Nêu gương là một trong những phương thức lãnh đạo có sức lan tỏa,
dẫn dắt, truyền cảm hứng, thúc đẩy hành động cách mạng của Đảng ta đối với Nhân
dân. Trong đó, việc phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất
là người đứng đầu chính là yếu tố căn cốt mang tính tiên quyết trong bảo vệ nền
tảng tư tưởng của Đảng. Để thực
hiện tốt trách nhiệm nêu gương, một trong những vấn đề tiên quyết là mỗi cán
bộ, đảng viên cần quán triệt, nắm kỹ, hiểu sâu nội dung nêu gương; trong đó cần
quán triệt và thực hiện tốt một số yêu cầu sau:
Một
là, chức vụ càng cao càng phải
gương mẫu. Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17-11-2022, Hội nghị lần thứ 6 BCH
Trung ương Đảng khóa XIII về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ
thống chính trị trong giai đoạn mới chỉ rõ: “Mọi đảng viên phải gương mẫu, nói
đi đôi với làm, thực hiện nghiêm Điều lệ Đảng, chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước; hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, phục
tùng tuyệt đối sự phân công của Đảng; giữ mối liên hệ mật thiết với Nhân dân;
học tập, rèn luyện, nâng cao năng lực, phẩm chất, lối sống; giữ gìn đoàn kết,
thống nhất trong Đảng”. Điều này nhất quán với nội dung được Đảng ta quy định
về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trên tất cả các mặt: Tư tưởng
chính trị; đạo đức, lối sống, tác phong; tự phê bình và phê bình; quan hệ với
nhân dân, trách nhiệm trong công tác; ý thức tổ chức kỷ luật và đoàn kết nội
bộ.
Có thể thấy, khi cán bộ, đảng viên nắm kỹ, hiểu sâu và thực hành
tốt nội dung nêu gương trong cả ba mối quan hệ (đối với mình, đối với người,
đối với việc) như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy sẽ đầy đủ, trọn vẹn và phát huy
được hiệu quả thiết thực. Theo đó, “đối với mình”: Không được tự cao tự đại, tự
mãn, mà phải cần, kiệm, liêm, chính; phải là “Nhân, Trí, Dũng, Liêm”; bản thân
mình phải làm gương trong công việc từ nhỏ đến lớn, thường xuyên học tập, rèn
luyện, tự phê bình, khắc phục những hạn chế, khuyết điểm của bản thân về mọi
mặt để tiến bộ. “Ðối với người”: Phải chân thành, khiêm tốn, thật thà, đoàn kết
và có tình thương yêu, bao dung, độ lượng. “Đối với người”: Trước hết và quan
trọng nhất là đối với đồng chí, đồng sự, nhất là đối với cấp dưới và sau đó là
đối với quần chúng nhân dân. Đối với việc, phải tận tâm, tận lực, có trách
nhiệm, gương mẫu phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao; phải luôn giữ
vững nguyên tắc “dĩ công vi thượng”, phải “chí công vô tư”, phải biết hy sinh
lợi ích cá nhân cho lợi ích của Tổ quốc, Nhân dân và của Đảng.
Từ thực tiễn công cuộc đổi mới, nhận thức của Đảng về phương thức
lãnh đạo bằng nêu gương ngày càng được bổ sung, phát triển, hoàn chỉnh các quy
định về nêu gương đã nâng cao tính pháp lý và trực tiếp điều chỉnh sự nêu gương
của cán bộ cấp cao, tạo sự đồng bộ về xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Trong đó,
Đảng ta nhấn mạnh bốn yêu cầu chủ yếu trong thực hiện trách nhiệm nêu gương của
cán bộ, đảng viên mà trước hết chính là thực hiện nhất quán phương châm nêu
gương “Trên trước, dưới sau”, “Trong trước, ngoài sau”, đề cao trách nhiệm nêu
gương của cán bộ có chức vụ cao, cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp.
Trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, cụm từ “Chức vụ càng cao
càng phải gương mẫu” được khẳng định tới 7 lần, điều đó nghĩa là Đảng ta chú
trọng hơn bao giờ hết trách nhiệm nêu gương của cán bộ có chức vụ cao, người
đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức. Bởi “người có chức vụ càng cao” là người “đứng
mũi, chịu sào”, chịu trách nhiệm lớn nhất về tập thể mình phụ trách, cần phải
có “tâm sáng - tri thông - chí bền” để giữ vững “liêm, chính”, khắc phục khó
khăn, triển khai hiệu quả các nhiệm vụ; vì vậy càng cần phải gương mẫu, tiên
phong, đi đầu trong tập thể, cơ quan, đơn vị mình.
Hai là, đề cao trách nhiệm tự giác nêu gương của cán
bộ, đảng viên. Đảng ta xác định: “Đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định
vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các
phong trào cách mạng”. Đây là vấn đề mới, yêu cầu, đòi hỏi cao của Đảng, từ “phải”
thực hiện quy định thành “nhu cầu”, “mong muốn”, “tự giác” thực hiện quy định
nêu gương; nhằm tạo sự lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội - thực sự trở thành
phong trào tự giác nêu gương trong toàn Đảng và trong quần chúng nhân dân. Để
nêu gương là tự giác, là nhu cầu tự thân, không phải bắt buộc, không hình thức
thì mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải thực sự “chí công, vô tư”
trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ; qua đó, sẽ tạo được sự đồng thuận và làm
theo trong tập thể, cơ quan, đơn vị và quần chúng nhân dân.
Ba là, “Nói đi đôi với làm”, chú trọng nêu gương việc
“làm” của cán bộ, đảng viên. Nghị
quyết Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người
đứng đầu theo tinh thần “7 dám”, đó là: “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu
trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám
hành động vì lợi ích chung”. Và đối với trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán
bộ, đảng viên thì phải “dám nói” và “nói đi đôi với làm”. “Dám nói” theo quan
điểm của Đảng là: Nói đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước, không được nói sai, nói giảm, nói tránh, nói bừa mà phải nói
trúng, nói những vấn đề thiết thực, nói đúng lòng mình. “Nói đi đôi với làm” là
lời nói và việc làm phải gắn chặt với nhau; đã nói là phải làm, phải nhất quán
từ nhận thức đến phát ngôn và hành động thực tiễn; nghĩa là nêu gương phải được
biểu hiện sinh động cụ thể trong sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giữa
suy nghĩ và hành động, giữa tư tưởng đạo đức và hành vi đạo đức của mỗi người.
Do đó, để khuyến khích, động viên những cán bộ, đảng viên “dám nghĩ, dám nói,
dám làm, trách nhiệm cao, hiệu quả công việc lớn”, Đảng ta nhấn mạnh việc “Cổ
vũ, biểu dương các gương sáng đạo đức, tạo ảnh hưởng sâu rộng trong
Đảng và ngoài xã hội”. Có thể thấy, thực hiện tốt yêu cầu này chính là góp
phần để nêu gương đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả.
Bốn là, phát huy vai trò phối hợp của các chủ thể
trong kiểm soát quyền lực để thúc đẩy, đánh giá thực hiện trách nhiệm nêu gương
của cán bộ, đảng viên. Việc kiểm soát quyền lực một mặt giúp
ngăn ngừa khuyết điểm vi phạm, mặt khác nó chính là “chiếc gương soi” kiểm tra,
đánh giá kết quả thực hiện nêu gương của cán bộ, đảng viên. Thực chất yêu cầu
này là tạo ra chính sách, quy định, chế tài, cơ chế, biện pháp để các chủ thể
(Quốc hội, Hội đồng nhân dân; mặt trận Tổ quốc, báo chí, nhân dân…) ràng buộc,
giám sát nhằm “nhốt quyền lực trong lồng cơ chế”, bảo đảm cán bộ, đảng viên giữ
vị trí lãnh đạo, quản lý khi thực thi nhiệm vụ phải hoạt động theo đúng khuôn
khổ pháp luật cho phép, từ đó không ngừng tu dưỡng, rèn luyện bản thân, nêu
gương trong thực thi công vụ. Và để đánh giá kết quả thực hiện quy định về
trách nhiệm nêu gương, Đảng ta chỉ rõ: “Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và
tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng cán bộ,
đảng viên”.
Những nội dung, yêu cầu trên hết sức ngắn gọn, song để thực hiện
tốt và toàn diện lại cần một quá trình tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu nghiêm
túc, bền bỉ, nỗ lực, kiên quyết chiến đấu và chiến thắng những dục vọng, cám
dỗ, cạm bẫy giăng bủa mọi lúc, mọi nơi; qua đó, mỗi cán bộ, đảng viên sẽ ngày
càng hoàn thiện bản thân trên mọi phương diện, nhiều cá nhân nêu gương tốt sẽ
góp phần xây dựng tập thể nêu gương, tổ chức đảng nêu gương, toàn Đảng nêu
gương để xây dựng Đảng ta “là đạo đức, là văn minh”, xứng đáng với sự tin
yêu của Nhân dân./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét