền hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Nhất là, trong gần 40 năm đổi mới của đất nước, từ 1986 đến nay, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả nền hành chính nhà nước, xây dựng cơ cấu đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực ngang tầm nhiệm vụ, biên chế hợp lý, chuẩn hóa chức danh.

Do vậy, tinh gọn bộ máy các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị cần tiến hành đồng bộ trong tổng thể đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, cải cách bộ máy nhà nước trên tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII “về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”. Đồng thời, phát huy sức mạnh tổng hợp của nhân dân, sự đồng thuận của xã hội đối với hệ thống chính trị, phát huy hiệu quả của cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, trong đó chú trọng giải quyết tốt mối quan hệ Nhà nước – thị trường – xã hội nhằm điều hòa lợi ích của cá nhân, công dân, của các tổ chức và Nhà nước. Có như vậy, mới phát huy được sự đồng thuận của xã hội trong tinh gọn bộ máy nhà nước, thiết lập được xã hội mở rộng, bảo đảm được lợi ích của cộng đồng, thực hiện thống nhất quan điểm: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng. Vì vậy, cần tiến hành đồng bộ các giải pháp như sau:

Một là, giảm quy mô của hành chính nhà nước.

Cần tiến hành nghiên cứu khoa học trong việc đánh giá vị thế, vai trò, chức năng của Chính phủ, hợp nhất các Bộ có nghiệp vụ gần giống nhau, sắp xếp phù hợp những cơ quan có chức năng trùng lắp, xã hội hóa dịch vụ công… là những biện pháp cơ bản mà nhiều nước trên thế giới tiến hành nhằm tinh giản bộ máy hành chính nhà nước, từ đó giảm chi tiêu, tăng hiệu quả của Chính phủ.

Hai là, đẩy mạnh phân quyền.

Hướng tới một bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu năng, hiệu quả. Ở nhiều nước trên thế giới, Chính phủ đã và đang chuyển giao bớt thẩm quyền từ Trung ương xuống địa phương. Một nguyên tắc quan trọng trong phân quyền là việc gì cấp dưới có khả năng làm tốt, tiện lợi hơn cho dân và doanh nghiệp thì kiên quyết phân quyền để cấp dưới làm và chịu trách nhiệm trên cơ sở bảo đảm tính thống nhất và thể chế quản lý nhà nước. Xu hướng này một mặt tăng cường sự quản lý thống nhất và sự điều hành của Chính phủ đối với toàn quốc và địa phương; mặt khác tăng cường thẩm quyền và trách nhiệm của chính quyền địa phương, phát huy tính chủ động của địa phương.

Ba là, tháo gỡ “điểm nghẽn” thể chế.

Song song với bộ máy tinh gọn cần phải tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, đẩy mạnh quá trình xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại, tương thích với những giá trị tiến bộ của pháp luật quốc tế, tạo hành lang pháp lý cho bộ máy hoạt động hiệu quả vì mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Xét cho cùng thành quả của cách mạng thuộc về nhân dân. Cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy nhà nước cần tiến hành đồng bộ, khoa học, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và phát huy cao nhất sự đồng thuận của nhân dân – “Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”.

 

QUAN HỆ VIỆT NAM - LÀO GIỮ VAI TRÒ ĐẶC BIỆT QUAN TRỌNG

 Ngày 1.12, Tổng Bí thư Tô Lâm có cuộc điện đàm với Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Chủ tịch nước CHDCND Lào Thongloun Sisoulith.

Tổng Bí thư Tô Lâm gửi những lời chúc mừng tốt đẹp nhất tới Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào anh em nhân dịp kỷ niệm 49 năm Quốc khánh nước CHDCND Lào. Tổng Bí thư tin tưởng dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, nhân dân Lào sẽ tiếp tục giành được những thành tựu to lớn hơn nữa, đưa đất nước Lào ngày càng phát triển phồn vinh và vững mạnh.

Tổng Bí thư nhấn mạnh trước sau như một, quan hệ VN - Lào luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng, là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của VN, coi đây là một trong những nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân VN. Tổng Bí thư khẳng định VN luôn ủng hộ Lào trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, trong đó có việc ủng hộ Lào thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI và chuẩn bị tổ chức thành công Đại hội XII của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Thongloun Sisoulith nhấn mạnh quan hệ VN - Lào có ý nghĩa quyết định đối với an ninh và phát triển của mỗi nước, Lào sẽ tiếp tục ủng hộ và làm hết sức mình để giữ gìn, vun đắp cho mối quan hệ đặc biệt này ngày càng phát triển tốt đẹp. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Thongloun Sisoulith bày tỏ vui mừng và chúc mừng những thành tựu VN đã đạt được, coi đây là bài học, là nguồn động viên, cổ vũ đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước của Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào tin tưởng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản VN, đứng đầu là Tổng Bí thư Tô Lâm, VN sẽ thực hiện thành công các nhiệm vụ đề ra, vững bước tiến vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Tại cuộc điện đàm, hai nhà lãnh đạo đã trao đổi và thống nhất một số phương hướng cụ thể nhằm triển khai thực hiện Thỏa thuận cấp cao VN - Lào, phát huy tốt các cơ chế hiện có, nâng cao hiệu quả hợp tác trên các lĩnh vực, tăng cường hơn nữa mối quan hệ đoàn kết đặc biệt VN - Lào, vì lợi ích thiết thực của nhân dân mỗi nước, vì hòa bình, hợp tác và phát triển của khu vực và trên thế giới.

 

KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI LUẬN ĐIỆU TUYÊN TRUYỀN ĐÒI “CẢI CÁCH THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM”

 Hiện nay, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị đang ra sức chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam. Càng gần đến thời điểm tổ chức Đại hội XIV của Đảng, sự chống phá đó của chúng càng quyết liệt hơn. Trong đó, đòi “cải cách thể chế chính trị ở Việt Nam” là luận điệu tuyên truyền cực kỳ thâm độc, nguy hiểm. Vì thế, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mưu đồ trên là việc làm cần thiết, quan trọng.

Mục tiêu xuyên suốt, không bao giờ thay đổi của các thế lực thù địch là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nếu như trước kia, chúng thường sử dụng các tổ chức đối lập, đấu tranh nghị viện,… để từng bước làm tan rã thể chế chính trị ở các quốc gia đối lập; thì nay, trong bối cảnh quốc tế mới, hình thức, phương pháp, thủ đoạn chống phá còn đa dạng, tinh vi và thâm độc hơn. Đặc biệt, trước thềm Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch tiếp tục chống phá, trong đó ra sức tuyên truyền kích động đòi “kiến nghị khẩn cấp về cải cách thể chế” ở Việt Nam, theo hướng “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”. Chúng ngụy biện rằng, chỉ có thực hiện “đa đảng đối lập” mới có dân chủ thật sự, còn nếu một đảng thì tất yếu sẽ dẫn đến chuyên quyền, độc đoán trong quá trình lãnh đạo đất nước, dân tộc. Thật là hết sức kệch cỡm, lố bịch! Đó là chưa nói tới việc chúng cố tình quên hoặc lờ đi lịch sử cách mạng Việt Nam đã từng tồn tại nhiều đảng, nhưng rồi đều tự rút sau khi đã hoàn thành sứ mệnh của mình, chỉ còn lại duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân, dân tộc thừa nhận, giao phó quyền lãnh đạo đất nước. Không phụ lại sự ủy thác và tin cậy đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành vẻ vang sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây và công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Thực tiễn lịch sử đó là không thể phủ nhận. Vậy mà các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội chính trị vẫn ra rả luận điệu kích động đòi phải “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” - thật trơ trẽn, nực cười.

Thực chất của cái gọi là “cải cách thể chế chính trị ở Việt Nam” không gì khác hơn là mưu toan nhằm từng bước hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng ta, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Âm mưu, thủ đoạn đó của chúng gần đây có phần tiến hóa hơn, hình thức cũng đa dạng hơn và tính chất cũng thâm độc hơn. Chúng thường lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm của ta trong quá trình đổi mới đất nước để khoét sâu, thổi phồng, theo kiểu biến cái nhỏ thành cái lớn, cá biệt thành phổ biến, hiện tượng thành bản chất, từ đó quy kết thô thiển rằng: Đảng ta yếu kém, không đủ sức lãnh đạo đất nước. Cũng từ đó làm chệch hướng, lái sự nghiệp cách mạng nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Đáng chú ý là, chúng “luồn lách” vào từng vấn đề, từng khuyết điểm nhỏ nhất của sự nghiệp đổi mới để chống phá, nhất là những vấn đề nhạy cảm, như: quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị; thậm chí cố tình lý giải sai lệch bản chất của những vấn đề trên để thực hiện mưu đồ đen tối. Chúng cho rằng: “quá trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay đã xây dựng một xã hội mà vỏ ngoài là chủ nghĩa xã hội, nhưng bên trong là chủ nghĩa tư bản”.

Đại hội VI của Đảng (12-1986) đã quyết định đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đến nay Đảng ta tiếp tục khẳng định mục tiêu của đổi mới là xây dựng xã hội “dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”. Đổi mới không phải là từ bỏ mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, mà là làm cho chủ nghĩa xã hội được xây dựng có hiệu quả hơn, thiết thực hơn trên thực tế; trong đó, phải kết hợp chặt chẽ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, xây dựng Đảng là khâu then chốt, v.v.

Trước yêu cầu, điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đòi hỏi chúng ta phải nắm vững quy luật vận động khách quan của xã hội để có quyết sách phù hợp, giải quyết đúng đắn, hiệu quả mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Trong đó, cần đặt đúng vị trí đổi mới chính trị và đổi mới kinh tế; tiếp tục tận dụng thời cơ do hội nhập mang lại để thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh, bền vững. Đồng thời, có biện pháp, cách làm, bước đi đồng bộ, phù hợp để tháo gỡ những bất cập về tổ chức bộ máy, thể chế, cơ chế, chính sách. Như vậy sẽ không vô tình tạo ra kẽ hở cho các thế lực thù địch lợi dụng quá trình đổi mới đất nước để tuyên truyền kích động đòi “cải cách thể chế chính trị ở Việt Nam”.

Mặt khác, Đảng phải thường xuyên tự chỉnh đốn, tự đổi mới, xây dựng tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình. Trong đó, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ năng lực và phẩm chất ngang tầm nhiệm vụ là khâu then chốt, có ý nghĩa quyết định đến thành công của sự nghiệp đổi mới. Đồng thời, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm mọi quyền lực xã hội và nhà nước thuộc về nhân dân. Đó là cơ sở, nền tảng vững chắc của chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa ở nước ta; đồng thời là vấn đề cấp thiết, yếu tố trực tiếp làm thất bại luận điệu đòi “cải cách thể chế chính trị ở Việt Nam” của các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị.

 

TINH GỌN VÀ TINH NHUỆ

 Cán bộ “cốt tinh, không cốt đông” là quan điểm nhất quán của Đảng ta trong xây dựng đội ngũ cán bộ. Do vậy, việc tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị phải song hành cùng tinh nhuệ đội ngũ cán bộ. Đây là khâu “then chốt của then chốt” trong cuộc cách mạng, tạo sự thay đổi về chất trong hoạt động của hệ thống chính trị.

Cuộc cách mạng tinh giản bộ máy không có nghĩa là cắt giảm một cách cơ học, mà loại bỏ những vị trí không cần thiết, giảm những công việc không hiệu quả, từ đó tập trung nguồn lực cho những lĩnh vực then chốt, đồng thời lựa chọn những con người thực sự xứng đáng và phù hợp. Một bộ máy của hệ thống chính trị mạnh mẽ và hiệu quả không phải do số lượng và quy mô mà chủ yếu do chất lượng hoạt động.

Chất lượng ấy không thể nhìn vào những cán bộ yếu kém chọn cơ quan nhà nước là “vùng trú ẩn an toàn” và những cán bộ tiêu cực, nhũng nhiễu, "hành dân", "hành doanh nghiệp", có lợi ích cá nhân thì mới làm, cố tình làm chậm công việc, xin ý kiến lòng vòng, đổ lỗi cho thể chế, đổ lỗi cho sợ trách nhiệm...

Chất lượng hoạt động của bộ máy phải phụ thuộc vào khâu tổ chức bộ máy khoa học và những cán bộ vận hành bộ máy được lựa chọn, đào tạo bài bản, có chất lượng tốt cả đạo đức và trí tuệ vượt trội, thật sự gương mẫu -thà ít mà tốt.

Do vậy, ngoài “sàng lọc” thật kỹ những cán bộ đang đương chức thì Đảng, Nhà nước phải “chiếu cầu hiền tài” là con em đất Việt trên thế giới, quy tụ về chung tay phát triển đất nước. Đồng thời, tiếp tục nâng chuẩn đầu vào đối với đội ngũ cán bộ, đặc biệt là người đứng đầu. Có đội ngũ cán bộ thật sự "tinh nhuệ", bộ máy sẽ vận hành đồng bộ, khoa học, hiệu quả

 

BÁC KHÔNG ĐỒNG Ý VỚI NGHỊ QUYẾT CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ TỔ CHỨC KỶ NIỆM NGÀY SINH CỦA NGƯỜI

 Năm 1969, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về việc tổ chức bốn ngày kỷ niệm lớn: Kỷ niệm lần thứ 40 ngày thành lập Đảng ta, kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Lênin, mừng thọ Hồ Chủ tịch 80 tuổi và kỷ niệm lần thứ 25 ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Hồi đó, sức Bác đã yếu. Để giữ gìn sức khỏe của Bác, Bộ Chính trị đề nghị: Khi bàn những việc quan trọng của Đảng và Nhà nước thì mời Bác chủ trì, còn khi bàn những việc thứ yếu thì cứ bàn rối báo cáo lại. Bác cũng đồng ý như vậy. Khi Bộ Chính trị bàn việc tổ chức kỷ niệm bốn ngày lễ lớn thì Bác không dự. Nghị quyết đó ra từ tháng 4. Đến ngày 8-7 thì đăng trên báo Nhân dân. Mọi việc lớn hay nhỏ, khi Bộ Chính trị đã bàn xong đều báo cáo lại. Riêng việc này, các đồng chí cũng ngại rằng nếu Bác biết thì thể nào cũng không để tổ chức kỷ niệm ngày sinh của mình.

Hôm đó, đọc báo xong, Bác gọi các đồng chí trong Bộ Chính trị vào, Bác chỉ vào tờ báo Nhân dân để trên bàn và hỏi: Nghị quyết này các chú bàn bao giờ mà tại sao không cho Bác biết? Bác nói đại ý: tất cả các Nghị quyết của Đảng đều do Bộ Chính trị quyết định tập thể. Gần đây, Bác mệt, có một số cuộc họp không dự được. Đó là khuyết điểm của Bác. Khi đọc nghị quyết đăng trên báo, Bác tán thành nhiều điểm. Chỉ có việc riêng của Bác, Bác không đồng ý. Ai cũng biết Bác là Chủ tịch Đảng ta. Đọc nghị quyết này, người ta sẽ nghĩ rằng Bác chủ trì phiên họp Bộ Chính trị để bàn việc tổ chức lễ kỷ niệm ngày sinh của mình cho linh đình. Thế là không đúng. Bác ngừng một lúc, giở tờ báo, chỉ tay vào một đoạn trong nghị quyết và nói: Lênin là bậc thầy của cách mạng thế giới. Bác chỉ là học trò của Lênin? Sao các chú lại đặt việc riêng của Bác ngang với những việc lớn của Đảng và Nhà nước? Bác lại chỉ tay vào một đoạn nữa trong nghị quyết và hỏi các đồng chí trong Bộ Chính trị: Sao các chú cho in sách của Bác nhiều thế? Bây giờ nước nhà còn thiếu thốn, sách học, giấy học cho các cháu còn thiếu, thế mà sách báo của ta, kể cả sách của Bác, thì in lu bù. Nên bớt đi, cái gì cần lắm hãy in, để giấy cho các cháu học. Nói xong, Bác lại lấy ngón tay dò dò trên tờ báo. Thi ra vẫn chưa hết! Chỉ tay vào một chỗ trong nghị quyết, ghi việc xây dựng và tu bổ những nhà bảo tàng, nhà lưu niệm của những địa phương cơ sở cách mạng Bác nói: việc này cũng cần thiết, nhưng Bác nghỉ nước ta đang có chiến tranh, nhà cửa của nhân dân bị tàn phá nặng nề, chúng ta nên để dành vật liệu trước hết xây dựng nhà ở cho nhân dân, trường học cho các cháu và nhà giữ trẻ. Khi đời sống nhân dân sung túc, lúc đó ta hãy xây dựng bảo tàng này, bảo tàng nọ.

Từ một nghị quyết của Bộ Chính trị, Bác chỉ ra nhiều bài học rất thấm thía. Bác rất khiêm tốn, không muốn đề cao cá nhân mình, lúc nào Người cũng chỉ nhận mình là học trò của Lênin vĩ đại. Mỗi việc làm của Bác đều vì dân vì nước. Ngay cả đến khi sắp từ biệt thế giới này, Bác vẫn còn căn dặn: "Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân".

Nhờ Bác, chúng ta nhớ những lời Bác dạy. Mọi chính sách, nghị quyết của Đảng và Nhà nước đều xuất phát từ điều kiện thực tế của đất nước, và luôn đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết.

 

TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH - VŨ KHÍ SẮC BÉN TRONG XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG

 Tự phê bình và phê bình là một trong những nguyên tắc tổ chức, hoạt động và là quy luật tồn tại, phát triển của Đảng.

Thế nhưng, các thế lực thù địch luôn xuyên tạc, phủ nhận nguyên tắc này. Khi một số cấp ủy, tổ chức Đảng thực hiện không nghiêm, hiệu quả thấp thì ngay trong nội bộ Đảng cũng xuất hiện những nhận thức lệch lạc về nguyên tắc này. Vì vậy, chúng ta cần phải nhận diện đầy đủ để đấu tranh, phản bác, phê phán, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả nguyên tắc tự phê bình và phê bình là nhiệm vụ quan trọng hiện nay.

Những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ra đời đến nay khẳng định vai trò quyết định của công tác xây dựng Đảng, trong đó “sự chặt chẽ về nguyên tắc là vấn đề sống còn của Đảng và bảo đảm quan trọng nhất cho sức sống, sự trong sạch và vững mạnh của Đảng”. Điều lệ Đảng cũng xác định tự phê bình và phê bình là 1 trong 5 nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng.

Nghị quyết Trung ương 4 các khóa XI, XII và XIII đều xác định 3 nhiệm vụ cấp bách về xây dựng Đảng để tập trung những giải pháp khắc phục, trong đó sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là vấn đề cấp bách nhất, giải pháp đầu tiên được xác định và quán triệt trong cả 3 nghị quyết nêu trên đều nhấn mạnh nhiệm vụ tự phê bình và phê bình trong Đảng.

Trên thực tế, công tác tự phê bình và phê bình trong Đảng được chú trọng, thực hiện nghiêm túc, bài bản, nền nếp, mang lại những kết quả quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, góp phần khắc phục được những khuyết điểm trong mỗi tổ chức Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên (CBĐV). Tuy nhiên, hiện nay, vẫn còn không ít nơi thực hiện hình thức, đối phó, hiệu quả thấp, từ đó các thế lực thù địch luôn tìm cách xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận vai trò của nguyên tắc này; đồng thời, xuất hiện những khuynh hướng tư tưởng lệch lạc ngay trong cấp ủy, tổ chức Đảng, ĐV;...

Đồng thời, các cấp ủy, tổ chức Đảng và CBĐV đề cao cảnh giác, nhận diện rõ bản chất, âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, chủ động đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc nguyên tắc này. Mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng, CBĐV nêu cao trách nhiệm tự phê bình và phê bình như “rửa mặt hàng ngày” để xây dựng đội ngũ CBĐV trong sạch, vững mạnh. Mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng, CBĐV “phải làm cho vũ khí tự phê bình và phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên, thật sự trở thành vũ khí sắc bén của toàn Đảng, làm cho tự phê bình và phê bình thật sự là quy luật phát triển của Đảng” để Đảng ta luôn “là đạo đức, là văn minh

TỰ HÀO VỀ TÌNH ĐOÀN KẾT, GẮN BÓ KEO SƠN, BỀN CHẶT VIỆT NAM - LÀO

 Là người bạn, người đồng chí anh em thân thiết cùng chung lý tưởng, hôm nay (2-12), Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam hòa chung niềm vui với Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào anh em kỷ niệm 49 năm Quốc khánh nước Cộng hòa dân chủ nhân dân (CHDCND) Lào (2-12-1975 / 2-12-2024).

Đây không chỉ là thắng lợi vĩ đại của nhân dân Lào anh em mà còn là thắng lợi to lớn của mối quan hệ đặc biệt, liên minh đoàn kết chiến đấu thủy chung, son sắt giữa hai dân tộc chúng ta.

Dưới sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, chúng ta vui mừng nhận thấy trong suốt chặng đường gần nửa thế kỷ qua, nhất là từ khi tiến hành công cuộc đổi mới vào năm 1986, nhân dân Lào anh em đã phát huy truyền thống anh hùng, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đạt được nhiều thành tựu đáng tự hào trong bảo vệ và phát triển đất nước với độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; chính trị-xã hội ổn định; đời sống vật chất, tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện; vai trò, vị thế đất nước ngày càng được nâng cao trên trường khu vực và quốc tế.

Những thành tựu to lớn, toàn diện, tạo nên diện mạo mới cho đất nước mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào anh em đã giành được cũng là nguồn cổ vũ, động viên to lớn đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trong công cuộc đổi mới, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Nhiệt liệt chúc mừng những thành tựu có ý nghĩa lịch sử mà Lào đã đạt được trong 49 năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn ủng hộ mạnh mẽ, toàn diện công cuộc đổi mới của Lào; tin tưởng chắc chắn rằng, tiếp nối truyền thống của các thế hệ đi trước và phát huy những thành tựu đã đạt được, dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, nhân dân Lào anh em sẽ tiếp tục giành được nhiều thành tựu mới, to lớn hơn nữa, xây dựng thành công đất nước Lào hòa bình, độc lập, dân chủ, đoàn kết, công bằng, văn minh, giàu mạnh theo mục tiêu chủ nghĩa xã hội.

Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn tự hào có người bạn, người đồng chí anh em Lào thủy chung, son sắt; luôn coi trọng và dành ưu tiên cao nhất cho mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa hai nước. Chúc tình đoàn kết, gắn bó keo sơn Việt Nam-Lào mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững, không ngừng đơm hoa thơm, kết trái ngọt, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển, thịnh vượng ở khu vực và trên thế giới./.

 

SỨ MỆNH CỦA THANH NIÊN TRONG KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC

 Ban Bí thư Trung ương Đoàn vừa ban hành kế hoạch tổ chức diễn đàn Tiếng nói tuổi trẻ - Hành động của Đoàn năm 2025 với chủ đề “Sứ mệnh thanh niên trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”.

Đây là hoạt động thực hiện Luật Thanh niên năm 2020, Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2021 – 2030, thiết thực kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước trong năm 2025, hướng tới Đại hội Đảng các cấp, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, kỷ niệm 94 năm Ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (26/3/1931 - 26/3/2025).

Diễn đàn là dịp để Ban Bí thư T.Ư Đoàn trực tiếp trao đổi, cung cấp thông tin, chia sẻ, định hướng hoạt động cho đoàn viên, thanh thiếu nhi về các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong công tác chăm lo, giáo dục và bồi dưỡng thế hệ trẻ; các chương trình, hoạt động của Đoàn – Hội – Đội. Đồng thời, đây cũng là dịp để lắng nghe, chia sẻ tâm tư, nguyện vọng, hiến kế của đoàn viên, thanh niên, thiếu niên, nhi đồng trong và ngoài nước.

Theo kế hoạch, diễn đàn sẽ diễn ra chiều 13/3/2025, với điểm cầu trung tâm tại Hà Nội và điểm cầu tại các tỉnh, thành Đoàn. Điểm cầu tại nước ngoài kết nối trực tiếp với các tổ chức Đoàn, Hội ở ngoài nước.

Với chủ đề “Sứ mệnh thanh niên trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, Diễn đàn sẽ tập trung trao đổi về 4 nội dung. Cụ thể, là xây dựng thế hệ trẻ thời kỳ mới phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Sứ mệnh của thanh niên trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, ch.u.y.ể.n đ.ổ.i s.ố quốc gia và hội nhập quốc tế. Chống lãng phí và trách nhiệm của thế hệ trẻ. Xây dựng Đoàn vững mạnh toàn diện, góp phần tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, hệ thống chính trị.

 

VÌ SAO GỌI LÀ CHIẾN THẮNG “HÀ NỘI - ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG”

 Cách đây 51 năm, đế quốc Mỹ điên cuồng mở cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B.52 oanh tạc, hủy diệt vào Thủ đô Hà Nội, Thành Phố Hải Phòng, Thái Nguyên với dã tâm biến Miền Bắc Việt Nam trở về “thời kỳ đồ đá”, nhưng đã bị quân và dân ta trừng trị phải nhận thất bại thảm hại. Trận chiến này được coi là chiến thắng Điện Biên Phủ thứ 2 của quân dân Việt Nam.

Năm 1954, với thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ đã làm sụp đổ chế độ thực dân kiểu cũ, buộc thực dân Pháp phải ngồi vào đàm phán với Việt Nam, ký Hiệp định Giơ-ne-vơ (tháng 7/1954), chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam và rút hết quân đội về nước.

Còn chiến thắng 12 ngày đêm cuối năm 1972 đã khởi nguồn cho sự sụp đổ chế độ thực dân kiểu mới, buộc đế quốc Mỹ phải ngồi lại đàm phán với ta ở Hội nghị Pa-ri và ký “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” (ngày 27/01/1973).

Hai sự kiện giống nhau về tầm vóc và ý nghĩa, đều giành thắng lợi và buộc kẻ thù phải ngồi đàm phán, ký kết hiệp định công nhận độc lập chủ quyền của Dân Tộc ta; đều là đỉnh cao của khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Chiến thắng 12 ngày đêm cuối năm 1972 của quân dân miền Bắc và Thủ đô Hà Nội có giá trị lịch sử, ý nghĩa sâu sắc trên nhiều lĩnh vực quân sự, chính trị, ngoại giao,… như trận toàn thắng trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 đã “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” nên gọi đó là chiến thắng “HÀ NỘI – ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG”./.