Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 tộc người,
trong đó người Kinh (người Việt) chiếm khoảng 85,4% số dân, các tộc người còn lại
chỉ chiếm khoảng 14,6%, các dân tộc ở nước ta phân bố rải rác trên địa bàn cả
nước[1]. Trong đó, đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước
ta cư trú trên địa bàn rộng lớn chiếm 3/4 diện tích đất nước, chủ yếu là miền
núi, vùng cao và trên toàn tuyến biên giới, đây là những nơi giữ vị trí chiến
lược về an ninh - quốc phòng.
Các dân tộc trên đất nước ta có truyền thống đoàn
kết, bất kỳ dân tộc nào miễn là người dân Việt Nam thì luôn đoàn kết keo sơn gắn
bó một lòng một dạ. Thời chiến, các dân tộc đồng lòng chống giặc, bảo vệ Tổ quốc.
Ngày nay thời bình, các dân tộc cùng nhau xây dựng và bảo vệ nền hòa bình dân tộc.
Tính cố kết dân tộc, hòa hợp dân tộc trong một cộng đồng thống nhất
đã trở thành truyền thống của dân tộc ta.
Các dân tộc ở Việt Nam cư trú xen kẽ nhau, hình thái
cư trú xen kẽ giữa các dân tộc ở Việt Nam ngày càng gia tăng. Các dân
tộc không có lãnh thổ riêng, không có nền kinh tế riêng. Và sự thống
nhất giữa các dân tộc và quốc gia trên mọi mặt của đời sống xã hội
ngày càng được củng cố.
Các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển kinh
tế - xã hội không đều nhau. Do điều kiện tự nhiên, xã hội và hậu quả của
các chế độ áp bức bóc lột trong lịch sử nên sự chênh lệch trình độ
phát triển kinh tế, văn hoá giữa các dân tộc, giữa các vùng dân cư thể hiện rõ
rệt.
Dân tộc Việt Nam có nền văn hoá thống nhất trong
đa dạng, cùng với nền văn hóa cộng đồng, mỗi dân tộc trong đại gia
đình các dân tộc Việt lại có đời sồng văn hóa mang bản sắc riêng, góp
phần làm phong phú thêm nên văn hóa của cộng đồng. Rất nhiều bản sắc văn
hóa tạo thành nét đặc trưng riêng của mỗi dân tộc làm phong phú cho nền văn hóa
dân tộc nước nhà.
Nền kinh tế nhiều thành phần ở
miền núi và các vùng dân tộc từng bước hình thành và phát triển, cơ cấu kinh tế
đang chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa. Việc triển khai thực hiện nhiều
chính sách, chương trình, dự án đầu tư đã làm cho kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội và đời sống nhân dân ở nhiều vùng đồng bào dân tộc được cải thiện rõ rệt.
Công tác xóa đói, giảm nghèo đạt được những kết quả to lớn. Mặt bằng dân trí được
nâng lên, mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ đã được thực hiện; đời
sống văn hóa của đồng bào được nâng cao một bước; văn hóa truyền thống của các
dân tộc được tôn trọng, giữ gìn và phát huy. Các loại bệnh dịch cơ bản được
ngăn chặn và từng bước đẩy lùi; việc khám, chữa bệnh cho người nghèo vùng sâu,
vùng xa được quan tâm hơn.
Hệ thống chính trị ở các vùng dân tộc và miền núi
bước đầu được tăng cường và củng cố. Tình hình chính trị, trật tự xã hội cơ bản
ổn định; an ninh, quốc phòng được giữ vững.
Tuy nhiên, kinh tế ở miền núi và các vùng dân tộc
còn chậm phát triển, nhiều nơi còn lúng túng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
tập quán canh tác còn lạc hậu. Chất lượng sản phẩm thấp, tiêu thụ rất khó khăn.
Tình trạng du canh, du cư, di cư tự do còn diễn biến phức tạp, một số hộ còn
thiếu đất sản xuất. Kết cấu hạ tầng ở một số vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng
căn cứ cách mạng còn rất thấp kém. Kinh tế lâm nghiệp chuyển biến chậm, chính
sách đối với lâm nghiệp chưa thật sự bảo đảm cho đồng bào sống và gắn bó với
nghề rừng. Nhiều nơi môi trường sinh thái đang tiếp tục bị suy thoái.
Ở nhiều vùng dân tộc và miền
núi tỉ lệ đói nghèo hiện còn cao so với bình quân chung của cả nước; khoảng
cách chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa các dân tộc ngày càng tăng; chất
lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp, việc đào tạo nghề chưa được quan
tâm, công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó
khăn. Một số tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan có xu hướng phát triển. Một số bản
sắc tốt đẹp trong văn hóa của các dân tộc thiểu số đang bị mai một; mức hưởng
thụ văn hóa của đồng bào còn thấp.
Hệ thống chính trị cơ sở ở nhiều vùng dân tộc và
miền núi còn yếu: Trình độ của đội ngũ cán bộ còn thấp, công tác phát triển đảng
chậm; cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể nhân dân ở nhiều nơi hoạt động chưa
hiệu quả, không sát dân, không tập hợp được đồng bào.
Ở một số nơi tôn giáo phát triển không bình thường,
trái pháp luật và truyền thống, phong tục, tập quán của nhân dân; một số nơi đồng
bào bị các thế lực thù địch và kẻ xấu lợi dụng, kích động, lôi kéo vào các hoạt
động gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét