Dân
tộc (tộc người): Là một cộng
đồng người ổn định được hình thành trong lịch sử, có chung một nguồn gốc, đặc
điểm sinh hoạt kinh tế, có chung một ngôn ngữ, một nền văn hóa và ý thức tự
giác tộc người. Dân tộc - tộc người thường
được nhận biết qua những đặc trưng chủ yếu như: Các thành viên trong cùng một
dân tộc có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế; có một ngôn ngữ chung (thường
là tiếng mẹ đẻ); có chung đặc điểm sinh hoạt văn hóa; có chung một ý thức tự
giác dân tộc được biểu hiện cao nhất ở việc tự nhận tên gọi của dân tộc mình.
Trên thực tế, có tộc người có đủ các đặc trưng trên, nhưng có tộc người không
còn đủ các đặc trưng, trong trường hợp đó, ý thức tự giác tộc người là tiêu chí
nhận biết còn lại cuối cùng của dân tộc.
Dân
tộc (quốc gia dân tộc):
Là một cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ quốc
gia, chế độ chính trị và nền kinh tế thống nhất, chung một ngôn ngữ và một nền
văn hóa. Theo nghĩa này, dân tộc có các đặc trưng sau: Có một lãnh thổ chung,
được phân định bằng đường biên giới giữa các quốc gia, mà trên lãnh thổ đó có một
hay nhiều tộc người cùng sinh sống; có đời sống kinh tế chung, với một thị trường,
một đồng tiền chung thống nhất làm nền tảng, điều kiện vật chất cơ bản bảo đảm
sự cố kết bền chặt của quốc gia dân tộc; có một ngôn ngữ giao tiếp chung, trong
quốc gia dân tộc - quốc ngữ, thường là ngôn ngữ của dân tộc đa số được chọn làm
ngôn ngữ chung trong giao tiếp; có tâm lý chung biểu hiện ở nền văn hóa, tạo
nên bản sắc văn hóa của dân tộc, là yếu tố cơ bản đối với các quốc gia dân tộc;
có một thể chế chính trị với một nhà nước thống nhất để quản lý, điều hành mọi
hoạt động của quốc gia dân tộc và quan hệ với các quốc gia dân tộc khác, đây là
đặc trưng quan trọng quy định bản chất chính trị và sự phát triển của quốc gia
dân tộc.
Nghiên cứu vấn đề dân tộc,
phong trào dân tộc trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản, V.I.Lênin đã chỉ ra
hai xu hướng khách quan của sự phát triển các dân tộc:
Xu hướng thứ nhất, các dân tộc tách ra để trở
thành các dân tộc độc lập, các cộng đồng dân cư tách ra để xác lập cộng đồng
dân tộc độc lập. Trong thực tế, xu hướng này biểu hiện thành phong trào đấu
tranh chống áp bức dân tộc, thành các quốc gia độc lập mà ở đó, mỗi dân tộc có
quyền quyết định vận mệnh chính trị và con đường phát triển của dân tộc mình.
Xu hướng này nổi lên trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản như: Phong trào đấu
tranh chống áp bức, bóc lột để thành lập các quốc gia dân tộc độc lập.
Xu hướng thứ hai, liên hiệp lại với nhau giữa các
dân tộc, đó là xu hướng các tộc người trong cùng một quốc gia hoặc nhiều dân tộc
ở các quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau. Xu hướng này do nhu cầu phát triển
của lực lượng sản xuất, khoa học và công nghệ, giao lưu kinh tế, văn hoá và xu
thế toàn cầu hoá. Xu hướng này tác động mạnh mẽ khi chủ nghĩa tư bản bước sang
giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.
Trong thời đại hiện nay, hai xu hướng của sự phát
triển dân tộc được biểu hiện rất phong phú và đa dạng trên phạm vi toàn thế giới:
Xét trong phạm vi các quốc gia xã hội chủ nghĩa có
nhiều dân tộc (tộc người), hai xu hướng này phát huy tác dụng cùng chiều, bổ
sung hỗ trợ cho nhau và diễn ra trong từng tộc người và trong cả cộng đồng dân
tộc. Sự xích lại gần nhau trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng giữa các dân tộc. Tuy
nhiên, sự hoà quyện đó không xoá bỏ sắc thái và những đặc thù của dân tộc. Ngược
lại, nó bảo lưu, giữ gìn và phát huy những tinh hoa, bản sắc dân tộc. Trong chế
độ xã hội chủ nghĩa cả hai xu hướng trên đều loại trừ các tư tưởng và hành vi kỳ
thị dân tộc, chia rẽ dân tộc, tự ti dân tộc, dân tộc hẹp hòi…
Xét trên phạm vi thế giới, hai xu hướng này biểu
hiện nổi bật ở phong trào đấu tranh của các dân tộc bị áp bức, nô dịch đòi
giành lấy quyền tự quyết định vận mệnh của dân tộc mình. Thời đại ngày nay, còn
có xu hướng các dân tộc muốn xích lại gần nhau để hợp thành một quốc gia thống
nhất. Các dân tộc có lợi ích chung mang tính khu vực dựa trên những yếu tố gần
nhau về địa lý, giống nhau về môi trường thiên nhiên, tương đồng về mặt văn
hoá…đều có nhu cầu nguyện vọng liên kết với nhau để phát triển.
Dân tộc xã hội chủ nghĩa là loại hình dân tộc phát
triển cao nhất trong lịch sử, ra đời và phát triển gắn liền với thắng lợi của
Cách mạng xã hội chủ nghĩa. Dân tộc xã hội chủ nghĩa mang đầy đủ các đặc trưng
cơ bản của dân tộc nói chung. Tuy nhiên, dân tộc xã hội chủ nghĩa còn có những
đặc điểm riêng: Có
nền kinh tế dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất là chủ yếu; giai cấp
công nhân là người đại diện, nhân dân lao động làm chủ. Cơ cấu xã hội - giai
cấp dựa trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân
và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản lãnh đạo; quan hệ bình đẳng, không có bóc
lột, lợi ích dân tộc gắn liền lợi ích giai cấp; có nền văn hoá tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất đa dạng, kết hợp truyền thống với hiện đại.
Thực chất của vấn đề dân tộc là sự mâu thuẫn, xung
đột lợi ích trong nội bộ tộc người, giữa các tộc người trong quốc gia đa tộc,
giữa các quốc gia dân tộc, nhất là về các quyền cơ bản của các dân tộc: Quyền
được tồn tại với tính cách là một tộc người, dân tộc; quyền độc lập của tộc người,
dân tộc; quyền dân tộc tự quyết, quyền dân tộc bình đẳng; quyền độc lập về kinh
tế và những điều kiện để phát triển kinh tế lâu dài, bền vững; quyền giữ gìn và
phát triển ngôn ngữ, bản sắc văn hoá....Giải quyết vấn đề dân tộc trong xây dựng
chủ nghĩa xã hội là tập hợp, đoàn kết quần chúng tạo nên động lực của cách mạng
xã hội chủ nghĩa nhằm giải phóng nhân dân lao động khỏi sự áp bức, bóc lột và
nô dịch, góp phần thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét