Quyền con
người là thành tựu chung của nhân loại và luôn là khát vọng cháy bỏng của con
người dù bất kể chế độ chính trị nào.
Dù vậy, đã
từ lâu, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch lại sử dụng quyền con người
như một vũ khí lợi hại để chống phá Việt Nam, mà thực chất là muốn xóa bỏ vai
trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phá bỏ con đường mà nhân dân Việt Nam
đã lựa chọn.
Thành
tựu không phải của riêng phương Tây
“Lập lờ
đánh lận con đen”, các thế lực thù địch chống phá, xuyên tạc sự thật về tự do,
dân chủ ở Việt Nam tự cho rằng: “Quyền con người là thành tựu riêng có của
phương Tây”... Từ sự nhận xằng đó, họ áp đặt “các giá trị phổ quát”, lấy nhân
quyền cao hơn chủ quyền để ra điều kiện với Việt Nam với ý đồ chống phá chứ
không phải vì mục tiêu là sự tiến bộ.
Điều đương nhiên, không phải chỉ đến
cách mạng tư sản với sự ra đời của nhà nước tư sản mới có quyền con người. Thực
chất, quyền con người xuất hiện từ khi con người ý thức về sự tồn tại của mình
và ý thức về nhu cầu, lợi ích cá nhân trong các quan hệ xã hội.
Tư tưởng và nội hàm về quyền con người
đã xuất hiện từ sớm và tồn tại trong mọi nền văn hóa. Về bản chất, quyền con
người là các quyền bẩm sinh thuộc sở hữu vốn có của mọi người, nó gắn liền với
hành động công nhận, thừa nhận chứ không phải là ban phát, từ chối hay tước
đoạt vô cớ. Nó bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người, đó là các
quyền và tự do cơ bản của con người trên lĩnh vực quyền dân sự, chính trị;
quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Lịch sử phát triển của xã hội, xét đến cùng
đều là lịch sử đấu tranh vì quyền con người. Điều đó càng khẳng định chân lý,
quyền con người là giá trị chung của nhân loại.
Khẳng định như vậy có ý nghĩa hết sức
quan trọng vì nó chỉ ra nguồn gốc của quyền con người. Tuy vậy, thuật ngữ
“quyền con người” ra đời khá muộn, gắn liền với cuộc cách mạng tư sản nên nó
thường bị lợi dụng để gây hiểu lầm rằng nó là thành tựu của riêng phương Tây.
Chúng ta có đầy đủ cơ sở để bác bỏ
quan điểm sai trái, coi quyền con người là phát kiến, là giá trị riêng có của
các nước phương Tây. Đây cũng là cơ sở để góp phần khắc phục các biểu hiện
phiến diện, cực đoan, quay lưng, khước từ những giá trị tiến bộ, văn minh hoặc
chấp nhận sự áp đặt mô hình của nước này cho nước khác.
Lịch sử đã chứng minh, những tư tưởng
về quyền con người cũng như những quy định trong luật pháp và kết quả đạt được
về quyền con người là thành quả đấu tranh lâu dài, gian khổ của nhân dân lao
động và các dân tộc bị áp bức, qua mọi thời kỳ phát triển.
Đó cũng là thành quả của cuộc đấu
tranh của loài người làm chủ thiên nhiên; qua đó, quyền con người trở thành giá
trị chung của nhân loại. Vì là giá trị chung của nhân loại nên tất cả các quốc
gia, dân tộc không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển đều có quyền
thụ hưởng và có nghĩa vụ bảo vệ, phát triển giá trị xã hội cao quý này.
Áp đặt là vô nghĩa
Áp đặt tiêu chuẩn dân chủ, nhân quyền
phương Tây trên phạm vi toàn cầu nói chung và với Việt Nam nói riêng là cách
thức rất vô lý và hoàn toàn không phù hợp với thực tiễn. Ngay trong Hiến chương
Liên hợp quốc cũng nhấn mạnh: Không quốc gia nào, kể cả Liên hợp quốc, có quyền
can thiệp vào công việc thực chất thuộc thẩm quyền quốc gia. Vậy mà, một số
nước phương Tây lại tự cho mình có quyền áp đặt các “giá trị phương Tây” nhằm
tác động vào việc xây dựng pháp luật, hoàn thiện thể chế, thúc đẩy phát triển
xã hội dân sự, nhằm tạo ra lực lượng đối trọng với Chính phủ Việt Nam thì thật
khó chấp nhận.
Một số nước này luôn sử dụng “tiêu
chuẩn kép” về quyền con người. Họ áp đặt quan điểm “quyền con người phổ quát”
nhưng theo kiểu “nhân quyền cao hơn chủ quyền”. Trong các chiêu bài áp đặt, họ
luôn kêu gọi, khuyến khích các đòi hỏi cực đoan, hành vi vi phạm pháp luật,
chống đối chính quyền thông qua các hình thức “bất tuân dân sự”, “kiến nghị tập
thể”, “đấu tranh bất bạo động”... nhằm phá hoại sự ổn định và phát triển của
Việt Nam.
Thực tiễn đang chứng minh một nghịch
lý, trong khi không ngừng thúc ép các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam cải
thiện nhân quyền, nhưng ở chính nội tại một số nước đó vẫn áp dụng chính sách
phân biệt đối xử. Có những nước lớn luôn tỏ ra quan tâm quá mức đến nhân quyền
ở các nước khác thì sự bất công về phân biệt đối xử giữa người da trắng và
người da đen chưa bao giờ chấm dứt. Hố sâu phân hóa giàu nghèo đang ngày càng
xa hơn.
Trong khi những tỷ phú đô la ở nước đó
có quyền năng rất lớn thì rất nhiều người sống trong nghèo khổ; nhiều con người
vẫn bị tước đoạt mạng sống bởi tình trạng súng đạn mất kiểm soát. Thậm chí có
những nước lớn đến nay vẫn chưa phê chuẩn một số công ước quốc tế quan trọng về
quyền con người, trong đó có Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 (CRC).
Một số nước phương Tây hiện nay vẫn
đang sử dụng hình thức viện trợ, hợp tác để công khai lôi kéo và hỗ trợ cho
hoạt động đối lập, bất đồng chính kiến ở Việt Nam, thậm chí đưa các yêu sách
cải thiện nhân quyền thành điều kiện cho hợp tác song phương và đa phương là vô
lý. Các nước trên thế giới ở những trình độ phát triển khác nhau nên không thể
lấy giá trị, tiêu chuẩn của nước này áp đặt cho nước khác.
Trong xã hội còn giai cấp, còn nhà
nước thì một vấn đề tất yếu là quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc. Chỉ
thị số 12/CT/TW của Ban Bí thư ngày 12-7-1992 “về vấn đề quyền con người và
quan điểm, chủ trương của Đảng ta” khẳng định: “Trong xã hội có phân chia giai
cấp đối kháng, khái niệm nhân quyền mang tính giai cấp sâu sắc”.
Bởi vậy, việc áp đặt tiêu chuẩn của
một nước này cho một nước khác về các tiêu chí nhân quyền là hoàn toàn vô lý.
Trên phạm vi quốc tế, tính giai cấp của khái niệm quyền con người được thể hiện
trong cuộc đấu tranh giữa lực lượng cách mạng, tiến bộ với các lực lượng phản
động, phản tiến bộ. Ngày nay nó được biểu hiện chính là dưới hình thức thúc đẩy
chiến lược “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn, lật đổ...
Bảo đảm quyền con người trước hết và
chủ yếu thuộc trách nhiệm của mỗi quốc gia. Trách nhiệm pháp lý này đã được
Liên hợp quốc quy định trong các văn kiện quyền con người quốc tế. Dù đã được
quốc tế hóa nhiều mặt, nhưng việc bảo đảm quyền con người chủ yếu vẫn thuộc
thẩm quyền của các quốc gia. Sự hợp tác trên lĩnh vực quốc tế về quyền con
người là rất quan trọng, vì có thể bổ sung thêm nguồn lực và kinh nghiệm trong
việc bảo đảm quyền con người. Tuy nhiên, các cơ chế quyền con người quốc tế chỉ
nhằm bổ sung chứ không thể thay thế các cơ chế đang vận hành tại các quốc gia.
Đối với việc bảo đảm các quyền kinh
tế, xã hội và văn hóa, trách nhiệm của quốc gia càng rõ ràng, không bất cứ một
quốc gia hay tổ chức quốc tế nào có thể đảm đương được công việc bảo đảm các
quyền này thay cho mỗi nhà nước. Đây là những nguyên tắc cần được nhận thức rõ
ràng, đầy đủ. Độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là đòi hỏi hàng đầu trong
việc bảo đảm và thực thi quyền con người.
Một yếu tố quan trọng khác trong xem
xét vấn đề quyền con người, đó là phải đặt nó trong bối cảnh lịch sử, truyền
thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của đất
nước đó. Chính điều này đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận thông qua Tuyên bố
Vienna và Chương trình Hành động tại Hội nghị thế giới về nhân quyền năm
1993 tại Vienna (Áo).
Tuyên bố đã khẳng định khi xem xét vấn
đề nhân quyền phải luôn ghi nhớ tính đặc thù dân tộc, khu vực và bối cảnh khác
nhau về lịch sử, văn hóa và tôn giáo... Như vậy, không thể áp đặt hay sao chép
máy móc các tiêu chuẩn, mô thức của nước này cho nước khác.
Việc một số nước nào đó tự cho mình
quyền áp đặt chuẩn mực cho quốc gia khác, rồi lại tự cho phép mình bảo vệ quyền
con người ở mọi nơi theo ý đồ của họ, bất chấp chủ quyền của các quốc gia đó là
điều không thể chấp nhận. Quyền con người là giá trị được kết tinh từ những
thành tựu, kinh nghiệm đặc sắc trong lịch sử, truyền thống, văn hóa của mỗi
quốc gia.
Tính phụ thuộc của quyền con người còn
bắt nguồn từ sự phát triển không đều về mọi mặt của thế giới, nên quyền con
người cũng không thể được đáp ứng như nhau giữa các quốc gia, mà phụ thuộc vào
trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi nước. Việt Nam đã tiệm cận
rất rõ quan điểm này từ sớm, thể hiện trong Chỉ thị số 12/CT/TW của Ban Bí thư
ngày 12-7-1992: “Nhân quyền luôn luôn gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ
thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa của đất nước. Do vậy, không thể
áp đặt hoặc sao chép máy móc các tiêu chuẩn, mô thức của nước này cho nước
khác”.
Chính trong hệ thống pháp luật quốc tế
về quyền con người cũng cho phép một quốc gia bảo lưu những điều khoản cụ thể
khi tham gia một công ước, hoặc có các nghị định thư bổ sung cho một công ước
nào đó, thể hiện việc chưa ngang bằng giữa các quốc gia.
Mỗi quốc gia có quyền lựa chọn các
giải pháp tối ưu cho việc cân bằng giữa ổn định xã hội với việc bảo đảm đầy đủ
quyền con người, có quyền xây dựng lộ trình trong việc thực hiện cam kết đối
với các điều ước quốc tế về quyền con người. Như vậy mọi sự sao chép, áp đặt
các mô hình dân chủ, quyền con người là không thể chấp nhận.








