Thứ Ba, 3 tháng 12, 2024

 

ĐỪNG THẤY QUYẾT TÂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT MAN MÀ “BẺ LƯỠI” ĐỂ THỰC HIỆN MƯU ĐỒ ĐEN TỐI

Hiện nay, dư luận xã hội nói chung và quốc tế nói riêng đang rất quan tâm đến công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Đây là quyết tâm chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm làm trong sạch bộ máy của Đảng và Nhà nước; quyết tâm loại bỏ những cán bộ, đảng viên suy thoái về phẩm chất đạo đức, đi ngược lại với lợi ích của Đảng và Nhân dân. Sự quan tâm đó, thể hiện niềm tin của Nhân dân và cộng đồng quốc tế vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà Nước ta. Ở chiều ngược lại, đó chính là thể hiện sự cam kết của Đảng và Nhà nước ta trước Nhân dân và cộng đồng quốc tế về công tác phòng, chống tham nhũng, được đưa ra trong các văn kiện của Đảng và cam kết của Việt Nam với thế giới.

Vậy mà trên trang “Viettan”, bút danh Việt Tân có bài viết với tiêu đề : “Nhận định của chủ tịch Đảng Việt Tân về tình trạng đấu đá trên thượng tầng lãnh đạo Cộng sản Việt Nam”. Thực chất, đây là những giọng điệu mà các thế lực thù địch, phản động vẫn thường dùng để chống phá cách mạng Việt Nam như “Bureau CTM Media – Âu châu”, “Việt Nam Thời Báo”, “Danlambao.com”….Qua đọc nội dung bài viết Của Việt Tân, có đôi điều suy nghĩ sau:

Thứ nhất, người được gọi là “chủ tịch Đảng Việt Tân” và ai đó lấy bút danh Việt Tân của bài viết, cần “tìm đọc” thêm để “hiểu cho đúng” về tham nhũng

Tham nhũng là một vấn nạn của xã hội, bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới cũng đều có vấn nạn này. Lênin từng khẳng định: “tham nhũng gắn bó hữu cơ với sự tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nước và quyền lực công…”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng chỉ rõ ba căn bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu là những “thứ giặc nội xâm” bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân mà ra. Đảng Cộng sản Việt Nam nhận diện: Tham nhũng là một quốc nạn, một trong bốn nguy cơ làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; công tác phòng, chống tham nhũng được xác định là cuộc đấu tranh lâu dài, khó khăn và phức tạp. Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII khẳng định “Thực hiện quyết liệt, nghiêm minh, có hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng”. Quan điểm trước sau như một của Đảng ta là sai phạm đến đâu thì xử lý đến đó, không có “vùng cấm”, “không có ngoại lệ”

Cho nên, người xưng là “chủ tịch Đảng Việt Tân” và bút danh Việt Tân cho rằng: Từ khi lên giữ chức Tổng bí thư tại đại hội 11 vào tháng 1 năm 2011 cho đến nay, Nguyễn Phú Trọng chỉ tập trung vào một việc là “đốt lò” trên danh nghĩa “củng cố lòng tin của người dân vào chính  quyền và sự lãnh đạo của đảng”, nhưng những gì diễn ra qua các cuộc truy tố và phanh phui trên mặt báo về tên tuổi của những “củi khô, củi tươi” thì thực chất cho thấy đây là cuộc sát phạt của ộng Trọng nhắm vào các đối thủ chính trị của mình để “tập trung quyền lực và uy thế”…Thật là lực cười và bỉ ổi với những luận điệu suy diễn vô căn cứ. Trong khi đó công cuộc phòng, chống tham nhũng ở Việt nam đang được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, cộng đồng quốc tế đánh cao cao. Như giáo sư Dennis McCornac (ĐH Loyola Maryland, Mỹ) cho rằng, rõ ràng là mọi chuyện đã có chuyển biến khi luật pháp nghiêm minh hơn. Hiện giới đầu tư nước ngoài tin tưởng rằng Việt Nam đang quyết tâm đẩy mạnh chống tham nhũng, tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, không còn nhũng nhiễu, hối lộ. Còn Ông Miguel Chanco, chuyên gia ASEAN của tổ chức nghiên cứu Economist Intelligence Unit (Anh) cho rằng, công cuộc chống tham nhũng tại Việt Nam, sẽ làm đầu tư nước ngoài và các hạng mục đầu tư tiếp tục tăng ở mức mạnh và ổn định kể từ đầu năm 2016, thời điểm Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đẩy mạnh công cuộc này.

Thứ hai, Việt Tân đã suy diễn và vạch ra bốn nguy cơ đe dọa Niệt Nam; trong đó có nguy cơ: CSVN mất khả năng đối phó với những tác động khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang đè nặng lên đời sống hàng triệu người dân lao động.

Vậy hãy xem sự “tiên tri” của “chủ tịch Đảng Việt Tân” và bút danh Việt Tân có chính xác không? Tại Nghị quyết số 82/NQ-CP ngày 05/6/2024 về Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 5 năm 2024 nêu rõ, tình hình kinh tế – xã hội tháng 5 tiếp tục xu hướng phục hồi tích cực và tốt hơn tháng 4; tính chung 05 tháng đầu năm 2024 đạt kết quả tốt hơn cùng kỳ năm 2023 trên hầu hết các lĩnh vực. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, thúc đẩy tăng trưởng cả 3 khu vực, các cân đối lớn được bảo đảm. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 5 tháng tăng 4,03% so với cùng kỳ. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng khá, tổng vốn đăng ký 5 tháng đạt hơn 11 tỷ USD, tăng 2% so với cùng kỳ, trong đó vốn đăng ký mới tăng 50,8%, vốn thực hiện đạt 8,25 tỷ USD, tăng 7,8% (cao nhất so với cùng kỳ trong 05 năm qua). Công tác an sinh xã hội được thực hiện hiệu quả, việc làm, sinh kế và đời sống người dân tiếp tục được nâng lên. Nhiều tổ chức quốc tế tiếp tục đánh giá tích cực, dự báo lạc quan về tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong năm 2024.

Những con số trên, cho thấy Việt Tân cần hiểu rằng: tham nhũng và chống tham nhũng, ở mọi thời và muôn đời vốn không bao giờ cũ. Đó là vấn đề song hành cùng với sự tồn tại và phát triển của mọi quốc gia. Điều quan trọng là quốc gia đó có đủ quyết tâm, có đủ kiên trì để hạn chế, tiến tới xóa bỏ nạn quan liêu, tham nhũng hay không mà thôi. Vì vậy, mỗi người dân Việt Nam hãy đề cao cảnh giác, tỉnh táo, quyết không mắc mưu và kiên quyết đấu tranh vạch trần bản chất của những kẻ phản động như Việt Tân./.

 

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN MỐI QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT NAM VÀ CAMPUCHIA

Việt Nam và Campuchia là hai nước láng giềng thân thiết gần gũi có quan hệ truyền thống, gắn bó từ lâu đời. Điều này, đã trở thành tài sản chung vô giá của cả hai dân tộc và tiếp tục được nhân dân hai nước dày công vun đắp. Ngày nay, cho dù tình hình thế giới và khu vực có nhiều thay đổi, nhưng Việt Nam và Campuchia vẫn đã và đang duy trì quan hệ hợp tác chặt chẽ, đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trên nhiều lĩnh vực.

Thế nhưng, vừa qua nhân Kỷ niệm 57 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam và Campuchia (24/6/1967 – 24/6/2024) trên các trang mạng xã hội đã xuất hiện nhiều bài viết có nội dung xuyên tạc mối quan hệ ngoại giao Việt Nam và Campuchia. Đáng chú ý, trên trang BBC Tiếng việt có bài viết với tiêu đề: “Việt  Nam và Campuchia còn là “láng giềng đặc biệt” sau 57 năm thiết lập quan hệ ngoại giao”? Trong đó, họ đưa ra một số lập luận, quan điểm thực hư lẫn lộn hoặc giả cách đưa ra một số luận điểm có tính chất hoài nghi, mơ mồ, không rõ ràng, nào là quan hệ Việt Nam và Campuchia vẫn còn tồn tại một số vấn đề vướng mắc về phân định đường biên giới; vấn đề người Việt Nam sống không quốc tịch cùng tâm lý cực đoan; có tâm lý cho rằng Kampuchea Krom từng thuộc Vương quốc Kampuchea, chủ quyền người Khmer trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam; tuyên bố hòn đảo Phú Quốc mà người Khmer gọi là Koh Tral là thuộc về Campuchia; siêu dự án kênh đào Phù Nam Techo của Campuchia làm bùng lên căng thẳng giữa hai quốc gia…

Những luận điệu của BBC hay của các đối tượng thù địch, phản động tung tin, vẽ ra các “thuyết âm mưu” suy đến cùng điều có cùng bản chất và cùng chung mục đích kích động đối lập, thù hằn dân tộc, phá hoại mối quan hệ Việt Nam và Campuchia, châm ngòi xung đột giữa hai quốc gia. Bởi lẽ, với những kẻ chỉ muốn gây rối, phá hoại, chúng chỉ có thể đưa ra những thông tin không được kiểm chứng, sai sự thật nhằm tạo sự hoài nghi, gây hoang mang dư luận xã hội, làm giảm sút niềm tin của nhân dân Việt Nam vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, phá hoại mối quan hệ truyền thống gắn bó giữa đất nước và nhân dân Việt Nam và Campuchia. Đây là một chiêu bài đã quá cũ!

 Chúng ta khẳng định rõ rằng, Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam luôn trân trọng mối quan hệ với nước bạn Campuchia. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Việc đặt quan hệ ngoại giao giữa hai nước chúng ta là biểu tượng rực rỡ của mối tình hữu nghị, thân thiết, đoàn kết chiến đấu. Đó là một sự kiện lịch sử quan trọng giữa Việt Nam và Campuchia. Một nhân tố tích cực trong việc gìn giữ hòa bình ở Đông Dương và Đông Nam Á. Ngày nay cũng như ngày mai, hai nước chúng ta mãi mãi là người bạn thân thiết.

Trong nhiều năm qua, quan hệ Việt Nam và Campuchia đã không ngừng được củng cố và phát triển trên mọi lĩnh vực, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định, hợp tác trong khu vực và trên thế giới. Quan hệ chính trị giữa hai nước tiếp tục phát triển tốt đẹp, lãnh đạo cấp cao hai nước duy trì các chuyến thăm tiếp xúc và trao đổi dưới nhiều hình thức. Hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư giữa hai nước nói chung và giữa các tỉnh biên giới nói riêng đạt được kết quả tích cực. kim ngạch thương mại hai nước vẫn tăng trưởng mạnh mẽ, trong năm 2023, kim ngạch thương mại Việt Nam và Campuchia đã đạt gần 9 tỷ USD. Hai bên nhất trí phấn đấu đạt mốc kim ngạch thương mại song phương 20 tỷ USD trong thời gian tới. Đến nay, Việt Nam có 205 dự án đầu tư còn hiệu lực ở Campuchia với tổng vốn đăng ký đạt 2,94 tỷ USD, đứng đầu ASEAN và là một trong 5 nước có đầu tư trực tiếp lớn nhất tại Campuchia. Đặc biệt, Campuchia đứng thứ 2 trong số 79 quốc gia, vùng lãnh thổ mà Việt Nam có đầu tư ra nước ngoài.[1]

Hợp tác về quốc phòng, an ninh ngày càng thực chất hiệu quả, là một trong những trụ cột quan trọng trong quan hệ hai nước. Hai bên luôn khẳng định, không cho phép bất kỳ một thế lực thù địch nào sử dụng lãnh thổ của mình để gây phương hại cho an ninh của nước kia. Trên cơ sở các hiệp ước, hiệp định và thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai nước, các cơ quan chính quyền và nhân dân địa phương biên giới hai bên đang phối hợp tích cực triển khai công tác phân giới cắm mốc trên đất liền. Hai bên đã ký 2 văn kiện pháp lý ghi nhận việc phân giới cắm mốc và đang tiếp tục đàm phán, giải quyết một số điểm còn lại để xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

Các lĩnh vực hợp tác về giáo dục, đào tạo, văn hóa, y tế, viễn thông… cũng được Chính phủ hai nước luôn tạo điều kiện thuận lợi cho kiều dân hai nước sinh sống trên lãnh thổ của nhau, phù hợp với pháp luật của mỗi nước. Việt Nam cấp hàng trăm suất học bổng dài hạn cho sinh viên Campuchia sang học tại Việt Nam. Hai nước cũng thường xuyên tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ, nhất là ở các địa phương giáp biên giới. Việt Nam thường xuyên tổ chức các đoàn bác sĩ tình nguyện sang khám, chữa bệnh và cấp thuốc miễn phí cho nhân dân Campuchia.v.v.

Như vậy, tình đoàn kết, hữu nghị truyền thống và quan hệ hợp tác toàn diện tốt đẹp giữa Việt Nam – Campuchia đã và đang không ngừng được củng cố, phát triển theo phương châm: “Láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định rõ: Cho dù tình hình thế giới và khu vực có những đổi thay, song trước sau như một, Việt Nam luôn coi trọng và sẽ làm hết sức mình cùng với Campuchia giữ gìn, vun đắp mối quan hệ Việt Nam và Campuchia mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững”. Qua đó, tiếp tục khẳng định, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn trân quý, gìn giữ và coi trọng việc phát triển tình hữu nghị giữa hai quốc gia. Những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động về mối quan hệ Việt Nam  và Campuchia là hết sức thâm độc, nguy hại, chúng ta cần nêu cao tinh thần cảnh giác, nhận diện kịp thời và kiên quyết đấu tranh, phản bác.

 

Vạch trần luận điệu xuyên tạc của Việt Tân về nhân quyền ở Việt Nam

Vừa qua, trên trang “Viettan”, cái gọi là Đảng Việt Tân đăng tải bài viết “Vận động cho nhân quyền Việt Nam tại Quốc hội Hoa Kỳ” xuyên tạc về tình hình nhân quyền tại Việt Nam.

Bài viết dẫn lời của một số dân biểu liên bang Hoa Kỳ có những hành động “lên án hoàn toàn và toàn diện” Việt Nam vi phạm nhân quyền khi “bỏ tù các nhà báo độc lập, những người bảo vệ nhân quyền, các tín hữu tôn giáo và nhà bất đồng chính kiến ở Việt Nam”. Vì thế, “Việt Tân quyết định vận động nhân quyền cho Việt Nam” bằng cách “chia sẻ” hay “kêu gọi” các dân biểu liên bang Hoa Kỳ tiến hành “hỗ trợ và giải cứu các tù nhân lương tâm, các nhà hoạt động dân chủ tại Việt Nam”. Thực chất của những luận điệu trên là xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam, đổi trắng thay đen với những kẻ vi phạm pháp luật, chống phá cách mạng. Thực tế đã bác bỏ những luận điệu trên.

Thứ nhất, Việt Tân là tổ chức khủng bố, luôn có những hành động chống phá Việt Nam.

Theo thông báo của Bộ Công an, Tổ chức phản cách mạng lưu vong “Việt Tân” là tên viết tắt của cái gọi là “Việt Nam canh tân cách mạng đảng”, trụ sở chính đặt tại 2530 đường Berryessa 234 San Jose, California, Hoa Kỳ và “Văn phòng 2” tại Bangkok, Thái Lan. Tổ chức này có cơ quan tuyên truyền là báo “Kháng chiến”; đài “Việt Nam kháng chiến” và “Chân trời mới”. Từ khi thành lập năm 1981 đến nay, tổ chức này đã có nhiều hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, nhiều đối tượng đã bị bắt giữ, xét xử nhưng chúng vẫn không từ bỏ dã tâm chống phá cách mạng Việt Nam. Trong những năm gần đây, lợi dụng mạng xã hội, chúng thường xuyên đăng tải những tài liệu xuyên tạc toàn diện về tình hình Việt Nam, vu khống Đảng, Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền, tự do tín ngưỡng, tôn giáo…. Ngày 4/10/2016, căn cứ pháp luật Việt Nam và quốc tế, Bộ Công an đã đưa “Việt Tân” vào danh sách các tổ chức khủng bố, chống Nhà nước Việt Nam. Vì thế, Việt Tân không phải là tổ chức đại diện cho tiếng nói của nhân dân Việt Nam mà chỉ là lũ “Việt gian” hại nước, hại dân. Việc chúng “vận động nhân quyền cho Việt Nam” chỉ là thủ đoạn chống phá Việt Nam một cách trơ trẽn, lố bịch, bị dư luận lên án, bác bỏ.

Thứ hai, mọi công dân vi phạm pháp luật đều phải bị xử lý.

Mỗi quốc gia trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, đều có hệ thống pháp luật bảo vệ quyền con người và quyền công dân, trừng trị những hành động xâm phạm, chống phá loài người nói chung, trong mỗi quốc gia nói riêng. Mọi công dân đều phải tuân thủ pháp luật, nếu ai vi phạm sẽ có các chế tài xử lý. Việt Tân đã đổi trắng thay đen, coi những kẻ vi phạm pháp luật ở Việt Nam là những “tù nhân lương tâm”, các nhà “hoạt động dân chủ”, “nhân quyền” hay “tự do tôn giáo”. Pháp luật Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm quyền con người cho công dân song, cũng kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh những kẻ hại nước, hại dân, chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những kẻ mà Việt Tân và đồng bọn rêu rao là “tù nhân lương tâm” và kêu gọi quốc tế can thiệp để “hỗ trợ và giải cứu” thì dư luận đều biết rõ. Họ là những kẻ lợi dụng tự do dân chủ, ngôn luận, báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo hay vì trục lợi mà đã bán rẻ lương tâm, vi phạm pháp luật; đi ngược lại với đạo đức xã hội, truyền thống, văn hóa tốt đẹp của dân tộc, thậm chí chống lại loài người. Họ không vì con người, vì dân tộc, vì nhân dân, vì độc lập, tự do, hạnh phúc mà chỉ vì tư lợi cá nhân, mưu đồ xấu xa phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá hoại cuộc sống bình yên của nhân dân. Họ đã bị pháp luật xử lý thích đáng, dư luận đồng tình. Vì thế, việc họ kêu gọi quốc tế “giải cứu” những đối tượng này thật là lố bịch, thực chất chỉ là luận điệu xuyên tạc, phá hoại của lũ “Việt gian” mà thôi.

Bài viết “Vận động cho nhân quyền Việt Nam tại Quốc hội Hoa Kỳ” đã xuyên tạc trắng trợn tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Chúng ta cần tỉnh táo, cảnh giác, vạch trần và đấu tranh bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của chúng./.

 

 

Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Vừa qua trên trang “Rfatiengviet”, Đài RFA phỏng vấn của một số đối tượng cơ hội, bất mãn với chính quyền và nhân dân Việt Nam liên quan đến bài báo “An ninh văn hóa trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay” được đăng trên Tạp chí Tuyên giáo. Trong đó chúng cho rằng “Đây là một quan niệm xuất phát từ tinh thần toàn trị của chế độ, ở một nước mà văn hóa phải dựa trên quan điểm cực đoan…”, và cho rằng “văn hóa Việt Nam là một văn hóa ngoại lai…”. Đây là những luận điệu hoàn toàn sai trái, mục đích nhằm tuyên truyền những sản phẩm xấu độc vào đời sống nhân dân, từng bước hủy hoại sức sống của văn hóa dân tộc, đồng thời phủ nhận những giá trị vốn là nền tảng văn hóa tinh thần dân tộc.

Chúng ta có thể khẳng định rằng: Văn hóa là sự kết tinh những gì là cao quý nhất, tốt đẹp nhất gắn liền với hoạt động sáng tạo của con người, được tiếp nối qua nhiều thế hệ, trở thành truyền thống bền vững, thành bản sắc dân tộc, thành mục tiêu và động lực phát triển xã hội.

Lịch sử xã hội loài người cho thấy, văn hóa có vai trò quan trọng đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Nhờ có văn hóa, mỗi quốc gia, cộng đồng xã hội, trong sự phát triển của mình, giữ được bản sắc, định hướng phát triển, tránh sự “hòa tan” vào các quốc gia dân tộc khác. Trong bài “Quyết tâm chấn hưng và xây dựng thành công một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Văn hóa là hồn cốt của Dân tộc… Văn hóa còn thì Dân tộc còn”.

Trong những năm gần đây, toàn cầu hóa, sự phát triển của công nghệ thông tin cùng nhiều nhân tố khác, đã tác động tới sự phát triển văn hóa của mỗi quốc gia, cộng đồng xã hội. Một mặt, các quá trình này tạo ra những nhân tố tích cực, làm gia tăng sự phát triển ổn định và bền vững về văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc. Mặt khác, chúng cũng làm nảy sinh những vấn đề văn hóa trong các cộng đồng quốc gia, dân tộc đó. Đó là sự xói mòn bản sắc dân tộc, chệch hướng phát triển của quốc gia,.. Tất cả những điều này gây tác động trở lại đối với sự phát triển văn hóa nói riêng, các lĩnh vực khác của đời sống xã hội nói chung … Nhiều nước trên thế giới, do ảnh hưởng xấu của lĩnh vực văn hóa mà có sự phát triển thiếu bền vững, làm cho tính cố kết cộng đồng giảm sút và trong chừng mực nào đó, làm nảy sinh những mâu thuẫn, xung đột trong cộng đồng.

Bằng nhiều cách thức khác nhau, các thế lực thù địch không ngừng truyền bá lối sống, văn hóa ngoại lai, tư tưởng coi trọng vật chất, chạy theo lợi ích cá nhân, mưu đồ khiến người dân Việt Nam bị tha hóa, mất kết nối với các giá trị vốn là nền tảng văn hóa tinh thần dân tộc.

Nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc mà Đảng ta chủ trương xây dựng và phát triển là “nền văn hóa yêu nước và tiến bộ”, với nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với mục tiêu tất cả vì con người, vì tự do, hạnh phúc và sự phát triển phong phú, toàn diện cho mỗi con người Việt Nam trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên. Bản sắc dân tộc cần được giữ gìn, phát huy của nền văn hóa ấy là những giá trị bền vững, những tinh hoa được vun đắp qua hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Đó là lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc; tinh thần cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã – Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, biết hy sinh vì sự nghiệp dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Đó còn là sự tế nhị trong giao tiếp và giản dị trong đời sống.

Vì lẽ đó, an ninh văn hóa, với tư cách một lĩnh vực của an ninh quốc gia, đã nhận được nhiều sự quan tâm chú ý của quốc gia, dân tộc. Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, an ninh văn hóa cũng ngày càng được quan tâm, chú ý. Qua đó, nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng luôn được các tầng lớp nhân dân trân trọng, noi theo. Lối sống tốt đẹp của dân tộc, các giá trị văn hóa truyền thống được kế thừa, phát huy; nhiều di sản văn hóa được bảo tồn; tinh hoa văn hóa nhân loại được đón nhận.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng chỉ rõ “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc…”

Nghị quyết Trung ương 9 khoá XI (2014), xác định “xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Văn kiện Đại hội XII nhấn mạnh tư tưởng chỉ đạo: Xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học; Làm cho văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ mục đích, phương hướng và nhiệm vụ của sự nghiệp chấn hưng, phát triển văn hóa và con người Việt Nam nhằm khơi dậy mạnh mẽ niềm tự hào dân tộc và khát vọng phát triển để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu phát triển bền vững, vừa là nguồn sức mạnh nội sinh, văn hóa “phải soi đường cho quốc dân đi”.

Để bảo đảm an ninh văn hóa trong tình hình mới, đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, mà trước hết là nâng cao nhận thức về vị trí và vai trò của văn hóa trong phát triển ổn định và bền vững đất nước. Muốn như vậy, cần phải lấy con người làm trung tâm. Nâng cao tầm hiểu biết của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, đảng viên về văn hóa sẽ giúp tạo ra “vắc-xin đề kháng” mạnh mẽ chống lại các tác nhân độc hại xâm nhập từ bên ngoài. Chính vì vậy, để giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại, hoàn thành mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thì bên cạnh việc phát tiển văn hóa cần phải bảo đảm an ninh văn hóa.

Do vậy, cần tuyên truyền, lan tỏa mạnh mẽ hơn nữa những yếu tố nòng cốt trong định hướng phát triển văn hóa của Đảng và Nhà nước để người dân thấm nhuần, từ đó có ý thức điều chỉnh hành vi ứng xử phù hợp, đồng thời tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động nhằm xuyên tạc những giá trị tốt đẹp của văn hóa Việt Nam, về an ninh văn hóa Việt Nam./.

 

CUỐN SÁCH “XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC” CỦA CỐ TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG KHÔNG PHẢI LÀ SỰ ÁP ĐẶT TƯ TƯỞNG CÁ NHÂN

Gần đây, việc xuất bản cuốn sách “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã bị các thế lực thù địch tung ra nhiều bài viết xuyên tạc, chống phá. Điển hình trên trang “Bbc” đã có bài viết với tiêu đề: “Tổng Bí thư tiếp tục ra sách: Truyền bá “Tư tưởng Nguyễn Phú Trọng”?”, nội dung bài viết cho rằng đây là một nỗ lực để áp đặt tư tưởng cá nhân hoặc nói cách khác là “tư tưởng Nguyễn Phú Trọng” lên xã hội Việt Nam. Những quan điểm này, không chỉ thiếu căn cứ mà còn thể hiện sự hiểu biết sai lầm hoặc cố tình xuyên tạc mục đích của cuốn sách cũng như vai trò của Tổng Bí thư.

Thứ nhất, cuốn sách khẳng định vai trò của văn hóa trong sự nghiệp phát triển đất nước, không phải là sự áp đặt tư tưởng cá nhân

Cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là một tài liệu quý giá giúp định hướng phát triển văn hóa đất nước. Bản thân Tổng Bí thư đã nhiều lần khẳng định rằng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực phát triển kinh tế và là cơ sở để xây dựng và củng cố hệ thống chính trị. Trong lời giới thiệu cuốn sách, Tổng Bí thư nhấn mạnh rằng mục tiêu của ông là “kế thừa và phát triển những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, kết hợp với tinh hoa văn hóa nhân loại”

Việc các lãnh đạo viết sách để truyền bá tư tưởng không phải là điều mới mẻ hay không cần thiết. Trên thế giới, các lãnh đạo từ nhiều quốc gia khác nhau đã từng xuất bản các tác phẩm để chia sẻ tầm nhìn, triết lý và chiến lược của họ. Điển hình là cuốn “The Audacity of Hope” của Barack Obama hay “The Art of the Deal” của Donald Trump, những tác phẩm này đều nhằm mục đích chia sẻ tầm nhìn của tác giả và không bị chỉ trích là áp đặt tư tưởng cá nhân.

Thứ hai, cuốn sách nhấn mạnh vào giá trị văn hóa dân tộc và sự phát triển bền vững, không phải là công cụ để tôn sùng cá nhân

Một trong những luận điểm quan trọng của cuốn sách là sự nhấn mạnh vào việc xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến nhưng vẫn giữ gìn được bản sắc dân tộc. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn khẳng định rằng văn hóa là “hồn cốt của dân tộc”, và việc phát triển văn hóa phải dựa trên cơ sở tôn trọng và phát huy các giá trị truyền thống.

Ngoài ra, cuốn sách cũng đặt ra mục tiêu phát triển bền vững thông qua việc xây dựng một xã hội dựa trên các giá trị văn hóa. Tổng Bí thư đã chỉ ra rằng văn hóa không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực cho sự phát triển kinh tế và xã hội. Đây không phải là một luận điểm mới, mà là sự tiếp nối của các chính sách văn hóa đã được Đảng Cộng sản Việt Nam theo đuổi từ lâu. Ví dụ, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đã khẳng định rằng “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội.”

Thứ ba, việc truyền bá tư tưởng qua sách là một phần của chiến lược truyền thông hiện đại, không phải là hành động tôn sùng cá nhân

Trong thời đại kỹ thuật số, việc truyền bá tư tưởng và chính sách thông qua các phương tiện truyền thông hiện đại, bao gồm cả sách vở, là một phần quan trọng của chiến lược truyền thông. Việc xuất bản sách là cách để lãnh đạo có thể chia sẻ sâu rộng hơn về tầm nhìn và chiến lược của mình đối với đất nước, giúp người dân hiểu rõ hơn về định hướng phát triển. Điều này, không nên bị coi là hành động tôn sùng cá nhân mà là một phương tiện để giúp người dân hiểu rõ về chủ trương, chính sách của Đảng trong công cuộc phát triển đất nước.

Thay vì coi việc xuất bản sách của lãnh đạo là hành động mang tính cá nhân, chúng ta nên nhìn nhận vấn đề như một cách thức khẳng định quyền tự do thông tin và truyền thông. Tại Việt Nam, việc khuyến khích người dân tham gia vào các cuộc thảo luận về chính sách và định hướng phát triển là một phần quan trọng của chiến lược phát triển đất nước. Các cuộc thi tìm hiểu về sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hay các buổi hội thảo về cuốn sách đều nhằm mục đích này, giúp nâng cao nhận thức và khuyến khích sự tham gia của toàn xã hội.

Thứ tư, ngân sách dành cho việc xuất bản sách của Tổng Bí thư được quản lý minh bạch và nằm trong chính sách phát triển văn hóa, tư tưởng của Đảng.

Chúng ta đều nhận thức rõ việc đầu tư cho văn hóa, tư tưởng là đầu tư cho sự phát triển lâu dài của quốc gia. Việc xuất bản các cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được hỗ trợ từ ngân sách là hoàn toàn hợp lý và minh bạch. Ngân sách này không chỉ đơn thuần phục vụ cho việc in ấn sách mà còn bao gồm cả các hoạt động quảng bá, tuyên truyền nhằm lan tỏa những giá trị văn hóa, tư tưởng đến rộng rãi quần chúng. Việc sử dụng ngân sách nhà nước cho các hoạt động văn hóa và tư tưởng đã được quy định rõ ràng trong các chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước. Điều này, giúp củng cố nền tảng văn hóa tư tưởng, tạo ra động lực phát triển bền vững cho xã hội. Thông tin về chi phí và ngân sách đều được quản lý và giám sát chặt chẽ, đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong việc sử dụng. Sự đầu tư này nhằm mục đích phát triển văn hóa, giáo dục và tư tưởng, qua đó thúc đẩy sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước.

Vì vậy, những quan điểm chỉ trích cuốn sách “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là vô căn cứ và thiếu hiểu biết về vai trò thực sự của văn hóa trong sự nghiệp phát triển đất nước. Cuốn sách được xuất bản và phổ biến rộng rãi trong xã hội không phải là sự áp đặt tư tưởng cá nhân mà là một nỗ lực để truyền bá các giá trị văn hóa cốt lõi và định hướng phát triển bền vững cho quốc gia. Việc truyền bá tư tưởng qua sách là một phần của chiến lược truyền thông hiện đại, giúp tăng cường sự hiểu biết và tham gia của người dân vào quá trình phát triển quốc gia. Do đó, chúng ta phải luôn đề cao cảnh giác, tỉnh táo nhận diện rõ bản chất xấu xa và mục đích đen tối của các thế lực thù địch khi chúng tung ra những bài viết với những luận điệu xuyên tạc, chống phá, đánh lừa những người thiếu hiểu biết.

 NHỮNG LÃNH TỤ VĨ ĐẠI CỦA PHONG TRÀO CÔNG NHÂN VÀ CỘNG SẢN QUỐC TẾ

 

1. V. I. Lênin (1870 - 1924)

 

Vladimir Ilyich Lenin là một lãnh tụ của phong trào cách mạng vô sản Nga, là người phát triển học thuyết của Các Mác và Phriđơrich Ăngghen. Ông là người sáng lập ra Quốc tế Cộng sản; đồng thời lãnh đạo nhân dân Nga tiến hành Cách mạng tháng Mười Nga, thành lập ra Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới do Đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo (7/11/1917). Ông là trong 100 người có ảnh hưởng nhất đến toàn thế giới.

 

2. Hồ Chí Minh (1890 - 1969)

 

Hồ Chí Minh là người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam, người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, một chiến sĩ xuất sắc, một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc.

 

 Người đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành Cách mạng tháng Tám (1945), thành lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2/9/1945), nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Người được UNESCO vinh danh là "Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam", góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.

 

 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đề ra đường lối đúng đắn đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Người sáng lập ra Đảng Mácxít - Lêninnít ở Việt Nam, sáng lập ra Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, sáng lập ra các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam và sáng lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng Hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Người sáng lập ra chế độ Dân chủ Nhân Dân Việt Nam (nay là chế độ Dân Chủ XHCN Việt Nam), góp phần tăng cường đoàn kết quốc tế. Người là tấm gương sáng của tinh thần tập thể, ý thức tổ chức và đạo đức cách mạng.

 

3. Fidel Castro (1926 - 2016)

 

Fidel Castro – vị lãnh tụ huyền thoại của Cách mạng Cuba,Fidel Castro là biểu tượng của tinh thần chiến đấu ngoan cường, là lá cờ đầu của phong trào cách mạng Mỹ La-tinh.

 

Ông là người giải phóng nhân dân Cuba thoát khỏi ách thống trị độc tài của Đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai Baxtia. Ông là người sáng lập nên Đảng CS Cuba, Người sáng lập nên chế độ Dân chủ XHCN và Nhà nước Công nông đầu tiên ở Châu Mỹ. Ông là người bạn thân thiết của nhân dân Việt Nam, Người đã luôn ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta, cũng như cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía bắc chống Trung Quốc và chiến tranh biên giới Tây Nam chống Khmer đỏ Campuchia xâm lược.

 

Fidel không cho phép dựng tượng ông ở bất cứ đâu và đặt tên đường phố theo tên ông. Ông nói rằng không muốn có một sự tôn sùng cá nhân nào. Tuy nhiên, không ai bảo ai, hình ảnh và lời nói của ông ở khắp mọi nơi, trên đường phố, tên ông được hô vang ở bất cứ sự kiện lớn nào của đất nước. Hầu hết người dân Cuba, dù yêu mến ông hay không, gọi ông với cái tên thân thiết: “Fidel”.

 

 Tạp chí Time năm 2012 gọi Castro là 1 trong 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất mọi thời đại. Lãnh tụ Cuba Fidel Castro luôn là một nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn, một biểu tượng về một con người kiên cường đấu tranh cho tinh thần độc lập dân tộc và vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của con người.

 

Ông thuộc lớp các nhà cách mạng kiệt xuất của thế giới thứ ba từng cống hiến đời mình cho lý tưởng tự do và giải phóng dân tộc như Hồ Chí Minh, Nelson Mandela, Che Guevara… Fidel đã trở thành một người anh hùng, một nguồn cổ vũ tinh thần của những dân tộc nghèo đói và bị áp bức trên thế giới.

St

 

 VỀ CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY

Để quy tụ và cụ thể những chuẩn mực đạo đức giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên phấn đấu, rèn luyện có hiệu quả, cần khái quát ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện, dễ kiểm tra, đánh giá, ở mấy điểm chính sau: Trung thành với lý tưởng; Liêm chính trong công việc; Gương mẫu trước nhân dân; Kiệm cần trong lối sống; Kỷ cương luôn coi trọng; Đoàn kết thật chân thành.

Đạo đức cách mạng là gốc của người cách mạng như Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn thường dạy. Có nhiều cách tiếp cận để xác định chuẩn mực đạo đức của người cách mạng  - người cán bộ, đảng viên, trong đó cách tiếp cận cơ bản, cốt lõi nhất là căn cứ vào vị trí, vai trò, trách nhiệm người cán bộ, đảng viên đối với Đảng, với dân, với nước. Đó là sự hy sinh phấn đấu vô điều kiện cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của Tổ quốc và nhân dân. Điểm chung của đạo đức người cán bộ, đảng viên là vậy, thường xuyên phải tu dưỡng, rèn luyện, giữ vững, thể hiện trong công tác, đời sống và mọi mối quan hệ hằng ngày. Để quy tụ và cụ thể những chuẩn mực đạo đức giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên phấn đấu, rèn luyện có hiệu quả, cần khái quát ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện, dễ kiểm tra, đánh giá, ở mấy điểm chính sau: Trung thành với lý tưởng; Liêm chính trong công việc; Gương mẫu trước nhân dân; Kiệm cần trong lối sống; Kỷ cương luôn coi trọng; Đoàn kết thật chân thành.

Có thể coi đó là những nội dung cơ bản, cốt lõi về chuẩn mực đạo đức của người cán bộ, đảng viên ở mọi giai đoạn cách mạng. Trong mỗi chúng ta, có được những phẩm chất đó, mới xứng danh là cán bộ, đảng viên. Ngược lại, nếu không có được những phẩm chất đó một cách thực chất, chỉ hình thức, hời hợt, trá hình, giả tạo,… thì không thể xứng đáng, không thể là cán bộ, đảng viên chân chính.

TRUNG THÀNH VỚI LÝ TƯỞNG

Đảng lãnh đạo cách mạng, định hướng con đường lý tưởng cho nhân dân đi và tổ chức thực hiện thông qua hàng triệu cán bộ, đảng viên của mình. Vì thế, người cán bộ, đảng viên phải có đạo đức cách mạng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ là “thay đi cái cũ, xã hội cũ lạc hậu, xây lên cái mới, xã hội mới tốt đẹp hơn”. Lý tưởng của chúng ta đã được Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta lựa chọn là “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Ngay từ ngày đầu đến hôm nay, trong quá trình từng bước thực hiện lý tưởng ấy, đã có biết bao tấm gương hy sinh vô điều kiện của các thế hệ cán bộ, đảng viên và nhân dân, đưa đất nước ta từ thân phận nô lệ, kiếp ngựa trâu, đánh đổ đế quốc xâm lược và phong kiến, giành độc lập chủ quyền dân tộc, xây dựng và phát triển không ngừng để có cơ đồ, vị thế vinh quang, sánh vai với các nước trên thế giới, đời sống nhân dân hòa bình, dân chủ, ấm no, hạnh phúc, văn minh, tiến bộ như ngày nay, làm thỏa tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

“Trung thành với lý tưởng” của Đảng là trung thành với lợi ích của dân tộc; trung thành với lý tưởng “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Đã là cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc, đầy đủ, hoàn chỉnh về mục tiêu lý tưởng đó để không những củng cố niềm tin vững chắc cho bản thân, mà còn tuyên truyền, giáo dục, vận động đông đảo quần chúng nhân dân cùng nhận thức đúng đắn, sâu sắc, đầy đủ và làm theo. Một số cán bộ, đảng viên đã “phai nhạt lý tưởng” dẫn đến “tự diễn biến, tự chuyển hóa” đã là không còn phẩm chất cách mạng của người cán bộ, đảng viên; là không còn xứng đáng là cán bộ, đảng viên; thậm chí là đã đi ngược lý tưởng của Đảng, phản bội nhân dân. Vì thế, trung thành với lý tưởng của Đảng là phẩm chất cơ bản, là nền tảng, là sức mạnh để người cán bộ, đảng viên hy sinh, phấn đấu, đóng góp thiết thực vào sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

LIÊM CHÍNH TRONG CÔNG VIỆC

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chỉ rõ, phải “cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư”. Đặc biệt, với cán bộ, đảng viên, Người nghiêm khắc yêu cầu phải thực sự liêm chính trong thực hành công việc, bất cứ to hay nhỏ; lớn hay bé. Cán bộ, đảng viên được Đảng, nhân dân giao nắm giữ những nhiệm vụ là để phục vụ nhân dân, tuyệt đối không được lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bòn rút, trục lợi cá nhân bằng mọi thủ đoạn tinh vi, trắng trợn, liên kết bè nhóm khuất tất hòng che mắt nhân dân, làm giàu bất chính. Bác Hồ cũng từng chỉ rõ tiền của đó là mồ hôi, nước mắt, sức lực của nhân dân. Bác gọi những người tham nhũng “chiếm công vi tư” là một thứ “giặc” - giặc nội xâm. Thứ giặc này nằm ngay trong chúng ta, phá chúng ta từ bên trong, mà bản chất của nó chính là chủ nghĩa cá nhân, là phi đạo đức. Cho nên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Mỗi cán bộ, đảng viên muốn có được đạo đức cách mạng trong sáng, thực sự, xứng đáng, phải thường xuyên cảnh giác, rèn luyện, tự chống lại những ham muốn cá nhân chủ nghĩa, phải liêm chính, ngay thẳng, minh bạch trong mọi công việc và đời sống của mình.

GƯƠNG MẪU TRƯỚC NHÂN DÂN

Cán bộ, đảng viên là những người tiên phong, gương mẫu trước nhân dân về mọi phương diện: tư tưởng, hành động, lối sống, sự hy sinh phấn đấu cho lợi ích chung của Đảng, của nhân dân và dân tộc. Đảng lãnh đạo nhân dân bằng sự gương mẫu, tiền phong của Đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nhân dân nhìn thấy cán bộ, đảng viên miệng nói, tay làm, tiền phong gương mẫu là sẽ làm theo. Nhân dân ta có câu “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Trong mọi hoàn cảnh dù khó khăn gian khổ, sống chết kề bên hay lúc bình yên vinh hoa phú quý, bao giờ cũng cần sự gương mẫu tiền phong của người cán bộ, đảng viên. Đó là sự gương mẫu hy sinh phấn đấu vì Đảng quang vinh, vì dân giàu, nước mạnh, văn minh hạnh phúc, trong đó có niềm vinh dự của chính mình. Đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên là “miệng nói, tay làm”, “nói ít làm nhiều”, đã nói thì làm, làm cho bằng được, làm có hiệu quả, vì lợi ích chung. Nhân dân rất kính trọng, khâm phục, tin tưởng, đi theo những cán bộ, đảng viên luôn gương mẫu trước nhân dân, trước Đảng trong mọi công việc, trong cuộc sống hằng ngày.

KIỆM, CẦN TRONG LỐI SỐNG

Đây là sự đồng nhất trong phẩm chất đạo đức của người cán bộ, đảng viên. Người cán bộ, đảng viên phải thực sự là người lao động cần cù, sáng tạo trong lĩnh vực mà mình đảm nhiệm, đóng góp hết mình cho nhân dân, cho đất nước. Tiết kiệm thời gian, công sức, tiền của, cần mẫn học tập, không ngừng trau dồi tri thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lao động sáng tạo, tạo ra những thành quả vật chất, tinh thần thiết thực, hữu ích cho đất nước, cho xã hội, đó chính là những phẩm chất quý báu của người cán bộ, đảng viên.

Bác Hồ chỉ rõ, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là hướng rèn luyện, là phương châm hành động, là phẩm chất của người cán bộ, đảng viên. Người nhấn mạnh, tiết kiệm là yêu cầu cần thiết, là đức tính, là khoa học trong công tác của người cán bộ, đảng viên. Nếu làm ra của cải mà không tiết kiệm, không chi dùng đúng việc, phung phí thì khác nào như “gió vào nhà trống”. Tiết kiệm không có nghĩa là bủn xỉn, thấy việc cần mà không dám làm, không dám chịu trách nhiệm. Trước mỗi công việc, cần cân nhắc, tính toán cẩn thận, xem xét hiệu quả, cân đối toàn diện, nhìn nhận trước mắt, lâu dài, tránh tình trạng “vung tay quá trán”, hình thức, gây lãng phí tiền của của nhân dân. Gần đây, có những hiện tượng lãng phí ghê gớm về tiền của, sức lao động, tài nguyên, nhất là tài nguyên đất đai,… do hàng loạt dự án “treo”, công trình dở dang, đầu tư không hiệu quả, chất lượng kém… rất đáng báo động. Tình trạng này là hệ quả xấu của tâm lý nhiệm kỳ, của sự vô trách nhiệm, xa rời, buông lỏng vai trò lãnh đạo, quản lý, là sự vi phạm nghiêm trọng đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên. Trong rất nhiều lĩnh vực khác, nếu cán bộ, đảng viên thiếu đạo đức cách mạng, buông lỏng, lơ là với vị trí, vai trò, trách nhiệm của mình, không thực sự cần kiệm, đều gây ra những thiệt hại lớn cho xã hội, đất nước, làm mất lòng tin của nhân dân, ảnh hưởng xấu đến uy tín, thanh danh của Đảng.

KỶ CƯƠNG LUÔN COI TRỌNG

Là cán bộ, đảng viên, không những phải gương mẫu tuân thủ pháp luật, mà phải thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương, điều lệ, nghị quyết của Đảng. Đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên là thực hiện nghiêm, chủ động, sáng tạo, có hiệu quả mọi chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; mọi quy định của cộng đồng từ việc nhỏ đến việc lớn. Sự gương mẫu chấp hành, thực hiện nghiêm sẽ tạo thành nếp sống nghiêm túc, luôn tuân thủ kỷ luật kỷ cương, pháp luật của Đảng và Nhà nước, tạo nên phẩm chất đạo đức của người cách mạng.

Giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật Đảng là bảo vệ Đảng, là nguyên tắc, là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên. Giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương sẽ giúp cho cán bộ, đảng viên không mắc sai lầm, không xa rời Đảng, không bị kẻ xấu lôi kéo, có đủ bản lĩnh đấu tranh, bác bỏ mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, bảo vệ Đảng vững chắc.

ĐOÀN KẾT THẬT CHÂN THÀNH

Đoàn kết là sức mạnh làm nên mọi thắng lợi của Đảng và nhân dân ta trong suốt chiều dài lịch sử cách mạng, là bài học vô cùng quý giá của Đảng. Bao giờ, ở đâu, lĩnh vực nào cũng cần có sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, trong nhân dân để tạo ra sức mạnh. Đoàn kết về tư tưởng, hành động, tổ chức gắn kết mọi cán bộ, đảng viên trên cơ sở vì lợi ích chung, lâu dài.

Sự đoàn kết của cán bộ, đảng viên, nâng tầm là đạo đức cao quý của Đảng, là yêu cầu của nhân dân, của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ, đảng viên phải giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Người nhấn mạnh: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công! Để trở thành phẩm chất đạo đức của người cán bộ, đảng viên, sự đoàn kết như Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta yêu cầu, phải thực sự vì lợi ích chung; phải thật sự chân thành, trung thực, gạt bỏ mọi mưu đồ, lợi ích, thủ đoạn cá nhân được che đậy bằng “đoàn kết”. Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy ta phải yêu thương đồng chí, không đố kỵ, ghét ghen, không dùng quyền lực loại người tài đức, đưa con cháu, người thân, cùng cánh vào thay, kéo cả nhà làm quan…

Đoàn kết phải trên nền tảng đạo đức của người cộng sản, vì tạo nên sức mạnh, nội lực kiên cường của Đảng.

Sáu nội dung chuẩn mực đạo đức của người cán bộ, đảng viên là một thể thống nhất, bổ sung, liên hệ gắn bó chặt chẽ, không tách rời nhau. Đó chính là chuẩn mực, là thước đo đánh giá phẩm chất tốt đẹp của người cán bộ, đảng viên ở bất cứ lĩnh vực nào./.

Điểm chung của đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên là phải thường xuyên phải tu dưỡng, rèn luyện, giữ vững, thể hiện trong công tác, đời sống và mọi mối quan hệ hằng ngày.

PGS. TS. TRẦN QUANG NHIẾP

 KHÔNG THỂ SUY DIỄN VÀ BẺ CONG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG

Thực hiện theo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, công tác phát triển Đảng luôn được thực hiện nghiêm túc để Đảng thường xuyên tăng thêm nguồn sinh lực, sức chiến đấu, đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của Đảng.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn tìm cách xuyên tạc và bôi đen công tác phát triển Đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó, phải kể đến một số luận điệu mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thường rêu rao là: Hiện nay, tình trạng "nhạt Đảng, xa Đoàn" trở nên phổ biến trong đoàn viên, thanh niên, học sinh, sinh viên; các thủ tục để trở thành đảng viên rườm rà, gây ức chế cho người muốn vào Đảng, nên quần chúng không ham; nhất là, sự bịa đặt trắng trợn rằng "vào Đảng chả ích lợi gì" nên quần chúng không muốn phấn đấu vào Đảng…

Về vấn đề này, cần phải khẳng định chắc chắn rằng:

I. ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÀ ĐỘI TIỀN PHONG CỦA GIAI CẤP VÀ DÂN TỘC

Khi nói về chính Đảng cách mạng của giai cấp công nhân, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (tháng 2/1848), C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định rằng: “Những người cộng sản chỉ khác với các đảng vô sản khác trên hai điểm: một là, trong các cuộc đấu tranh của những người vô sản thuộc các dân tộc khác nhau, họ đặt lên hàng đầu và bảo vệ những lợi ích không phụ thuộc vào dân tộc và chung cho toàn thể giai cấp vô sản; hai là, trong các giai đoạn khác nhau của cuộc đấu tranh giữa vô sản và tư sản, họ luôn luôn đại biểu cho lợi ích của toàn thể phong trào. Vậy là về mặt thực tiễn, những người cộng sản là một bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên; về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản”.

Cùng với đó, “Điều lệ của Liên đoàn những người cộng sản” cũng ghi rõ điều kiện và tiêu chuẩn để trở thành đảng viên cộng sản, trong đó, không thể không nhắc đến các yêu cầu như thừa nhận chủ nghĩa cộng sản; không tham gia vào mọi tổ chức chính trị hoặc tổ chức dân tộc chống cộng sản; hoạt động phù hợp với mục đích của Đảng; có nghị lực cách mạng và lòng nhiệt thành khi tiến hành công tác tuyên truyền; giữ bí mật công việc của Đảng; được một chi bộ đồng ý kết nạp… Điều đó có nghĩa là, Đảng Cộng sản là tổ chức của những con người thực sự tiêu biểu, vượt trội về nhận thức, tư tưởng, hành động hơn quần chúng ngoài Đảng và đảng viên của Đảng Cộng sản phải là những người có đủ năng lực, phẩm chất để tuyên truyền, vận động, thuyết phục giai cấp công nhân và các tầng lớp khác tham gia vào cuộc đấu tranh chống lại giai cấp bóc lột.

Ở Việt Nam, được xây dựng và phát triển theo nguyên tắc một Đảng Mácxít Lêninnít chân chính, Đảng Cộng sản là một tổ chức của những con người tiên tiến nhất. Đảng là đội tiền phong của giai cấp công nhân và dân tộc. Trong một chỉnh thể được tổ chức chặt chẽ, thống nhất ấy, mỗi đảng viên là một tế bào của Đảng; sinh hoạt gắn liền và chịu sự lãnh đạo, quản lý, kiểm tra của tổ chức Đảng. Để trở thành một thành viên của tổ chức ấy, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam (thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng, tháng 2-1930) đã ghi rõ tại mục III: “Ai tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương trình đảng và Quốc tế Cộng sản, hăng hái tranh đấu và dám hy sinh phục tùng mệnh lệnh Đảng và đóng kinh phí, chịu phấn đấu trong một bộ phận đảng thời được vào Đảng”. Trong từng giai đoạn cách mạng, từng thời điểm cụ thể, căn cứ vào nhiệm vụ chính trị của Đảng và trình độ giác ngộ cách mạng của quần chúng, Đảng đề ra điều kiện, tiêu chuẩn đảng viên phù hợp và chặt chẽ, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ. Cụ thể, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (thông qua tại Đại hội lần thứ XI, tháng 1-2011) quy định tại mục 2, Điều 1 là: “Công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên, thừa nhận và tự nguyện: thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ đảng viên, hoạt động trong một tổ chức cơ sở đảng; qua thực tiễn chứng tỏ là người ưu tú được nhân dân tín nhiệm, đều có thể được xét để kết nạp vào Đảng”.

Từ quy định trong Điều lệ vắn tắt và Điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, có thể thấy rõ rằng, người/quần chúng muốn trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam thì tất yếu phải tuân thủ những quy định, nguyên tắc và Điều lệ Đảng. Đó gọi là “tính Đảng”, đồng thời cũng chính là sự thừa nhận một cách tự nguyện và tuyệt đối trung thành với nền tảng tư tưởng của Đảng; với lý tưởng cách mạng chiến đấu cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì lợi ích của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam mà Đảng lựa chọn. Người được kết nạp vào Đảng nhất định phải là những người ưu tú trong quần chúng; phải có giác ngộ chính trị tốt, thể hiện được tính tiên phong trong mọi lĩnh vực công tác và cuộc sống đời thường; đồng thời, có khả năng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Tổ quốc và nhân dân giao phó. Đó chính là giá trị cao quý của Đảng để Đảng luôn xứng đáng với vai trò tiền phong; đồng thời cũng là giá trị của mỗi người đảng viên trong quá trình phấn đấu, trưởng thành. Điều đó cũng có nghĩa là quần chúng đã muốn/đã quyết tâm phấn đấu vào Đảng thì đều phải nhận thức sâu sắc rằng, đã "gọi là đảng viên thì phải biết rõ Đảng ta phải làm gì, vào Đảng để làm gì…Vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, phục vụ cách mạng… Đảng không bắt buộc ai vào Đảng cả. Vào thì có nhiệm vụ, có trách nhiệm của đảng viên, nếu sợ không phục vụ được nhân dân, phục vụ được cách mạng thì đừng vào hay là khoan hãy vào” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ.

Để làm tròn nhiệm vụ rất nặng nề nhưng rất vẻ vang là lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thì Đảng phải luôn trong sạch, vững mạnh. Thực tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Đảng mạnh là do chi bộ tốt, chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”, song “Đảng không phải chỉ cần con số cho nhiều, tuy nhiều là tốt, nhưng phải có cái chất của người đảng viên. Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: Mình vào Đảng để làm đày tớ cho nhân dân, Bác nhấn mạnh: Làm đày tớ nhân dân chứ không phải là “quan” nhân dân”. Vì thế, Người yêu cầu "Đảng phải phát triển tổ chức của mình một cách thận trọng, vững chắc và rộng rãi trong quần chúng”, thông qua quá trình phát hiện, bồi dưỡng quần chúng về mọi mặt; đồng thời, các tổ chức cơ sở Đảng “cần phải xem công tác củng cố và phát triển đảng là một công tác quan trọng và thường xuyên. Và phải nắm vững phương châm phát triển Đảng là trọng chất hơn lượng” để đề phòng các phần tử thù địch, cơ hội chui vào Đảng.

Vì nghiêm túc trong công tác phát triển đảng viên và coi đó là một nội dung quan trọng để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cho nên trong hơn 90 năm qua, nhất là trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, phương hướng phát triển đảng viên được đẩy mạnh theo từng nhiệm kỳ Đại hội Đảng. Theo nghị quyết các nhiệm kỳ Đại hội Đảng và kế hoạch công tác hằng năm, các cấp ủy Đảng đã căn cứ điều kiện cụ thể của địa phương, cơ quan, đơn vị để tập trung phát triển Đảng toàn diện; đặc biệt, đẩy mạnh việc phát triển Đảng trong công nhân và các thành phần khác như sinh viên đang học tập tại hệ thống các trường đại học, cao đẳng, các học viện, nhà trường, ở các vùng nông thôn hay tại các doanh nghiệp, trong các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập và lao động tự do tại các địa phương… tự nguyện rèn luyện tư tưởng, lập trường giai cấp công nhân/mong muốn được đứng trong hàng ngũ của Đảng, phấn đấu cho mục đích, lý tưởng cao cả của Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng: “Nếu Đảng ta không biết chọn lọc, kết nạp, đề bạt đồng chí mới thì đâu có như ngày nay” và nếu không được bổ sung nguồn sinh lực thì Đảng đâu có đủ năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu để đảm đương vai trò cầm quyền/độc quyền lãnh đạo như đã hiến định trong Điều 4 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì thế, xuyên suốt 9 thập niên xây dựng và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng công tác phát triển Đảng, coi đó là một nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách vừa thường xuyên và lâu dài.

II. BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Thực tế, "Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài" và "vào Đảng là để hết lòng hết sức phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, làm trọn nhiệm vụ của người đảng viên" như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, cho nên, cán bộ, đảng viên của Đảng phải luôn phấn đấu để xứng đáng vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân; suốt đời tận trung với nước, tận tâm phụng sự nhân dân, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư… Những điều căn cốt này đã được mỗi quần chúng nhận thức rõ. Vì thế, khi đã xác định phấn đấu trở thành đảng viên, tất yếu mỗi người đều không chỉ cần phải tuân thủ những quy định, nguyên tắc thuộc về tổ chức, sinh hoạt và Điều lệ Đảng mà còn phải trải qua quá trình phấn đấu, tu dưỡng, thử thách để trưởng thành.

Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức, cũng ở trong xã hội và Đảng trong sạch, vững mạnh được quyết định bởi số lượng, chất lượng đảng viên và việc thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng. Số lượng đảng viên là cần thiết, song số lượng đó chỉ trở thành sức mạnh khi đạt được những yêu cầu về chất lượng. Vì thế, công tác phát triển Đảng toàn diện vào các vùng, các ngành, các giới, nhất là trong thanh niên, phụ nữ, bộ đội xuất ngũ; trong các vùng xung yếu và các cơ sở còn ít đảng viên để khắc phục tình trạng "vùng trắng", nhằm đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng là rất cần thiết. Hơn nữa, việc phát triển Đảng trong hệ thống các trường đại học, cao đẳng, học viện, nhà trường; ở các vùng nông thôn; trong các khu vực doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài… càng cần phải được thực hiện nghiêm túc, đảm bảo chất lượng. Nếu không quán triệt và thực hiện đúng vấn đề có tính nguyên tắc đó; nếu chỉ chú trọng số lượng mà coi nhẹ chất lượng, thì các tổ chức Đảng dù "đảm bảo chỉ tiêu kết nạp", song cũng chỉ là "một câu lạc bộ", không thể mạnh mà trái lại còn trở nên lỏng lẻo, rệu rã.

Trên thực tế, việc kết nạp người vào Đảng luôn được các cấp ủy xem xét toàn diện, từ phẩm chất đạo đức và năng lực công tác đến trình độ giác ngộ, động cơ vào Đảng; từ quá trình rèn luyện, tu dưỡng thông qua thử thách thực tiễn đến việc thực hiện nghiêm các nguyên tắc, thủ tục kết nạp Đảng và theo dõi, đánh giá quá trình phấn đấu trong thời gian là đảng viên dự bị. Mỗi người khi được đứng trong hàng ngũ của Đảng đều hiểu rõ rằng vào Đảng/trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là để mưu cầu lợi ích cho mình, làm giàu cho bản thân và người thân mà là để cống hiến và phụng sự. Tuy nhiên, thời gian qua, bên cạnh đại đa số giới trẻ, những quần chúng ngoài Đảng đã và đang nỗ lực trau dồi tri thức, nỗ lực làm việc để gây dựng sự nghiệp cho mình; thường xuyên tu dưỡng, phấn đấu để vinh dự được trở thành người đảng viên cộng sản, thì đâu đó cũng vẫn có một bộ phận giới trẻ (công nhân ở các khu công nghiệp, thanh niên ở các vùng nông thôn…) sống thiếu lý tưởng, hoài bão, chỉ biết an phận mình. Đồng thời, cũng vẫn có một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" đã xa rời lý tưởng cách mạng, vi phạm kỷ luật Đảng…, song đó chỉ là hiện tượng. Cho nên, không thể vì một vài nhận xét về thực trạng công tác phát triển Đảng ở một số địa bàn cụ thể mà vội quy kết rằng "nếu không bị bắt buộc" thì người dân "không muốn vào Đảng"; và hiện nay công nhân lao động, thanh niên "ngại vào Đảng", "không tha thiết vào Đảng" như các phần tử phản động đã suy diễn, xuyên tạc.

Chỉ riêng những con số cụ thể này: "Theo dự thảo báo cáo, trong giai đoạn 2010-2020 và 9 tháng đầu năm 2021, tổng số đoàn viên ưu tú do tổ chức đoàn giới thiệu cho đảng là 2.868.498. Theo phân bổ chỉ tiêu của nhiệm kỳ 2012-2017 số lượng đoàn viên ưu tú giới thiệu cho đảng xem xét kết nạp so với chỉ tiêu đề ra đạt 99,16%; nhiệm kỳ 2017-2022, tính đến thời điểm hiện tại đạt tỉ lệ 87,39%. Số lượng đoàn viên ưu tú được kết nạp đảng, theo số liệu thống kê của 67/67 tỉnh, thành đoàn, đoàn trực thuộc, toàn Đoàn có gần 1,6 triệu đảng viên là đoàn viên đang sinh hoạt tại các chi đoàn, chiếm 25,39% tổng số đoàn viên cả nước và chiếm 30,76% tổng số đảng viên cả nước" cũng đủ là minh chứng sinh động cho thấy công tác phát triển Đảng trong đoàn viên, thanh niên những nhiệm kỳ gần đây. Đó cũng là một trong những bằng chứng bác bỏ sự xuyên tạc của các thế lực thù địch khi cho rằng: cả 3 nhiệm kỳ Đại hội XI, XII, XIII của Đảng cũng không "chữa được hiện tượng chán đảng" dù có sự vào cuộc của ngành Tuyên giáo, của Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng và Bộ Công an.

Thực tế, trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là mục tiêu phấn đấu; đồng thời cũng là niềm tự hào của mỗi quần chúng ngoài Đảng nói chung, của tuổi trẻ nước nhà nói riêng. Vì thế, việc vin vào cớ cho rằng thủ tục vào Đảng "rườm rà", nhất là phải khai lý lịch và được xác minh từ địa phương là thành phần ưu tú trong xã hội về mọi mặt như đạo đức, lối sống, gương mẫu, trong sạch; phải đi học lớp bồi dưỡng đối tượng Đảng và "vào Đảng không đem lại lợi ích cụ thể gì', "vào Đảng không có gì khác biệt"… đã "cản trở nhiều người không muốn vào Đảng" chỉ là sự suy diễn cá nhân của những kẻ cơ hội đầy dã tâm chống phá Đảng. Hơn nữa, trên cơ sở thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 23/11/1996 của Bộ Chính trị về "Tăng cường công tác xây dựng Đảng, các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tư nhân" và Kết luận số 80-KL/TW ngày 29/7/2010 của Ban Bí thư về "Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW về “Tăng cường công tác xây dựng Đảng và các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần tư nhân (gọi tắt là doanh nghiệp tư nhân) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” của Bộ Chính trị (khóa VIII) trong tình hình mới” cùng Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 18/3/2019 của Ban Bí thư về "Tăng cường xây dựng tổ chức đảng trong các đơn vị kinh tế tư nhân”…, công tác phát triển Đảng, thành lập tổ chức Đảng cũng như tạo nguồn phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp và có vốn đầu tư từ nước ngoài thời gian qua cũng có những chuyển biến nhất định và đạt được những kết quả khả quan.

Thông qua việc thay đổi nhận thức của chủ doanh nghiệp với vấn đề phát triển Đảng và thành lập tổ chức Đảng; việc khắc phục những khó khăn về thời gian tham dự lớp cảm tình Đảng của công nhân các khu công nghiệp; nhất là việc đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về công tác phát triển Đảng trong khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh, ở các vùng nông thôn… công tác phát triển đảng viên ở những địa bàn này đã có những thay đổi tích cực. Vì thế, câu chuyện "giới trẻ nhạt Đảng", "giới trẻ ngại vào Đảng" là hiện tượng phổ biến ở Việt Nam mà một luận điệu thù địch nêu ra không phản ánh đúng thực tế công tác phát triển Đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó chỉ là một vài hiện tượng đơn lẻ, chỉ là thiểu số, không phải là bản chất, cho nên sự quy chụp đó là vội vàng, là thiển cận và ác ý; là bôi đen sự thật để xuyên tạc công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung, công tác phát triển Đảng nói riêng.

Đương nhiên, để Đảng luôn xứng đáng với vai trò tiên phong, trong thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ chú trọng công tác phát triển Đảng mà còn luôn tự chỉnh đốn và đổi mới. Một mặt, các cấp ủy Đảng chủ động làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, tạo nguồn trong quần chúng tích cực, đảm bảo về số lượng, cơ cấu hợp lý; bồi dưỡng, theo dõi, giúp đỡ để họ có đủ điều kiện trở thành đảng viên cộng sản; xem xét toàn diện về mọi mặt (trình độ giác ngộ, phẩm chất đạo đức, năng lực công tác, uy tín trước quần chúng…) và thử thách trong thực tiễn; bồi dưỡng, kết nạp và giúp đỡ đảng viên dự bị trở thành đảng viên chính thức. Mặt khác, Đảng thường xuyên tiến hành tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát, để kịp thời phát hiện, xử lý, đưa ra khỏi Đảng những kẻ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong từng tổ chức cơ sở Đảng/những kẻ đã xa rời lý tưởng cách mạng, thiếu tu dưỡng đạo đức cách mạng của người đảng viên, không còn là "tấm gương" cho quần chúng noi theo.

Một trong những nội dung quan trọng của Văn kiện Đại hội XIII cần được cả hệ thống chính trị và cấp ủy Đảng các cấp quán triệt sâu sắc là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên; phát huy tính tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân của cán bộ, đảng viên. Tăng cường hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, củng cố và không ngừng nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng”. Theo đó, để công tác phát triển Đảng thật sự đảm bảo chất lượng, toàn Đảng không chỉ cần phải nâng cao hơn nữa nhận thức về vị trí, vai trò của nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên này theo đúng tinh thần Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 21/1/2019 của Ban Bí thư về "Nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và rà soát, sàng lọc đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng" mà còn phải chú trọng, đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục trong cán bộ, đảng viên nói chung, quần chúng ngoài Đảng nói riêng về mục đích, ý nghĩa của công tác phát triển đảng viên. Đồng thời, quan tâm đào tạo, rèn luyện phẩm chất đạo đức và bản lĩnh chính trị cho thế hệ trẻ, cho những quần chúng ngoài Đảng trong các tổ chức chính trị-xã hội ở các vùng, các địa bàn, các giới… để chủ động phát hiện và tạo nguồn dự bị của Đảng; tổ chức nhiều lớp bồi dưỡng để giúp quần chúng, đảng viên mới nhận thức sâu sắc hơn về vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng, bồi đắp lý tưởng cách mạng, xác định đúng đắn động cơ vào Đảng trên cơ sở giác ngộ lý tưởng và tự giác phấn đấu, rèn luyện để được đứng trong hàng ngũ của Đảng.

Cùng với đó, các tổ chức cơ sở Đảng phải quán triệt sâu sắc quan điểm "trọng chất lượng hơn số lượng", để khi tiến hành các khâu, các quy trình phát triển Đảng vừa tránh sa vào hiện tượng chạy theo chỉ tiêu mà tùy tiện hạ thấp tiêu chuẩn, điều kiện của người vào Đảng vừa tránh được tình trạng mắc bệnh hẹp hòi, cầu toàn, gây tác hại nhiều mặt, làm tổn hại đến việc bổ sung nguồn sinh lực cho Đảng. Trong quá trình triển khai, một mặt, phải thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và tuyên truyền, giáo dục về mục tiêu, lý tưởng của Đảng; phát huy vai trò, trách nhiệm của người đảng viên, nhất là người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo, quản lý để làm gương cho quần chúng tự nguyện phấn đấu vào Đảng. Mặt khác, điều chỉnh linh hoạt những bất cập (bố trí các lớp cảm tình Đảng, lớp đảng viên mới bằng hình thức trực tuyến, học vào ngày nghỉ, ngoài giờ hành chính, bố trí địa điểm, thời gian cho phù hợp điều kiện thực tế…) để tạo thuận lợi cho những đối tượng đặc thù; đồng thời, thực hiện nghiêm các khâu, các quy trình bồi dưỡng, kết nạp, giúp đỡ đảng viên dự bị trở thành đảng viên chính thức để Đảng thật sự thu hút và kết nạp được những người ưu tú nhất, tiêu biểu nhất về phẩm chất, bản lĩnh, năng lực, trí tuệ vào Đảng.

Chỉ có như vậy, công tác phát triển Đảng mới đạt chất lượng cao, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng nói chung, từng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh nói riêng, để Đảng có đủ uy tín, năng lực và trí tuệ lãnh đạo sự nghiệp cách mạng đi đến thành công!.

Theo TS. VĂN THỊ THANH MAI

ThS. NGUYỄN TUẤN DŨNG - CCTN

LTT/PĐT (st)

 NHỮNG LỜI RĂN DẠY CỦA BÁC HỒ VỀ ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG LUÔN VẸN NGUYÊN GIÁ TRỊ

1. Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông

Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc

Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính

Thiếu một mùa, thì không thành trời

Thiếu một phương, thì không thành đất

Thiếu một đức, thì không thành người.

2. Cần, Kiệm, Liêm, là gốc rễ của Chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có cành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải Chính mới là người hoàn toàn.

3. Học cái tốt thì khó, ví như người ta leo núi, phải vất vả, khó nhọc mới lên đến đỉnh. Học cái xấu thì dễ, như ở trên đỉnh núi trượt chân một cái là nhào xuống vực sâu.

4. Cần mà không Kiệm thì làm chừng nào xào chừng ấy. Cũng như một cái thùng không có đáy, nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không.

5. Không có đạo đức cách mạng thì tài cũng vô dụng.

6. Đạo đức, ngày trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ. Ngày nay, thời đại mới, đạo đức cũng phải mới. Phải trung với nước. Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào.

7. Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài và gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ vẻ vang.

8. Mình đối với mình: Đừng tự mãn, tự túc; nếu tự mãn, tự túc thì không tiến bộ. Phải tìm học hỏi cầu tiến bộ. Đừng kiêu ngạo, học lấy điều hay của người ta. Phải siêng năng tiết kiệm.

9. Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần - Kiệm - Liêm - Chính thì dễ trở thành hủ bại, biến thành sâu mọt của dân.

10. Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác.

ST/ĐT-QP