Sự phản kháng của quần chúng lao
động chống sự bóc lột phong kiến vào thời trung đại được thể hiện dưới các hình
thức phong trào “dị giáo”. Theo Ph.Ăngghen “sự đối lập có tính chất cách mạng
chống chế độ phong kiến diễn ra suốt thời trung cổ. Tuỳ theo điều kiện của thời
đại, nó xuất hiện khi thì dưới hình thức một thuyết thần bí, khi thì dưới hình
thức một “tà giáo” công khai, khi thì dưới hình thức một cuộc khởi nghĩa vũ
trang”2. “Dị giáo” đó là sự thể hiện dưới hình thức tôn
giáo ý nguyện chống phong kiến của quần chúng lao động.
Phong trào “dị giáo” lớn đầu tiên bao trùm toàn bộ
châu Âu bắt đầu vào thế kỷ thứ X ở Bungari. Phong trào có tên là “thánh thiện”
và mang tính chất chống phong kiến. Đó là phong trào đại diện cho lợi ích của
quần chúng nông dân Bungari bị nô dịch. Những người “thánh thiện” thuyết giáo
rằng sở hữu phong kiến và quyền của nông nô do “quỷ sứ” và “sức mạnh tàn ác”
tạo nên (họ đồng nhất với sự giàu có). Trong cuộc đấu tranh, họ đã tiến hành
lập những tổ chức riêng nhằm phục hồi những truyền thống dân chủ của công xã
thiên chúa giáo sơ khai. Mục đích của họ - như một người đương thời của phong
trào này viết đó là dạy cho đồng
bào không tuân thủ chính quyền, nguyền rủa bọn giàu có, căm thù vua chúa,
nguyền rủa các tộc trưởng, phê phán bọn quan lại, coi việc phục vụ vua chúa là
đớn hèn trước chúa và mọi kẻ nô lệ không được phục vụ cho ông chủ của mình.
Dưới ảnh hưởng của học thuyết
“thánh thiện”, vào thế kỷ X - XI đã xuất hiện các phong trào “dị giáo” của quần
chúng ở Bidantin, Xecbia, Boxnia, Nga (Kiep) và ảnh hưởng đến cả các nước Tây
Âu khác.
Vào thế kỷ XI có phong trào đấu tranh của giáo phái
Cata và Vanđexơ (miền Nam nước Pháp). Họ nêu khẩu hiệu đấu tranh: mọi tài sản
đều là của chung và sở hữu riêng đều bị bác bỏ. Họ tuyên truyền tư tưởng từ bỏ
quyền lực vật chất. Họ coi giáo hội là bộ máy thống trị bóc lột, một hiểm hoạ
đè lên cuộc sống của các tín đồ. Họ coi Cơ đốc giáo chân chính là sự tiếp xúc
giữa chúa và con người, con người trực tiếp thực thi mọi mệnh lệnh của chúa mà
không cần đến bộ máy của giáo hội. Thực chất đó là tư tưởng cộng sản và dân chủ
trong tôn giáo.
Thế kỷ XIII, ở miền Bắc nước Italia có cuộc đấu
tranh của giáo phái “dị giáo” cộng sản, đứng đầu là Đôsinô. Trong các bài giảng
đạo, ông thường tuyên truyền xã hội hiện thời sắp sụp đổ và sẽ tiến lên xã hội
cộng sản sơ kỳ. Cuộc đấu tranh của họ là để thực hiện “giang sơn của thánh
thần” nhưng không phải bằng con đường hòa bình mà phải bằng con đường bạo lực. Họ
đã chiến đấu anh dũng chống sự tàn ác của lực lượng thống trị được hơn một năm.
Nhưng vì cuộc đấu tranh cho một thứ cộng sản còn viển vông nên không tránh khỏi
bị thất bại.
Đến thế kỷ XIV, ở nước Anh mới
bắt đầu xuất hiện các giáo phái cộng sản. Các giáo phái này được xây dựng bởi
những người từ các nước khác trong lục địa bị truy nã và phải chạy trốn sang
Anh. Những người này mang theo những tư tưởng “dị giáo” cộng sản và truyền bá
vào nước Anh, một đất nước cũng đang chứng kiến một thời kỳ sôi sục cách mạng
do sự tan rã của quan hệ phong kiến ở nông thôn gây ra và chuẩn bị cho cuộc
chiến tranh nông dân 1381. Ở Anh vào giai đoạn này có hai cuộc khởi nghĩa có tư tưởng
“dị giáo” điển hình là:
cuộc khởi nghĩa của Giôn Bôn và cuộc khởi nghĩa của Giôn Vích.
Giôn Bôn - một giáo sĩ bình dân, lãnh tụ của cuộc
khởi nghĩa nông dân năm 1381, Ông vạch trần tính chất bất bình đẳng của xã hội đương thời là: “số phận
của họ (bọn quý tộc là ăn không
ngồi rồi trong các lâu đài sang trọng, còn số phận của chúng ta là lao động và
làm việc dầm mưa dãi nắng ngoài đồng”; chính nhờ lao động của chúng ta mà họ
sống xa hoa phè phỡn”. Tư tưởng phản kháng ách bóc lột nhân dân lao động được
ông nêu lên tiến bộ hơn những người cùng thời. Cuộc khởi nghĩa do ông lãnh đạo
cũng không tránh khỏi thất bại, ông bị bắt và chịu án hành hình.
Giôn
Vích là người đứng đầu một giáo phái khác ở Anh cũng có tư tưởng cộng sản.
Trong các bài giảng đạo của mình, ông cho rằng, chính quyền dựa trên chế độ tư hữu là giả tạo và chính quyền
dựa trên sự kết hợp cộng sản là tự nhiên và thanh cao. Phải thay thế xã hội
đương thời bằng một xã hội mới tốt đẹp hơn theo tư tưởng cộng sản cơ đốc giáo.
Vào thế kỷ thứ XV, chủ nghĩa cộng sản “dị giáo” nổi
bật hơn cả là ở Séc - Xlôvakia. Nhân dân lao động ở nước này bị hai tầng áp
bức, đó là bọn vua quan phong kiến quý tộc và giáo hội cơ đốc cùng giới tư
thương phần lớn là người Đức. Bởi vậy những cuộc cách mạng ở Séc - Xlôvakia ở
thời kỳ này phải chống lại nhà vua, bọn phong kiến quý tộc và giáo hội đồng
thời vừa chống lại sự bóc lột của bọn tư thương. Năm 1419 đã diễn ra cuộc khởi
nghĩa mang tên phong trào Taborít. Đây là phong trào mang tính chất “dị giáo”
cộng sản nhưng thực chất vẫn đi theo tư tưởng và nguyên tắc kinh “phúc âm” và
“khải huyền thư”. Những khẩu hiệu chung của phong trào Taborít là: “giang sơn
ngàn năm của chúa”; “mọi người là bình đẳng”; “mọi của cải đều là tài sản
chung”.
Vào đầu thế kỷ XVI ở Đức diễn ra phong trào “dị
giáo” cuối cùng đó là cuộc chiến tranh nông dân do Tomát Muyn xơ lãnh đạo để
chống lại giáo hội thiên chúa giáo và chính quyền nhà nước, vì lợi ích của quần
chúng bị áp bức.
Tomát Muynxơ sinh tại Xtônbéc vào khoảng 1490, là đại biểu của phái cải cách cực đoan. Những tư tưởng cộng sản của Ông đã trở thành biểu hiện khát vọng đang được thể hiện
bằng hành động cách mạng ở nhiều cuộc nổi dậy lớn của quần chúng lao động. T.Muynxơ đả kích không thương tiếc chế độ đương thời. Ông gọi bọn vương công quý
tộc, linh mục là bọn đao phủ, ông tin chắc xã hội đương thời sẽ sụp đổ và cùng
với sự sụp đổ đó, vị trí của dân nghèo sẽ được nâng cao. Muynxơ nêu mục đích
của các cuộc khởi nghĩa là xóa bỏ chế độ tư hữu, quốc hữu hóa ruộng đất và các
tài sản khác. Mọi người phải lao động và xóa bỏ mọi đặc quyền đặc lợi. Để đạt được mục tiêu, ông chủ
trương thực hiện bằng biện pháp cách mạng là bằng bạo lực chứ không phải bằng con đường cải cách hòa bình. Theo
Ông, việc sử dụng bạo lực không phải là do ý muốn của nhân dân mà chính do lực
lượng thống trị gây nên. Trong cuốn “Toàn bộ lịch sử của chiến tranh nông dân
vĩ đại” nhà sử học Vinhem Ximmếcman (1807 - 1878) đã trích câu nói của Muynxơ:
“chính các lãnh chúa có lỗi về việc dân nghèo trở thành kẻ thù của họ. Chúng
không muốn xóa bỏ nguyên nhân của bạo động, vậy thì rốt cuộc làm thế nào để xác
lập được hòa bình”.
Tomát Muynxơ là lãnh tụ của chiến
tranh nông dân ở Đức và ông tổ chức, lãnh đạo lực lượng
vũ trang trên 8.000 binh sĩ. Mặc dầu Muynxơ đã chiến đấu tích
cực nhưng vẫn không đủ điều kiện và thời gian để tổ chức cuộc chiến đấu đủ sức
đương đầu với các thế lực phản động của giáo hội và nhà nước. Cuối cùng cuộc
khởi nghĩa bị thất bại. Năm 1526 Muynxơ bị bắt và bị xử
tử. Ph.Ăngghen đã đánh giá rất cao những tư tưởng của
Muynxơ. Ph.Ăngghen viết: “Học thuyết chính trị của ông gắn liền chặt chẽ với
những quan điểm tôn giáo cách mạng ấy và vượt xa giới hạn của những quan hệ xã
hội và chính trị trực tiếp tồn tại hồi bấy giờ, cũng như thuyết thần học của
ông đã vượt xa giới hạn của những quan niệm tôn giáo thịnh hành hồi đó. Giống
như triết học, tôn giáo của Muynxơ rất gần với thuyết vô thần, cương lĩnh chính
trị của ông cũng gần với cộng sản chủ nghĩa”1. Ông là người chỉ đại
diện cho tầng lớp nhân dân nhưng tư tưởng của ông vượt xa tầng lớp ấy về chính trị.
1 C.Mác và
Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 7, “Chiến tranh nông dân ở Đức” (1850), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1993, tr.490.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét