Thứ Ba, 1 tháng 6, 2021
Về chủ nghĩa dân túy và đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện của nó ở Việt Nam hiện nay
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy giá trị của tôn giáo
Theo Hồ Chí Minh, giáo lý các tôn giáo dù
khác nhau nhưng đều có điểm chung là đề cao tính nhân đạo, hướng thiện của con
người. Người viết: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo
đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”[1].
Tư tưởng bác ái của Chúa Giêsu, tư tưởng từ bi, hỷ xả, vô ngã vị tha của Đức
Phật và tư tưởng nhân nghĩa của Khổng Tử có sự tương đồng với lý tưởng độc lập
dân tộc và CNXH. Người tran trọng và đề cao nhân cách, sự đóng góp của các vị
sáng lập tôn giáo đối với tiến bộ của nhân loại và đề nghị mọi người học tập
noi gương.
Với
các tín đồ tôn giáo, nhiều
lần Hồ Chí Minh khẳng định: Tín đồ các tôn giáo ở Việt nam căn bản là yêu nước.
Đối
với các chức sắc, nhà tu hành tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tôn trọng và đánh giá cao vị trí, vai trò
của họ trong tổ chức tôn giáo; khuyến khích, động viên họ tham gia vào sự
nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới. Người cũng luôn trân trọng
những đóng góp dù nhỏ của các vị chức sắc, nhà tu hành và khích lệ họ tiếp tục
cống hiến cho đất nước, cho dân tộc.
- Chống
lợi dụng tôn giáo và bài trừ mê tín dị đoan
Chống
lợi dụng tôn giáo
Ở Việt Nam, tôn giáo là lĩnh vực luôn bị chủ
nghĩa thực dân, đế quốc cấu kết với bọn phản động lợi dụng nhằm chia rẽ khối
đại đoàn kết dân tộc, chống phá cách mạng. Để vừa bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng của nhân dân, vừa đấu tranh có hiệu quả chống việc lợi dụng tôn giáo vì
mục đích xấu, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ ranh giới rạch ròi giữa một bên là
đồng bào tôn giáo chân chính yêu nước với bên kia là những kẻ “giáo gian” vì
cam tâm làm tay sai cho gặc, hại nước, phản chúa. Trên cơ sở phan biệt rõ giữa
tín đồ chân chính và những kẻ “giáo gian” như vậy, Người chủ trương: “bảo vệ tự
do tín ngưỡng, nhưng kiên quyết trừng trị những kẻ đội lốt tôn giáo đã phản
Chúa, phản nước”[2].
Tuy nhiên theo Hồ Chí Minh, trong việc đấu
tranh chống lợi dụng tôn giáo không được cứng nhắc, vì rất dễ mắc sai lầm,
trúng ý đồ chia rẽ của địch. Người nhấn mạnh: do các thế lực phản động luôn tìm
cách lợi dụng tôn giáo chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nên một bộ phận
người Việt Nam đã sa ngã, bám theo chân giặc giày xéo quê hương, còn tuyệt đại
quần chúng nhân dân đều có lòng yêu nước. Hơn nữa theo Người, ngay cả trong số
những người lầm đường lạc lối, không ít người cũng do hoàn cảnh xô đẩy hoặc bị
lừa mị, nếu được đánh thức lòng yêu nước sẽ trở về với Tổ quốc, với đồng
bào.Với một số đồng bào như vậy, Hồ Chí Minh chủ trương: vận động, đánh thức
lòng yêu nước, lương tâm con người Việt Nam để họ tỉnh ngộ và quyay về với con
đường chính nghĩa. Đối với những người đã biệt hối cải, quoay về với Tổ quốc,
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định luôn mở rộng vòng tay chào đón và họ “sẽ được
hoan nghênh rộng rãi như những người con đi lạc mới về”[3].
Đồng thời Người yêu cầu cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên các đoàn thể:
“Không được bảo thủ báo oán. Đối với những kẻ đi lầm đường lạc lối, đồng bào ta
cần phait dùng chính sách klhoan hồng. Lấy lời khôn, lẽ phải mà bày cho họ”[4].
Tinh thần khoan dung tôn giáo của Người đã lan tỏa trong đồng bào các tôn giáo,
giúp họ nhận thức rõ chính - tả, nâng cao cảnh giác trước kẻ thù; đồng thời lay
động và khích lệ lòng yêu nước của các chức sắc, nhà tu hành tôn giáo, giúp
nhiều người trong số họ vượt qua mặc cảm, dấn thân phục vụ Tổ quốc, phục vụ
nhân dân
Bên cạnh việc kiên quyết đấu tranh chống lợi
dụng tôn giáo vào mục đích chính trị phản động. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn quan
tâm đến việc bài trừ mê tín dị đoan, Theo Người: Điều quan trọng đầu tiên là
phải phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nếp sống văn hóa mới, trong đó vừa
bảo tồn, phát huy những giá trị thuần phong, mỹ tục, vừa tích cực phổ biến các
tri thức khoa học.
Theo Người mê tín dị đoan tồn tại rất dai
dẳng, nên để khắc phục cần kiên trì, nhẫn nại và đặc biệt là phải hết sức khéo
léo, tế nhị vì nó liên quan đến đời sống tâm linh của quần chúng nhân dân.
Để bài trừ mê tín dị đoan, Chủ tịch Hồ Chí
Minh cho rằng, điều quan trọng đầu tiên là phát triển kinh tế - xã hội, xây
dựng nếp sống văn hóa mới, trong đó vừa bảo tồn, phát huy những giá trị thuần
phong mỹ tục, vừa tích cực phổ biến các tri thức khoa học. Mặt khác, theo
Người, mê tín dị đoan tồn tại rất dai dẳng, nên để khắc phục cần kiên trì, nhân
nại và dặc biệt là phải hết sức khéo léo, tế nhị vì nó liên quan đến đời sống
tâm linh của quần chúng nhân dân.
Tóm lại: Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
tôn giáo có nội dung rất phong phú và chứa đựng những giá trị khoa học, giá trị
nhân văn sâu sắc. Tư tưởng của Người được cụ thể hóa trong chính sách “tín
ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết” và được hiện thực hóa trong thực tiễn cách
mạng có tác dụng to lớn trong việc tập hợp, đoàn kết đồng bào các tôn giáo xung
quoanh Đảng, góp phần xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.
Bịt các "lỗ hổng” để ngăn ngừa tham nhũng
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo
Đoàn kết tôn
giáo là một dung nổi bật và xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo.
Theo tư tưởng
của Người, đồng bào tôn giáo là bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt
Nam; đoàn kết tôn giáo nằm trong chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc và không
ngoài mục đích là để giành độc lập cho dân tộc, xây dựng đất nước giàu mạnh,
mọi người dân dù có hay không có tôn giáo, dù theo các tôn giáo khác nhau, đều
có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và có điều kiện phát triển toàn diện. Nội
dung cơ bản của đoàn kết tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm: Đoàn kết
giữa đồng bào có tín ngưỡng tôn giáo với đồng bào không có tín ngưỡng tôn giáo;
đoàn kết giữa đồng bào có các tín ngưỡng khác nhau; đoàn kết giữa đồng bào
trong mỗi một tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Đoàn kết giữa
đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo với đồng bào không tín ngưỡng tôn giáo là nội
dung trọng tâm hàng đầu được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Người nhận
thức rõ do sự chi phối của ý thức tôn giáo, nên đồng bào các tôn giáo có những
nét khác biệt nhất định về thế giới quan, nhân sinh quan, niềm tin và giá trị,
chuẩn mực văn hóa…, so với đồng bào không theo tín ngưỡng tôn giáo. Do sự khác
biệt đó, nếu không có sự nhìn nhận đúng đắn và lòng khoan dung, rất dễ dẫn tới
sự mặc cảm, kỳ thị lẫn nhau. Bởi vậy muốn thực hiện đoàn kết tôn giáo trong
khối đại đoàn kết dân tộc, trước hết phải thực hiện đoàn kết giữa đồng bào có
đạo và đồng bào không theo đạo. Điều đó theo Người hoàn toàn có thể thực hiện
được, vì đồng bào dù lương hay giáo đều có lòng yêu nước và mong muốn có cuộc
sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Người nhấn mạnh: “Phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương và đồng bào các tôn giáo
giáo, cùng nhau xây dựng đời sống hòa thuận ấm no, xây dựng Tổ quốc”[1]
Đoàn
kết tôn giáo hòa hợp dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh có thể được khái quát
trong phương châm: Rộng rãi - Toàn diện - Nhất quán - Chặt chẽ - Lâu dài.
Đối tượng đoàn
kết tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh là rất rộng lớn, đoàn kết không chỉ giữa
đồng bào lương và đồng bào giáo, giữa đồng bào các tôn giáo với cán bộ đảng
viên mà còn giữa đồng bào các tôn giáo với nhau và giữa đồng bào trong từng tôn
giáo nhằm tạo thành sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đoàn
kết tôn giáo phải mang tính toàn diện, đoàn kết trong tất cả các lĩnh vực hoạt
động của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị, đến văn hóa, xã hội,v.v…Đoàn
kết tôn giáo phải mang tính nhất quán, từ chủ trương chính sách, pháp luật đến
tổ chức thực hiện, từ tư tưởng, tình cảm đến hành vi ứng xử đều phải thể hiện
tinh thần đoàn kết; trong mọi hoàn cảnh, điều kiện đều phải có tinh thần đoàn
kết. Không những vậy, đoàn kết tôn giáo phải chặt chẽ, thật lòng. Đồng thời,
theo Người, đoàn kết tôn giáo không phải là một thủ đoạn chính trị mà là một
chính sách lâu dài; là một bộ phận quan trọng trong chiến lược đại đoàn kết
toàn dân tộc, với phương châm: “Đoàn kết, đoàn kết đại đoàn kết. Thành công,
thành công, đại thành công”
Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân của tinh
thần đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc. Người không chỉ đề ra chính sách đoàn
kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc một cách đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt
Nam và nguyện vọng của nhân dân mà còn là tấm gương mẫu mực trong đoàn kết với
đồng bào các tôn giáo. Phương pháp đoàn kết trong tư tưởng của Người vừa mang
tính khoa học, sát hợp với thực tiễn, vừa mang tính nhân văn sâu sắc:
Một
là, “Cầu đồng tôn dị”, tìm
kiếm, phát huy những điểm tương đồng, đồng thời tôn trọng sự khác biệt để đi
tới sự thống nhất.
Hai
là, Lấy lợi ích của quốc
gia, dân tộc và quyền lợi căn bản của nhân dân làm mẫu số chung để đoàn kết tôn
giáo.
Ba
là, tôn trọng và bảo đảm
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân
Bốn
là, tôn trọng đề cao nhân
cách các vị sáng lập tôn giáo và vai trò của các chức sắc, nhà tu hành tôn
giáo.
Năm
là, quan tâm đến đời sống
của đồng bào các tôn giáo.
Phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” cần kiên quyết
Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Theo Hồ Chí
Minh, tự do tín ngưỡng, tôn giáo có quan hệ hữu cơ với vận mệnh dân tộc vì
“nước có độc lập thì tôn giáo mới được tự do”. Sự nghiệp giải phóng dân tộc nhằm
mục tiêu tối cao là đem lại tự do, hạnh phúc cho đồng bào, trong đó có tự do
tín ngưỡng, tôn giáo. Nếu không đạt mục đích ấy thì độc lập cũng chẳng có ý
nghĩa gì. Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền lợi của người dân trong một nước
tự do, độc lập, đồng thời là nhân tố để thực hiện đoàn kết dân tộc. Từ đó, Hồ
Chí Minh luôn nhấn mạnh phải nhất quán và triệt để thực hiện quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo của đồng bào.
Tư tưởng Hồ
Chí Minh về tự do tín ngưỡng, tôn giáo còn xuất phát từ lòng khoan dung, tôn trọng
đức tin của mỗi người. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “ Tín đồ Phật giáo tin ở
Phật; tín đồ Gia tô tin ở Đức chúa Trời; cũng như chúng ta tin ở đạo Khổng. Đó
là những vị chí tôn nên chúng ta tin tưởng” [1].
Người chỉ ra rằng “Tôn giáo là duy tâm, cộng sản là duy vật”[2],
chủ nghĩa duy linh và chủ nghĩa duy vật khác nhau, rõ ràng là thế, nhưng không
vì vậy mà bài xích, nghi kỵ nhau; ngược lại, phải tôn trọng đức tin của mỗi
người.
Một xuất điểm
khác nữa để Hồ Chí Minh đề cao việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo là: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một giá trị phổ quát
và tiến bộ của nhân loại. Là người bôn ba khắp năm châu bốn bể tìm đường cứu
nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu tinh hoa của văn hóa nhân loại, chọn lọc
và tiếp nhận, phát huy những giá trị phổ quát nhất, tiến bộ nhất trong xã hội
hiện đại để phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, tự do và
hạnh phúc của nhân dân.
Theo Hồ Chí
Minh, tự do tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu của nhân dân, là quyền con người
không ai được xâm phạm. Đồng thời là một trong những mục tiêu của cách mạng
Việt Nam.
Với tư tưởng
như vậy, trên thực tế Người luôn nhất quán trong tư tưởng và hành động. Năm 1945,
chỉ một ngày, sau khi nước nhà độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ
lâm thời, Người đã khẳng định việc thực hiện chính sách tôn trọng tự do tôn
giáo, đoàn kết lương giáo là một trong sáu vấn đề cấp bách nhất cần giải quyết,
Người nói: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào giáo và
đồng bào lương, để dễ thống trị. Tôi đề nghị chính phủ ta tuyên bố: TÍN NGƯỠNG
TỰ DO và lương giáo đoàn kết”[3].
Nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, trên thực tế Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã trực tiếp chỉ đạo soạn thảo và ký ban hành sắc lệnh số 234/SL ngày
14/6/1965 về vấn đề tôn giáo. Sắc lệnh gồm 5 chương, 16 điều, quy định chi
tiết, cụ thể về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Nội dung của Sắc
lệnh phù hợp với tinh thần của Công pháp quốc tế hiện hành và được đồng bào có đạo
nhiệt tình ủng hộ, đón nhận…
Đánh giá đúng để quy hoạch và bổ nhiệm đúng cán bộ
Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin trong cách tiếp cận tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí minh coi tôn giáo là một thành tố văn hóa
Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về tôn giáo,
không chỉ thấy tôn giáo là một hiện tượng xã hội mang tính đặc thù, mà còn xem
tôn giáo là một thành tố, bộ phận của văn hóa. Từ trong nhà tù của chế độ Tưởng
Giới Thạch, trong mục Đọc sách của
tập Nhật ký trong tù, Người đã viết: “Vì
lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát
minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học,
nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương
thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là
sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài
người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự
sinh tồn”[1].
Vì tôn giáo là một bộ phận của văn hóa nên nó mang chứa bản chất nhân văn, nhân
đạo của văn hóa. Chính từ cách tiếp cận tôn giáo không chỉ với tư cách là một
“phạm trù chính trị” mà còn với tư cách “phạm trù văn hóa”, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã phát hiện ra nhiều giá trị quý báu ẩn chứa trong tôn giáo.
Thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi tôn giáo
là một thực thể xã hội
Các nhà kinh
điển của chủ nghĩa Mác đã làm sáng tỏ bản chất tôn giáo với tính cách một hình
thái ý thức xã hội, một tiểu hệ thống kiến trúc thượng tầng (cả ý thức tôn giáo
và thiết chế tôn giáo). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển quan điểm
của chủ nghĩa Mác- Lênin khi nhìn nhận tôn giáo là một thực thể xã hội, bao gồm cả ý thức, thiết chế và cả với tính cách là
một lực lượng đông đảo quần chúng nhân dân có tín ngưỡng. Và chính trong sự
nhìn nhận đó, giá trị nhân văn và phát triển trong tư tưởng của Người về tôn
giáo càng tỏa sáng. Người không chỉ thông cảm với sự cùng khổ của quần chúng
nhân dân, cả người có tín ngưỡng và không có tín ngưỡng tôn giáo khi bị áp bức
bóc lột, phải sống cảnh lầm than với thân phận của người dân mất nước, mà còn
nhận thấy và trân trọng những phẩm chất tốt đẹp, tin tưởng và khích lệ tinh
thần yêu nước của đồng bào có đạo vì mục tiêu chung là độc lập và CNXH.
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo- Cơ sở nền tảng thực hiện vấn đề tôn giáo ở Việt Nam
Theo quan điểm
của chủ nghĩa Mác - Lênin, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt,
đồng thời còn là một thức thể xã hội, được tạo thành từ bốn yếu tố cơ bản là
đức tin, giáo lý, hành vi và tổ chức. Về vai trò xã hội, tôn giáo cơ bản là một
hình thái ý thức xã hội tiêu cực, lạc hậu, là thuốc phiện, rượu tinh thần và
hạnh phúc hư ảo của nhân dân. Điều này đã được Ph.Ăngghen khẳng định: “Tất cả
mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người
- của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là
sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực
lượng siêu trần thế”[1].
Bên cạnh mặt tiêu cực là cơ bản, tôn giáo đúng nghĩa còn có những giá trị, nhất
là về đạo đức như hướng thiện, cầu lành, tránh dữ, khuyên con người tâm đức,
làm điều thiện, sống trung thực, biết ăn năn, hối lỗi khi mắc sai lầm, làm điều
ác…
Trên cơ sở
nhận thức khoa học về tôn giáo, quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin là không
“tuyên chiến với tôn giáo”. Quan điểm đó chỉ ra rằng, xử lý những vấn đề nảy
sinh từ tôn giáo trong tiến trình cách mạng vô sản, nhất là trong cuộc cải tạo
xã hội cũ, xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa, cần phải hết sức thận trọng,
tỷ mỉ và chuẩn xác, dựa trên nguyên tắc, phương pháp luận cơ bản:
Một là, khắc phục dần những ảnh hưởng
tiêu cực của tôn giáo phải gắn liền với quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng
xã hội mới. Nguyên tắc này được rút ra từ cơ sở triết học duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử là muốn thay đổi ý thức xã hội phải đi từ thay đổi tồn tại xã
hội. Đó là một quá trình lâu dài, khó khăn, phức tạp gắn liền với tiến trình
cách mạng XHCN.
Muốn vậy, phải không ngừng phát triển kinh
tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất tinh thần nhân dân, bảo đảm cuộc sống
dân chủ, công bằng, văn minh, thì lúc đó tôn giáo sẽ không còn ảnh hưởng tiêu
cực, mà chỉ còn tính tích cực: giá trị văn hóa, đạo đức.
Hai là, tôn trọng, đảm bảo quyền tự do
tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân. Đây là quyền không chỉ thể hiện về
mặt pháp lý mà cần phải được hiện thực hóa trong đời sống, là nguyên tắc nhất
quán, xuyên suốt, lâu dài của các đảng mác xít.
Ba là, quan điểm lịch sử - cụ thể khi
giải quyết vấn đề tôn giáo. Ở những thời kỳ lịch sử khác nhau, vai trò tác động
của mỗi tôn giáo đối với đời sống xã hội cũng khác nhau. Vì vậy, cần phải có
quan điểm lịch sử - cụ thể khi xem xét, đánh giá và ứng xử đối với các vấn đề
xã hội liên quan đến tôn giáo. V.I. Lênin luôn nhắc nhở: “người mácxít phải
biết chú ý đến toàn bộ tình hình cụ thể”[2]
Bốn là, phân biệt rõ hai mặt chính trị
và tư tưởng trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo: Mặt chính trị của tôn giáo,
thực chất là phản ánh mâu thuẫn đối kháng về lợi ích kinh tế giữa các giai cấp
và những thế lực lợi dụng tôn giáo để thực hiện những mưu đồ, lợi ích chính trị
khác nhau; còn mặt tư tưởng phản ánh mâu thuẫn không mang tính đối kháng giữa
những người có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, những người có tín ngưỡng, tôn
giáo và những người khống có tín ngưỡng tôn giáo.
Đối với nước
ta hiện nay, nguyên tắc, phương pháp luận cơ bản trên, chính là cơ sở giải
quyết vấn đề chính trị tôn giáo, đấu tranh chống dịch lợi dụng vấn đề tôn giáo
làm tổn hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia.
Để Đảng luôn xứng đáng với vai trò tiền phong
TIẾP TỤC LÀM THEO NHỮNG CHỈ DẪN CỦA HỒ CHÍ MINH
CÁN BỘ CHIẾN LƯỢC CẦN NẮM VỮNG VÀ THỰC HIỆN TỐT VẤN ĐỀ TÔN GIÁO GẮN VỚI QUỐC PHÒNG - AN NINH
Tôn giáo là một
hiện tượng xã hội, được tồn tạị lâu dài trong tiến trình phát triển của xã hội
loài người.
Tôn giáo là vấn đề nhạy cảm, có ảnh hưởng lớn
đến sự tồn tại phát triển của xã hội. Trong tình hình hiện nay, giải quyết tốt
vấn đề tôn giáo là ưu tiên hàng đầu của nhiều quốc gia, dân tộc và là xu hướng
chung của thời đại. Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo.
Đảng ta từ khi thành lập cho đến nay luôn xác định: Tín ngưỡng, tôn giáo là
nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài, nhưng cũng là nhiệm vụ cấp bách trong
tình hình hiện nay. Trong đó, Đảng ta cũng xác định: thực hiện tốt vấn đề tôn
giáo gắn với thực hiện nhiệm vụ QP-AN là nội dung quan trọng, có ý nghĩa chiến
lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đặc biệt trong
tình hình hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang đẩy mạnh chiến
lược “diễn biến hoà bình” chống cách mạng Việt Nam với phương châm lấy chống phá
về chính trị, tư tưởng làm hàng đầu, kinh tế làm mũi nhọn, ngoại giao làm hậu
thuẫn, tôn giáo, dân tộc làm ngòi nổ, kết hợp với bạo loạn lật đổ, uy hiếp, răn
đe, gây sức ép về quân sự. Vì vậy, công
cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta chỉ có thể thành công
trên cơ sở lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư
tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động, đồng thời phải xuất phát từ hoàn cảnh
cụ thể của đất nước và gắn với đặc điểm của thời đại hiện nay. Tiến hành công
cuộc đổi mới đất nước, trước hết đòi hỏi Đảng phải đổi mới tư duy, nhìn nhận và
đánh giá đúng những vấn đề lý luận và thực tiễn, trong đó có vấn đề tín ngưỡng,
tôn giáo đang và sẽ có nhiều biểu hiện mới, đa dạng, phức tạp, cần giải quyết
đúng đắn.
Vì vậy, việc
nghiên cứu, nắm vững và thực hiện tốt đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách
và pháp luật của Nhà nước về tôn giáo gắn với QP-AN có ý nghĩa vô cùng quan trọng
và cấp bách đối với cán bộ cấp chiến lược hiện nay.