Ngay sau khi đất nước vừa được thống nhất, cách mạng Việt Nam phải đối mặt với vô vàn khó khăn, thách thức chưa từng có: Hậu quả chiến tranh rất nặng nề, phải khắc phục lâu dài; chủ quyền biên giới quốc gia bị đe dọa nghiêm trọng, phải kiên quyết bảo vệ, củng cố; các thế lực thù địch bao vây, cấm vận mọi bề, phải kiên trì đấu tranh gỡ bỏ; tư tưởng chủ quan, duy ý chí, nóng vội trong điều hành kinh tế - xã hội, cộng với những hạn chế, khuyết điểm của nền kinh tế bộc lộ ngày càng rõ, cần được đổi mới; khủng hoảng kinh tế - xã hội xuất hiện và ngày càng trầm trọng, phải nỗ lực khắc phục, vượt qua. Đây cũng là thời điểm tình hình thế giới diễn biến ngày càng bất lợi cho cách mạng Việt Nam. Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu lâm vào khủng hoảng toàn diện. Một số đảng cộng sản cầm quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa chủ trương tiến hành công cuộc cải cách, mở cửa, cải tổ. Trước yêu cầu cấp thiết “đổi mới là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với Đảng, đất nước và chế độ”, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, dũng cảm “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật và nói rõ sự thật”, kiên trì tổng kết thực tiễn, vững tin ở sức mạnh của nhân dân, quả cảm dứt bỏ tư duy và cách làm không còn phù hợp, vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của đất nước, quyết tâm khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện, tìm con đường thích hợp đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, giữ vững ổn định và phát triển đất nước. Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 hoạch định đường lối đổi mới, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tiến trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Khi chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ,
niềm tin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bị giảm sút nghiêm trọng. Với tầm
cao trí tuệ, bản lĩnh chính trị vững vàng và sự nhạy bén về thời cuộc, Đảng Cộng
sản Việt Nam vẫn kiên định đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở
vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Quyết tâm của Đảng thể hiện tại Đại hội VII (năm 1991), khi khẳng định dứt
khoát: “Đối với nước ta, không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thực
sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng đây là sự lựa chọn của
chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng
ta”(2). Công cuộc đổi mới được tiếp tục triển khai với sự kiên định mục tiêu độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng
Hồ Chí Minh. Từ đó, Việt Nam đã thu được kết quả đáng khích lệ, tạo nền tảng
quan trọng để chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và hội nhập quốc tế.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sau gần 40 năm tiến hành công cuộc
đổi mới toàn diện, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch
sử: Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa; trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, nền kinh tế được
nâng lên trình độ cao hơn, phát triển năng động. Việt Nam đã vươn lên nhóm 40 nền
kinh tế hàng đầu thế giới, nhóm 20 nền kinh tế có kim ngạch thương mại lớn nhất
thế giới. Quy mô nền kinh tế đất nước đã tăng hàng trăm lần so với năm đầu đổi
mới. Không chỉ phá bỏ thế bị bao vây, cô lập, Việt Nam tích cực và chủ động hội
nhập quốc tế, có quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia, có quan hệ Đối tác chiến
lược toàn diện, quan hệ Đối tác chiến lược và Đối tác toàn diện với tất cả nước
lớn và toàn bộ 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, là
thành viên tích cực của ASEAN và hơn 70 tổ chức khu vực và quốc tế, có quan hệ
với 230 thị trường tại các châu lục, là mắt xích quan trọng trong 17 Hiệp định
thương mại tự do (FTA) đã có hiệu lực gắn kết với các nền kinh tế chủ chốt ở
khu vực và toàn cầu. Việt Nam đã vươn lên trở thành biểu tượng hòa bình, ổn định,
hiếu khách, điểm đến của nhà đầu tư và khách du lịch, bạn bè quốc tế.
Mục tiêu của Đảng phấn đấu vì hạnh phúc, ấm no của nhân dân
đạt những kết quả quan trọng. Các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, khoa học - công
nghệ, y tế... đều có sự phát triển vượt bậc; phát triển văn hóa - xã hội, con
người có nhiều tiến bộ; định hình ngày càng rõ nét hệ giá trị quốc gia, hệ giá
trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đất nước ta
được Liên hợp quốc và bạn bè quốc tế xem như một điểm sáng về xóa đói, giảm
nghèo, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân.
Sức mạnh tổng hợp quốc gia ngày càng được củng cố và tăng cường;
giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và định hướng xã hội
chủ nghĩa; giữ vững vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, bảo đảm vai trò quản
lý hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát huy mạnh mẽ
quyền làm chủ của nhân dân; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ
sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế,
bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi.
Sức mạnh chính trị, tinh thần, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc
phòng, an ninh được củng cố, tăng cường; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống
phá của các thế lực thù địch, góp phần quan trọng vào thành công của quá trình
xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc
tế ngày càng được khẳng định và nâng cao.
Lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được bổ sung, hoàn thiện. Đảng kiên
định và không ngừng vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh vào thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; thường xuyên tổng
kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cho phù hợp với thực tiễn phát triển từng thời
kỳ. Trên cơ sở đó, Đảng dẫn dắt dân tộc ta vững vàng vượt qua mọi khó khăn,
thách thức, không ngừng đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, khơi dậy
mạnh mẽ tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển đất nước hùng cường, phồn
vinh, hạnh phúc. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước qua gần
40 năm tiến hành công cuộc đổi mới thực sự tạo nền tảng, tạo đà cho những bước
phát triển nhảy vọt cao hơn của đất nước.
Xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, Đảng ta không ngừng
rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu.
Trong mọi hoàn cảnh, Đảng luôn vững tin vào sự đúng đắn, tính khoa học, tinh thần
bách chiến bách thắng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tin tưởng
vào thắng lợi tất yếu của sự nghiệp cách mạng mà Đảng ta, nhân dân ta và Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Dù trải qua nhiều bước thăng trầm, khó khăn, thách thức,
Đảng luôn vững tin ở sức mạnh của nhân dân, sẵn sàng đấu tranh gian khổ vì quyền
lợi của nhân dân và có phương cách tập hợp, phát huy sức mạnh của nhân dân. Có
được bản lĩnh vững vàng còn nhờ Đảng ta không ngừng rèn luyện ý chí cách mạng,
luôn củng cố và đổi mới tổ chức, tăng cường khối đoàn kết thống nhất trong Đảng
và của toàn dân tộc. Qua các chặng đường cách mạng, Đảng kịp thời và nghiêm túc
đúc kết kinh nghiệm đấu tranh, qua đó rèn luyện bản lĩnh và ý chí cách mạng cho
đảng viên và quần chúng, tạo sự chủ động trước các tình huống mới, sẵn sàng đối
mặt với thách thức mới. Bản lĩnh chính trị vững vàng của Đảng còn biểu hiện và
có nguyên nhân từ việc Đảng luôn quan tâm tự đổi mới và chỉnh đốn, nghiêm túc
nhìn nhận và kiên quyết đấu tranh với hạn chế trong việc hoạch định và tổ chức
thực hiện đường lối cách mạng; đấu tranh không khoan nhượng với những biểu hiện
tiêu cực trong Đảng, thanh lọc khỏi hàng ngũ của Đảng những người không giữ được
phẩm chất, đạo đức cách mạng và không còn nhiệt huyết đấu tranh./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét