MỘT SỐ KHIẾM KHUYẾT CỦA CÔNG ƯỚC CẤM VŨ KHÍ SINH HỌC BTWC!
Nhận thức được mỗi đe dọa của vũ khí sinh học, Công ước về cấm phát triển, sản xuất và tàng trữ vũ khí vi khuẩn (sinh học) và độc tố và phá hủy chúng (BTWC) đã được phê chuẩn bởi phiên họp thứ 26 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, được triển khai ngày 26 tháng 4 năm 1972 và phê chuẩn bởi 22 quốc gia thành viên, bao gồm Liên Xô. Ba quốc gia là nơi ký kết của Công ước: Vương quốc Anh, Hoa Kỳ và Nga. Đến cuối năm 2024 đã có hơn 180 quốc gia đã ký và phê chuẩn hoặc gia nhập, 4 quốc gia đã ký nhưng không phê chuẩn hiệp ước là: Ai Cập, Haiti, Somalia và Syria. 9 quốc gia không ký hoặc tham gia hiệp ước: Chad, Comoros, Djibouti, Eritrea, Israel, Kiribati, Micronesia, Nam Sudan và Tuvalu.
Mặc dù Công ước đã có những tiến bộ đáng kể trong việc thiết lập các điều ước không phổ biến vũ khí sinh học bao gồm những nội dung rất tích cực đó là: thứ nhất cấm sở hữu các tác nhân sinh học ngoại trừ ‘dự phòng, bảo vệ hoặc các mục đích hòa bình khác. Thứ hai, Cấm phát triển các công nghệ nhằm phân tán các tác nhân sinh học cho mục đích tấn công quân sự; và thứ ba là phá hủy các kho tác nhân sinh học hiện có.
Tuy nhiên, rất nhiều các chuyên gia trên thế giới đều cho rằng, Công ước vẫn còn có những mặt hạn chế đáng kể đó là: thứ nhất công ước không xác định cụ thể các tác nhân hoặc độc tố nào bị cấm và số lượng nào sẽ vượt quá giới hạn cho phép và được coi là có nguy cơ sử dụng làm vũ khí sinh học. Thứ hai không có quy trình xác minh hoặc kiểm tra hiện hành để xác minh sự tuân thủ của các bên ký kết, đồng thời Công ước cũng không xác định rõ ràng các biện pháp trừng phạt các hành vi vi phạm hiệp ước. Và thứ ba là Công ước không có hiệu lực bắt buộc đối với các quốc gia không ký kết hiệp ước và phổ biến vũ khí sinh học.
Trong ba vấn đề nêu trên thì vấn đề thứ hai được coi là vấn đề có thiếu sót lớn nhất. Như vậy là, do không có cơ chế kiểm tra giám sát và chế tài trừng phạt do đó một chương trình nghiên cứu và sản xuất vũ khí sinh học tương đối dễ dàng có thể được giấu kín trong cơ sở hạ tầng công nghệ sinh học của một quốc gia và bất kể các quốc gia có phê chuẩn Công ước hay không thì việc lách luật có thể được thực hiện mà không có bằng chứng rõ ràng cụ thể. Hoàn toàn có khả năng rằng ngay cả một quốc gia nhỏ và tương đối nghèo cũng có thể tham gia thành công chương trình chiến tranh sinh học với một khoản đầu tư vốn nhỏ với vài chục nhà sinh học, tất cả đều có thể được bí mật đặt trong một vài tòa nhà. Trên thực tế, một chương trình vũ khí sinh học cũng có thể nằm trong phạm vi kỹ thuật và tài chính của một tổ chức khủng bố. Tóm lại, mức độ phổ biến vũ khí sinh học rất không chắc chắn, khó phát hiện và khó định lượng. Trường hợp COVID-19 và các phòng thí nghiệm sinh học ở một số nước hiện nay đang là những nghi vấn lớn.
Nhận rõ được các khiếm khuyết đó, từ khi Công ước bắt đầu có hiệu lực đến nay các thành viên của BWC đã nhiều lần tổ chức các hội nghị mà một trong những mục tiêu quan trọng nhất của các cuộc họp này là để cộng đồng quốc tế giải quyết khuyết điểm thứ hai được đề cập ở trên, bao gồm một dự thảo Nghị định thư cho BTWC đã được phát triển, quy định cho việc thành lập một cơ quan quốc tế để giám sát sự tuân thủ của Công ước. Tuy nhiên, nhiều nước đã đơn phương bác bỏ và phớt lờ với lý do các điều khoản trong nghị định thư có thể làm cản trở cho việc phát triển công nghệ sinh học của các nước đó. Hiện nay, việc thực hiện BTWC được đảm bảo bằng một số biện pháp, bao gồm tuyên bố hàng năm của các nước tham gia về các hoạt động của họ liên quan đến các tác nhân sinh học gây bệnh, cũng như các nỗ lực tăng cường luật pháp quốc gia về cấm công việc bị cấm theo quy ước và ngăn chặn xuất khẩu bất hợp pháp các mầm bệnh và độc tố nguy hiểm./.
Môi trường ST.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét