Chủ Nhật, 2 tháng 3, 2025

Hạnh phúc của “người cha nuôi” biên phòng

Ngược núi, lên trường nấu cơm cho con; trở thành điểm tựa cho những đứa trẻ vắng bóng hình cha, mẹ; nối yêu thương giữa hai đầu biên giới... Và rồi, chứng kiến từng thế hệ trưởng thành, mang trên mình bộ quân phục màu xanh, tiếp nối những sứ mệnh thiêng liêng, cao quý...

Suốt 12 năm qua, con đường ngược núi, qua những đỉnh mờ sương tới điểm trường Buốc Pát, Trường mầm non Lóng Sập đã in dấu bóng hình quen thuộc của những người cha nuôi biên phòng.

Biết các con đang chờ một bữa cơm no, nên dẫu đường xa, nắng gắt hay giá rét cắt da cắt thịt, cán bộ, chiến sĩ của Đồn đều sẽ thay phiên nhau nấu cơm mang lên điểm trường, hoặc mang thực phẩm lên chốt nấu cơm.

"Ban đầu cũng rất khó khăn, bởi chúng tôi chưa hiểu khẩu phần, định lượng cho các con ăn. Qua một thời gian, chúng tôi vừa học vừa tìm hiểu, bằng tất cả tấm lòng của mình... Các con còn rất nhỏ tuổi, nên từ những miếng thịt thái thật nhỏ, băm thật mịn, rau xanh cũng làm sao nấu phù hợp, đảm bảo định lượng cũng như dinh dưỡng cho các con." - anh Phàng A Mang nói.

Việc đóng góp từ tiền lương, tiêu chuẩn ăn của cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Cửa khẩu Lóng Sập để có được những bữa cơm trưa cho các con vốn đã rất trân quý. Nhưng hơn cả, điều vô giá, là tấm lòng của những người cha nuôi đã ngược núi, lên trường, tự tay nấu và chăm sóc cho những đứa trẻ nơi đây.

"Được mang đến cho các con những bữa cơm ngon, tự tay nấu và gửi trong đấy tình cảm của một người chiến sĩ cũng như một người cha đến với các con. Nhìn các con ăn ngon thì mình cũng cảm thấy rất vui, để các con có sức khỏe, được học tập và phát triển. Đấy là một niềm hạnh phúc rất lớn." - Niềm hạnh phúc của thiếu uý Mạc Văn Quân, Đội trưởng Đội Vận động quần chúng cũng là tấm lòng của nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Cửa khẩu Lóng Sập.

Bao năm qua, họ thay phiên nhau dậy từ 4 giờ để chuẩn bị bữa sáng ở Đồn, để riêng mấy chục suất cơm cho các con trên điểm trường, sau đó cử người đưa lên hoặc nhờ thầy, cô giáo hỗ trợ mang lên bản cho các con trước giờ vào lớp.

Cho tới 3 năm trở lại đây, đơn vị mới giao cho Tổ công tác Buốc Pát ở gần điểm trường nấu cơm cho các con, và chuyển từ nấu bữa sáng sang bữa trưa để các con được ăn no, yên tâm nghỉ trưa tại lớp.

Điểm trường Buốc Pát chỉ có mình cô giáo Tếnh Thị Pàng Nha chăm sóc cho hơn chục trẻ mầm non. Đây là khu vực giáp biên giới, từng là điểm nóng về an ninh trật tự; học sinh đều thuộc hộ nghèo, cuộc sống khó khăn, thiếu thốn mọi bề.

Nếu không có sự giúp đỡ của bộ đội biên phòng, cô giáo Nha cũng không biết làm sao để níu chân các con với trường, với lớp: "Lúc chưa có sự giúp đỡ từ bữa cơm của các chú bộ đội thì các con bỏ học rất nhiều và việc vận động các con đi học rất là khó. Bây giờ các con đi học đều, không có trường hợp bỏ học nữa. Sự đồng hành của các chú bộ đội cũng giúp tôi có cơ hội chăm sóc các con tốt hơn".

Thịt băm phi hành, trứng rán cuộn nhỏ, canh cải ấm nóng... bữa cơm đong đầy yêu thương đã làm no cái bụng, chắc bước chân đến trường, thắp lửa cho những trái tim trên quê hương, biên giới.

“Để cha là điểm tựa”

Mỗi lần nghe tiếng gọi ấm áp, thấy dáng người vạm vỡ thân quen của thiếu tá Nguyễn Văn Mạnh, cán bộ Đồn Biên phòng Chiềng Sơn, BĐBP Sơn La, gia đình Sồng A Tủa không giấu được niềm vui và hạnh phúc.

Sồng A Tủa - người con của mảnh đất biên giới Pha Luông, xã Chiềng Sơn, Mộc Châu, Sơn La từ khi lọt lòng chưa biết mặt cha, bởi mẹ của em tinh thần không minh mẫn, thậm chí còn không biết mình mang thai Tủa.

Ông ngoại Sồng A Câu vừa làm ông, vừa làm cha của Tủa suốt 10 năm qua, nay đã ngoài 90 tuổi, mắt mờ, chân chậm... chẳng biết còn được bao lần vượt núi dắt Tủa tới trường.

"Tủa không có bố, nhưng thật may mắn có các chú bộ đội biên phòng nhận đỡ đầu, nhất là chú Mạnh, luôn coi cháu như con, chăm sóc, cho cháu được đi học. Biết các chú bộ đội sẽ giúp đỡ Tủa đến khi học hết lớp 12, tôi rất yên tâm. Cảm các chú bộ đội biên phòng rất nhiều." - ông Sồng A Câu xúc động nói.

Sự xuất hiện của “người cha nuôi” Nguyễn Văn Mạnh đã trở thành điểm tựa đặc biệt của Tủa và gia đình. Nghĩa tình cha con ấy nên duyên từ một cuộc gặp gỡ tình cờ.

"Năm 2020, khi tôi về nhận công tác tại Đồn Biên phòng Chiềng Sơn, được cử lên trên tổ công tác Pha Luông, phụ trách hai bản Pha Luông với Suối Thín. Ngày tôi lên trên đấy trời mưa rất to, gặp hai ông cháu đi bộ từ trên bản xuống điểm trường.

Đường xa, ông dẫn cháu đi học dưới trời mưa tầm tã, vất vả vô cùng, chân thì không đi dép, mặt mũi thì nhọ nhem, người yếu ớt... Tôi đã ngỏ lời đưa hai ông cháu đến trường bằng xe máy, đường đất trơn lắm, nhưng tôi vẫn cố gắng làm sao  giúp hai ông cháu đến trường cho kịp buổi học ngày hôm ấy.” – anh Mạnh nhớ lại.

Một lần gặp gỡ, rồi nhiều lần tới thăm nhà, thấu hiểu hoàn cảnh và cả khát khao đến lớp của Tủa cũng như mong mỏi của ông ngoại Sồng A Câu, Thiếu tá Nguyễn Văn Mạnh đã báo cáo với lãnh đạo đơn vị để có phương án giúp đỡ gia đình.

Kể từ ấy, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Chiềng Sơn nói chung và anh Mạnh nói riêng có thêm một người con.

"Thật sự là xa gia đình, cũng có con nhỏ, nên tôi thương và coi cháu Tủa như là con của mình. Thấy cuộc sống của con khó khăn nên tôi cũng mua sắm từ gạo, mắm muối, mì chính, mì tôm, thịt, cá... cố làm sao cho cháu có cuộc sống đầy đủ như một gia đình nhỏ bé của mình", anh Mạnh cho hay.

Từ ngày có cha nuôi là bộ đội biên phòng, cậu học trò nhút nhát ngày nào đã tự tin hơn, mạnh dạn hơn, hoà đồng với bạn bè cùng trang lứa. Đó là cảm nhận của các giáo viên trực tiếp chủ nhiệm, đồng hành với Tủa.

Cô giáo Bùi Thị Thưởng, ở điểm trường Pha Luông, Trường Tiểu học Chiềng Sơn kể: Những năm trước cuộc sống của em Tủa rất khó khăn nên đi học cũng thất thường. Từ khi được Đồn Biên phòng Chiềng Sơn nhận nuôi, được quan tâm, chăm sóc, Tủa đi học rất đều đặn, lực học của em cũng khá lên, có nhiều tiến bộ...

Dẫu không thể ở bên hằng ngày, bởi người lính biên phòng còn mang trên vai nhiều trọng trách, nhưng thiếu tá Mạnh cùng cán bộ Đồn luôn quan tâm, chở che cho Tủa từ những điều nhỏ bé.

"Được bố Mạnh đưa đi học con rất vui. Con ước mơ sau này làm bộ đội, để được giống bố Mạnh!" - Sồng A Tủa nói.

Khi yêu thương nối hai đầu biên giới

Không chỉ ươm mầm xanh nơi đại ngàn biên cương của Tổ quốc, những người lính biên phòng Sơn La còn nối dài yêu thương tới bên kia biên giới. 

Như câu chuyện về người con nuôi đặc biệt - Thạo Phe, ở bản Đán, huyện Mường Ét, tỉnh Hủa Phăn, nước bạn Lào, được cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Cửa khẩu Chiềng Khương, Bộ Đội Biên phòng Sơn La nhận đỡ đầu, hỗ trợ thời gian qua.

"Con là Thạo Phe, thuộc đồng bào dân tộc Lào, năm nay 15 tuổi. Hiện tại con đang sống ở bản Đán, huyện Mường Ét, tỉnh Hủa Phăn, Lào. Bố con đã mất, mẹ đi bước nữa, con ở cùng bà nội năm nay đã 80 tuổi, bà lại hay đau ốm và không đi làm được.

Con học đến lớp bảy, con phải nghỉ học, rất nhớ trường và các bạn. Con tưởng ước mơ đến trường của mình đã dừng lại, nhưng từ khi có các chú bộ đội biên phòng Việt Nam giúp đỡ, cuộc sống của con đã khác rồi ạ…"

Theo Thượng úy Giàng Quốc khánh, Đội trưởng vận động quần chúng, Đồn Biên phòng cửa khẩu Chiềng Khương, Thạo Phe là một trong những cháu có hoàn cảnh khó khăn, mắc bệnh hiểm nghèo. Cán bộ của Đồn đã liên hệ với các nhà tài trợ, các bệnh viện để đưa cháu đi truyền máu định kỳ, có các chương trình hỗ trợ riêng cho cháu.

Hàng tháng chúng tôi cử cán bộ đến giúp đỡ, hỗ trợ cháu, rồi nắm bắt tình hình gia đình, hoàn cảnh của cháu. Có những vấn đề gì khó khăn thì sẽ kịp thời hỗ trợ và giúp đỡ cháu. Cán bộ, chiến sĩ đơn vị nói chung, bản thân tôi nói riêng thì cũng rất là vui và tự hào, hạnh phúc khi thấy cháu càng ngày càng trưởng thành.

Được đỡ đầu, được đi học trở lại, có cơ hội chữa bệnh để khỏe  mạnh hơn, được ước mơ về cuộc sống mới tốt đẹp hơn... là món quà nghĩa tình mà Bộ đội biên phòng Sơn La dành tặng cho Thạo Phe. Từ năm 2016 đến nay, cán bộ, chiến sĩ của đồn đã quan tâm, chăm lo và hỗ trợ kinh phí học tập cho Thạo Phe 500.000 đồng/tháng.

Thầy giáo Khên Thong, điểm trường Cụm Bản Đán, huyện Mường Ét, tỉnh Hủa Phăn, Lào chia sẻ: Chúng tôi thực sự rất xúc động với tình cảm, sự giúp đỡ của Bộ đội biên phòng Việt Nam dành cho Thạo Phe. Cán bộ, giáo viên nhà trường và các bạn học sinh cũng sẽ đồng hành, để Thạo Phe có cơ hội học tập tốt nhất... Cảm ơn Bộ đội biên phòng Việt Nam. 

 “Và con cũng là người lính quân hàm xanh”

Những người con nuôi ngày một khôn lớn, trưởng thành... có lẽ là món quà vô giá trong trái tim những người lính biên phòng Sơn La. Đặc biệt là khi được thấy con nuôi biên phòng mang trên mình bộ quân phục màu xanh, sẽ tiếp nối sứ mệnh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ an ninh biên giới quốc gia mà họ đang ngày đêm gìn giữ.

Học viện Biên phòng - ước mơ của Lìa Xuân Ngọc, cậu học trò nghèo sinh năm 2006, đến từ xã biên giới Chiềng Tương, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La trong suốt gần 10 năm qua, kể từ ngày trở thành con nuôi của biên phòng.

Nay, sinh viên năm nhất Lìa Xuân Ngọc đang là Tiểu đội trưởng Tiểu đội 9, Trung đội 3, Đại đội 1, Tiểu đoàn 1, Học viện Biên phòng. Nhớ lại những ngày tháng được cùng sinh hoạt, học tập với cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Chiềng Tương, Bộ Đội Biên phòng Sơn La, với Ngọc, đó chính là khởi nguồn cho tình yêu, sự đam mê, quyết tâm trở thành người lính quân hàm xanh.

"Ở Đồn Biên phòng, tôi được các chú quan tâm, yêu thương và chỉ bảo, định hướng cho tôi thi vào Học viện Biên phòng. Bên cạnh đó, cũng vì xuất phát từ chính sự đam mê, tình yêu của tôi dành cho các chú Bộ đội biên phòng. Tôi sẽ cố gắng học tập và rèn luyện thật tốt để sau này khi tốt nghiệp mang sức trẻ của mình cống hiến cho biên giới, quê hương, đất nước, góp sức cùng các chú Bộ đội Biên phòng tỉnh Sơn La và lực lượng Bộ đội Biên phòng nói chung." - Lìa Xuân Ngọc nói.

Lìa Xuân Ngọc là một trong số những người con nuôi biên phòng đầu tiên từ khi chương trình này được triển khai trên khắp dải bên cương Sơn La. Gần 10 năm qua, Bộ đội Biên phòng tỉnh Sơn La đã hỗ trợ hơn 300 học sinh trong chương trình nâng bước em tới trường và con nuôi đồn biên phòng.

Đại tá Vũ Đức Tú, Phó Chính ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh Sơn La tự hào, nói: Chúng tôi xác định việc thực hiện chương trình Nâng bước em đến trường và Con nuôi đồn Biên phòng vừa là tỉnh cảm, vừa là trách nhiệm, đây cũng chính là vinh dự được chung tay cùng các ngành, các cấp và nhân dân khu vực biên giới, cũng là sự tri ân của cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng đối với nhân dân đã cùng với bộ đội biên phòng bám trụ, bảo vệ và xây dựng biên cương Tổ quốc, xây dựng tiềm lực biên phòng ngày càng vững mạnh.

“Và rất là vui mừng, trong những năm vừa qua, đã có 2 cháu thi đỗ và đang học Học viện Biên phòng và nhiều cháu đang học các trường khác. Có thể nói đây là kết quả ban đầu có được từ sự nỗ lực vươn lên của các cháu, từ nguồn cổ vũ, động viên, giúp đỡ, hỗ trợ của nhà trường, gia đình và cán bộ, chiến sĩ bộ đội biên phòng thời gian qua.” – Đại tá Vũ Đức Tú chia sẻ.

Trái ngọt đã, đang và sẽ nảy mầm trên những miền đất biên cương xa xôi, từ những quyết sách đặc biệt, đến những hành động, việc làm giản dị nhưng chân thành và đong đầy yêu thương...

“Con cảm ơn các chú bộ đội biên phòng rất nhiều. Con yêu Việt Nam" - Thạo Phe, bản Đán, huyện Mường Ét, tỉnh Hủa Phăn, Lào. 

Tư tưởng xã hội chủ nghĩa thời kỳ trung đại

 


Những trào lưu mang khuynh hướng cộng sản chủ nghĩa thời trung đại rất đa dạng nhưng đều mang một số đặc điểm chung:

Một là, nội dung và hình thức tư tưởng mang đậm màu sắc tôn giáo. Thời kỳ trung đại, thế giới quan tôn giáo chiếm ưu thế trong đời sống xã hội. Vì vậy, các trào lưu tư tưởng xã hội chủ nghĩa chịu ảnh hưởng lớn của thế giới quan tôn giáo. Các phong trào xã hội và trào lưu tư tưởng phải khóac áo tôn giáo, nhân danh tôn giáo để thể hiện tư tưởng và hành động của mình, chống lại các quan điểm tôn giáo chính thống (nên bị gọi là “dị giáo”).

Hai là, những trào lưu tư tưởng và phong trào “dị giáo” đấu tranh chống cả thế quyền và thần quyền. Thời kỳ này, giai cấp quý tộc phong kiến đã lấy giáo lý tôn giáo làm công cụ để bảo vệ sự thống trị của mình; và giai cấp phong kiến quý tộc cấu kết chặt chẽ với nhau để áp bức quần chúng lao động. Nhà thờ thiên chúa giáo tích cực giúp đỡ tầng lớp phong kiến quý tộc đàn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân, còn các hoàng đế, bọn phong kiến quý tộc thì ủng hộ nhà thờ trong các cuộc đấu tranh chống các phong trào “dị giáo”. Bởi vậy, các đấu tranh của quần chúng bị bóc lột chống chế độ phong kiến không thể không đấu tranh chống giáo hội thiên chúa giáo lúc bấy giờ.

Ba là, tư tưởng xã hội chủ nghĩa về phân phối mang tính bình quân chủ nghĩa, khổ hạnh, hết sức hạn chế trong tiêu dùng ở phạm vi công xã nhỏ. Trong xã hội lúc này đang bị phân hóa nặng nề. Một bộ phận giàu sang phú quý lại “ăn trên ngồi trốc”, còn đại bộ phận quần chúng nghèo khổ bị áp bức bóc lột đến cùng quẫn. Chính vì vậy mà những người lao động phản ứng một cách tự nhiên, muốn có một xã hội công bằng theo kiểu bình quân chia đều, mang tính tiêu dùng và hưởng thụ, chứ chưa phải dựa trên cơ sở nhận thức được quy luật vận động của xã hội một cách tự giác.

Bốn là, tư tưởng xã hội chủ nghĩa thời kỳ trung đại phần nhiều mang tính chất vô chính phủ. Họ phủ nhận vai trò của nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, hơn nữa còn cho rằng nhà nước là nguồn gốc của mọi tệ nạn xã hội. Họ chưa thấy được vai trò quản lý xã hội của nhà nước. Họ cho rằng bất cứ một quyền lực nào đối với con người đều trái với ý chúa và gây nên tội lỗi. Vì vậy, cần phải xóa bỏ mọi quyền lực trong xã hội và “giang sơn ngàn năm của chúa”.

Năm là, những trào lưu tư tưởng xã hội chủ nghĩa thời kỳ trung đại phần nhiều mang tính chất phi bạo lực. Họ chủ trương biến đổi đời sống xã hội không phải bằng con đường đấu tranh cách mạng mà chủ yếu bằng con đường tuyên truyền và cầu mong sự thay đổi của tầng lớp thống trị. Tư tưởng ấy chịu ảnh hưởng của giáo lý cơ đốc giáo sơ kỳ và phản ánh đặc điểm tâm lý, ý thức của những tầng lớp xã hội bị thống trị còn quá yếu ớt, luôn mang tâm trạng lo sợ bị thất bại và bị trừng phạt. Họ chưa nhận thức được vai trò to lớn của lực lượng quần chúng trong quá trình phát triển lịch sử.

Sáu là, tư tưởng xã hội chủ nghĩa thời kỳ trung đại còn mang tính chất tản mạn, rời rạc, chưa thành hệ thống lý luận. Nó chỉ có tính chất là một phong trào cách mạng khi có những cuộc khủng hoảng xã hội thật sâu sắc và chịu sự tác động của tình thế cách mạng chung, chứ không thể trở thành thực tiễn lịch sử trong phạm vi rộng lớn.

Các nhóm quan điểm sai trái của các thế lực thù địch


Một là, những quan điểm sai trái do các thế lực thù địch tác động tuyên truyền. Hai là, những quan điểm sai trái do các phần tử phản động, thoái hóa, cơ hội chính trị, bất mãn gây ra. Ba là, những quan điểm sai trái hình thành do trình độ nhận thức chính trị kém. Trong ba nhóm trên thì nhóm quan điểm sai trái do các phần tử phản động, thoái hóa, cơ hội chính trị, bất mãn gây ra là hết sức nguy hại, bởi nó xuất phát từ trong nước, chống đối trực diện từ bên trong. Họ là những kẻ hăng hái, ráo riết tiến công phá hoại về tư tưởng, đả kích, bôi nhọ các quan điểm, đường lối của Đảng; công khai phát biểu, phát tán tài liệu, đưa lên những quan điểm sai lầm hòng làm tan rã lòng tin, gây chia rẽ dân tộc, nhất là giữa Đảng và Nhân dân. Đặc điểm của loại quan điểm này thể hiện ở những vấn đề sau: Quan điểm tư tưởng chính trị mơ hồ, không nhất quán, mờ nhạt tính giai cấp, tính đảng và tính nguyên tắc về phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, về vấn đề cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, về chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc. Chủ trương, đường lối từ bỏ học thuyết Mác - Lênin, từ bỏ cách mạng xã hội chủ nghĩa, đặt lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động phụ thuộc vào lợi ích của giai cấp tư sản, tiểu tư sản. Tư tưởng được xây dựng trên một cơ sở lý luận xét lại nào đó và sự cóp nhặt hỗn tạp giữa trào lưu triết học, xã hội học tư sản hiện đại, thực dụng, cơ hội cả về thái độ và lối sống, trục lợi cả chính trị và vật chất. Lúc cách mạng thuận lợi thì tư tưởng trở nên cấp tiến; lúc khó khăn thì ngả nghiêng, dao động, thoái lui, thỏa hiệp, thậm chí là công khai công kích Đảng, phê phán con đường và sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Cố tình nhắm mắt, xuyên tạc lịch sử của dân tộc, thành quả cách mạng, sự lựa chọn và tính tất yếu đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; phủ định, công kích đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; đòi Đảng từ bỏ vai trò lành đạo Nhà nước và xã hội; tán giương, cổ vũ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, “xã hội dân sự”, “xã hội công dân”. Bôi nhọ uy tín, thanh danh, thân thế, sự nghiệp, đời tư của lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước; xuyên tạc nội bộ, các nguyên tắc tổ chức, hoạt động và sinh hoạt Đảng; tung tin, bịa đặt trong Đảng có phe này phái nọ, nhóm này nhóm nọ; nói xấu cán bộ Đảng và Nhà nước. Tính chất nội dung là phản động, cực đoan; ảnh hưởng xấu đến tình hình chính trị, an ninh, quốc phòng, đối ngoại... của nước ta; ca ngợi một chiều, phiến diện chủ nghĩa tư bản, tác động xấu đến tư tưởng, tâm lý của nhân dân.

Sự chống phá của các thế lực thù địch về nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam


Về bản chất, đó là những ý kiến trái với sự thật về nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trái với quan điểm, chủ trương của Đảng; trái với chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam; trái với tình hình thực tiễn cách mạng, đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại ở Việt Nam. Về tác hại, nó gây tác hại nhiều mặt đến hệ tư tưởng, trước hết là tư tưởng chính trị, lập trường, tình cảm, thái độ, niềm tin của đảng viên, cán bộ và quần chúng nhân dân đối với nền tảng tư tưởng của Đảng và đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Về nguồn gốc, nó có nguồn gốc từ đời sống chính trị - xã hội nước ta, không loại trừ bất cứ khu vực nào, kể cả trong nội bộ của Đảng, trong tầng lớp trí thức, mà nguyên nhân căn bản là thiếu thông tin chân thực, chính xác, hoặc do phương thức tư duy nhận thức và lí luận sai lầm. Tuy quan điểm sai trái có nguồn gốc từ bên trong nội bộ nước ta, nhưng chưa phải là quan điểm thù địch, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, chống đối Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Nội dung tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng thời kỳ trung đại

 


Sự phản kháng của quần chúng lao động chống sự bóc lột phong kiến vào thời trung đại được thể hiện dưới các hình thức phong trào “dị giáo”. Theo Ph.Ăngghen “sự đối lập có tính chất cách mạng chống chế độ phong kiến diễn ra suốt thời trung cổ. Tuỳ theo điều kiện của thời đại, nó xuất hiện khi thì dưới hình thức một thuyết thần bí, khi thì dưới hình thức một “tà giáo” công khai, khi thì dưới hình thức một cuộc khởi nghĩa vũ trang”2. “Dị giáo” đó là sự thể hiện dưới hình thức tôn giáo ý nguyện chống phong kiến của quần chúng lao động.

Phong trào “dị giáo” lớn đầu tiên bao trùm toàn bộ châu Âu bắt đầu vào thế kỷ thứ X ở Bungari. Phong trào có tên là “thánh thiện” và mang tính chất chống phong kiến. Đó là phong trào đại diện cho lợi ích của quần chúng nông dân Bungari bị nô dịch. Những người “thánh thiện” thuyết giáo rằng sở hữu phong kiến và quyền của nông nô do “quỷ sứ” và “sức mạnh tàn ác” tạo nên (họ đồng nhất với sự giàu có). Trong cuộc đấu tranh, họ đã tiến hành lập những tổ chức riêng nhằm phục hồi những truyền thống dân chủ của công xã thiên chúa giáo sơ khai. Mục đích của họ - như một người đương thời của phong trào này viết đó là dạy cho đồng bào không tuân thủ chính quyền, nguyền rủa bọn giàu có, căm thù vua chúa, nguyền rủa các tộc trưởng, phê phán bọn quan lại, coi việc phục vụ vua chúa là đớn hèn trước chúa và mọi kẻ nô lệ không được phục vụ cho ông chủ của mình.

Dưới ảnh hưởng của học thuyết “thánh thiện”, vào thế kỷ X - XI đã xuất hiện các phong trào “dị giáo” của quần chúng ở Bidantin, Xecbia, Boxnia, Nga (Kiep) và ảnh hưởng đến cả các nước Tây Âu khác.

Vào thế kỷ XI có phong trào đấu tranh của giáo phái Cata và Vanđexơ (miền Nam nước Pháp). Họ nêu khẩu hiệu đấu tranh: mọi tài sản đều là của chung và sở hữu riêng đều bị bác bỏ. Họ tuyên truyền tư tưởng từ bỏ quyền lực vật chất. Họ coi giáo hội là bộ máy thống trị bóc lột, một hiểm hoạ đè lên cuộc sống của các tín đồ. Họ coi Cơ đốc giáo chân chính là sự tiếp xúc giữa chúa và con người, con người trực tiếp thực thi mọi mệnh lệnh của chúa mà không cần đến bộ máy của giáo hội. Thực chất đó là tư tưởng cộng sản và dân chủ trong tôn giáo.

Thế kỷ XIII, ở miền Bắc nước Italia có cuộc đấu tranh của giáo phái “dị giáo” cộng sản, đứng đầu là Đôsinô. Trong các bài giảng đạo, ông thường tuyên truyền xã hội hiện thời sắp sụp đổ và sẽ tiến lên xã hội cộng sản sơ kỳ. Cuộc đấu tranh của họ là để thực hiện “giang sơn của thánh thần” nhưng không phải bằng con đường hòa bình mà phải bằng con đường bạo lực. Họ đã chiến đấu anh dũng chống sự tàn ác của lực lượng thống trị được hơn một năm. Nhưng vì cuộc đấu tranh cho một thứ cộng sản còn viển vông nên không tránh khỏi bị thất bại.

Đến thế kỷ XIV, ở nước Anh mới bắt đầu xuất hiện các giáo phái cộng sản. Các giáo phái này được xây dựng bởi những người từ các nước khác trong lục địa bị truy nã và phải chạy trốn sang Anh. Những người này mang theo những tư tưởng “dị giáo” cộng sản và truyền bá vào nước Anh, một đất nước cũng đang chứng kiến một thời kỳ sôi sục cách mạng do sự tan rã của quan hệ phong kiến ở nông thôn gây ra và chuẩn bị cho cuộc chiến tranh nông dân 1381. Ở Anh vào giai đoạn này có hai cuộc khởi nghĩa có tư tưởng “dị giáo” điển hình là: cuộc khởi nghĩa của Giôn Bôn và cuộc khởi nghĩa của Giôn Vích.

Giôn Bôn - một giáo sĩ bình dân, lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa nông dân năm 1381, Ông vạch trần tính chất bất bình đẳng của xã hội đương thời là: “số phận của họ (bọn quý tộc là ăn không ngồi rồi trong các lâu đài sang trọng, còn số phận của chúng ta là lao động và làm việc dầm mưa dãi nắng ngoài đồng”; chính nhờ lao động của chúng ta mà họ sống xa hoa phè phỡn”. Tư tưởng phản kháng ách bóc lột nhân dân lao động được ông nêu lên tiến bộ hơn những người cùng thời. Cuộc khởi nghĩa do ông lãnh đạo cũng không tránh khỏi thất bại, ông bị bắt và chịu án hành hình.

Giôn Vích là người đứng đầu một giáo phái khác ở Anh cũng có tư tưởng cộng sản. Trong các bài giảng đạo của mình, ông cho rằng, chính quyền dựa trên chế độ tư hữu là giả tạo và chính quyền dựa trên sự kết hợp cộng sản là tự nhiên và thanh cao. Phải thay thế xã hội đương thời bằng một xã hội mới tốt đẹp hơn theo tư tưởng cộng sản cơ đốc giáo.

Vào thế kỷ thứ XV, chủ nghĩa cộng sản “dị giáo” nổi bật hơn cả là ở Séc - Xlôvakia. Nhân dân lao động ở nước này bị hai tầng áp bức, đó là bọn vua quan phong kiến quý tộc và giáo hội cơ đốc cùng giới tư thương phần lớn là người Đức. Bởi vậy những cuộc cách mạng ở Séc - Xlôvakia ở thời kỳ này phải chống lại nhà vua, bọn phong kiến quý tộc và giáo hội đồng thời vừa chống lại sự bóc lột của bọn tư thương. Năm 1419 đã diễn ra cuộc khởi nghĩa mang tên phong trào Taborít. Đây là phong trào mang tính chất “dị giáo” cộng sản nhưng thực chất vẫn đi theo tư tưởng và nguyên tắc kinh “phúc âm” và “khải huyền thư”. Những khẩu hiệu chung của phong trào Taborít là: “giang sơn ngàn năm của chúa”; “mọi người là bình đẳng”; “mọi của cải đều là tài sản chung”.

Vào đầu thế kỷ XVI ở Đức diễn ra phong trào “dị giáo” cuối cùng đó là cuộc chiến tranh nông dân do Tomát Muyn xơ lãnh đạo để chống lại giáo hội thiên chúa giáo và chính quyền nhà nước, vì lợi ích của quần chúng bị áp bức.

Tomát Muynxơ sinh tại Xtônbéc vào khoảng 1490, đại biểu của phái cải cách cực đoan. Những tư tưởng cộng sản của Ông đã trở thành biểu hiện khát vọng đang được thể hiện bằng hành động cách mạng ở nhiều cuộc nổi dậy lớn của quần chúng lao động. T.Muynxơ đả kích không thương tiếc chế độ đương thời. Ông gọi bọn vương công quý tộc, linh mục là bọn đao phủ, ông tin chắc xã hội đương thời sẽ sụp đổ và cùng với sự sụp đổ đó, vị trí của dân nghèo sẽ được nâng cao. Muynxơ nêu mục đích của các cuộc khởi nghĩa là xóa bỏ chế độ tư hữu, quốc hữu hóa ruộng đất và các tài sản khác. Mọi người phải lao động và xóa bỏ mọi đặc quyền đặc lợi. Để đạt được mục tiêu, ông chủ trương thực hiện bằng biện pháp cách mạng là bằng bạo lực chứ không phải bằng con đường cải cách hòa bình. Theo Ông, việc sử dụng bạo lực không phải là do ý muốn của nhân dân mà chính do lực lượng thống trị gây nên. Trong cuốn “Toàn bộ lịch sử của chiến tranh nông dân vĩ đại” nhà sử học Vinhem Ximmếcman (1807 - 1878) đã trích câu nói của Muynxơ: “chính các lãnh chúa có lỗi về việc dân nghèo trở thành kẻ thù của họ. Chúng không muốn xóa bỏ nguyên nhân của bạo động, vậy thì rốt cuộc làm thế nào để xác lập được hòa bình”.

Tomát Muynxơ là lãnh tụ của chiến tranh nông dân ở Đức và ông tổ chức, lãnh đạo lực lượng vũ trang trên 8.000 binh sĩ. Mặc dầu Muynxơ đã chiến đấu tích cực nhưng vẫn không đủ điều kiện và thời gian để tổ chức cuộc chiến đấu đủ sức đương đầu với các thế lực phản động của giáo hội và nhà nước. Cuối cùng cuộc khởi nghĩa bị thất bại. Năm 1526 Muynxơ bị bắt và bị xử tử. Ph.Ăngghen đã đánh giá rất cao những tư tưởng của Muynxơ. Ph.Ăngghen viết: “Học thuyết chính trị của ông gắn liền chặt chẽ với những quan điểm tôn giáo cách mạng ấy và vượt xa giới hạn của những quan hệ xã hội và chính trị trực tiếp tồn tại hồi bấy giờ, cũng như thuyết thần học của ông đã vượt xa giới hạn của những quan niệm tôn giáo thịnh hành hồi đó. Giống như triết học, tôn giáo của Muynxơ rất gần với thuyết vô thần, cương lĩnh chính trị của ông cũng gần với cộng sản chủ nghĩa”1. Ông là người chỉ đại diện cho tầng lớp nhân dân nhưng tư tưởng của ông vượt xa tầng lớp ấy về chính trị.



1 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 7, “Chiến tranh nông dân ở Đức” (1850), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1993, tr.490.