Nhìn lại chặng đường lịch sử vẻ vang
của Đảng Cộng sản Việt Nam trong 95 năm qua, Đảng ta luôn được nhân dân tin
yêu, đùm bọc, giúp đỡ, thừa nhận là Đảng của chính mình, trìu mến gọi bằng hai
chữ thân thương “Đảng ta”. Với vị trí, vai trò to lớn của Đảng và những thắng
lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo, không một thế lực thù
địch nào có thể xuyên tạc, phủ nhận được niềm tin vững chắc của nhân dân với
Đảng trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta.
1. Niềm tin chính
trị của nhân dân là
sự tin tưởng, kỳ vọng vào đảng phái chính trị nhất định, cụ thể là vào chủ
trương, đường lối của đảng chính trị, truyền thống và những giá trị của đảng
chính trị cũng như uy tín lãnh tụ của đảng. Niềm tin đó từ phía quần chúng nhân
dân được hình thành qua đời sống chính trị của đất nước, qua hoạt động thực
tiễn của chính đảng trong nỗ lực để bảo đảm rằng niềm tin đó sẽ được đền đáp.
Niềm tin chính trị của nhân dân gồm
những yếu tố cơ bản sau đây.
Trước hết, đó là sự hiểu biết về chính trị
của quần chúng nhân dân ngày càng tăng lên. Đây là điều kiện cần. Điều này
chính là sự giải thích cho quyết định của quần chúng nhân dân rằng, nên đi theo
đảng chính trị nào và chủ trương, đường lối của đảng đó có lợi hay không có lợi
cho mình.
Thứ hai, những kinh nghiệm chính trị của
nhân dân trong thực tiễn cách mạng ngày càng trở nên phong phú. Đây là điều
kiện đủ. Khi sự hiểu biết về chính trị của quần chúng nhân dân là điều kiện cần
của niềm tin chính trị, thì kinh nghiệm chính trị của họ chính là điều kiện đủ,
quyết định họ sẽ kiên định đi theo sự lãnh đạo của đảng; đồng thời thể hiện
đảng đã thành công trong việc cuốn hút họ theo đường lối của mình. Những trải
nghiệm chính trị, những bài học kinh nghiệm xương máu được quần chúng nhân dân
đúc rút từ thực tiễn cách mạng dưới sự lãnh đạo của đảng khiến cho nhận thức
chính trị của họ càng thêm sâu sắc, từ đó niềm tin chính trị vào đảng càng thêm
sâu nặng.
Thứ ba, thực tiễn lãnh đạo chính trị
thuyết phục của đảng cộng sản. Đây là điều kiện quyết định, thể hiện năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng, thông qua tính đúng đắn của các chủ trương,
đường lối lãnh đạo cách mạng của đảng đem lại những thành công nhất định trên
các lĩnh vực, qua đó thu hút càng nhiều quần chúng nhân dân đi theo đảng. Bên
cạnh đó, những hy sinh, phấn đấu vì độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân
dân của đội ngũ đảng viên và lãnh tụ của đảng; sự hòa quyện bởi nhân cách cá
nhân người đảng viên với uy tín chính trị của đảng đã thực sự thuyết phục và
củng cố niềm tin chính trị của nhân dân với đảng. Điều này rất quan trọng từ
thực tiễn cách mạng Việt Nam, thể hiện qua sự đúc kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh
trong câu nói: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn
tuyên truyền”. Chính những hy sinh, phấn đấu của đội ngũ đảng viên của Đảng
Cộng sản Việt Nam đã góp phần quan trọng nâng cao uy tín chính trị của Đảng ta
trong nhân dân.
Thứ tư, sự tham gia tích cực của các tầng
lớp nhân dân vào sự nghiệp cách mạng. Đây là điều kiện bảo đảm cho tính bền
vững của niềm tin chính trị của nhân dân. Niềm tin chính trị của nhân dân được
hình thành bởi quá trình hoạt động có chủ đích của Đảng Cộng sản Việt Nam, đó
là vì hạnh phúc của nhân dân; đồng thời, nhân dân cũng tích cực tham gia vào
quá trình đó để theo đuổi lý tưởng của mình, hiện thực hóa lý tưởng đó, nên
chính nhân dân đã góp phần xây dựng niềm tin chính trị của mình.
2. Thực tiễn cho thấy, niềm tin của
nhân dân với Đảng được hình thành, củng cố ngày càng vững chắc hơn gắn liền với
quá trình xây dựng và phát triển của Đảng suốt chặng đường 95 năm qua. Đảng
Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam giành được nhiều
thắng lợi to lớn. Ngay sau khi ra đời ngày 3-2-1930, Đảng đã lãnh đạo phong
trào cách mạng Xô viết Nghệ Tĩnh; tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945
thành công, lập nên nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á; lãnh đạo
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mà đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện
Biên Phủ, tạo điều kiện cơ bản để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân; lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam,
thống nhất đất nước, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do và xây dựng chủ nghĩa xã
hội trên đất nước Việt Nam. Cùng với những thành tựu của sự nghiệp gần 40 năm
đổi mới mà toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đạt được là hết sức to lớn, có ý
nghĩa lịch sử, để đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và
uy tín quốc tế như ngày nay.
Với vai trò to lớn của mình, Đảng ta đã
tạo được niềm tin yêu sâu sắc trong lòng nhân dân. Tin tưởng vào đường lối lãnh
đạo của Đảng, nhân dân ta đã một lòng đi theo Đảng; biến những nhận thức, niềm
tin thành hành động cách mạng, thành ý chí quyết tâm; phát huy cao độ tinh thần
và lực lượng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do
đó, để đáp ứng yêu cầu từ thực tiễn hiện nay đòi hỏi Đảng phải không ngừng tự
đổi mới, tự chỉnh đốn để thật sự xứng đáng với niềm tin của nhân dân và dân tộc.
Thực tiễn 95 năm qua của cách mạng Việt
Nam cho thấy, Đảng ta luôn quán triệt sâu sắc Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đó là nhiệm vụ then chốt, thường
xuyên, liên tục, xuyên suốt các thời kỳ cách mạng, quyết định đến sức mạnh, uy
tín của Đảng. Từ khi bước vào công cuộc đổi mới, Đảng ta đã ban hành nhiều
nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, như: Hội nghị Trung ương 3 khóa VII năm
1992, về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng; Hội nghị Trung ương 6 lần 2
khóa VIII năm 1999, về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng
Đảng hiện nay. Đại hội XII của Đảng (năm 2016) nhấn mạnh: “Tập trung thực hiện
mục tiêu xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và
đạo đức”. Xây dựng Đảng về đạo đức luôn gắn liền và nằm trong xây dựng Đảng về
chính trị, tư tưởng, tổ chức, nhưng nay được định danh, được đặt ngang hàng với
các mặt công tác xây dựng Đảng khác, đã thể hiện ý chí của Đảng là đề cao, coi
trọng yếu tố đạo đức trong xây dựng Đảng. Đây là một trong những điểm mới, rất
căn bản và trọng yếu trong việc mở rộng nội dung xây dựng Đảng.
3. Chúng ta thừa nhận thực tế về
hiện tượng một bộ phận cán bộ, đảng viên sa sút phẩm chất, thoái hóa, chưa được
ngăn chặn triệt để. Một số cán bộ lãnh đạo chẳng những không gương mẫu mà còn
nêu gương xấu trước quần chúng. Một số người vô tổ chức, vô kỷ luật, kéo bè kéo
cánh, nịnh bợ cấp trên, chèn ép quần chúng và cấp dưới, cơ hội, thực dụng, gây
mất đoàn kết nội bộ. Một số cán bộ đã lợi dụng chức quyền để tham ô, trục lợi,
ăn cắp của công, ăn hối lộ, thông đồng với kẻ xấu để làm giàu bất chính. Điều
nghiêm trọng là có không ít cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ cao cấp, bị
những ham muốn vật chất cám dỗ cũng chạy theo tiền tài, địa vị, sống ích kỷ,
buông thả, tự do chủ nghĩa, không còn tư cách đảng viên.
Nhìn thẳng vào sự thật đó, Đảng ta đã
tiến hành nhiều cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, khắc phục những hiện
tượng hư hỏng trong bộ máy nhà nước, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực trong xã
hội. Đảng yêu cầu phải làm tốt việc giáo dục, nâng cao phẩm chất cho cán bộ,
đảng viên, công chức, viên chức, coi đây là một nội dung trọng yếu của công tác
xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Việc xử lý cán bộ sai phạm đang diễn ra
quyết liệt và có sức lan tỏa vô cùng mạnh mẽ, được đông đảo quần chúng nhân dân
đồng tình ủng hộ, đánh giá cao. Những nỗ lực của Đảng, Nhà nước trong xử lý cán
bộ sai phạm do tham nhũng, tiêu cực được thể hiện rõ cả trong quan điểm chỉ đạo
và thực tiễn triển khai.
Về quan điểm chỉ đạo, có thể thấy rõ từ
khi đổi mới đến nay, nhiệm kỳ nào Trung ương Đảng cũng có những nghị quyết
chuyên đề liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Về thực
tiễn triển khai, việc xử lý cán bộ sai phạm ở nước ta hiện được thực hiện theo
đúng phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Bằng chứng là, thời
gian qua, nhiều vụ án nghiêm trọng đã được đưa ra xét xử kịp thời, đúng người,
đúng tội. Điều đó cho thấy rõ quyết tâm rất lớn cũng như năng lực, bản lĩnh của
Đảng, Nhà nước ta trong việc phát hiện, xử lý những sai phạm của cán bộ, đảng
viên, kể cả những người đã và đang giữ chức vụ quan trọng trong hệ thống chính
trị.
Theo báo cáo của cơ quan chức năng, chỉ
tính năm 2024, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 709 tổ
chức đảng và 24.097 đảng viên vi phạm; Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị,
Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 68 cán bộ diện Trung
ương quản lý; trong đó, lần đầu tiên Bộ Chính trị đã thi hành kỷ luật 2 nguyên
lãnh đạo chủ chốt.
Có thể khẳng định rằng, việc xử lý
quyết liệt các vụ án tham nhũng không chỉ ngăn chặn tình trạng thất thoát nguồn
tài sản lớn của Nhà nước mà quan trọng hơn cả là góp phần củng cố niềm tin của
nhân dân, tạo thêm xung lực mới để cổ vũ, động viên, khích lệ nhân dân tiếp tục
đóng góp cho sự phát triển đất nước. Đây chính là thực tiễn lãnh đạo chính trị
thuyết phục của Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện năng lực lãnh đạo và sức chiến
đấu của Đảng, khẳng định tính đúng đắn của các chủ trương, đường lối lãnh đạo
của Đảng, qua đó làm nhân dân thêm tin tưởng, đi theo Đảng.
Nhìn lại chặng đường lịch sử vẻ vang
của Đảng Cộng sản Việt Nam trong 95 năm qua, Đảng ta luôn được nhân dân tin
yêu, đùm bọc, giúp đỡ, thừa nhận là Đảng của chính mình, trìu mến gọi bằng hai
chữ thân thương “Đảng ta”. Đây là niềm vinh dự, tự hào lớn của Đảng mà không
phải đảng chính trị nào trên thế giới cũng có được. Cũng chính điều đó đã tạo
nên sức mạnh để Đảng ta không ngừng lớn mạnh, trưởng thành và lãnh đạo sự
nghiệp cách mạng của dân tộc giành những thắng lợi to lớn. Với vị trí, vai trò
to lớn của Đảng và những thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam từ khi có Đảng
lãnh đạo, không một thế lực thù địch nào có thể xuyên tạc, phủ nhận được niềm
tin vững chắc của nhân dân với Đảng trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét