NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG TƯ TƯỞNG QUÂN SỰCỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Theo Hồ Chí Minh: “Chữ người,
nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả
nước. Rộng hơn là cả loài người”[1].
Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng tuyệt đối ở khả năng tự giải phóng của con người
và không ngừng rèn luyện, phát huy khả năng ấy thành sức mạnh để lật đổ giai
cấp thống trị, giành lấy độc lập, tự do và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Để thực
hiện mục tiêu cao cả ấy, nhất thiết phải dùng sức mạnh của quần chúng nhân dân
dưới sự lãnh đạo của Đảng. Người khẳng định: "Trong công cuộc kháng chiến
kiến quốc, lực lượng chính là ở dân"[2].
Đây là nét nổi bật xuyên suốt trong tư tưởng cách mạng và tư tưởng quân sự của
Hồ Chí Minh. Khác hẳn với các quan điểm quân sự phong kiến, tư sản thường nhấn
mạnh vai trò tài năng tướng lĩnh, dựa vào quân đội nhà nghề, binh khí kỹ thuật
tối tân, hiện đại. Hồ Chí Minh dựa chắc vào dân, khơi nguồn lực lượng và sức
sáng tạo của nhân dân. Người khẳng định có dân là có tất cả. Dân khí mạnh thì không súng ống nào
chống lại nổi. Cách mạng phải động
viên, giác ngộ con người để họ đứng lên tự giải phóng và đem lại hạnh phúc cho
mình. Không sức mạnh nào có thể tiêu diệt được sức mạnh của quần chúng nhân dân
khi họ đã được tổ chức, lãnh đạo nhất tề đứng lên để tự giải phóng mình.
Hồ Chí Minh coi khởi nghĩa vũ
trang và chiến tranh cách mạng là sản phẩm của sức mạnh, sức sáng tạo của quần
chúng nhân dân; sự vùng dậy của quần chúng lao động dưới ngọn cờ của Đảng là
nhân tố quyết định thắng lợi trong sự nghiệp chống lại áp bức, bóc lột và nô
dịch của chủ nghĩa đế quốc. Người nói: Cách mệnh là việc chung của dân chúng
chứ không phải việc của một, hai người. Cách mệnh thì phải đoàn kết dân chúng
bị áp bức để đánh đổ cả cái giai cấp áp bức mình, chứ không phải chỉ chờ năm,
bảy người giết hai, ba anh vua, chín, mười anh quan là được. Người phê phán
những xu hướng manh động, phiêu lưu, khủng bố cá nhân. Bởi vì, ám sát là làm
liều và kết quả ít, vì giết thằng này còn thằng khác, giết sao cho hết.
Nêu cao ngọn
cờ đại nghĩa, Người chăm lo giáo dục toàn dân hiểu tại sao phải làm cách mạng,
tại sao phải kháng chiến. Người nói: Thà chết được tự do còn hơn sống làm nô
lệ. Người xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tập hợp mọi tầng lớp nhân dân
trong mặt trận dân tộc thống nhất trên cơ sở liên minh công nông, động viên sức
mạnh của toàn dân vào công cuộc kháng chiến cứu quốc. Hồ Chí Minh đánh giá cao
vai trò của quần chúng nhân dân trong khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách
mạng. Người tin tưởng vững chắc vào ý chí quyết tâm, khả năng vô tận, sức mạnh
vô địch của quần chúng nhân dân. Để tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám
năm 1945, Người kêu gọi: “Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải
phóng cho ta”.
Trong kháng chiến chống Pháp,
Người nêu rõ: Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một bức tường đồng xung
quanh Tổ quốc. Dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường
đó, chúng cũng phải thất bại. Người kêu gọi: bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ
người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt
Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc. Trong kháng chiến chống
Mỹ, Người nêu rõ: chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi
người Việt
Công việc quân sự không phải chỉ
là việc riêng của quân đội mà được đồng bào cả nước thực hiện dưới sự lãnh đạo
của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đấu tranh vũ trang, chiến tranh cách mạng,
chiến tranh yêu nước không còn là lĩnh vực riêng của quân đội, mà toàn dân tộc
ta đã tự giác đứng lên chiến đấu vì độc lập, tự do, vì thống nhất Tổ quốc dưới
sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Coi sức mạnh giải phóng là sức
mạnh của cả dân tộc đứng lên "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta".
Khởi nghĩa vũ trang là khởi nghĩa toàn dân, chiến tranh yêu nước là chiến tranh
nhân dân, đó là sự thể hiện sâu sắc tính nhân văn, dân chủ, nhân đạo trong tư
tưởng quân sự Hồ Chí Minh.
Mặt khác, phương thức tiến hành
khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng của Hồ Chí Minh mang đậm tinh thần dân chủ,
sáng tạo trong việc động viên toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến. Từ
góc độ triết lý nhân văn, kháng chiến toàn dân chính là sự giải phóng động lực
nội tại của một cộng đồng dân tộc, quốc gia, giải phóng năng lực trí tuệ, sức
sáng tạo của toàn thể những con người có khát vọng sống trong tự do, độc lập.
Toàn dân kháng chiến gắn với toàn diện kháng chiến, chủ trương trên nhằm phát
huy hết mọi sức mạnh của toàn dân. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, không chỉ kháng
chiến bằng quân sự mà cả bằng chính trị, địch vận, ngoại giao, kinh tế và văn
hoá, tăng gia, sản xuất hay tản cư, phá hoại “làm vườn không nhà trống” cũng là
kháng chiến.
Trải qua hơn nửa thế kỷ đấu tranh
cách mạng, Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm
quý giá về sử dụng sức mạnh của quần chúng nhân dân với các hình thức đấu tranh
cách mạng. Đối với quân đội, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo và bổ sung, phát
triển nhiều nội dung quan trọng của Học thuyết Mác - Lênin về quân đội phù hợp
với điều kiện lịch sử cụ thể của cách mạng nước ta. Trên cơ sở xây dựng lực
lượng chính trị rộng khắp của quần chúng để xây dựng các lực lượng vũ trang
nhân dân từ thấp đến cao, từ thô sơ đến hiện đại. Quân đội ta từ nhân dân mà
ra, vì nhân dân mà chiến đấu, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Quán triệt quan điểm của C.Mác,
Ph.Ăngghen, V.I.Lênin về bản chất quân đội, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: quân sự
không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại. Quân đội nhân dân
Việt Nam phải được xây dựng thành một đội quân cách mạng, mang bản chất giai
cấp công nhân, có tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc; quân đội của nhân dân,
do nhân dân xây dựng, vì nhân dân mà chiến đấu; một đội quân chiến đấu, sản
xuất, công tác.
Hồ Chí Minh giải quyết hết sức
đúng đắn, sáng tạo mối quan hệ giữa con người và vũ khí. Với quan điểm “người
trước, súng sau”, “vũ khí là cần, nhưng quan trọng hơn là người vác súng”. Do
đó, Người hết sức quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội, Người
chỉ thị cho ngành cung cấp (hậu cần) là phải làm thế nào để một bát gạo, một
đồng tiền, một viên đạn, một viên thuốc, một tấc vải, phải đi thẳng đến chiến
sỹ. Người yêu cầu cán bộ phải hết sức chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần
của cấp dưới và chiến sĩ. Cùng với khẳng định vai trò quyết định của nhân tố
con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội, Hồ Chí Minh không hề coi nhẹ
vai trò vũ khí, kỹ thuật. Ngay từ khi thành lập quân đội, Người đã chọn nhiều
cán bộ khoa học có phẩm chất, năng lực, trí tuệ, đặt nền móng vững chắc xây
dựng và phát triển ngành quân giới để bảo đảm vũ khí, kỹ thuật cho chiến đấu;
xây dựng cơ quan, đơn vị, nhà trường quân đội; xây dựng các quân chủng, binh
chủng ngày càng hiện đại, đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc giải phóng đất
nước trước đây cũng như sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ngày nay.
Đặc biệt, Hồ Chí Minh đã giải quyết thành công mối quan hệ giữa chính
trị và quân sự; trong mối quan hệ ấy “quân sự phục tùng chính trị” và “chính
trị biểu hiện ra trong lúc đánh giặc”[3].
Do đó, trong xây dựng quân đội và lực lượng vũ trang phải tăng cường sự lãnh
đạo của Đảng, tăng cường công tác đảng, công tác chính trị; tăng cường huấn
luyện, rèn luyện để bộ đội phải tinh, sức chiến đấu phải mạnh; xây dựng kỷ
luật; xây dựng đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế.. Đồng
thời, Người căn dặn cán bộ phải học tư tưởng chiến lược, chiến thuật, học cách
dạy bộ đội đánh giặc, học phương pháp chỉ huy chiến đấu; phải kế thừa truyền
thống, kinh nghiệm quý báu của dân tộc, tinh hoa quân sự thế giới, khoa học -
nghệ thuật quân sự của giai cấp vô sản.
Hồ Chí Minh đã giáo dục cho quân
đội ta phải giúp đỡ mọi mặt đối với cách mạng các nước anh em. Người viết thư
động viên và nhắc nhở bộ đội: giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình.
Phải coi việc giúp bạn như chính việc của mình, phải tôn trọng, kính yêu bạn,
không được có tư tưởng ban ơn, bao biện làm thay.
Đối với nhân dân và quân đội các
nước xã hội chủ nghĩa, quân đội ta luôn thể hiện tinh thần đoàn kết quốc tế
trong sáng. Những lời huấn thị của Người luôn nhắc nhở quân đội ta làm tốt
nhiệm vụ quốc tế của mình. Đó là những biểu hiện rực rỡ của tính quốc tế và
tính thời đại của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh trong xây dựng, lãnh đạo Quân
đội nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quân đội mãi mãi soi sáng quá
trình xây dựng, trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của quân đội ta, một
quân đội luôn trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc
lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó
khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Cán bộ, chiến sỹ thương yêu
nhau như ruột thịt, chia ngọt, xẻ bùi. Quân với dân như cá với nước, đoàn kết,
học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau. Quân đội ta có tinh thần yêu nước chân chính và tinh
thần quốc tế cao cả.
Quân đội nhân dân Việt Nam trong suốt gần 80 năm chiến đấu, xây dựng, trưởng thành xứng đáng là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng ta, Nhà nước ta; là đội quân chiến đấu, đội quân sản xuất, đội quân công tác; giữ vững và tăng cường sự đoàn kết giữa Đảng với nhân dân, quân đội với nhân dân. Quân đội nhân dân Việt nam mãi mãi là của dân, do dân, vì dân, vì nhân dân mà chiến đấu; mãi mãi là “Bộ đội Cụ Hồ”; Quân đội nhân dân Việt Nam trở thành một di sản quân sự mang đậm tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét