Thứ Ba, 1 tháng 6, 2021

Về chủ nghĩa dân túy và đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện của nó ở Việt Nam hiện nay

Chủ nghĩa dân túy là hiện tượng phức tạp, được chú ý nhiều trong đời sống chính trị trên thế giới hiện nay. Bài viết phân tích nguồn gốc, đặc trưng của chủ nghĩa dân túy và những biểu hiện chính của nó trong thế giới đương đại; đồng thời phân tích những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay, mặc dù nó chưa trở thành trào lưu điển hình và chưa chi phối đời sống chính trị - xã hội nhưng đã xuất hiện và có nguy cơ tạo ra những hậu quả tiêu cực nếu chúng ta không nhận diện và đấu tranh, ngăn ngừa kịp thời. Ở Nga, vào cuối thế kỷ XIX, thuật ngữ “chủ nghĩa dân túy” được sử dụng để chỉ trào lưu xã hội theo chủ nghĩa không tưởng mang tính nông dân của tầng lớp thanh niên trí thức nước này. Những người sáng lập ra chủ nghĩa dân túy ở Nga là Ghéc-xen, Chéc-nư-sép-xki. Trong những năm 70 của thế kỷ XIX, những nhà tư tưởng tiêu biểu của chủ nghĩa dân túy Nga là Ba-cu-nin, Láp-rốp, Mi-khai-lốp-xki. Đặc trưng của chủ nghĩa dân túy ở Nga lúc này là tư tưởng dân chủ nông dân, mơ ước chủ nghĩa xã hội với hy vọng bỏ qua chủ nghĩa tư bản, cho rằng có thể tiến lên chủ nghĩa xã hội bằng hình thức công xã nông thôn và lấy giai cấp nông dân (do trí thức lãnh đạo) là động lực chính của cách mạng. Trong những năm 1870 - 1880, chủ nghĩa dân túy có vai trò tích cực trong đấu tranh chống Nga hoàng, nhưng về sau nó gây trở ngại cho việc truyền bá chủ nghĩa Mác vào Nga, vì nó chủ trương xây dựng chủ nghĩa xã hội dựa vào nông dân và công xã nông thôn, phủ nhận sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga, phủ nhận vai trò cách mạng và lãnh đạo cách mạng của giai cấp vô sản, khẳng định chủ nghĩa tư bản có thể đi vào đời sống nhân dân mà không làm cho nông thôn phá sản, không bóc lột nông dân lao động. Chủ nghĩa dân túy ở Nga khi đó đưa ra những chương trình cải cách nhỏ, không đụng chạm đến kinh tế của phú nông, coi mâu thuẫn giai cấp ở nông thôn là tầm thường, mà một nhà nước bình thường của dân cũng có thể dễ dàng khắc phục. Thực chất của chủ nghĩa dân túy ở Nga khi đó, như V.I. Lê-nin khẳng định, là thái độ thỏa hiệp với Nga hoàng, là từ bỏ cuộc đấu tranh chống chế độ Nga hoàng, hy vọng Chính phủ Nga hoàng đứng trên các giai cấp và có khả năng cải thiện đời sống của nông dân. Do đó, V.I. Lê-nin nhấn mạnh, muốn đem chủ nghĩa Mác kết hợp với phong trào công nhân Nga, muốn thành lập chính đảng mác-xít cách mạng Nga, nhất thiết phải đập tan ảnh hưởng của chủ nghĩa dân túy trong phong trào cách mạng Nga nói chung và trong phong trào công nhân Nga nói riêng. Ở Mỹ, thuật ngữ “chủ nghĩa dân túy” được sử dụng rộng rãi kể từ những năm 90 của thế kỷ XIX, khi phong trào dân túy của Mỹ thúc đẩy người dân sống ở nông thôn và Đảng Dân chủ chống lại những người theo Đảng Cộng hòa sống ở đô thị. Đến những năm 50 của thế kỷ XX, thuật ngữ “chủ nghĩa dân túy” được sử dụng một cách rộng rãi hơn trên thế giới, nhằm mô tả các phong trào chính trị khác nhau, từ chủ nghĩa phát-xít, chủ nghĩa cộng sản châu Âu, chủ nghĩa chống cộng đến chủ nghĩa phân biệt chủng tộc,... và có rất nhiều cách hiểu khác nhau về chủ nghĩa dân túy. Đến đầu thế kỷ XXI, như F. Đéc-cơ (F. Decker) và C. Mớt-đơ (C. Mudde) xác định, chủ nghĩa dân túy trên thế giới có thể được xem là một hệ tư tưởng, nhưng là một “hệ tư tưởng mỏng”, nhằm giải thích thế giới và biện minh cho những mục tiêu cụ thể; được xây dựng trên cơ sở đa số người dân chống lại tầng lớp tinh hoa quyền lực; không có hệ thống giá trị cụ thể, mà chỉ nhấn mạnh sự tương phản giữa đa số nhân dân và tầng lớp tinh hoa; hướng vào việc tranh giành lòng tin của quần chúng, lợi dụng người dân cho mục đích riêng với lời hứa suông và thiếu trách nhiệm(1). Chủ nghĩa dân túy, theo F. Phu-ku-y-a-ma, là thuật ngữ được sử dụng rất lỏng lẻo, nhằm mô tả một loạt các hiện tượng không nhất thiết dung hợp với nhau. Chủ nghĩa dân túy có các đặc điểm chính là: 1- Là chế độ chính trị theo đuổi những chính sách được dân chúng ủng hộ trong một giai đoạn ngắn; 2- Là việc lấy một số nhóm sắc tộc hoặc chủng tộc được coi là “nhân dân” làm nền tảng cho tính chính danh của chế độ; 3- Là phong cách của các nhà lãnh đạo, cầm quyền tự xưng là người đại diện trực tiếp của nhân dân, hướng niềm hy vọng (và cả sự phản kháng) của người dân vào những hành động tức thời(2). Còn theo Rô-nan F. Inh-gơ-hát (Ronald F. Inglehart) và N. Pi-pa No-rít (N. Pippa Norris), chủ nghĩa dân túy hiện nay có ba yếu tố chủ yếu: 1- Sự minh triết của nhân dân với tư cách số đông người; 2- Sự ưa thích các nhà lãnh đạo độc đoán; 3- Đề cao tinh thần bài ngoại, ưu tiên người bản địa(3). Ngày nay, thậm chí đã xuất hiện những hình thức biểu hiện của chủ nghĩa dân túy mới, như chủ nghĩa dân tộc dân túy (populist nationalism), chủ nghĩa dân túy mới (neo-populism), với những thủ đoạn chính trị mang tính chất mị dân của một số giới chính trị tác động vào quan điểm, tâm lý của đám đông người dân (cử tri) để kêu gọi, tổ chức phong trào nhằm lôi kéo, tranh thủ quần chúng, giúp nhiều nhà dân túy giành được quyền lực, tạo ra những thay đổi lớn về tương quan lực lượng có lợi cho mình trên chính trường và làm thay đổi chính sách. Với tính cách là phong trào chính trị, phong trào dân túy thường nhấn mạnh đến đặc điểm văn hóa, tình cảm tự phát và nhất là lợi ích thường nhật, trước mắt của người dân. Các hoạt động của phong trào dân túy thường được diễn ra: Thứ nhất, thông qua các cuộc gặp gỡ trực tiếp, tìm hiểu và “lắng nghe”, “chia sẻ” ý kiến, nguyện vọng của số đông trong một nhóm dân cư bị thiệt thòi nhất định, hoặc các cuộc họp của dân chúng, trưng cầu dân ý hay các hình thức dân chủ trực tiếp, trong khi lại ít hoặc không cần quan tâm đến nguyện vọng, lợi ích chung của toàn xã hội; tập trung chú ý vào các quyền và lợi ích nhiều hơn là trách nhiệm và nghĩa vụ của các nhóm dân cư này. Thứ hai, thông qua hoạt động nghị trường ở các cơ quan dân cử với các tranh luận nghị sự, các sinh hoạt của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các cuộc mít-tinh, biểu tình,... Thứ ba, thông qua cá nhân các nhà dân túy - những người được “hâm mộ” với những phong cách chính trị có khả năng tạo “hình ảnh lớn” và “ấn tượng mạnh”, có các hình thức và thủ thuật “hùng biện chính trị” khi nêu chiến lược hay sách lược “đấu tranh” mang tính chất mị dân, nhằm lôi kéo, tranh thủ quần chúng để đạt được mục đích của họ. Cho đến nay, các phong trào được coi là chủ nghĩa dân túy, như F. Phu-ku-y-a-ma xác định, còn có thể được khu biệt thành hai nhóm lớn: 1- Chủ nghĩa dân túy Cánh hữu (phổ biến ở khu vực Bắc Âu, bảo vệ các nhà nước phúc lợi nhưng không mở rộng dịch vụ, trợ cấp xã hội, dựa vào tầng lớp trung lưu, nhấn mạnh yếu tố sắc tộc và chống người nhập cư; những người thuộc tầng lớp lao động ở Mỹ ủng hộ Tổng thống Mỹ Đ. Trăm;...); 2- Chủ nghĩa dân túy Cánh tả (phổ biến ở khu vực Mỹ La-tinh và Nam Âu, được sự ủng hộ của người nghèo và hướng theo các chương trình xã hội tái phân phối lợi ích, khắc phục tình trạng bất bình đẳng về kinh tế; không nhấn mạnh vấn đề sắc tộc hoặc nhập cư)(4). Tuy nhiên, trong thực tế, thật khó phân định những người dân túy cánh tả hay cánh hữu một cách rõ ràng, bởi chủ nghĩa dân túy giống như một cách thức tìm kiếm quyền lực hơn là một lý tưởng chính trị. Những người dân túy thường có nét chung là có sức thu hút cá nhân, có tài hùng biện và thuyết phục số đông, nhất là những lúc người dân phải đối mặt với những khó khăn do suy thoái về kinh tế hay bất ổn về an ninh. Ngoài ra, lại có những nhóm, phong trào dân túy không thực sự thuộc nhóm nào trong hai nhóm nêu trên. Chẳng hạn, Phong trào Năm Sao ở I-ta-li-a, trong khi chống lại các thiết chế đã định hình và phản đối tầng lớp tinh hoa I-ta-li-a, nhưng khác với những người dân túy ở cả Nam Âu và Bắc Âu, khi nó dựa chủ yếu vào giai cấp trung lưu lớp giữa và lớp trên ở đô thị hơn là đặt nền tảng trên giai cấp lao động đang suy thoái. Chủ nghĩa dân túy chứa đựng rất nhiều yếu tố phức tạp và cần được nhìn nhận từ nhiều cách tiếp cận khác nhau(5). Chẳng hạn, ở cách tiếp cận ý thức hệ, có thể thấy nguồn gốc tư tưởng của nó không thuần nhất; ở cách tiếp cận “kỹ thuật”, có thể xem nó như là những chiến lược, đối sách hay phong cách, phương pháp thu hút quần chúng, sức hấp dẫn cá nhân, tài hùng biện, thuyết phục đối với số đông dân chúng của các nhà dân túy. Từ những năm đầu thế kỷ XXI và nhất là từ năm 2016 trở lại đây, chủ nghĩa dân túy mới trỗi dậy ở nhiều nước với việc nhiều nhà dân túy giành được các vị trí lãnh đạo, gây ra những thay đổi trên chính trường quốc gia và quốc tế. Nguyên nhân làm xuất hiện chủ nghĩa dân túy rất đa dạng và phức tạp, từ kinh tế đến chính trị, từ xã hội đến văn hóa và ngày nay là vấn đề môi trường, cạn kiệt tài nguyên (Chẳng hạn, đó là sự bất bình đẳng kinh tế, phân biệt giàu - nghèo, bất mãn xã hội, phản ứng của các bộ phận dân cư từng chiếm ưu thế trước những thay đổi về các giá trị vốn đe dọa vị thế của họ, bất bình đẳng giới, bạo lực và buôn bán các trẻ em gái, phân biệt tôn giáo, chủng tộc, tư tưởng bài ngoại,...). Chủ nghĩa dân túy thường phát triển khi người dân trong xã hội phải đối mặt với những khó khăn do suy thoái hay khủng hoảng về kinh tế, bất ổn về xã hội, an ninh, môi trường và trước sự lúng túng, bị động, thất bại của các đảng cầm quyền, chính quyền hay sự suy thoái, nạn quan liêu, tham nhũng của công chức nhà nước; tình trạng bấp bênh của nền kinh tế trong bối cảnh các thay đổi về lực lượng lao động ở các xã hội hậu công nghiệp; những thay đổi về văn hóa và dân số;... Do vậy, dù với nội dung hay hình thức nào, về bản chất, chủ nghĩa dân túy cũng vẫn là một loại tư tưởng tiểu tư sản, duy tâm, phản khoa học, không tưởng, mị dân và thậm chí phản động. Chủ nghĩa dân túy ngày nay có xu hướng trỗi dậy và hiện đang trở thành làn sóng trên thế giới, nhất là ở các nước châu Âu và châu Mỹ. Làn sóng chủ nghĩa dân túy có thể đưa đến những hệ quả bất ngờ và gây bất ổn cho nền chính trị các nước, các khu vực và thế giới, làm thay đổi đường lối, chính sách của các đảng cầm quyền và các chính phủ. Chẳng hạn, thắng lợi trong các cuộc bầu cử của Mặt trận Dân tộc Pháp, Đảng Độc lập Anh, Đảng Chọn lựa cho Đức, Phong trào Năm sao ở I-ta-li-a, Đảng Tự do Hà Lan, Đảng Tự do Áo, và nhất là kết quả trưng cầu dân ý của đa số cử tri Anh đồng ý việc nước này ra khỏi Liên minh châu Âu (Brexit); “cuộc chiến giai cấp” giữa những người hưởng lợi từ một thế giới toàn cầu hóa với những người cảm thấy bị bỏ lại phía sau; sự phản ứng của người dân trước những khó khăn hay thất bại trong các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của chính quyền, như Phong trào Áo Vàng ở Pháp hiện nay,... đã cho thấy rõ điều đó. Đặc biệt, chủ nghĩa dân túy cánh hữu đang có xu hướng thắng thế, mà hệ lụy của nó là có thể làm đảo ngược một số đường lối tích cực mà các quốc gia đang theo đuổi, như sự bình đẳng giới, bình đẳng kinh tế, sự hòa hợp giữa các dân tộc và xu hướng hợp tác quốc tế, chống chủ nghĩa độc quyền, bảo hộ. Có thể nói, chủ nghĩa dân túy là những thủ pháp, thủ thuật của giới hoạt động chính trị nhằm lôi kéo sự chú ý của người dân, thông qua nghệ thuật diễn thuyết với nội dung mơ hồ, khó thực hiện trong thực tế, nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó có tính chất ngắn hạn, nhất thời của người dân, nhất là của giới bình dân. Đặc điểm chung của chủ nghĩa dân túy là tách rời phát ngôn với hành động, chỉ làm thỏa mãn nhu cầu trước mắt của dân chúng hoặc một bộ phận dân chúng, nhanh chóng thay đổi quan điểm và không nhất quán một nguyên tắc nào. Hệ quả, thậm chí là hệ lụy của chủ nghĩa dân túy là nó thường gắn với chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, tinh thần quốc gia vị kỷ; chủ nghĩa bành trướng, bá quyền; sự ngạo mạn và chủ nghĩa biệt lập văn hóa, vấn đề di cư, nhập cư,... với những hình thái và mức độ biểu hiện khác nhau. Hiện nay, chủ nghĩa dân túy đang có nguy cơ ảnh hưởng sâu và tiêu cực tới Việt Nam, mặc dù ở Việt Nam chủ nghĩa dân túy không có cơ sở kinh tế, chính trị - xã hội để tồn tại dưới dạng “chủ nghĩa”, mà mới chỉ tồn tại với tính cách là quan điểm, tư tưởng, không thành hệ thống lý luận và chỉ biểu hiện ở phát ngôn, hành động của một số người. Những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam dù chưa điển hình và chưa trở thành trào lưu chi phối đời sống chính trị - xã hội, nhưng đã xuất hiện nguy cơ tạo ra những hậu quả tiêu cực. Mức độ và phạm vi ảnh hưởng tiêu cực của các quan điểm, tư tưởng và hành động của chủ nghĩa dân túy đang có nguy cơ tăng lên trong đời sống xã hội, có khả năng lan rộng và thấm sâu - trở thành mảnh đất màu mỡ cho những kẻ cơ hội, mị dân lợi dụng - nên rất cần nhận diện và đấu tranh phòng ngừa, xử lý kịp thời, có hiệu quả. Từ thực tế, phải chăng, có thể thấy những nhóm biểu hiện chủ yếu và bước đầu của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay như sau: Thứ nhất, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt, xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng, tôn thờ và chạy theo những lợi ích trước mắt, thực dụng của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân - những biểu hiện manh nha của chủ nghĩa dân túy. Một số phần tử phản động và cơ hội chính trị ra sức tuyên truyền xuyên tạc, bôi nhọ, vu cáo, bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; “tầm thường hóa” lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cổ xúy mọi người chỉ theo đuôi thực tiễn, xem thường lý luận, làm cho mọi người không quan tâm và mất niềm tin, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; phủ nhận chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và khả năng đổi mới, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; xem nhẹ vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự sáng tạo của nhân dân trong công cuộc đổi mới đất nước. Thứ hai, những phát ngôn và hành động của những phần tử cơ hội chính trị, nhất là những phát ngôn, những bài viết mang tính mị dân trên các phương tiện truyền thông đại chúng, các diễn đàn, các trang mạng xã hội,... thể hiện dưới dạng những thủ đoạn và nội dung như sau: 1- Có những phát ngôn và hành động trái với đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước (đòi tự do, dân chủ không giới hạn, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đòi từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa,...); 2- Lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân để kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan, phá hoại đường lối, chính sách đối ngoại đúng đắn của Đảng và Nhà nước, âm mưu đẩy đất nước vào bất ổn, phá vỡ môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng đất nước; 3- Lạm dụng các quyền tự do, dân chủ để đưa ra những đòi hỏi phi lý, những chương trình hành động có tính mị dân, không đúng chính sách, pháp luật, thiếu tính khả thi, xa rời thực tế; tranh thủ dư luận xã hội với dụng ý xấu, động cơ không lành mạnh, từ đó gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ; 4- Lợi dụng tình hình đời sống và sản xuất còn có khó khăn, yếu kém để kích động, lôi kéo một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân không vững vàng đi theo, gây rối, chống phá, gây mất ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội; 5- Sử dụng công nghệ thông tin hiện đại để bịa đặt, tung tin thất thiệt, gây hoang mang trong dư luận xã hội; lợi dụng, thổi phồng những khó khăn, hạn chế, yếu kém, khuyết điểm trong lãnh đạo và quản lý, làm mất uy tín của Đảng và Nhà nước; xuyên tạc lịch sử. Lập các trang điện tử để đăng tin, bài với dụng ý xuyên tạc, bịa đặt, phản ánh sai lệch tình hình đất nước; công kích, làm mất uy tín của cán bộ lãnh đạo, kích động tâm lý bất mãn, phản đối; 6- Có những lời nói, việc làm “tạo tiếng vang”, sáo rỗng, không thực tế, thiếu trách nhiệm, lấy lòng đám đông, tạo cảm xúc, lợi dụng, kích động phản ứng của người dân trước những vấn đề bức xúc nhất định của xã hội với những dụng ý, động cơ thiếu trong sáng và vì lợi ích riêng; tạo tâm lý hoài nghi, bất mãn, dao động trên một số diễn đàn và nhất là trên các trang mạng xã hội; kêu gọi biểu tình, cổ vũ tụ tập đông người với những “khẩu hiệu” “bất tuân dân sự” gây sốc, làm mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến phát triển kinh tế - xã hội. Thứ ba, xuất hiện những người cơ hội dưới dạng “theo đuôi quần chúng”, “chiều theo” ý kiến, nguyện vọng của một nhóm nhất định nhân danh “quần chúng” mà bỏ qua các nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; “lấy lòng quần chúng” để giành chức quyền, mưu lợi ích riêng; bám giữ “tư duy tiểu nông”, “tiểu tư sản” trong một số trí thức và người dân, gây bất mãn với Đảng, Nhà nước và chế độ; hô hào những người còn ngộ nhận, tự phát, bất mãn, vi phạm pháp luật, làm công cụ chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Thứ tư, xuất hiện một số cán bộ, đảng viên có quan điểm, lời nói, hành động không đúng với chủ trương, đường lối, nguyên tắc của Đảng, không đúng quy định pháp lý, thiếu tính khả thi, vượt quá giới hạn thẩm quyền; hứa suông, nói không đi đôi với làm, nói nhiều, làm ít, nói một đường, làm một nẻo; cơ hội, lợi dụng, tranh thủ phiếu bầu của những cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu, thoái hóa, biến chất; “tư duy nhiệm kỳ”, đề cao lợi ích trước mắt, cục bộ, địa phương; đưa ra những tuyên bố “gây sốc” trong cộng đồng nhằm mị dân, lấy lòng đám đông trong việc giải quyết những vấn đề bức xúc trong xã hội, đề cao những lợi ích trước mắt của một bộ phận nhân dân; nhân danh “mối quan hệ trực tiếp với nhân dân”, “ý muốn của số đông”, “đại diện cho nhân dân”, hướng hành động của người dân vào việc làm phức tạp thêm những hạn chế, bất cập của chính quyền, kích động họ có những hành động tự phát, tức thời chống đối chính quyền, gây mất ổn định chính trị, xã hội và thiệt hại cho đất nước; tác động vào tâm lý đám đông để kêu gọi, tổ chức phong trào, lôi kéo, tranh thủ dư luận và đông đảo người dân; lợi dụng niềm tin của người dân để phục vụ mục đích cá nhân. Nguyên nhân làm xuất hiện những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay là do: Một là, ảnh hưởng của những nhân tố quốc tế, như mặt trái của kinh tế thị trường, toàn cầu hóa, thông tin mạng toàn cầu; quá trình cá nhân hóa thông tin tăng nhanh, thông tin giả tràn lan, làm cho người dân hiểu không đủ, không rõ, không kịp nhiều vấn đề, dễ hoang mang, bị thông tin giả chi phối, dẫn dắt; sự lợi dụng, lôi kéo, kích động, xúi giục, mua chuộc và chống phá, can thiệp của các thế lực thù địch từ bên ngoài. Hai là, ảnh hưởng của những nhân tố trong nước, như những hạn chế, khó khăn trong phát triển đất nước; sự gia tăng tình trạng phân hóa giàu - nghèo, bất bình đẳng xã hội; sự suy thoái, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tình trạng “lợi ích nhóm”, vi phạm dân chủ, thái độ thờ ơ, vô cảm của một bộ phận cán bộ, đảng viên trước những khó khăn của người dân; sự thiếu công khai, minh bạch trong quản lý của một số tổ chức chính quyền... Ba là, công tác tuyên truyền, cung cấp thông tin chưa thật sự đầy đủ, chính xác và kịp thời, trong khi trình độ văn hóa, pháp luật và trình độ dân trí nói chung trong xã hội chưa cao, nhận thức của người dân vẫn còn những hạn chế, nhất là chưa phân biệt rõ giữa dân chủ và dân túy. Nếu không đấu tranh, ngăn ngừa kịp thời những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay thì hậu quả của nó sẽ vô cùng nguy hiểm: Làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết toàn dân; gây mất ổn định chính trị - xã hội, ảnh hưởng đến việc xây dựng môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước; làm giảm uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ của Việt Nam với các đối tác. Để phòng ngừa và ngăn chặn những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay, cần tạo sự chuyển biến trong nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về những tác hại của chủ nghĩa dân túy, đồng thời chỉ ra những biểu hiện cụ thể của nó. Theo đó, cần: Thứ nhất, đẩy mạnh việc nghiên cứu làm rõ khái niệm, nội dung, hình thức biểu hiện, tác hại và nguyên nhân phát sinh, phát triển của chủ nghĩa dân túy; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục để cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận biết được những nguy cơ, biểu hiện và tác hại của chủ nghĩa dân túy; kịp thời nhận diện và cảnh giác với những biểu hiện cụ thể của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam; định hướng thông tin đúng đắn trên báo chí, tạo hiệu ứng truyền thông tích cực, liên tục nhằm tạo sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái và những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy. Thứ hai, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát triển đất nước, phòng, chống có hiệu quả tình trạng tham nhũng, tiêu cực; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh, toàn tâm, toàn lực phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước, thực hiện đúng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm”, “việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh”, để củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ. Thứ ba, kiên định phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, giữ vững độc lập, chủ quyền trong quá trình hội nhập quốc tế; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với báo chí, truyền thông, nâng cao khả năng định hướng dư luận xã hội của báo chí, truyền thông. Thứ tư, phát hiện, xử lý và khắc phục kịp thời những biểu hiện và hậu quả của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam./.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy giá trị của tôn giáo

 


Theo Hồ Chí Minh, giáo lý các tôn giáo dù khác nhau nhưng đều có điểm chung là đề cao tính nhân đạo, hướng thiện của con người. Người viết: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”[1]. Tư tưởng bác ái của Chúa Giêsu, tư tưởng từ bi, hỷ xả, vô ngã vị tha của Đức Phật và tư tưởng nhân nghĩa của Khổng Tử có sự tương đồng với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH. Người tran trọng và đề cao nhân cách, sự đóng góp của các vị sáng lập tôn giáo đối với tiến bộ của nhân loại và đề nghị mọi người học tập noi gương.

Với các tín đồ tôn giáo, nhiều lần Hồ Chí Minh khẳng định: Tín đồ các tôn giáo ở Việt nam căn bản là yêu nước.

Đối với các chức sắc, nhà tu hành tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tôn trọng và đánh giá cao vị trí, vai trò của họ trong tổ chức tôn giáo; khuyến khích, động viên họ tham gia vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới. Người cũng luôn trân trọng những đóng góp dù nhỏ của các vị chức sắc, nhà tu hành và khích lệ họ tiếp tục cống hiến cho đất nước, cho dân tộc.

- Chống lợi dụng tôn giáo và bài trừ mê tín dị đoan

Chống lợi dụng tôn giáo

Ở Việt Nam, tôn giáo là lĩnh vực luôn bị chủ nghĩa thực dân, đế quốc cấu kết với bọn phản động lợi dụng nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá cách mạng. Để vừa bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, vừa đấu tranh có hiệu quả chống việc lợi dụng tôn giáo vì mục đích xấu, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ ranh giới rạch ròi giữa một bên là đồng bào tôn giáo chân chính yêu nước với bên kia là những kẻ “giáo gian” vì cam tâm làm tay sai cho gặc, hại nước, phản chúa. Trên cơ sở phan biệt rõ giữa tín đồ chân chính và những kẻ “giáo gian” như vậy, Người chủ trương: “bảo vệ tự do tín ngưỡng, nhưng kiên quyết trừng trị những kẻ đội lốt tôn giáo đã phản Chúa, phản nước”[2].

Tuy nhiên theo Hồ Chí Minh, trong việc đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo không được cứng nhắc, vì rất dễ mắc sai lầm, trúng ý đồ chia rẽ của địch. Người nhấn mạnh: do các thế lực phản động luôn tìm cách lợi dụng tôn giáo chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nên một bộ phận người Việt Nam đã sa ngã, bám theo chân giặc giày xéo quê hương, còn tuyệt đại quần chúng nhân dân đều có lòng yêu nước. Hơn nữa theo Người, ngay cả trong số những người lầm đường lạc lối, không ít người cũng do hoàn cảnh xô đẩy hoặc bị lừa mị, nếu được đánh thức lòng yêu nước sẽ trở về với Tổ quốc, với đồng bào.Với một số đồng bào như vậy, Hồ Chí Minh chủ trương: vận động, đánh thức lòng yêu nước, lương tâm con người Việt Nam để họ tỉnh ngộ và quyay về với con đường chính nghĩa. Đối với những người đã biệt hối cải, quoay về với Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định luôn mở rộng vòng tay chào đón và họ “sẽ được hoan nghênh rộng rãi như những người con đi lạc mới về”[3]. Đồng thời Người yêu cầu cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên các đoàn thể: “Không được bảo thủ báo oán. Đối với những kẻ đi lầm đường lạc lối, đồng bào ta cần phait dùng chính sách klhoan hồng. Lấy lời khôn, lẽ phải mà bày cho họ”[4]. Tinh thần khoan dung tôn giáo của Người đã lan tỏa trong đồng bào các tôn giáo, giúp họ nhận thức rõ chính - tả, nâng cao cảnh giác trước kẻ thù; đồng thời lay động và khích lệ lòng yêu nước của các chức sắc, nhà tu hành tôn giáo, giúp nhiều người trong số họ vượt qua mặc cảm, dấn thân phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân

Bên cạnh việc kiên quyết đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo vào mục đích chính trị phản động. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn quan tâm đến việc bài trừ mê tín dị đoan, Theo Người: Điều quan trọng đầu tiên là phải phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nếp sống văn hóa mới, trong đó vừa bảo tồn, phát huy những giá trị thuần phong, mỹ tục, vừa tích cực phổ biến các tri thức khoa học.

Theo Người mê tín dị đoan tồn tại rất dai dẳng, nên để khắc phục cần kiên trì, nhẫn nại và đặc biệt là phải hết sức khéo léo, tế nhị vì nó liên quan đến đời sống tâm linh của quần chúng nhân dân.

Để bài trừ mê tín dị đoan, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, điều quan trọng đầu tiên là phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nếp sống văn hóa mới, trong đó vừa bảo tồn, phát huy những giá trị thuần phong mỹ tục, vừa tích cực phổ biến các tri thức khoa học. Mặt khác, theo Người, mê tín dị đoan tồn tại rất dai dẳng, nên để khắc phục cần kiên trì, nhân nại và dặc biệt là phải hết sức khéo léo, tế nhị vì nó liên quan đến đời sống tâm linh của quần chúng nhân dân.

Tóm lại: Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tôn giáo có nội dung rất phong phú và chứa đựng những giá trị khoa học, giá trị nhân văn sâu sắc. Tư tưởng của Người được cụ thể hóa trong chính sách “tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết” và được hiện thực hóa trong thực tiễn cách mạng có tác dụng to lớn trong việc tập hợp, đoàn kết đồng bào các tôn giáo xung quoanh Đảng, góp phần xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.



[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H2011, t7,tr95

 

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H2011, t8,tr313

[3]  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H 2011, t5,tr 249

 

[4]   Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H 2011, t5,tr 249

 

 

Bịt các "lỗ hổng” để ngăn ngừa tham nhũng

Có thể nói công cuộc PCTN của chúng ta tuy còn rất gian nan nhưng đã thu được những thành quả rất quan trọng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác PCTN vẫn còn những tồn tại, hạn chế, vẫn còn tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, nể nang, né tránh, ngại va chạm; việc phát hiện, xử lý tham nhũng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu; tự kiểm tra, tự phát hiện và xử lý tham nhũng trong nội bộ cơ quan, đơn vị vẫn là khâu yếu… Đồng thời, việc chưa có cơ chế đủ mạnh để kiểm soát chặt chẽ quyền lực; công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn chưa được quan tâm thực hiện nghiêm đã tạo “kẽ hở” cho việc lạm quyền để trục lợi của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thiếu rèn luyện đạo đức, tham lợi, vụ lợi bất chính... “Khoét sâu” vào những hạn chế nói trên, một số người đưa thông tin trên mạng xã hội hoặc báo chí nước ngoài rằng “việc PCTN ở Việt Nam thất bại”, “chỉ đưa ra ánh sáng những vụ việc không thể che đậy được”, “chống tham nhũng ở Việt Nam như nước đổ đầu vịt”… Có lẽ những người đưa ra các thông tin này không hiểu hoặc cố tình không hiểu công tác PCTN ở Việt Nam. Thế nhưng, nhiều “lỗ hổng phát sinh tham nhũng” nói trên cũng sẽ được “bịt” dần bằng các cơ chế chính sách của Nhà nước, bằng công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng. Luật PCTN 2018 có hiệu lực từ ngày hôm nay là một trong những "vũ khí" quan trọng trên trận tuyến PCTN. So với Luật PCTN 2005, Luật PCTN 2018 có nhiều điểm mới. Các đối tượng phải kê khai tài sản, thu nhập không còn được gói gọn ở “một số cán bộ, công chức” như quy định tại luật cũ, mà được mở rộng đến sĩ quan Công an nhân dân; sĩ quan Quân đội nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp; người giữ chức vụ từ phó trưởng phòng và tương đương trở lên công tác tại các đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp Nhà nước, người được cử làm đại diện phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp; người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu hội đồng nhân dân (HĐND)… Ngoài phải kê khai các loại tài sản, thu nhập như quy định trước đây, luật mới còn yêu cầu các đối tượng nêu trên còn phải kê khai thêm công trình xây dựng và tài sản khác gắn liền với đất, nhà ở, công trình xây dựng. Đồng thời, các đối tượng còn phải kê khai cả tổng thu nhập giữa hai lần kê khai. Trường hợp có biến động tài sản như trên mà không giải trình hợp lý về nguồn gốc tài sản, cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập có trách nhiệm xác minh. Người có nghĩa vụ kê khai phải giải trình về tính trung thực, đầy đủ, rõ ràng của bản kê khai, nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm. Đồng thời, có quyền khiếu nại quyết định, hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc xác minh tài sản, thu nhập khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật. Điều 39 của Luật PCTN 2018 nêu rõ, bản kê khai của người có nghĩa vụ kê khai phải được công khai tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó thường xuyên làm việc. Bản kê khai của người dự kiến được bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý được công khai tại cuộc họp lấy phiếu tín nhiệm. Bản kê khai của người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND phải được công khai theo quy định của pháp luật bầu cử… Cán bộ, công chức kê khai không trung thực về tài sản, thu nhập có thể bị xử lý kỷ luật bằng một trong các hình thức: Cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc hoặc bãi nhiệm. Luật PCTN 2018 còn quy định cơ quan nào để xảy ra tham nhũng, người đứng đầu phải chịu trách nhiệm. Trong đó, người đứng đầu phải chịu trách nhiệm trực tiếp nếu người do mình trực tiếp quản lý, giao nhiệm vụ tham nhũng. Cấp phó phải chịu trách nhiệm trực tiếp nếu xảy ra tham nhũng trong lĩnh vực công tác và trong đơn vị do mình được giao trực tiếp phụ trách; người đứng đầu phải chịu trách nhiệm liên đới… Cũng phải nói thêm rằng, tham nhũng không chỉ có ở Việt Nam mà đã trở thành quốc nạn ở nhiều nước trên thế giới. Tham nhũng không chỉ có từ bây giờ mà đã có từ rất lâu ở Việt Nam. PCTN là quyết tâm lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và toàn xã hội. Luật PCTN mới với những quy định mới sẽ tạo ra bước đột phá mới cho công cuộc PCTN ở nước ta. Với những ai còn mơ hồ về kết quả PCTN ở Việt Nam, hãy nhìn lại các vụ việc đã bị phát hiện, đang phát hiện và chờ đợi kết quả của việc thực hiện Luật PCTN 2018 sau khi có hiệu lực thi hành.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo

 


Đoàn kết tôn giáo là một dung nổi bật và xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo.

Theo tư tưởng của Người, đồng bào tôn giáo là bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam; đoàn kết tôn giáo nằm trong chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc và không ngoài mục đích là để giành độc lập cho dân tộc, xây dựng đất nước giàu mạnh, mọi người dân dù có hay không có tôn giáo, dù theo các tôn giáo khác nhau, đều có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và có điều kiện phát triển toàn diện. Nội dung cơ bản của đoàn kết tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm: Đoàn kết giữa đồng bào có tín ngưỡng tôn giáo với đồng bào không có tín ngưỡng tôn giáo; đoàn kết giữa đồng bào có các tín ngưỡng khác nhau; đoàn kết giữa đồng bào trong mỗi một tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đoàn kết giữa đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo với đồng bào không tín ngưỡng tôn giáo là nội dung trọng tâm hàng đầu được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Người nhận thức rõ do sự chi phối của ý thức tôn giáo, nên đồng bào các tôn giáo có những nét khác biệt nhất định về thế giới quan, nhân sinh quan, niềm tin và giá trị, chuẩn mực văn hóa…, so với đồng bào không theo tín ngưỡng tôn giáo. Do sự khác biệt đó, nếu không có sự nhìn nhận đúng đắn và lòng khoan dung, rất dễ dẫn tới sự mặc cảm, kỳ thị lẫn nhau. Bởi vậy muốn thực hiện đoàn kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc, trước hết phải thực hiện đoàn kết giữa đồng bào có đạo và đồng bào không theo đạo. Điều đó theo Người hoàn toàn có thể thực hiện được, vì đồng bào dù lương hay giáo đều có lòng yêu nước và mong muốn có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Người nhấn mạnh: “Phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương và đồng bào các tôn giáo giáo, cùng nhau xây dựng đời sống hòa thuận ấm no, xây dựng Tổ quốc”[1]

 Đoàn kết tôn giáo hòa hợp dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh có thể được khái quát trong phương châm: Rộng rãi - Toàn diện - Nhất quán - Chặt chẽ - Lâu dài.

Đối tượng đoàn kết tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh là rất rộng lớn, đoàn kết không chỉ giữa đồng bào lương và đồng bào giáo, giữa đồng bào các tôn giáo với cán bộ đảng viên mà còn giữa đồng bào các tôn giáo với nhau và giữa đồng bào trong từng tôn giáo nhằm tạo thành sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đoàn kết tôn giáo phải mang tính toàn diện, đoàn kết trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị, đến văn hóa, xã hội,v.v…Đoàn kết tôn giáo phải mang tính nhất quán, từ chủ trương chính sách, pháp luật đến tổ chức thực hiện, từ tư tưởng, tình cảm đến hành vi ứng xử đều phải thể hiện tinh thần đoàn kết; trong mọi hoàn cảnh, điều kiện đều phải có tinh thần đoàn kết. Không những vậy, đoàn kết tôn giáo phải chặt chẽ, thật lòng. Đồng thời, theo Người, đoàn kết tôn giáo không phải là một thủ đoạn chính trị mà là một chính sách lâu dài; là một bộ phận quan trọng trong chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, với phương châm: “Đoàn kết, đoàn kết đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”

Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân của tinh thần đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc. Người không chỉ đề ra chính sách đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc một cách đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và nguyện vọng của nhân dân mà còn là tấm gương mẫu mực trong đoàn kết với đồng bào các tôn giáo. Phương pháp đoàn kết trong tư tưởng của Người vừa mang tính khoa học, sát hợp với thực tiễn, vừa mang tính nhân văn sâu sắc:

Một là, “Cầu đồng tôn dị”, tìm kiếm, phát huy những điểm tương đồng, đồng thời tôn trọng sự khác biệt để đi tới sự thống nhất.

Hai là, Lấy lợi ích của quốc gia, dân tộc và quyền lợi căn bản của nhân dân làm mẫu số chung để đoàn kết tôn giáo.

Ba là, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân

Bốn là, tôn trọng đề cao nhân cách các vị sáng lập tôn giáo và vai trò của các chức sắc, nhà tu hành tôn giáo.

Năm là, quan tâm đến đời sống của đồng bào các tôn giáo.



[1]  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H2011, t13,tr454

 

 

Phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” cần kiên quyết

Phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” vốn là công việc rất khó khăn, phức tạp, vì nó liên quan tới vấn đề tư tưởng, biểu hiện âm thầm, gặm nhấm dần lòng tin, xói mòn dần phẩm chất đạo đức của cá nhân, tổ chức. Trong thực tế thì hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cũng liên quan cả gián tiếp và trực tiếp tới công tác xây dựng tổ chức, xây dựng con người, công tác cán bộ v.v.. Hơn nữa, khi thực hiện nhiệm vụ này rất dễ đụng chạm đến danh dự, lợi ích, quan hệ của mỗi con người. Tuy khó nhưng không thể không làm, vì vấn đề này có liên quan đến sinh mệnh chính trị, uy tín của Đảng và sự tồn vong chế độ. Bởi thế, ngoài quan điểm tích cực và chủ động thì việc kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là rất quan trọng. Nếu không kiên quyết trong phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thì việc thực hiện sẽ trở nên “nửa vời” và không đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra. Để thể hiện tính kiên quyết trong phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thì trong quá trình thực hiện phải nắm vững nguyên tắc kỷ luật tự giác, nghiêm minh của Đảng, chống phải đi đôi với xây và phải lấy xây làm chính. Cần phải tiến hành đồng bộ, toàn diện đối với mọi tổ chức, cá nhân, gắn kết chặt chẽ giữa đấu tranh, phê bình với các biện pháp hành chính, pháp luật và kinh tế. Việc tạo ra phong trào và hành động cụ thể, thiết thực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân khi đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là rất cần thiết. Có một số vấn đề cần tập trung, đó là: Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý cao cấp, vấn đề này đã được Đảng ta chú trọng thực hiện trong thời gian qua và đã thu được những kết quả nhất định; kiên quyết sử dụng nhiều biện pháp để đấu tranh phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; kiên quyết thực hiện phê bình, tự phê bình. Khi có dấu hiệu vi phạm thì dù cán bộ ở cương vị nào cũng cần phải được kiểm điểm, phê bình, xử lý kịp thời, mạnh mẽ, không "dĩ hòa vi quý", không nể nang, rơi vào chủ nghĩa cá nhân, không có vùng cấm, không loại trừ cán bộ chủ chốt, cán bộ cấp cao tự coi mình là "bề trên", đứng ngoài tổ chức. Những biểu hiện, những đối tượng như thế càng phải kiên quyết trong đấu tranh, khắc phục, loại trừ, bởi đó thực sự là "mầm họa" của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", là nguyên nhân sâu xa nhưng trực tiếp dẫn tới làm ảnh hưởng đến uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng.

Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 


Theo Hồ Chí Minh, tự do tín ngưỡng, tôn giáo có quan hệ hữu cơ với vận mệnh dân tộc vì “nước có độc lập thì tôn giáo mới được tự do”. Sự nghiệp giải phóng dân tộc nhằm mục tiêu tối cao là đem lại tự do, hạnh phúc cho đồng bào, trong đó có tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Nếu không đạt mục đích ấy thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì. Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền lợi của người dân trong một nước tự do, độc lập, đồng thời là nhân tố để thực hiện đoàn kết dân tộc. Từ đó, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh phải nhất quán và triệt để thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tự do tín ngưỡng, tôn giáo còn xuất phát từ lòng khoan dung, tôn trọng đức tin của mỗi người. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “ Tín đồ Phật giáo tin ở Phật; tín đồ Gia tô tin ở Đức chúa Trời; cũng như chúng ta tin ở đạo Khổng. Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin tưởng” [1]. Người chỉ ra rằng “Tôn giáo là duy tâm, cộng sản là duy vật”[2], chủ nghĩa duy linh và chủ nghĩa duy vật khác nhau, rõ ràng là thế, nhưng không vì vậy mà bài xích, nghi kỵ nhau; ngược lại, phải tôn trọng đức tin của mỗi người.

Một xuất điểm khác nữa để Hồ Chí Minh đề cao việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một giá trị phổ quát và tiến bộ của nhân loại. Là người bôn ba khắp năm châu bốn bể tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu tinh hoa của văn hóa nhân loại, chọn lọc và tiếp nhận, phát huy những giá trị phổ quát nhất, tiến bộ nhất trong xã hội hiện đại để phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc của nhân dân.

Theo Hồ Chí Minh, tự do tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu của nhân dân, là quyền con người không ai được xâm phạm. Đồng thời là một trong những mục tiêu của cách mạng Việt Nam.

Với tư tưởng như vậy, trên thực tế Người luôn nhất quán trong tư tưởng và hành động. Năm 1945, chỉ một ngày, sau khi nước nhà độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Người đã khẳng định việc thực hiện chính sách tôn trọng tự do tôn giáo, đoàn kết lương giáo là một trong sáu vấn đề cấp bách nhất cần giải quyết, Người nói: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào giáo và đồng bào lương, để dễ thống trị. Tôi đề nghị chính phủ ta tuyên bố: TÍN NGƯỠNG TỰ DO và lương giáo đoàn kết”[3]. Nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, trên thực tế Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp chỉ đạo soạn thảo và ký ban hành sắc lệnh số 234/SL ngày 14/6/1965 về vấn đề tôn giáo. Sắc lệnh gồm 5 chương, 16 điều, quy định chi tiết, cụ thể về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Nội dung của Sắc lệnh phù hợp với tinh thần của Công pháp quốc tế hiện hành và được đồng bào có đạo nhiệt tình ủng hộ, đón nhận…



[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H2014, t4,tr169

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H2011, t8,tr200

 

 

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H2011, t4,tr8

 

Đánh giá đúng để quy hoạch và bổ nhiệm đúng cán bộ

Các cấp ủy, tổ chức đảng trong toàn quốc đang tích cực chuẩn bị tiến hành tổ chức đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIII của Đảng, theo đúng tinh thần Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị, trong đó công tác cán bộ (CTCB) nói chung, công tác nhân sự cấp ủy nói riêng có vị trí, vai trò hết sức quan trọng, đòi hỏi phải được tiến hành đúng nguyên tắc, quy trình, công tâm, khách quan, phát huy dân chủ, trí tuệ của tập thể cấp ủy và cán bộ, đảng viên. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là gốc của mọi công việc”,“công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, nên trong CTCB “phải hiểu và đánh giá đúng cán bộ”; “phải trọng nhân tài”. Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, khâu đầu tiên là phải đánh giá đúng cán bộ, làm cơ sở bồi dưỡng, thử thách và bổ nhiệm cán bộ. Thực tiễn hiện nay, đội ngũ cán bộ có thể đánh giá, phân định theo 3 nhóm. Nhóm thứ nhất là những cán bộ đủ tiêu chí, tài-đức song toàn; được học tập, rèn luyện qua các cương vị công tác, dần hình thành những phẩm chất nhân cách tốt đẹp, như: Bản lĩnh chính trị, tư tưởng vững vàng; thấm đẫm tình yêu thương con người, quê hương, đất nước; luôn khao khát tri thức, học tập rèn luyện trưởng thành để cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Nhóm thứ hai là những cán bộ đã qua đào tạo, quá trình công tác qua một số cương vị đều hoàn thành và hoàn thành tốt nhiệm vụ, nhưng khi được bổ nhiệm vào cương vị có liên quan đến danh-lợi, trong tư tưởng dần xuất hiện cuộc đấu tranh nội tâm giữa lợi ích cá nhân và chức trách nhiệm vụ được giao; cùng với đó là sự tác động liên tục, đa chiều từ gia đình, người thân, dư luận xã hội, từ cơ chế thị trường, nhất là về vật chất. Do không làm chủ được bản thân, nên khi có điều kiện, những cán bộ này, cùng với tiếp tục phấn đấu vươn lên, cũng có tư tưởng tranh thủ “kiếm chác”; nếu không được giáo dục, rèn luyện, ngăn chặn kịp thời có thể dẫn đến thay đổi bản chất cách mạng, thoái hóa biến chất, trở thành cán bộ xấu, thậm chí vi phạm pháp luật, kỷ luật... Nhóm thứ ba là những cán bộ đã thoái hóa biến chất cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Đối với họ, danh và lợi luôn thống trị cả trong tư tưởng và hành động, nên không từ một âm mưu, thủ đoạn nào để bợ đỡ, xu nịnh cấp trên, chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp, học vị. Dù năng lực kém, phẩm chất xấu, nhưng họ thường gây bè kéo cánh, chui sâu leo cao để mưu danh, mưu lợi cho riêng mình, gia đình, họ hàng và những người cùng phe cánh. Tuy nhiên, các đối tượng này cũng luôn biết "ngụy trang", che giấu hành vi của mình bằng những vỏ bọc rất tinh vi cả trong lời nói và việc làm. Nhận diện, đánh giá đúng cán bộ, rèn luyện cán bộ là việc làm công phu, hết sức cần thiết và cần được tiến hành quyết liệt, đồng bộ cả về chủ trương và giải pháp, có như vậy mới bảo đảm việc bổ nhiệm đúng, luân chuyển, sử dụng hiệu quả cán bộ. Đánh giá đúng cán bộ là nội dung lớn, có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong toàn bộ CTCB, quyết định trực tiếp đến chất lượng cán bộ. Do vậy, cần quán triệt làm rõ ý nghĩa, mục đích, yêu cầu việc đánh giá cán bộ, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng thấy rõ đây là vấn đề cơ bản, hệ trọng, là cơ sở để làm tốt các khâu khác trong CTCB, như: Lựa chọn, quy hoạch, luân chuyển, đào tạo, bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách cán bộ. Nếu đánh giá sai sẽ dẫn đến dùng người sai, bỏ sót người có tâm huyết, có năng lực, để các phần tử cơ hội có điều kiện chui sâu, leo cao, phát triển và tất yếu sẽ dẫn đến mất đoàn kết nội bộ; làm cho cán bộ tốt bi quan, chán nản, thậm chí “thui chột nhân tài”. Để khắc phục tình trạng đánh giá cán bộ thiếu khách quan “yêu nên tốt, ghét nên xấu”, tư tưởng định kiến, hẹp hòi, cục bộ hoặc quá thiên lệch giữa các yếu tố: Cống hiến, học vị, bằng cấp… cần tiếp tục quán triệt, thấm nhuần lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nhận xét cán bộ không thể chỉ căn cứ vào những biểu hiện bên ngoài của họ, mà phải đi sâu tìm hiểu bản chất của họ; không thể chỉ dựa vào một việc làm của họ, mà phải tìm hiểu tất cả các công việc mà họ thực hiện; không thể chỉ xem xét cán bộ trong một thời điểm, mà phải thấy rõ lịch sử của họ”. Việc thẩm tra, xác minh lựa chọn cán bộ cần được tiến hành chặt chẽ, bảo đảm tính khách quan, trung thực. Cơ quan chức năng, trực tiếp là cán bộ được phân công thẩm tra, xác minh phải thực sự có tâm huyết, phát huy đầy đủ tinh thần trách nhiệm, thực hiện đúng quy trình để có kết luận chính xác về phẩm chất, năng lực của cán bộ; không để tình trạng nhận xét, đánh giá cảm tính, hoặc bị chi phối bởi các hiện tượng tiêu cực đối với cán bộ được lựa chọn. Nhận xét đánh giá cán bộ thường có tính nhạy cảm cao giữa đúng-sai, tốt-xấu...; do vậy cần quán triệt và thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng, kết hợp đúng đắn chế độ lãnh đạo tập thể với phát huy trách nhiệm cá nhân, dân chủ với tập trung. Phải luôn căn cứ vào chỉ thị, nghị quyết, quy định, hướng dẫn của cấp trên về CTCB, dân chủ thảo luận, quyết nghị tập thể theo đa số để kết luận các vấn đề về CTCB. Đối với những vấn đề nhạy cảm, như: Đánh giá cán bộ, quy hoạch, bổ nhiệm, điều động cán bộ, có thể biểu quyết bằng hình thức bỏ phiếu kín. Cùng với đó, cần thực hiện đúng quy định tham khảo ý kiến của các cấp, các ngành có liên quan bằng những phương pháp thăm dò ý kiến phù hợp, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp. Rèn luyện, nâng cao chất lượng toàn diện đội ngũ cán bộ, trước hết phải nâng cao chất lượng chính trị, bảo đảm cho đội ngũ cán bộ trong mọi điều kiện hoàn cảnh không bị lợi ích vật chất, danh lợi... làm tha hóa; phải thật sự kiên định vững vàng; tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân; có năng lực đề xuất các chủ trương, giải pháp đúng đắn, sáng tạo; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, trước hết trong lĩnh vực được phân công. Cần gắn kết chặt chẽ việc đánh giá cán bộ với việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, nhằm xây dựng cho từng cán bộ có động cơ cách mạng trong sáng, “có tâm, có tầm”, mẫu mực về phẩm chất, lối sống, thể hiện ở sự khát khao cống hiến, luôn tận tâm tận lực vì nhiệm vụ; nghiêm khắc với bản thân, có tấm lòng bao dung độ lượng, thương yêu con người sâu sắc. Cần tổ chức tốt các hoạt động học tập, nghiên cứu ở từng cơ quan, đơn vị về đường lối, nhiệm vụ cách mạng của Đảng, bảo đảm cho mỗi cán bộ có khả năng phân tích, sáng rõ các diễn biến chính trị trong nước, khu vực, quốc tế, nhận rõ mâu thuẫn và chiều hướng phát triển trong hiện tại và tương lai để tiếp nhận, chuyển hóa theo đúng quan điểm của Đảng; tham gia sáng tạo cách thức huy động các nguồn lực, sức mạnh ở từng cấp, ngành trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị. Quá trình đó cần lồng ghép việc tuyên truyền, giáo dục, rèn luyện phong cách và phương pháp Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ về cách thức diễn đạt tinh tế, tư duy logic, chính kiến sắc sảo ở mọi lúc, mọi nơi; cảm hóa vận động mọi người cùng nỗ lực đoàn kết thực hiện nhiệm vụ... Nhận diện, đánh giá, lựa chọn đúng cán bộ có vai trò, vị trí hết sức quan trọng, quyết định sự tồn vong của Đảng và chế độ. Do vậy, phải tổ chức chặt chẽ, quyết liệt việc sàng lọc cán bộ; kiên quyết không để những phần tử cơ hội, vụ lợi, thoái hóa biến chất về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống chui vào các cơ quan lãnh đạo của Đảng. Có như vậy mới thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng, theo đó: “Kiên quyết sàng lọc, miễn nhiệm, thay thế, cho từ chức đối với cán bộ làm việc kém hiệu quả, không hoàn thành nhiệm vụ, yếu về năng lực, kém về phẩm chất đạo đức, tín nhiệm thấp... nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu”. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng và ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng. Theo đó, cần làm tốt hơn nữa CTCB và tích cực, chủ động chuẩn bị nhân sự cấp ủy, bảo đảm cho sự thành công của đại hội đảng bộ các cấp. Công tác nhân sự cần tiến hành từng bước, từng việc, chắc chắn, thận trọng, chặt chẽ, đúng quy trình, bảo đảm dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch, nhưng phải thật sự đúng người, đúng việc. Cần tăng cường kiểm soát CTCB và chuẩn bị nhân sự cấp ủy; nghiêm cấm mọi biểu hiện vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, tìm cách nâng người này, hạ người kia, gây nghi ngờ, làm mất đoàn kết nội bộ. Kiên quyết không để lọt vào cấp ủy khóa mới những người có tham vọng quyền lực, chạy chức, chạy quyền, chạy phiếu bầu, chạy cơ cấu, bè phái, cục bộ, lợi ích nhóm, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", quan liêu, tham nhũng, bảo thủ, trì trệ, làm việc kém hiệu quả, nói không đi đôi với làm…

Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin trong cách tiếp cận tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh

 


Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí minh coi tôn giáo là một thành tố văn hóa

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về tôn giáo, không chỉ thấy tôn giáo là một hiện tượng xã hội mang tính đặc thù, mà còn xem tôn giáo là một thành tố, bộ phận của văn hóa. Từ trong nhà tù của chế độ Tưởng Giới Thạch, trong mục Đọc sách của tập Nhật ký trong tù, Người đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[1]. Vì tôn giáo là một bộ phận của văn hóa nên nó mang chứa bản chất nhân văn, nhân đạo của văn hóa. Chính từ cách tiếp cận tôn giáo không chỉ với tư cách là một “phạm trù chính trị” mà còn với tư cách “phạm trù văn hóa”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát hiện ra nhiều giá trị quý báu ẩn chứa trong tôn giáo.

Thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi tôn giáo là một thực thể xã hội

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã làm sáng tỏ bản chất tôn giáo với tính cách một hình thái ý thức xã hội, một tiểu hệ thống kiến trúc thượng tầng (cả ý thức tôn giáo và thiết chế tôn giáo). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin khi nhìn nhận tôn giáo là một thực thể xã hội, bao gồm cả ý thức, thiết chế và cả với tính cách là một lực lượng đông đảo quần chúng nhân dân có tín ngưỡng. Và chính trong sự nhìn nhận đó, giá trị nhân văn và phát triển trong tư tưởng của Người về tôn giáo càng tỏa sáng. Người không chỉ thông cảm với sự cùng khổ của quần chúng nhân dân, cả người có tín ngưỡng và không có tín ngưỡng tôn giáo khi bị áp bức bóc lột, phải sống cảnh lầm than với thân phận của người dân mất nước, mà còn nhận thấy và trân trọng những phẩm chất tốt đẹp, tin tưởng và khích lệ tinh thần yêu nước của đồng bào có đạo vì mục tiêu chung là độc lập và CNXH.



[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H2011, t3, tr458

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo- Cơ sở nền tảng thực hiện vấn đề tôn giáo ở Việt Nam

 


Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, đồng thời còn là một thức thể xã hội, được tạo thành từ bốn yếu tố cơ bản là đức tin, giáo lý, hành vi và tổ chức. Về vai trò xã hội, tôn giáo cơ bản là một hình thái ý thức xã hội tiêu cực, lạc hậu, là thuốc phiện, rượu tinh thần và hạnh phúc hư ảo của nhân dân. Điều này đã được Ph.Ăngghen khẳng định: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế”[1]. Bên cạnh mặt tiêu cực là cơ bản, tôn giáo đúng nghĩa còn có những giá trị, nhất là về đạo đức như hướng thiện, cầu lành, tránh dữ, khuyên con người tâm đức, làm điều thiện, sống trung thực, biết ăn năn, hối lỗi khi mắc sai lầm, làm điều ác…

Trên cơ sở nhận thức khoa học về tôn giáo, quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin là không “tuyên chiến với tôn giáo”. Quan điểm đó chỉ ra rằng, xử lý những vấn đề nảy sinh từ tôn giáo trong tiến trình cách mạng vô sản, nhất là trong cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa, cần phải hết sức thận trọng, tỷ mỉ và chuẩn xác, dựa trên nguyên tắc, phương pháp luận cơ bản:

Một là, khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo phải gắn liền với quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Nguyên tắc này được rút ra từ cơ sở triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là muốn thay đổi ý thức xã hội phải đi từ thay đổi tồn tại xã hội. Đó là một quá trình lâu dài, khó khăn, phức tạp gắn liền với tiến trình cách mạng XHCN.

Muốn vậy, phải không ngừng phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất tinh thần nhân dân, bảo đảm cuộc sống dân chủ, công bằng, văn minh, thì lúc đó tôn giáo sẽ không còn ảnh hưởng tiêu cực, mà chỉ còn tính tích cực: giá trị văn hóa, đạo đức.

Hai là, tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân. Đây là quyền không chỉ thể hiện về mặt pháp lý mà cần phải được hiện thực hóa trong đời sống, là nguyên tắc nhất quán, xuyên suốt, lâu dài của các đảng mác xít.

Ba là, quan điểm lịch sử - cụ thể khi giải quyết vấn đề tôn giáo. Ở những thời kỳ lịch sử khác nhau, vai trò tác động của mỗi tôn giáo đối với đời sống xã hội cũng khác nhau. Vì vậy, cần phải có quan điểm lịch sử - cụ thể khi xem xét, đánh giá và ứng xử đối với các vấn đề xã hội liên quan đến tôn giáo. V.I. Lênin luôn nhắc nhở: “người mácxít phải biết chú ý đến toàn bộ tình hình cụ thể”[2]

Bốn là, phân biệt rõ hai mặt chính trị và tư tưởng trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo: Mặt chính trị của tôn giáo, thực chất là phản ánh mâu thuẫn đối kháng về lợi ích kinh tế giữa các giai cấp và những thế lực lợi dụng tôn giáo để thực hiện những mưu đồ, lợi ích chính trị khác nhau; còn mặt tư tưởng phản ánh mâu thuẫn không mang tính đối kháng giữa những người có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, những người có tín ngưỡng, tôn giáo và những người khống có tín ngưỡng tôn giáo.

Đối với nước ta hiện nay, nguyên tắc, phương pháp luận cơ bản trên, chính là cơ sở giải quyết vấn đề chính trị tôn giáo, đấu tranh chống dịch lợi dụng vấn đề tôn giáo làm tổn hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia.



[1] C. Mác và Ph.Ăngghen: Sđd, 1994, t.20, tr437

[2] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 17, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1979, tr 518

Để Đảng luôn xứng đáng với vai trò tiền phong

Bình sinh, Hồ Chí Minh đặc biệt chăm lo công tác xây dựng Đảng, để Đảng Cộng sản Việt Nam “phải là một đảng to lớn, mạnh mẽ, chắc chắn, trong sạch, cách mạng triệt để”[1]. Nửa thế kỷ sau khi Người đi xa, những trăn trở, tâm huyết và chỉ dẫn của Người: “Việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”[2] và “phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”[3] trong bản Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vẫn vẹn nguyên giá trị thời sự và ý nghĩa lớn lao. ĐẢNG PHẢI ĐƯỢC XÂY DỰNG THEO NGUYÊN TẮC MÁC XÍT Hồ Chí Minh từng nói, Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức thống nhất của những người con ưu tú của giai cấp và dân tộc, luôn vì lợi ích cảu Tổ quốc và nhân dân mà phụng sự, song Đảng cũng là một thực thể trong xã hội, cũng là những con người với tất cả điểm ưu và nhược, nên không phải lúc nào và bao giờ cũng giữ đúng và giữ được vai trò tiền phong, gương mẫu. Hơn nữa, trong tiến trình vận động và phát triển, một dân tộc, một Đảng và mỗi con người ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn và quy tụ được quần chúng, song không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ngợi ca, nếu suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vì thế, Người luôn chú trọng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, không ngừng nâng cao bản lĩnh, trí tuệ và sức chiến đấu của Đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc xây dựng một chính Đảng Mácxit chân chính; đồng thời, coi đó là quy luật tất yếu, là sự vận động và phát triển của Đảng trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, để Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành và giữ vững vị trí là Đảng duy nhất lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh: 1) Đảng chỉ có thể là một tổ chức chắc chắn, vững mạnh, luôn là đội tiên phong của giai cấp và dân tộc; chỉ giành và giữ vững vai trò độc quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam khi “chủ nghĩa của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin, mỗi đảng viên đều phải nghiên cứu… Tư tưởng của Đảng là tư tưởng của giai cấp công nhân, nó đấu tranh cho lợi ích của toàn dân. Vì vậy, trong Đảng không thể có những tư tưởng, lập trường và tác phong trái với tư tưởng, lập trường và tác phong của giai cấp công nhân…Đảng có kỷ luật rất nghiêm khắc, tất cả đảng viên đều phải tuân theo. Tư tưởng, chính trị và tổ chức của Đảng đều phải thống nhất. Trong Đảng không thể có những phần tử lạc hậu và đầu cơ”[4]; đồng thời, thường xuyên, liên tục tự đổi mới và chỉnh đốn. 2) Đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng chỉ có thể hoàn thành trọng trách vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ của nhân dân khi “kiên quyết phục tùng sự lãnh đạo tập trung của Đảng. Trong Đảng không thể có những phần tử hèn nhát lung lay”[5]; đồng thời, nỗ lực “toàn tâm toàn lực phụng sự lợi ích của nhân dân, phải làm gương mẫu trong mọi công tác”[6]. Đó là trách nhiệm kép, vừa vinh dự vừa khó khăn, mà muốn xứng đáng, Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc xây dựng một Đảng Mácxít. Một là, trong bất cứ thời điểm nào, Đảng cũng phải “tổ chức theo nguyên tắc dân chủ tập trung. Nghĩa là: có Đảng chương thống nhất, kỷ luật thống nhất, cơ quan lãnh đạo thống nhất. Cá nhân phải phục tùng đoàn thể, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương”[7]. Dân chủ và tập trung phải luôn đi đôi với nhau, có mối quan hệ khăng khít với nhau và đó là hai vế của một nguyên tắc. Đây là nguyên tắc rường cột, quan trọng nhất để xây dựng Đảng, nhằm phát huy quyền làm chủ của đảng viên, tạo nên sức mạnh tổng hợp của tổ chức, bảo đảm cho quá trình thực hiện dân chủ được đúng hướng; đảm bảo cho kỷ luật của Đảng được thực thi nghiêm túc; và khi đó, kỷ luật chính là phương tiện để bảo vệ dân chủ, bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi thành viên trong tổ chức. Vì thế, Người dặn trong Di chúc, “trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi”[8] để không chỉ phát huy quyền làm chủ của đảng viên trong tất cả các hoạt động của Đảng, để mọi đảng viên được bày tỏ ý kiến của mình mà còn góp phần phòng, chống các biểu hiện chuyên quyền, độc đoán, hách dịch, chụp mũ, trù dập và những biểu hiện dân chủ quá trớn, những hiện tượng vì “sợ” mất dân chủ mà theo đuôi quần chúng trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn. Hai là, Đảng luôn phải thực thi nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Theo Hồ Chí Minh, “ý nghĩa của tập thể lãnh đạo rất giản đơn, chân lý của nó rất rõ rệt. Tục ngữ có câu: “Khôn bầy hơn khôn độc” là ý nghĩ đó?”[9], vì một người dù khôn ngoan tài giỏi mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu, cũng không thể xem xét và giải quyết tốt tất cả mọi mặt của một vấn đề. Đồng thời, “nếu không có cá nhân phụ trách thì sẽ sinh cái tệ người này ủy cho người kia, người kia ủy cho người nọ, kết quả là không ai thi hành. Như thế thì việc gì cũng không xong”[10]. Hai vế của nguyên tắc này phải luôn đi đôi với nhau, nhằm khắc phục những biểu hiện độc đoán, chuyên quyền của người đứng đầu và cả những biểu hiện dựa dẫm, ỷ lại tập thể, không quyết đoán, không dám chịu trách nhiệm khi cần quyết định những vấn đề quan trọng của những cán bộ thiếu bản lĩnh, thiếu năng lực lãnh đạo,v.v.. Ba là, Đảng Cộng sản Việt Nam là một bộ phận trong hệ thống chính trị nhưng là lực lượng lãnh đạo, là linh hồn của khối đại đoàn kết toàn dân, cho nên “sự đoàn kết trong Đảng là quan trọng hơn bao giờ hết, nhất là sự đoàn kết chặt chẽ giữa các cán bộ lãnh đạo”[11]. Trên tinh thần tuyệt đối không thỏa hiệp với những xu hướng bè phái, coi sự chia rẽ là tội ác lớn nhất đối với Đảng, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Đoàn kết là là một truyền thống quý báu và “đoàn kết là một lực lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khăn, giành lấy thắng lợi”[12]. Bởi “đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta”, được coi là nguyên tắc cơ bản trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là bảo đảm đầu tiên và thường xuyên cho sự vững mạnh và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng; tạo nên sức mạnh thống nhất trong ý chí và hành động của Đảng, nên Hồ Chí Minh căn dặn: “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”[13]. Theo đó, mọi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng trên cơ sở đường lối, chủ trương và những nguyên tắc sinh hoạt Đảng; được thể hiện trong nhận thức và hành động, trong mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, nhất quán giữa lời nói và việc làm; coi đó là cơ sở để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bốn là, một Đảng cách mạng chân chính, muốn xứng đáng với vị thế tiền phong, thì phải “thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”[14]. Tự phê bình và phê bình là cuộc đấu tranh giữa giữa điều tốt và điều xấu, giữa cái đúng và cái sai trong bản thân mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức Đảng, để giúp nhau sửa chữa khuyết điểm và tiến bộ, để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn, “cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”[15], nên khi tiến hành phải kiên quyết, ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt và phải được thực hiện trên tình đồng chí thương yêu lẫn nhau. Hồ Chí Minh coi tự phê bình và phê bình là thang thuốc hay nhất, cần phải được tiến hành thường xuyên, nghiêm túc trên tinh thần “các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người, mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải như thế Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công”[16], chứ không chờ khi có việc mới tiến hành, có khuyết điểm mới phạt... Thực hiện đúng và tốt nguyên tắc quan trọng này một cách dân chủ, công khai, bình đẳng trong sinh hoạt Đảng theo phương châm: cấp trên và cán bộ lãnh đạo phải tự phê bình nghiêm túc, phải chân thành tiếp thu ý kiến phê bình của đồng chí mình và cấp dưới; đồng thời, phải động viên cấp dưới và quần chúng phê bình tổ chức đảng và đảng viên chân thành, triệt để sẽ góp phần phát huy vai trò, khả năng sáng tạo, trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Năm là, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đảng ta đại biểu cho lợi ích chung của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động, chứ không mưu cầu lợi ích riêng của một nhóm người nào, của cá nhân nào”[17]. Luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết, sự thống nhất lợi ích giữa Đảng với nhân dân chính là ở vị thế: Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của dân. Cho nên, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân là một yêu cầu tất yếu, là nhu cầu tự thân của Đảng và một nguyên tắc để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, để nhân nguồn sức mạnh nội lực của Đảng. Trong đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên - những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành phải luôn xứng đáng là “công bộc” của nhân dân trên tinh thần: mỗi người trong mọi mặt công tác phải luôn đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân; việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ, sẵn sàng học hỏi nhân dân và “sẵn lòng cầu tiến bộ, sẵn chí phụng sự nhân dân”[18], để nhân dân tin tưởng, yêu mến và gắn bó. Sáu là, không chỉ khẳng định vai trò, ý nghĩa quyết định của đạo đức cách mạng, coi đạo đức là cái gốc của người cách mạng, là cơ sở nền tảng của một đảng cầm quyền, Hồ Chí Minh còn đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Trong tư tưởng của Người, đạo đức cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng; thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng, đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lên trên, lên trước lợi ích cá nhân mình, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân,v.v.. Do đó, Người nhấn mạnh: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư để Đảng thật trong sạch, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”[19], để mỗi người rèn mình, phòng và chống những thói hư tật xấu trong mình, xứng đáng với vai trò tiền phong.

TIẾP TỤC LÀM THEO NHỮNG CHỈ DẪN CỦA HỒ CHÍ MINH

Không chỉ chú trọng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, để Đảng và cán bộ, đảng viên của Đảng hoàn thành nhiệm vụ được Tổ quốc và nhân dân giao phó, Hồ Chí Minh còn là tấm gương đạo đức của người cộng sản mẫu mực, luôn thống nhất giữa nói và làm. Luôn tận trung với nước, tận hiếu với dân, “cuộc đời Hồ Chí Minh thực sự là một tấm gương đạo đức và nhân cách thanh cao của người chiến sĩ cách mạng, hết lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân, mà “gia đình của Người là Nhân dân, là Đảng và Tổ quốc. Bởi lẽ đó, tất thảy điều gì Hồ Chí Minh dạy và làm, thì mọi người đều ngưỡng mộ và làm theo không chút đắn đo”[20]. Hồ Chí Minh và di sản tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người, ý nghĩ, tầm nhìn chiến lược và những quyết sách, hành động của Người không chỉ thuộc về hiện tại mà còn thuộc về tương lai. Quán triệt những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về xây dựng và chỉnh đốn Đảng trong Di chúc, nhất là thực hiện và coi xây dựng Đảng là một trong 6 nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ (2016-2020) theo tinh thần Đại hội XII của Đảng: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”[21], trong gần 90 năm qua, nhất là trong hơn 30 năm đổi mới và hội nhập, công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng luôn được xác định là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân; là nhiệm vụ của tất cả các tổ chức của đảng và toàn thể cán bộ, đảng viên. Đó không chỉ là nhiệm vụ trọng yếu ở Trung ương, là công việc của đội ngũ cán bộ, đảng viên lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu mà đó là trách nhiệm của tất cả các cấp ủy Đảng, cả hệ thống chính trị và của toàn thể nhân dân. Trong mọi thời điểm, nhất là ở vào những thời khắc có tính bước ngoặt, công tác xây dựng Đảng được đẩy mạnh, được tổng kết qua các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc và được triển khai sâu rộng theo các Nghị quyết chuyên đề về công tác xây dựng Đảng: Nghị quyết trung ương 6 (lần 2) khóa VIII “Một số vấn đề cơ bản và cấp bách về công tác xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”,v.v.. Thông qua quá trình tự đổi mới và chỉnh đốn đó, Đảng được củng cố, bảo vệ và phát triển, đáp ứng yêu cầu và tình hình nhiệm vụ cách mạng đặt ra; đồng thời, lãnh đạo nhân dân thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ chính trị, giữ vững ổn định chính trị quốc gia; phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước; hoàn thiện các chính sách và cơ chế quản lý kinh tế, an sinh xã hội; kiện toàn các tổ chức trong hệ thống chính trị,v.v.. với những bước đi và phương pháp thích hợp. Trong tiến trình đó, Đảng đã khẳng định được vị thế là lực lượng lãnh đạo Nhà nước, xã hội và đó chính là kết quả sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; trong đó, có sự đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, “công tác xây dựng Đảng còn không ít hạn chế, khuyết điểm… Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của không ít tổ chức đảng còn thấp, thậm chí có nơi mất sức chiến đấu… Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng chưa đủ sức răn đe, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái…Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước”[22]… Bộ phận “mọt dân” đó đã làm mất uy tín, danh dự của Đảng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng và tính tiền phong, gương mẫu của người đảng viên; làm mục ruỗng bộ máy Đảng, Nhà nước từ bên trong, làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng và các cơ quan công quyền. Nghiêm trọng là, “những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”[23]… Vì thế, để tăng cường công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng; để những trăn trở, tâm nguyện của Hồ Chí Minh trong Di chúc được thực hiện sinh động trong thực tiễn, trong thời gian tới, cấp ủy các cấp cần tập trung thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm sau: Thứ nhất, tiếp tục nâng cao nhận thức của cấp ủy các cấp, các ban, ngành chức năng và của mỗi cán bộ, đảng viên về tầm quan trọng của công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, tập trung thực hiện mục tiêu: “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức”[24]. Trong đó, tăng cường và quyết liệt gắn thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ” với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, với các quy định: về những điều đảng viên không được làm, về nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là Quy định 08-QĐi/TW của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương. Coi đó là giải pháp đột phá, là điều kiện tiên quyết để làm trong sạch Đảng, nâng cao sức chiến đấu của Đảng, phòng và chống nguy cơ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Thứ hai, tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, đấu tranh bảo vệ, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đường lối đổi mới cho cán bộ, đảng viên, những cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, các ngành. Kiên định thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng, nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng có hiệu lực, hiệu quả; đồng thời, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, giữ vững bản lĩnh chính trị của Đảng, của tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên gắn với đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, xây dựng cơ chế phòng ngừa sự tha hóa quyền lực, ngăn chặn quan hệ “lợi ích nhóm”. Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, Điều lệ Đảng gắn với phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu, gắn với khắc phục tình trạng dân chủ, tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát hình thức, nể nang, ngại va chạm,v.v.. để kịp thời phát hiện và ngăn chặn những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, củng cố và tăng cường đoàn kết nội bộ. Thứ ba, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, đổi mới và làm phong phú các chuyên trang, chuyên mục, các giải thưởng báo chí, các tác phẩm văn học nghệ thuật liên quan đến công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, đến thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” từ Trung ương xuống đến địa bàn cơ sở. Lựa chọn, xây dựng và nhân rộng các gương điển hình trong cán bộ, đảng viên, trong nhân dân về học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; nhân những hạt giống đỏ trong vườn hoa người tốt, việc tốt để tạo sức lan tỏa, lôi cuốn từ những tấm gương người thực việc thực giản dị trong cuộc sống đời thường mà ý nghĩa nhân văn lớn lao. Đồng thời, chủ động, kiên quyết và linh hoạt đấu tranh với những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, phản động, góp phần làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, thiết thực xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Thứ tư, mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao đạo đức cách mạng, phòng, chống và đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân; khắc phục biểu hiện suy thoái “không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao”[25]. Đặc biệt, phát huy sự gương mẫu, thống nhất giữa nói và làm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu trên mọi lĩnh vực, nhất là trong đấu tranh phòng và chống tham ô, tham nhũng, lợi ích nhóm, tư duy nhiệm kỳ, không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao… Đồng thời, kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những con sâu mọt tham ô, tham nhũng, v.v.. gây thất thoát tiền bạc và tài sản của nhân dân. Thứ năm, phát huy hơn nữa vai trò của nhân dân trong giám sát cán bộ, đảng viên, trong xây dựng và chỉnh đốn Đảng, để “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát” không chỉ là nằm trong nghị quyết, là khẩu hiệu mà trở thành hiện thực sinh động trong thực tiễn. Theo đó, mỗi tổ chức cơ sở đảng và cán bộ, đảng viên tăng cường hướng về cơ sở, khắc phục tình trạng quan liêu, không sâu sát cơ sở, thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của quần chúng nhân dân. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp không những phải tăng cường kiểm tra, đôn đốc, nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị, địa bàn cơ sở, lắng nghe ý kiến đóng góp của quần chúng để không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ mà còn cần phát huy tốt vai trò của các tổ chức quần chúng, tạo điều kiện để nhân dân và các tổ chức quần chúng thực hiện tốt hơn quyền dân chủ của mình trong cuộc sống, tích cực tham gia xây dựng các tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh. Thực tế, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: Xây dựng và chỉnh đốn lại Đảng là yêu cầu khách quan, tất yếu, là công việc nội tại, thường xuyên của Đảng cầm quyền, để “làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”[26]./.

CÁN BỘ CHIẾN LƯỢC CẦN NẮM VỮNG VÀ THỰC HIỆN TỐT VẤN ĐỀ TÔN GIÁO GẮN VỚI QUỐC PHÒNG - AN NINH

 


Tôn giáo là một hiện tượng xã hội, được tồn tạị lâu dài trong tiến trình phát triển của xã hội loài người. Tôn giáo là vấn đề nhạy cảm, có ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại phát triển của xã hội. Trong tình hình hiện nay, giải quyết tốt vấn đề tôn giáo là ưu tiên hàng đầu của nhiều quốc gia, dân tộc và là xu hướng chung của thời đại. Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo. Đảng ta từ khi thành lập cho đến nay luôn xác định: Tín ngưỡng, tôn giáo là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài, nhưng cũng là nhiệm vụ cấp bách trong tình hình hiện nay. Trong đó, Đảng ta cũng xác định: thực hiện tốt vấn đề tôn giáo gắn với thực hiện nhiệm vụ QP-AN là nội dung quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đặc biệt trong tình hình hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình” chống cách mạng Việt Nam với phương châm lấy chống phá về chính trị, tư tưởng làm hàng đầu, kinh tế làm mũi nhọn, ngoại giao làm hậu thuẫn, tôn giáo, dân tộc làm ngòi nổ, kết hợp với bạo loạn lật đổ, uy hiếp, răn đe, gây sức ép về quân sự.  Vì vậy, công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta chỉ có thể thành công trên cơ sở lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động, đồng thời phải xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của đất nước và gắn với đặc điểm của thời đại hiện nay. Tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, trước hết đòi hỏi Đảng phải đổi mới tư duy, nhìn nhận và đánh giá đúng những vấn đề lý luận và thực tiễn, trong đó có vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo đang và sẽ có nhiều biểu hiện mới, đa dạng, phức tạp, cần giải quyết đúng đắn.

Vì vậy, việc nghiên cứu, nắm vững và thực hiện tốt đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về tôn giáo gắn với QP-AN có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cấp bách đối với cán bộ cấp chiến lược hiện nay.

Phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” cần kiên quyết

Phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” vốn là công việc rất khó khăn, phức tạp, vì nó liên quan tới vấn đề tư tưởng, biểu hiện âm thầm, gặm nhấm dần lòng tin, xói mòn dần phẩm chất đạo đức của cá nhân, tổ chức. Trong thực tế thì hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cũng liên quan cả gián tiếp và trực tiếp tới công tác xây dựng tổ chức, xây dựng con người, công tác cán bộ v.v.. Hơn nữa, khi thực hiện nhiệm vụ này rất dễ đụng chạm đến danh dự, lợi ích, quan hệ của mỗi con người. Tuy khó nhưng không thể không làm, vì vấn đề này có liên quan đến sinh mệnh chính trị, uy tín của Đảng và sự tồn vong chế độ. Bởi thế, ngoài quan điểm tích cực và chủ động thì việc kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là rất quan trọng. Nếu không kiên quyết trong phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thì việc thực hiện sẽ trở nên “nửa vời” và không đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra. Để thể hiện tính kiên quyết trong phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thì trong quá trình thực hiện phải nắm vững nguyên tắc kỷ luật tự giác, nghiêm minh của Đảng, chống phải đi đôi với xây và phải lấy xây làm chính. Cần phải tiến hành đồng bộ, toàn diện đối với mọi tổ chức, cá nhân, gắn kết chặt chẽ giữa đấu tranh, phê bình với các biện pháp hành chính, pháp luật và kinh tế. Việc tạo ra phong trào và hành động cụ thể, thiết thực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân khi đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là rất cần thiết. Có một số vấn đề cần tập trung, đó là: Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý cao cấp, vấn đề này đã được Đảng ta chú trọng thực hiện trong thời gian qua và đã thu được những kết quả nhất định; kiên quyết sử dụng nhiều biện pháp để đấu tranh phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; kiên quyết thực hiện phê bình, tự phê bình. Khi có dấu hiệu vi phạm thì dù cán bộ ở cương vị nào cũng cần phải được kiểm điểm, phê bình, xử lý kịp thời, mạnh mẽ, không "dĩ hòa vi quý", không nể nang, rơi vào chủ nghĩa cá nhân, không có vùng cấm, không loại trừ cán bộ chủ chốt, cán bộ cấp cao tự coi mình là "bề trên", đứng ngoài tổ chức. Những biểu hiện, những đối tượng như thế càng phải kiên quyết trong đấu tranh, khắc phục, loại trừ, bởi đó thực sự là "mầm họa" của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", là nguyên nhân sâu xa nhưng trực tiếp dẫn tới làm ảnh hưởng đến uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng.