Thứ Hai, 13 tháng 12, 2021

Ứng xử với “công bộc ma-nơ-canh”

“Công bộc ma-nơ-canh” là tiếng lóng của một bộ phận người dùng mạng xã hội (MXH) để chỉ những cán bộ, công chức có thói quen “làm màu”, “diễn sâu”, tô hồng, đánh bóng bản thân. Sự xuất hiện những dạng “công bộc ma-nơ-canh” chính là tác nhân kìm hãm sự phát triển, ảnh hưởng đến môi trường văn hóa công sở. Nếu không kịp thời chấn chỉnh, khắc phục, biểu hiện “công bộc ma-nơ-canh” sẽ dẫn tới suy thoái phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức trong tổ chức đảng và hệ thống chính trị. Ai là ma-nơ-canh? Ma-nơ-canh là con búp bê bằng nhựa hoặc chất liệu nhẹ, có kích thước tương đương người thật, được sử dụng phổ biến trong ngành may mặc và các cửa hàng kinh doanh quần áo, trang sức. Vì là sản phẩm phục vụ cho quảng cáo, kinh doanh nên ma-nơ-canh được sản xuất theo các chỉ số, số đo chuẩn người mẫu. Ma-nơ-canh mặc quần áo, đeo trang sức thì rất đẹp, rất chuẩn, nhưng đó là cái đẹp vô hồn, vô cảm... Đưa hình ảnh mang tính tu từ này vào đời sống, trước hết là ở môi trường nghệ thuật. Khi đánh giá những diễn viên có vẻ đẹp hình thể xuất sắc nhưng hạn chế, yếu kém về kỹ năng diễn xuất, giới chuyên môn và công chúng gọi đó là “diễn viên ma-nơ-canh”. Một dạo, không ít nhà sản xuất, đạo diễn trong nghệ thuật thứ bảy có trào lưu mời những người đẹp trong giới người mẫu, hoa hậu, ca sĩ... nổi tiếng tham gia đóng phim. Cùng với công nghệ lăng xê, sự xuất hiện của những “chân dài” nổi tiếng là nhân tố chính thu hút khán giả đến phòng vé. Tuy nhiên, số diễn viên tay ngang này thành công trong nghiệp diễn xuất không nhiều. Phần lớn họ đều bị đánh giá là ma-nơ-canh, là “bình hoa di động”... Chất lượng của tác phẩm nghệ thuật vì thế cũng nhanh chóng chết yểu sau những ồn ào nhất thời... Đó là chuyện của đời sống giải trí. Chuyển sang môi trường công tác của cán bộ, đảng viên, công chức trong hệ thống chính trị các cấp, ở từng cơ quan, đơn vị, tổ chức... không khó để nhận ra những dạng “công bộc ma-nơ-canh”. Khác với “chân dài” đi đóng phim thường bị chê diễn xuất tồi, những ma-nơ-canh trong hàng ngũ cán bộ, công chức lại biểu hiện ở khả năng “diễn” và “đổi màu” trong các hành vi ứng xử. Trong đợt dịch Covid-19 bùng phát ở TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam vừa qua, ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương đã lộ ra những ma-nơ-canh như vậy. Có người suốt ngày này qua tháng khác cứ đến công sở, đóng cửa ngồi im ỉm trong phòng, không dám ra ngoài vì sợ bị lây nhiễm, nhưng khi nghe tin có đoàn cấp trên đi kiểm tra thì xăng xái đi theo. Họ nhoi lên phía trước, đi gần lãnh đạo cấp trên để được ghi hình, xuất hiện “ké” trên truyền thông. Thỉnh thoảng lại sử dụng xe công chạy lòng vòng, đến một số nơi dàn dựng hình ảnh để tung lên mạng xã hội "làm màu". Những hình ảnh được họ sử dụng như là những “luận cứ” để tô hồng báo cáo thành tích. Biểu hiện này trên mạng xã hội, người ta gọi là “diễn sâu”. Cùng với đó là sự xảo biện, tạo dựng thành tích “ảo”, nói rất hay, báo cáo “khống” thành tích trong các hội nghị. Họ lấy quyền của người đứng đầu để tâng công, tự tô vẽ chân dung cá nhân trước cấp trên. Biểu hiện này là thủ thuật “đổi màu”. Nó chẳng khác gì thay áo cho ma-nơ-canh. Bên cạnh đó là cách làm việc thu mình, cầu an, sợ trách nhiệm. Mặc dù yêu cầu nhiệm vụ đặt ra rất cao, thực tiễn đòi hỏi cán bộ phải chủ động dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm nhưng với những cán bộ dạng này, họ luôn tìm cách đẩy cái khó cho nơi khác, đùn đẩy trách nhiệm cho người khác. Trong lúc thực tiễn đời sống có rất nhiều việc, nhiều cơ hội đến với địa phương, tổ chức, đơn vị do mình phụ trách, nhưng vì sợ trách nhiệm, họ phải “vo tròn” bản thân trong cái áo khoác bình an. Trong cao điểm chống dịch, khi nguồn hàng viện trợ các nơi dồn dập đổ về TP Hồ Chí Minh, không ít doanh nghiệp, tổ chức đã phải gọi điện đến các cơ quan báo chí “cầu cứu”. Ấy là bởi khi hàng chuyển đến địa phương, doanh nghiệp không thể liên hệ được với cán bộ để bố trí bốc hàng xuống cung cấp cho dân. Hậu quả là có nơi hàng tấn rau, củ, quả bị thối, lương thực, thực phẩm không có nơi bảo quản, bị hư hỏng. Vụ việc lô hàng 22.000 hộp sữa do kiều bào Australia viện trợ bị “kẹt” cả tháng trời mới được thông quan khiến dư luận "dậy sóng" vừa qua là một ví dụ. Nếu vấn đề này không được đại biểu Quốc hội đưa ra trong các phiên họp của Quốc hội vừa qua và báo chí, truyền thông không phản ánh thì số phận của lô hàng chưa biết sẽ thế nào, vì nếu để quá hạn sử dụng thì coi như đồ bỏ... Khi giải thích về sự chậm trễ, bất cập trong những trường hợp tương tự, người ta thường đổ lỗi do cơ chế, quy trình... mà cố tình quên rằng cơ chế nào, quy trình nào cũng đều do con người sinh ra. Cái gốc của vấn đề là sự tắc trách của cán bộ, không dám quyết, không dám làm vì sợ trách nhiệm... Những biểu hiện của “công bộc ma-nơ-canh” như thế không phải đến bây giờ mới có mà nó đã xuất hiện từ lâu, tồn tại trong hệ thống chính trị như một lực cản của phát triển. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ rõ tình trạng này, đó là: “Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình...”. Và đây cũng chính là những mầm mống suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng. Ứng xử thế nào? “Công bộc ma-nơ-canh” không hiếm trong tổ chức đảng và hệ thống chính trị các cấp hiện nay. Nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid-19 gian khổ, khốc liệt vừa qua như một cuộc sát hạch lớn, làm lộ ra chân tướng của không ít ma-nơ-canh trong hàng ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương. Nhiều người trong số đó đã bị xử lý kỷ luật, đình chỉ công tác, cách chức hoặc điều chuyển sang vị trí khác. Những cuộc họp trực tuyến và những chuyến thị sát thực tế ở cơ sở liên tục của Thủ tướng trong cao điểm chống dịch vừa qua cho thấy, không ít cán bộ, người đứng đầu ở các cơ quan, đơn vị, địa phương rất bàng quan, thụ động, lơ là trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Nhiều cán bộ không nắm được tình hình dịch bệnh của địa phương mình dẫn đến lúng túng, chậm trễ trong chỉ đạo, tổ chức chống dịch. Đây là một trong những nguyên nhân khiến dịch bệnh bùng phát, diễn biến phức tạp... Thực tế cho thấy, không ít cán bộ chủ chốt suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống kéo dài, nhưng cấp ủy, tổ chức đảng không phát huy được vai trò giám sát, đấu tranh, ngăn chặn. Một phần lỗi là do cấp trên trực tiếp thiếu phương pháp làm việc bao quát, cụ thể, thường chỉ nghe cấp dưới báo cáo một chiều. Thực trạng này dẫn đến sự lây nhiễm “virus ma-nơ-canh” từ dưới lên trên, trùm từ trên xuống dưới, rất nguy hại cho môi trường văn hóa trong Đảng và hệ thống chính trị. Phương pháp làm việc của người đứng đầu Chính phủ trong chỉ đạo phòng, chống dịch Covid-19 vừa qua gợi mở cho cán bộ các cấp, các địa phương rất nhiều vấn đề. Trước hết đó là sự sâu sát, kịp thời, nhạy bén, linh hoạt trong chỉ đạo. Đứng trước những thử thách, khó khăn, cán bộ phải có tầm nhìn vừa bao quát vừa cụ thể thì mới có thể chỉ đạo đúng và trúng các vấn đề thực tiễn đặt ra. Ở phương diện xây dựng, chỉnh đốn Đảng, sự sâu sát, cụ thể, quyết liệt của người đứng đầu và cấp trên sẽ giúp tổ chức đảng nhận diện rõ những "biểu hiện ma-nơ-canh” trong nội bộ. Khi chân tướng của những chiêu trò, thủ đoạn tô hồng, đánh bóng bản thân hay kiểu sống thu mình, “vo tròn” vì sợ trách nhiệm bị phơi bày, thông qua môi trường dân chủ, đấu tranh phê bình và tự phê bình trong tổ chức đảng sẽ giúp cán bộ “tự rửa mặt” để khắc phục hạn chế, khuyết điểm, xứng đáng hơn với cương vị, chức trách được giao. Điều 11, Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm đã chỉ rõ: “Vi phạm đạo đức công vụ, bao che, báo cáo sai sự thật khi thực hiện nhiệm vụ; thiếu trách nhiệm để cơ quan, đơn vị, địa phương, cá nhân do mình trực tiếp quản lý xảy ra tình trạng mất đoàn kết, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và các vi phạm khác”... Quy định số 41-QĐ/TW về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ cũng nêu rõ: Những cán bộ “bị cơ quan có thẩm quyền kết luận suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; vi phạm những điều đảng viên không được làm; vi phạm trách nhiệm nêu gương, ảnh hưởng xấu đến uy tín của bản thân và cơ quan, đơn vị nơi đang công tác” là căn cứ để xem xét miễn nhiệm, từ chức. Như vậy, kỷ luật trong Đảng, hành lang pháp lý để xử lý những cán bộ vi phạm ngày càng được Đảng ta coi trọng, hoàn thiện bằng những quy định rất cụ thể. Đó chính là những căn cứ, đồng thời là giải pháp để chấn chỉnh, xử lý nghiêm minh các biểu hiện suy thoái của những dạng “công bộc ma-nơ-canh”.

Ngành tuyên giáo Hà Nội với nỗ lực giữ bình yên cho thủ đô văn hiến (Phần II)

Tạo sóng dư luận... hòng bào mòn niềm tin Kết quả khảo sát người dân tại 9 đơn vị hành chính cấp huyện trực thuộc TP Hà Nội cho thấy, sở dĩ ở thủ đô sóng dư luận xã hội thường dâng cao là bởi đặc thù văn hóa riêng có và trình độ dân trí địa phương. Theo các chuyên gia tâm lý, Hà Nội có trình độ dân trí cao, thậm chí rất cao; trong đó, phần đông là những công dân có học thức và thái độ trách nhiệm cộng đồng. Thế nhưng, chính những yếu tố ấy lại tiềm ẩn những tiêu cực. Có nghĩa là, vì quá quan tâm đến các vấn đề chính trị nên người dân thường có tâm lý muốn thể hiện chính kiến, lập trường, quan điểm cá nhân. Một số người cho rằng mình là trí thức, có năng lực, có khả năng đóng góp trí tuệ, công sức cho cộng đồng nên tự trao cho mình cái quyền được nói, được viết, được tự do phát ngôn... Nắm rõ đặc thù đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội tập trung triệt để lợi dụng. Chúng gieo rắc các tin đồn, tin giả... hòng lôi cuốn, dẫn dắt dư luận xã hội. Thực tế cho thấy, có không ít cán bộ, quần chúng đã vô tình góp sức cho những “cơn sóng... tiêu cực” trong dư luận thủ đô. Thông qua internet, các nền tảng mạng xã hội (Facebook, Youtube), không ít cán bộ, đảng viên vô tình comment, like, share những bài viết mang màu sắc phản động. Không ít cá nhân vô tình cổ súy, đăng tải, like, share thông tin sai sự thật, gây bất lợi cho nỗ lực của chính quyền và nhân dân thành phố. Trong số đó, có cả những thành phần tha hóa, biến chất, đã thật sự "trở cờ" và có sự móc nối, liên kết với thế lực bên ngoài để chống phá Đảng, Nhà nước, cố tình quấy rối, gây nhiễu loạn thông tin về đất nước và thủ đô. Chúng cố tình kéo theo sự cổ súy, tán dương, ngợi ca, like, share những nội dung trên, dẫn đến tư tưởng, tâm lý xã hội bất ổn và gián tiếp tạo ra các nguy cơ gây mất an toàn chính trị-xã hội. Từ thực tế đó có thể khẳng định, phía sau những cơn sóng dư luận tiêu cực luôn có bóng dáng của các thế lực thù địch ngày đêm muốn phá sự bình yên của thủ đô. Chúng luôn săn đón, sẵn sàng can thiệp để tạo sự đồng cảm, ủng hộ của một bộ phận quần chúng, dựng lên những màn kịch hỗ trợ, tung tin giả, thông tin sai sự thật, “kêu gọi” sự giúp đỡ quốc tế. Mục đích của chúng là dụ dỗ, lôi kéo người dân lên tiếng phản đối chính quyền, tiến tới gây rối an ninh, trật tự. Đó là những chiêu bài “cũ” mà như “mới” của âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ do các thế lực thù địch luôn âm thầm tiến hành trong lòng Thủ đô Hà Nội. Đó là những bước hiện thực hóa mưu đồ bóp nghẹt “trái tim của cả nước”, rồi từng bước gây tê liệt các địa phương khác, dẫn đến phá hỏng hệ thống, gây sụp đổ chế độ từ bên trong. Nhìn lại những vụ việc được nêu ra ở trên để nhận rõ bộ mặt ẩn giấu của các thế lực thù địch, phản động. Việc chặt cây ở đường Phạm Văn Đồng sẽ không nóng nếu không có sự xuất hiện các thế lực thù địch, phản động, chống đối “té nước theo mưa” để kích động dư luận lên tiếng theo những thông tin do chúng suy diễn, bịa đặt. Rồi, hàng loạt tờ báo mạng, website có trụ sở ở nước ngoài và blogger "hăng hái" vào cuộc, cố tình bóp méo sự thật, “lái” những bức xúc, bất bình của người dân sang bôi nhọ cấp ủy, chính quyền, phủ nhận chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa. Như vậy, mục đích của những kẻ bên kia chiến tuyến không phải là phê bình việc “chặt cây” mà là cố tình “đốn người”, nhằm thay thế những nhà lãnh đạo thành phố, từ đó tạo sự bất ổn chính trị, kích động quần chúng chống phá chính quyền. Hay như sự vụ ở Đồng Tâm (Mỹ Đức, Hà Nội) có nguyên nhân trực tiếp chính là hoạt động chống đối của một số đối tượng trong cái gọi là “tổ đồng thuận”, có sự hậu thuẫn, chỉ đạo từ lực lượng phản động. Những kẻ hiềm khích này đánh lừa dư luận, kích động bức xúc trong nhân dân để hiện thực các ý đồ chính trị và kinh tế của chúng. Đặc biệt nguy hiểm, sự việc này đã bị các thế lực thù địch, phản động kêu gọi, hướng lái dư luận, quốc tế hóa. Một số đài báo nước ngoài với cái nhìn thiếu thiện chí, thường xuyên xuyên tạc tình hình Việt Nam, như: BBC tiếng Việt, VOA, RFA, RFI... tiếp tục có nhiều bài viết sai sự thật. Tổ chức khủng bố Việt Tân cũng kêu gọi các tổ chức quốc tế can thiệp, cổ súy cho việc quyên góp ủng hộ “các nạn nhân Đồng Tâm”. Qua tài liệu thu thập được sau công tác rút kinh nghiệm về sự vụ ở Đồng Tâm cho thấy, một số tổ chức lưu vong, phần tử chống đối đã tài trợ tiền, hướng dẫn “tổ đồng thuận” cách làm bom xăng, tạo quả nổ, hướng dẫn mua sắm vật tư làm vũ khí... “Tổ đồng thuận” đã thể hiện rõ là một ổ, nhóm tội phạm có tổ chức. Ngoài tuyên bố “tử chiến giữ đất”, sẵn sàng tiêu diệt lực lượng chức năng; số người này còn đe dọa lãnh đạo xã và người dân không hợp tác với chúng. Chúng cũng thường xuyên viết đơn gửi các cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế lu loa chính quyền đàn áp “dân oan”, hòng “quốc tế hóa” vấn đề, biến Đồng Tâm thành điểm nóng chính trị. Như vậy, dễ nhận thấy, đằng sau câu chuyện dân sinh, bức xúc của người dân là những màn kịch được dựng lên để “tấn công” Thủ đô Hà Nội bằng những cơn sóng dư luận tiêu cực. Thủ đoạn của chúng thường bám sát diễn biến các điểm nóng, lợi dụng các trang tin chuyên chống phá Việt Nam, các trang mạng xã hội để liên tục đăng tải các tin bài về sự vụ, xen lẫn những bình luận xuyên tạc, những câu chuyện sai sự thật, định hướng, kêu gọi dư luận trong và ngoài nước lên tiếng. Đồng thời, thông qua các tổ chức phản động lưu vong, các hội dân chủ, nhân quyền... chúng gửi đơn, thư nhằm “bảo vệ” các nạn nhân đang “đấu tranh” ở Hà Nội. Chúng từng bước tìm cách liên lạc, hỗ trợ, can thiệp cả về vật chất và tinh thần cho các phần tử cực đoan, chống đối ở các “điểm nóng”. Và đỉnh điểm, thông qua các phần tử đó, chúng sẽ kích động quần chúng nhân dân phản đối chống chính quyền, tụ tập đông người, gây rối với lực lượng chức năng, sử dụng bạo lực để gây bạo loạn lật đổ ở từng địa phương. Từ chính những âm mưu, thủ đoạn đó, muốn giữ sự bình yên cho Hà Nội, đòi hỏi các cấp ủy, chính quyền phải thật sự quyết tâm, quyết liệt ngăn chặn những “con sóng ngầm” trong dư luận xã hội, mà trong đó, những người làm công tác tuyên giáo của Hà Nội có vai trò và sứ mệnh không hề nhỏ.

Ngành tuyên giáo Hà Nội với nỗ lực giữ bình yên cho thủ đô văn hiến

Sẽ ít người có thể hình dung, để có một Thủ đô Hà Nội-thành phố của hòa bình với nhịp điệu yên ả, thanh bình, điểm đến an toàn, thân thiện của bạn bè quốc tế... thì thời gian qua, lãnh đạo Hà Nội và những người có trách nhiệm của ngành tuyên giáo thủ đô ngày đêm lăn xả, dấn thân vào cuộc chiến không tiếng súng; kịp thời phát hiện, đấu tranh, đẩy lùi mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, góp phần mang lại sự bình yên cho thủ đô ngàn năm văn hiến. Những năm qua, Hà Nội chứng kiến nhiều làn sóng dư luận tiêu cực, mang theo không ít "biến chủng virus", gieo rắc mầm bệnh nguy hại vào đời sống tư tưởng, tâm lý xã hội. Đây thực chất là những biến tướng, trá hình của dư luận, do các thế lực thù địch, phản động cố tình tạo dựng, hòng thực hiện những ý đồ chính trị xấu xa, thâm độc. Biến tướng... của dư luận? Hà Nội vào Đông, cái lạnh se sắt nhưng trong câu chuyện với chúng tôi, nhiều vấn đề nóng được các đồng chí ở Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội thẳng thắn chia sẻ. Theo đó, những năm gần đây, chưa bao giờ dư luận xã hội trên địa bàn Thủ đô vơi bớt những đợt sóng trái chiều, tiêu cực, kết nên điểm nóng dư luận trên cả không gian mạng và ngoài đời sống thực tế, gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tinh thần của người dân; thậm chí còn cản trở, kéo chậm nhịp điệu phát triển của thành phố. Lãnh đạo Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội so ví, nếu như những con sóng biển ập vào bờ ngày đêm thì ắt sẽ xói mòn cát đá; còn sóng dư luận tiêu cực liên tục vỗ vào tâm trí người dân, thì lâu ngày sẽ gây ra sự bào mòn niềm tin trong quần chúng nhân dân. Trong khi đó, những con sóng dư luận tiêu cực và tin đồn thất thiệt vẫn hằng ngày, hằng giờ ngấm ngầm, tiềm ẩn và có thể bùng phát bất cứ lúc nào trên địa bàn Hà Nội. Một thực tế là, có không ít cơn sóng dư luận tiêu cực ở Hà Nội bỗng trỗi dậy một cách bất thường, trái với quy luật tâm lý xã hội. Chỉ cần một câu chuyện dân sinh, một vấn đề mâu thuẫn nhỏ, hay xuất hiện các vướng mắc, bất cập chưa kịp thời giải quyết thỏa đáng thì ngay lập tức dư luận bùng lên theo một cách nào đó. Thế mới có chuyện, giữa thủ đô thân thiện, bình yên, vẫn thi thoảng xuất hiện một vài người, nhóm người đứng trước trụ sở cơ quan nhà nước, mang theo băng rôn, khẩu hiệu, ra sức "kiến nghị", “kêu oan”, đặt điều yêu sách... Những hiện tượng ấy thật sự gây phản cảm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh của thủ đô. Trong khi đông đảo quần chúng thủ đô vẫn ngờ vực rằng: Những công dân kia có thật sự bị oan sai hay chỉ là những con rối bị lợi dụng, bị mua chuộc bằng những đồng tiền rẻ rúng để thực hiện phần việc bẩn thỉu vì những mưu đồ chính trị nào đó?. Thật bất thường và chẳng hiểu vì lý do gì mà nhiều sự vụ, sự việc, vấn đề diễn ra không hề hàm chứa các yếu tố gây bức xúc cộng đồng; thậm chí, nhiều chuyện còn chưa rõ đúng-sai, trắng-đen thì dư luận đã hình thành nhiều chiều đa cực. Còn nhớ, cách đây gần 5 năm, Hà Nội triển khai việc đánh chuyển, di dời, chặt hạ hơn 1.300 cây xanh hai bên đường Phạm Văn Đồng phục vụ dự án mở rộng đường Vành đai 3 đoạn Mai Dịch-cầu Thăng Long. Đây là chủ trương đúng, vì lợi ích chung, vậy mà dư luận lại một phen dậy sóng? Trên không gian mạng xuất hiện không ít “chuyên gia” ở nước ngoài và một số cá nhân tự xưng có chức tước, hùng hồn nêu quan điểm, lớn tiếng lên án, rồi “hiến kế”, đưa ra lời khuyên cho tập thể Đảng bộ TP Hà Nội phải thế này, thế kia. Chính việc này vô hình trung gây ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của các đồng chí lãnh đạo TP Hà Nội đương nhiệm và vai trò, năng lực lãnh đạo của Đảng bộ TP Hà Nội trước ánh nhìn của nhân dân. Hay như hàng loạt vấn đề, sự việc dù lớn hay nhỏ, dù trong nước hay ngoài nước, ở thủ đô hay diễn ra ở một địa phương khác, nhưng lại “ngẫu nhiên” thổi bùng làn sóng dư luận có tính chất cực đoan trên địa bàn Hà Nội. Ví như những câu chuyện liên quan đến Formosa (Hà Tĩnh) gây ô nhiễm môi trường biển miền Trung; những vi phạm pháp luật tại giáo xứ Thái Hà; các vấn đề liên quan đến tình hình Biển Đông; vấn đề về xây dựng Luật Đơn vị Hành chính-Kinh tế đặc biệt và Luật An ninh mạng; vấn đề mở rộng địa giới hành chính Hà Nội... đều gây ra những cao trào dư luận dậy sóng ở Hà Nội một cách không đáng có. Hệ quả, những làn sóng dư luận tiêu cực ấy đã gây ra nhiều phương hại, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội và phần nào bào mòn niềm tin của quần chúng. Cùng với đó là những tổn thất về mặt kinh tế, gây mất trật tự an toàn xã hội, an ninh chính trị; ảnh hưởng xấu đến “thanh danh” của thủ đô ngàn năm văn hiến, thành phố của hòa bình.

TIN GIẢ, HIỂM HỌA THẬT

Tin giả như một loại virus độc hại, nó xâm nhập, gây rối dư luận, gây rối lòng tin, thậm chí làm khủng hoảng niềm tin... Thông tin bịa đặt không phải đến bây giờ mới xuất hiện trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, trong điều kiện công nghệ mới, phương thức truyền tin, nhất là mạng xã hội phát triển sâu rộng thì tin giả càng thêm đất sống. Tin giả như một loại virus độc hại, nó xâm nhập, gây rối dư luận, gây rối lòng tin, thậm chí làm khủng hoảng niềm tin. Các thế lực phản động, thù địch và cơ hội chính trị lợi dụng điều này để xuyên tạc, kích động chống phá hòng gây mất ổn định đất nước ta. Vì thế, phải đấu tranh mạnh mẽ để loại bỏ mối hiểm họa thật sự này. 1. Tin giả, trong từ điển tiếng Anh và truyền thông quốc tế sử dụng gọi là fake news. Bản thân nó có nghĩa để chỉ tin rác, tin giả mạo được tuyên truyền nhằm cố ý lừa bịp người khác. Ở Việt Nam, trong đời sống dân gian, loại tin đó được gọi nôm là “tin vịt”. Tin này dứt khoát không bao giờ đúng với thực tế, nó được đưa ra để nhằm đánh lừa, tạo sự hiểu sai về một vấn đề, sự kiện nào đó. Đáng tiếc, tin giả giờ đây không chỉ được lan truyền miệng từ người này sang người kia mà thông qua các hiệu ứng truyền thông, mạng xã hội, nó lan truyền với tốc độ chóng mặt. Vì là tin bịa đặt, nên nó được cường điệu cho nên hàm chứa sự ly kỳ, hấp dẫn, dễ đánh vào xúc cảm, tâm lý của những người mà độ “hóng” cao. Thật buồn khi có những cán bộ, đảng viên lại không phân tích đúng, sai, cả hữu ý và vô tình bị dòng tin ấy cuốn đi. Chính vài người thân của tác giả bài viết này, trước một vụ việc diễn ra cách đây không lâu về cái chết của một quân nhân, đã thường xuyên lên mạng, xem, đọc các bài viết xuyên tạc sự thật về kết quả xử lý của các cơ quan chức năng. Xem xong thì khẳng định như đinh đóng cột là đã cách chức ông tướng nọ, bỏ tù ông đại tá kia...Bằng rất nhiều cách, kiên trì giải thích, thuyết phục thì họ mới nhận ra rằng mình... tin sai! Phải nói rằng, những thế lực xấu đã rất kỳ công trong việc cắt ghép, dàn dựng nên những hình ảnh có trong hàng chục clip, video ấy. Các thế lực phản động, thù địch và cơ hội chính trị thì ra sức lợi dụng điều đó để tiếp tục xuyên tạc, kích động chống phá hòng gây mất ổn định đất nước ta. Bằng thủ đoạn không nói cho có, có nói cho thật nhiều, nói nhiều ắt phân vân, ngả nghiêng và nói mãi sẽ có người tin. Có thể nói, âm mưu, thủ đoạn này không mới nhưng nó rất có tác dụng. Các bằng chứng nghiên cứu khoa học cho thấy, sai lệch niềm tin do tiếp nhận tin giả giống như dịch bệnh lây lan. Khi cá nhân chia sẻ tin giả cũng đồng nghĩa với “lây truyền” niềm tin độc hại. Ở Việt Nam, tin giả ngày càng xuất hiện nhiều và bỗng dưng trở thành một phần trong xã hội. Chỉ riêng tháng 10 vừa qua, khi chúng ta bước sang giai đoạn mới thích ứng an toàn, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19 đã có tới 200.000 tin, bài viết giả mạo, tiêu cực xuyên tạc Nghị quyết 128 của Chính phủ “thất bại toàn diện”; rằng người lao động không được hỗ trợ; bịa đặt Bộ Y tế “ép buộc” trẻ em tiêm vaccine nhằm thu lợi bất chính... Các nước trên thế giới cũng vấp phải nạn tin tức giả mạo, xuyên tạc. Ông Tedros Adhanom Ghebreyesus, Tổng giám đốc Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra cảnh báo “Tin giả lan nhanh và dễ dàng hơn cả virus, nhưng mức độ nguy hiểm thì không hề thua kém”. 2. Trên thực tế, tin giả không chỉ chiến thắng tâm lý hiếu kỳ, tò mò của độc giả mà nó còn làm suy yếu các phương tiện truyền thông. Tin giả không chỉ hướng lái sai lệch một bộ phận xã hội mà còn “dắt mũi” cả một số phóng viên, cơ quan báo chí. Tin chưa được kiểm chứng từ cá nhân trên Facebook, Zalo... nhưng có những báo mạng vẫn "nhanh tay" biến thành sản phẩm báo chí. Thiết nghĩ, để bảo đảm tính kịp thời, hiệu quả trong nhận diện, phòng ngừa, đấu tranh mạnh mẽ, hiệu quả với nạn tin giả cũng như giảm thiểu tác động xã hội của nó, cần có sự vào cuộc mạnh mẽ, liên thông của các cơ quan chức năng. Cần phải có cơ chế phối hợp chặt chẽ nhưng linh hoạt, vận dụng nghiêm khắc chế tài, luật pháp để xử lý nghiêm mọi cá nhân, tổ chức tung tin giả. Tại Hội nghị công tác công an trong phòng, chống dịch ngày 11-10-2021, Bộ Công an cho biết đã chỉ đạo công an các đơn vị, địa phương tăng cường nắm, kiểm soát tốt tình hình trên không gian mạng; xử phạt hành chính hơn 150 đối tượng đăng tải tin giả, sai sự thật; ngăn chặn, yêu cầu gỡ bỏ 10.944 tin, bài viết, video chứa thông tin xấu độc. Con số trên cho thấy, tin giả giống như rác rưởi hằng ngày làm bẩn nhà, bẩn phố, mà rác thì phải quét, quét rồi nó lại có, cho nên phải quét thật mạnh, thường xuyên, liên tục thì mới mong nhà luôn luôn sạch. Luật pháp đã có những quy định chặt chẽ, tất yếu Nhà nước phải can dự để chống lại tin giả, đòi hỏi bộ máy quyền lực phải liêm chính, hiệu năng. Tuy nhiên, vấn đề truyền thông đến cộng đồng phải được đặt lên hàng đầu. Một nguyên tắc vô cùng quan trọng trong xử lý tin giả đó là phải nhanh chóng cung cấp cho công chúng những thông tin đúng đắn, chính thống. Càng là những thông tin mà công chúng còn nghi ngờ, mơ hồ thì càng phải tăng cường cung cấp thông tin đúng để họ hiểu đúng. Tiến sĩ Yeung Yong Uhm, chuyên gia truyền thông Hàn Quốc trong hội thảo khoa học quốc tế về quản trị khủng hoảng thông tin trong bối cảnh đại dịch Covid-19 đã nhấn mạnh tính minh bạch và thời điểm công bố thông tin. Thông tin trung thực và thông tin chính thống phải đến sớm, nhanh nhất có thể với người dân. Tiếc rằng, thực tế hiện nay “tin giả đi được 2/3 trái đất thì tin thật mới chạy theo”. 3. Tin giả nhưng hiểm họa lại thật. Tin giả thực sự là một loại virus độc hại, tác động xấu đến nhận thức, hành vi cá nhân, từ đó làm ảnh hưởng đến an ninh, an toàn xã hội. Trước khi Nhà nước “điều trị” bệnh này, mỗi cá nhân cần tự mình có trách nhiệm sàng lọc, tiếp nhận thông tin trung thực, phủ nhận thông tin xuyên tạc, giả mạo để cuộc sống ngày càng tươi đẹp.

Chiêu trò của Việt Tân núp bóng từ thiện – “chuông khánh còn chẳng ăn ai”

Cùng với việc liên tục phán tán thông tin bịa đặt, xuyên tạc công tác phòng, chống dịch Covid-19 của Việt Nam, vừa qua, tổ chức khủng bố Việt Tân lại bày ra cái gọi là chương trình giúp đỡ khẩn cấp trong đại dịch với tên gọi: “Chút quà yêu thương”. Với chiêu bài “dân giúp dân”, Việt Tân nhắn nhủ người cần giúp đỡ nhắn vào hộp thư để được hướng dẫn chi tiết làm thế nào để nhận được quà. Đây thực chất là chiêu trò lừa dụ người dân tham gia vào các hoạt động của tổ chức khủng bố này, núp bóng việc bảo vệ, đứng về phía người dân khó khăn để tạo diễn đàn công kích, bôi xấu, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước, phủ nhận nỗ lực và thành quả chống dịch của đất nước. Trở lại chương trình hỗ trợ khẩn cấp mà Việt Tân đang kêu gọi. Liệu Việt Tân có thực sự nhằm giúp đỡ người dân hay không? Trái ngược với những lời kêu gọi mĩ miều, mạng xã hội chỉ lèo tèo lượng like, tham gia hưởng ứng. Không ít người đã thẳng thắn bình luận, chỉ rõ động cơ xấu xa và khuyên mọi người hãy tránh xa chiêu trò của Việt Tân. Thực tế trong gần 2 năm chống dịch Covid – 19, với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp phòng, chống dịch. Chính phủ đã thực hiện nhiều giải pháp hỗ trợ nền kinh tế, tháo gỡ khó khăn, nhất là quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của người dân bằng những gói hỗ trợ người lao động, bảo đảm an sinh xã hội. Phải khẳng định rằng, việc ban hành các gói hỗ trợ nói trên trong điều kiện ngân sách còn không ít khó khăn thể hiện sự quan tâm rất lớn của Đảng, Nhà nước đối với người dân, doanh nghiệp trong bối cảnh chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19, là việc làm ý nghĩa, thiết thực để "không ai bị bỏ lại phía sau". Thực tế đó không chỉ người dân Việt Nam thừa nhận mà các chuyên gia, tổ chức uy tín về lĩnh vực y tế, báo chí nước ngoài cũng đánh giá cao. Trong lúc khó khăn, chúng ta còn được chứng kiến những hình ảnh vô cùng xúc động thắm đượm nghĩa tình đồng bào, tương thân tương ái giúp đỡ nhau vượt qua cơn hoạn nạn. Họ là những cán bộ, chiến sĩ quân đội, công an, không quản nắng mưa, tận tụy cùng cán bộ cơ sở, hội viên Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội tổ chức đi mua, vận chuyển lương thực, thực phẩm tới từng nhà dân. Các nhân viên y tế, học viên quân y phối hợp cán bộ y tế cơ sở mang thuốc, thiết bị chăm sóc vào từng ngõ xóm để hướng dẫn những gia đình có người nhiễm bệnh cách điều trị tại nhà. Cùng với đó, nếu Việt Tân thực sự muốn làm việc thiện thì không nên “tạo sóng”, bày trò để câu like, câu bình luận của những người nhẹ dạ cả tin, được dẫn dắt bởi những conment “chim mồi” kích động nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước ta. Chưa thấy hiệu quả của chương trình này ở đâu, nhưng Việt Tân đã tạo ra một “diễn đàn” cho những bình luận a dua, bất mãn trên không gian mạng, chẳng những không giúp ích gì cho công tác phòng, chống dịch mà còn bị coi là hành vi vi phạm pháp luật khi đưa ra bình luận sai sự thật, gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng xấu tới công tác phòng, chống dịch. Ngày 4-10-2016, khi đưa Việt Tân vào danh sách các tổ chức khủng bố, thông báo của Bộ Công an nêu rõ: “Việt Tân” là tổ chức khủng bố, do đó, người nào có hành vi tham gia, tuyên truyền, lôi kéo, xúi giục người khác tham gia, tài trợ, nhận tài trợ của “Việt Tân”; tham gia các khóa đào tạo, huấn luyện do “Việt Tân” tổ chức; hoạt động theo sự chỉ đạo của “Việt Tân”… sẽ đồng phạm tội khủng bố, tài trợ khủng bố và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam. Từ thực tế những hoạt động chống phá của Việt Tân có thể dễ dàng nhận thấy chiêu trò từ thiện này chỉ là một thủ đoạn để dẫn dụ người dân tham gia, qua đó sẽ thu thập thông tin công dân, rồi mua chuộc, kích động, biến những người đó trở thành công cụ thực hiện các âm mưu phá hoại của chúng. Chương trình “Chút quà yêu thương” mà Việt Tân đưa ra có nhiều điểm mập mờ về thông tin và cả những đối tượng tương tác, vào hùa và cộng hưởng bên dưới. Được biết, rất nhiều chủ nhân của những bình luận cổ súy cho Việt Tân đó hiện đang tị nạn tại nước ngoài, thậm chí có một số tương tác được thực hiện bởi các tài khoản ảo. Nếu thực sự xuất phát từ động cơ trong sáng, vậy Việt Tân phải bày ra chiêu trò này để làm gì? Thực chất âm mưu của Việt Tân thông qua việc hướng dẫn người dân nhắn vào hộp thư (inbox) chỉ là để thu thập thông tin cá nhân, từ đó liên lạc, móc nối, dụ dỗ, mua chuộc… Trước đây, nhiều đối tượng đã từng bị Việt Tân móc nối, mua chuộc đã vướng vào vòng lao lý, phải lãnh những mức án phạt nghiêm khắc vì thực hiện hành vi vi phạm pháp luật chống phá Nhà nước. Đặc điểm chung dễ nhận thấy của những đối tượng này là chỉ vì tham miếng “bánh vẽ” mà Việt Tân từng hứa hẹn. Cha ông ta có câu: “Chuông khánh còn chẳng ăn ai/ Nữa là mảnh chĩnh ném ngoài bờ tre”. Kẻ xấu chuyên rắp tâm phá hoại đất nước thì dù chúng có ra vẻ ngọt ngào làm việc thiện song người dân sẽ luôn tỉnh táo, vạch rõ bộ mặt giả nhân giả nghĩa của chúng!

NGĂN NGỪA ÂM MƯU KÍCH ĐỘNG, CHIA RẼ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN

Thời gian qua trên địa bàn tỉnh Đồng Nai xảy ra nhiều vụ việc tiêu cực được dư luận xã hội quan tâm. Bám vào những khó khăn, tồn tại ấy, một số đối tượng cực đoan có tư tưởng chống đối ở địa phương và những phần tử phản động lưu vong, tị nạn ở nước ngoài đã tận dụng không gian mạng, thực hiện các hành vi xuyên tạc, gây rối, kích động… Mục đích của các hành động này là nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, gây chia rẽ mối quan hệ đoàn kết gắn bó giữa hệ thống chính trị các cấp với người dân, nhất là trong các vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo… Công tác cán bộ và những bất cập, hạn chế trong quản lý tài nguyên là những nội dung được các đối tượng thù địch tập trung xuyên tạc, chống phá. Thời gian qua, một số cán bộ chủ chốt ở các cấp, các ngành, địa phương, trong đó có cả cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, bị thi hành kỷ luật, cách chức, truy tố trước pháp luật. Tình trạng buông lỏng quản lý tài nguyên đất đai ở một số nơi dẫn đến xây dựng trái phép, phân lô bán nền diễn biến phức tạp. Việc thu hồi đất đai, đền bù, giải tỏa, giải phóng mặt bằng… phục vụ các dự án lớn gặp nhiều vướng mắc. Việc chỉ đạo, điều hành công tác phòng, chống dịch Covid-19 bộc lộ những bất cập, hạn chế… Những thông tin sai trái, xấu độc của các đối tượng xuất hiện trên không gian mạng dưới nhiều hình thức khác nhau. Đó là những bài viết, những dòng trạng thái trên các nền tảng mạng xã hội như: Facebook, Zalo, Viber… chứa nội dung ám chỉ, phê phán, quy chụp cấp ủy, chính quyền và hệ thống chính trị các cấp, thông qua đó để kích động, lôi kéo người dân tỏ thái độ bất hợp tác, chống đối chủ trương phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Bên cạnh đó là những video clip của một số đối tượng lưu vong, tị nạn. Với chiêu bài cóp nhặt thông tin trên truyền thông và mạng xã hội trong nước, các đối tượng này tự “khua môi múa mép”, lớn tiếng chỉ trích Chính phủ và hệ thống chính trị các cấp, trong đó có nhiều nội dung liên quan đến Đồng Nai về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phòng, chống dịch rồi quy kết, thóa mạ bằng những ngôn từ mang tư tưởng thù địch. Hiện nay, Đồng Nai là một trong những địa phương có tỷ lệ đồng bào các tôn giáo nhiều nhất cả nước. Địa bàn tỉnh là khu vực tập trung của 13 tôn giáo, trong đó Công giáo và Phật giáo là hai tôn giáo có số lượng tín đồ đông nhất. Đồng bào Công giáo tập trung chủ yếu ở thành phố Biên Hòa, Long Khánh và các huyện: Trảng Bom, Thống Nhất, Xuân Lộc, Long Thành... với số lượng giáo dân trên 1 triệu người, chiếm hơn 30% dân số toàn tỉnh. Với đặc điểm dân cư, dân số học nói trên, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi kẽ hở, lợi dụng những hạn chế trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo ở các địa phương để xuyên tạc, kích động. Chúng bám vào những sự việc, sự kiện, vụ việc tiêu cực, bất cập để áp dụng chiêu bài “té nước theo mưa”, “dậu đổ bìm leo”… nhằm kích động giáo dân và các tín đồ tôn giáo có hành động đi ngược lại chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Việc lợi dụng sự cố môi trường do Formosa gây ra ở Vũng Áng (Hà Tĩnh) để kêu gọi giáo dân và các tín đồ tôn giáo tụ tập gây rối xảy ra những năm trước là một trong những ví dụ điển hình. Trong những vụ việc tương tự, Đồng Nai luôn là địa bàn được các thế lực thù địch, phần tử phản động nhắm đến. Dễ nhận thấy, dù thể hiện dưới hình thức nào, đề cập đến nội dung gì thì bản chất của những thông tin sai trái, luận điệu xuyên tạc trên không gian mạng của các thế lực thù địch cũng đều nhằm chĩa mũi nhọn vào công kích cấp ủy, chính quyền và hệ thống chính trị các cấp. Mục đích của chúng là hạ bệ lãnh đạo, làm mất uy tín của cán bộ các cấp, làm giảm hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, quản lý, điều hành của hệ thống chính trị, gây suy giảm lòng tin của nhân dân, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân... Bức tranh sáng không thể bôi đen Bức tranh tổng quan về đời sống kinh tế - xã hội của đại đa số đồng bào toàn tỉnh là sự thật không thể bóp méo, bôi đen. Chiến lược xóa đói, giảm nghèo của tỉnh triển khai quyết liệt những năm qua đã góp phần to lớn và quan trọng nâng cao mức sống của đại bộ phận các tầng lớp nhân dân. Hiện, Đồng Nai là tỉnh dẫn đầu cả nước về tiến độ, hiệu quả xây dựng nông thôn mới (NTM). Sau hơn 2 năm thực hiện thí điểm mô hình xây dựng NTM kiểu mẫu, Đồng Nai tiếp tục dẫn đầu cả nước về cả số lượng và chất lượng chương trình. Toàn tỉnh hiện có 51/131 xã NTM nâng cao và 4 xã đạt chuẩn NTM kiểu mẫu, vượt các mục tiêu đề ra trong xây dựng NTM. Điểm sáng nổi bật là huyện Xuân Lộc, 1 trong 4 huyện được chọn xây dựng thí điểm huyện NTM kiểu mẫu của cả nước, đã có 9/14 xã đạt NTM nâng cao, 3 xã hoàn thành mục tiêu NTM kiểu mẫu. Xuân Lộc cũng là huyện duy nhất trong cả nước đạt và vượt mục tiêu về xã NTM nâng cao và đạt mục tiêu về xã NTM kiểu mẫu. Hai năm qua, mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch Covid-19 nhưng Đồng Nai vẫn giữ vững kết quả thu hút đầu tư, duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh, giữ vững vị thế là vùng nguyên liệu lớn cung cấp lương thực, thực phẩm cho TP Hồ Chí Minh và thị trường xuất khẩu. Sự phát triển đồng bộ, nhanh chóng của kinh tế - xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi để tỉnh thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo, chăm lo an sinh xã hội cho đồng bào tôn giáo. Hiện, tình hình tôn giáo trên địa bàn tỉnh đảm bảo ổn định, hoạt động tôn giáo đi vào nền nếp, chấp hành hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo và pháp luật của Nhà nước. Mối quan hệ giữa các tổ chức tôn giáo với cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ngày càng chuyển biến tích cực. Đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào tôn giáo luôn được quan tâm cải thiện, phát triển. Tình hình an ninh chính trị, trật tự vùng đồng bào tôn giáo luôn được giữ vững, không để phát sinh “điểm nóng”. Đặc biệt, công tác bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh cho chức sắc, nhà tu hành, chức việc các tôn giáo được quan tâm, đẩy mạnh, góp phần làm cho đồng bào các tôn giáo nhận thức rõ hơn về chủ trương, đường lối của Đảng, nâng cao ý thức trách nhiệm công dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những luận điệu bám vào việc nhiều cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành, địa phương trong tỉnh bị xử lý kỷ luật, truy tố trước pháp luật để xuyên tạc, chỉ trích cả hệ thống chính trị là chiêu bài “đánh bùn sang ao” của các thế lực thù địch. Trên thực tế, đại đa số cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân đều nhận thức rõ, việc xử lý cán bộ sai phạm chính là sự nỗ lực để làm trong sạch nội bộ, làm cho tổ chức đảng mạnh hơn, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo được nâng cao hơn, xứng đáng với niềm tin của dân. Những chuyển biến tích cực trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành và sự tiến bộ vượt bậc của tình hình an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh thời gian gần đây đã phần nào chứng minh điều đó. Xử lý cán bộ sai phạm là cách “Kỷ luật một người để cứu muôn người”, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Để ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống, ngăn ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thì càng phải ra sức siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng. Đó là việc cần thiết, cần kíp phải làm với tinh thần kiên trì, kiên quyết. Hơn lúc nào hết, trong bối cảnh khó khăn, thách thức do tình hình dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp, khó lường, mỗi cán bộ, đảng viên và công dân cần nhận thức đúng tình hình đời sống kinh tế - xã hội và những vấn đề khó khăn, phức tạp nảy sinh. Tuyệt đối không nghe theo, hùa theo những thông tin xấu độc, những luận điệu sai trái. Sức mạnh của đất nước, của quê hương được kết tinh, hội tụ từ chính ý thức công dân với tinh thần “nhân cái đẹp dẹp cái xấu”, chung tay cùng hệ thống chính trị các cấp thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chương trình mà Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2020-2025 đã đề ra.

ALEXANDRE DE RHODER LÀ NHÀ TRUYỀN GIÁO CÓ TỘI VỚI ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM!

      Mấy ngày qua, nhiều anh em dân chủ liên tục chia sẻ bài viết với tiêu đề "KHÓ VẬY MÀ HỌ CŨNG NGHĨ RA?", khẳng định rằng, nhiều người Việt Nam đã vô ơn bạc nghĩa khi cho rằng Alexandre de Rhodes (người được cho là tạo ra chữ Quốc ngữ) là gián điệp của Pháp; lại còn sử dụng chữ quốc ngữ mà ông này tạo ra để "ph.ỉ báng ông ta".

Câu chuyện về Alexandre de Rhodes đã được nhiều nhà sử học lên tiếng, tuy nhiên, với xu thế "xét lại lịch sử", "nhận giặc làm cha" đang nổi lên trong giới trí thức cấp tiến, việc xét lại vai trò của Alexandre de Rhodes và một số nhân vật lịch sử khác như Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký là điều có thể hiểu được.

Trước hết, cần phải hiểu, việc tạo ra chữ Quốc ngữ không nhằm "khai sáng" gì cho dân tộc ta, mà từ ban đầu, nó được các nhà truyền giáo tạo ra nhằm mục đích hàng đầu là cắt đứt gốc rễ văn hóa Việt Nam tồn tại hàng thế kỷ, coi đó là công cụ để đồng hóa dân tộc ta. Giám mục Puginier, người chỉ huy các hội truyền đạo Thiên chúa, trong bức thư gửi cho Bộ trưởng Hải quân và thuộc địa năm 1887 đã viết "phải bãi bỏ chư Nho và thay thế, lúc đầu bằng tiếng Việt Nam, bằng viết Châu Âu gọi là "quốc ngữ" rồi sau đó bằng tiếng Pháp. Và nếu người Việt Nam không còn đọc được sách cổ bằng chữ Nho hay bằng chữ Nôm thì họ há không dần dần đi đến chỗ không biết được văn hóa cùng văn minh của họ sao? Triết học Khổng giáo, nền tảng của tổ chức chính trị và xã hội trong nước há sẽ không bị chết dần mòn sao?

Về công lao tạo ra chữ quốc ngữ, Alexandre de Rhodes không phải là người phát minh ra chữ quốc ngữ, mà chỉ là người đã sử dụng và góp phần quảng bá nó như ông đã viết trong “Lời nói đầu” của “Từ điển Việt – Bồ - La”: “Tuy nhiên trong công việc này, ngoài những điều mà tôi đã học được nhờ chính người bản xứ trong suốt gần 12 năm mà tôi lưu trú tại hai xứ Cochinchine và Đông Kinh, thì ngay từ đầu tôi đã học với cha Francisco de Pina, người Bồ Đào Nha, thuộc Hội dòng Jê-su rất nhỏ bé chúng tôi, là thầy dạy tiếng, người thứ nhất trong chúng tôi rất am tường tiếng này. Tôi cũng sử dụng những công trình của nhiều cha khác cùng một Hội dòng, nhất là của cha Gaspar de Almaral và cha Antonio Barbosa, cả hai ông đều đã biên soạn mỗi ông một cuốn từ điển: ông trước bắt đầu bằng tiếng An Nam, ông sau bằng tiếng Bồ Đào Nha…”.

Sau này, Linh mục người Pháp Roland Jacques đã phát hiện 2 tác phẩm chưa công bố của linh mục người Bồ Đào Nha Francisco de Pina (1585 - 1625) gồm bức thư viết dở bằng Bồ ngữ ở Ma Cao và tiểu luận Nhập môn tiếng Đàng Ngoài bằng La ngữ tại Bồ Đào Nha. Nhờ đó, năm 2002 Roland Jacques đã chứng minh Pina mới chính là người đầu tiên sáng tạo ra chữ quốc ngữ. Pina đến Đàng Trong năm 1617, sau đó học tiếng Việt, trở thành giáo sĩ đầu tiên giảng đạo cho tín đồ bản địa mà không cần phiên dịch. Ông biên soạn tài liệu Phương pháp Latin hóa tiếng Việt và cuốn Ngữ pháp tiếng Việt; dạy tiếng Việt cho một số giáo sĩ khác, trong đó có Rhodes (đến Thanh Chiêm năm 1624).

Ở một khía cạnh khác, chính Alexandre de Rhodes là người đã vận động Chính phủ Pháp xâm lược Việt Nam. Ông này là người đóng vai trò quan trọng trong thành lập Hội thừa sai Paris, tổ chức nhằm "tiến hành nhiệm vụ thực dân, cũng chinh phục và tiêu diệt, tham gia các cuộc chinh phạt để đoạt lấy quyền uy vinh quang và lợi tức. Điều quan trọng nhất của Hội Thừa Sai là đồng hóa văn hóa của các xứ bản địa” (Tự Điển Bách Khoa Hoàn Vũ (Encyclopedia Universallis) của Pháp xuất bản năm 1990). Chính ông này đã vận động Pháp xâm chiếm và đô hộ nước ta qua đoạn văn do chính ông viết trong cuốn “Hành trình và truyền giáo” như sau:

“Tôi tưởng nước Pháp là một nước đạo đức nhất thế giới, nước Pháp có thể cung cấp cho tôi các binh lính (plusieurs soldats) đi chinh phục toàn cõi Đông phương (la conquête de tout l’Orient), đưa về qui phục Chúa Kitô và nhất là tôi sẽ tìm được các giám mục, cha chúng tôi và thầy chúng tôi trong các giáo đoàn. Với ý đó, tôi rời bỏ Rôma ngày 11 tháng 9 năm 1652 sau khi tới hôn chân Đức Giáo hoàng.

Tôi chưa công bố thánh chiến chống mọi địch thù của đức tin ở Nhật, ở Trung Hoa, ở Đàng Trong, ở Đàng Ngoài và ở Ba Tư thì lập tức đã có một số đông con cái thánh Inhaxu, đầy tinh thần đã đưa thánh Phanxicô Xavie tới 300 quốc gia, các ngài đã bừng bừng ao ước vác thánh giá Thầy và đem đi cắm ở những nơi cùng kiệt cõi đất.”

Ông cựu Chủng sinh Giáo hoàng Chủng viện Bùi Chu - Phát Diệm, cựu Thiếu tá Trưởng ban Quân Pháp Tòa án Quân sự VNCH Charlie Nguyễn Bùi Văn Chấn, sau khi định cư ở Mỹ qua diện HO, ông đã cương quyết dùng sở trường viết Cáo trạng của mình hạ bút khẳng định như sau trước lịch sử:

"...dù cho chữ quốc ngữ đã được phát minh do Alexandre de Rhôde hay do các tu sĩ dòng Tên Bồ Đào Nha trong thế kỷ 17 thì bản chất của nó vẫn không thay đổi: Chữ Quốc Ngữ không phải là một món quà tặng do ngoại nhân có lòng tốt đem lại cho chúng ta. Nó thực sự chỉ là một thứ vũ khí do địch sáng chế để truyền vào dân tộc ta một thứ tôn giáo p.hi nhân, nhằm mục đích n.ô dị.ch nhân dân ta và đưa tổ quốc ta vào vòng nô lệ của chúng.

Nay chúng ta dùng chính vũ khí đó của địch để đánh địch và tay sai. Đó là công việc mà các tác giả Giao Điểm đang làm. Các tác giả Giao Điểm đang noi gương tiền nhân dùng đòn “gậy ông đập lưng ông” trong mục tiêu xây dựng đất nước và bảo vệ văn hóa dân tộc: Noi gương Lý Thường Kiệt xưa kia dùng chữ Hán để viết “Nam Quốc Sơn Hà, Nam Đế Cư” để xác nhận chủ quyền của tổ quốc. Trần Hưng Đạo dùng chữ Hán để viết “Hịch Tướng Sĩ” động viên toàn dân chống quân Nguyên. Nguyễn Trãi dùng chữ Hán viết “Bình Ngô Đại Cáo”. Trong thập niên 1930, các nhà cách mạng yêu nước Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu đã cổ xúy việc học chữ quốc ngữ để mở mang dân trí và phổ biến tư tưởng cách mạng nhằm đánh đuổi thực dân Pháp. Đòn “gậy ông đập lưng ông” là một chiến thuật lâu đời trong truyền thống chiến đấu bảo vệ tổ quốc của nhân dân ta.

Để cụ thể hóa thái độ của chúng ta đối với bọn giáo sĩ đã sáng tạo ra chữ quốc ngữ, chúng ta hãy hình dung một tên cướp đột nhập vào nhà chúng ta với một con dao. Khi bị cảnh sát rượt đuổi, tên cướp đã vứt bỏ lại con dao tang vật. Hành động đúng nhất là chúng ta hãy sử dụng con dao tang vật vào những việc hữu ích, như cắt rau, thái thịt, v.v… Chạy theo tên cướp để cám ơn nó đã để lại con dao rõ ràng là một hành vi ng* x.uẩn. Hô hào mọi người phải cám ơn bọn giáo sĩ đã sáng tạo ra chữ quốc ngữ cũng là một hành vi ng* x.uẩn tương tự."

Lịch sử phải được tôn trọng, dựa trên các căn cứ lịch sử. Không phải mở mắt ra sau vài chục năm, đọc được vài tài liệu trên mạng rồi thích xét lại lịch sử thế nào là được đâu./.





Yêu nước ST.

Luận điệu lạc lõng, sáo rỗng

Luận điệu lạc lõng, sáo rỗng Vừa qua, Tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch-HRW) có trụ sở tại New York (Hoa Kỳ) phát đi thông cáo kêu gọi chính phủ nước này cần sử dụng vòng đối thoại nhân quyền để thúc ép Việt Nam trả tự do cho những "tiếng nói bất đồng" đang bị giam giữ và có những cải thiện về nhân quyền. Thực tế, đây không phải lần đầu tổ chức này tự cho mình quyền can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Mượn cớ thông tin đó, một số tờ báo, trang mạng nước ngoài a dua "theo đóm ăn tàn" để xuyên tạc, có thái độ hằn học, thể hiện luận điệu sáo rỗng, cho rằng Việt Nam hạn chế nhân quyền, bắt người vô cớ. Cần nhắc lại và nhận thức rằng, không chỉ ở Việt Nam mà ở bất kỳ quốc gia nào, quyền của mỗi công dân phải gắn liền với trách nhiệm, nghĩa vụ với đất nước, bảo đảm theo đúng Hiến pháp và pháp luật. Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc các cơ quan nội chính triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (ngày 15-9-2021), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: "Chúng ta ai cũng biết, một gia đình muốn êm ấm, hòa thuận, hạnh phúc thì cùng với sự dạy bảo, khuyên nhủ còn phải có khuôn phép, gia phong, nền nếp... Một làng, một xã, một dòng họ cũng có hương ước, quy ước, lệ làng; một cơ quan, một công sở phải có nội quy; một tổ chức, đoàn thể phải có quy chế, có điều lệ... Một đất nước, một xã hội muốn tốt đẹp thì bên cạnh sự giáo dục, sự khuyên nhủ, càng phải có kỷ cương, phép nước, phải có pháp luật nghiêm minh để bảo vệ cái tốt, cái đúng; răn đe, trừng trị những cái xấu, cái sai, có hại cho dân cho nước, tức là phải có sự quản lý bằng cơ chế, pháp luật, phải có phép nước". Chính vì thế, đã là tội phạm thì phải có luật pháp để xử lý nghiêm minh, giữ gìn sự ổn định đất nước và bảo đảm an toàn cho nhân dân. Do đó, những luận điệu của các thành phần thiếu thiện chí, mượn cớ để quy chụp, cố tình chống phá Việt Nam chỉ là những luận điệu lạc lõng, sáo rỗng cần phải lên án, phê phán mạnh mẽ.

CẦN NHẬN RÕ NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC CỦA CÁCH MẠNG DO ĐẢNG LÃNH ĐẠO VÀ NHỮNG HẠN CHẾ TRONG ĐẢNG

 

     Trong mỗi nhiệm kỳ Đại hội Đảng, Hội nghị Trung ương lần thứ tư thường diễn ra vào quý IV năm đầu của nhiệm kỳ. Hội nghị Trung ương lần thứ tư các nhiệm kỳ Đại hội XI, XII và XIII của Đảng đều có nội dung bàn về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Điều đó cho thấy, Đảng ta đặc biệt quan tâm tới sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới. Hội nghị Trung ương lần thứ tư khóa XIII là sự kế thừa, phát triển các nghị quyết hội nghị Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong 35 năm đổi mới, đặc biệt là Hội nghị Trung ương lần thứ tư khóa XI và XII.

     Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII nêu rõ thành tựu của cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đó là “từ ngày có Đảng, nhân dân ta đã có người lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, và nhờ thế đã giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức và đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào về bản chất tốt đẹp, truyền thống anh hùng và lịch sử vẻ vang của Đảng ta -Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sáng lập và rèn luyện, đại biểu của dân tộc Việt Nam anh hùng”.

     Đồng thời, Nghị quyết cũng vạch ra những tiêu cực, hư hỏng của cán bộ, đảng viên, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trong đó, nhấn mạnh nhất là sự “phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm đường lối của Đảng; sa sút về ý chí chiến đấu, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh; thậm chí còn phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao; không thực hiện đúng các nguyên tắc xây dựng Đảng và tổ chức sinh hoạt Đảng”.

     Trung ương nhấn mạnh nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, “bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân, từ việc bản thân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên mất trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước dân”. Vì vậy, Trung ương nhấn mạnh phải “kiên quyết đấu tranh quét sạch chủ nghĩa cá nhân trong toàn Đảng”.

Nhân đây, cần nói thêm, nhấn mạnh mấy điểm về chủ nghĩa cá nhân.

    Chủ nghĩa cá nhân là quan điểm của người chỉ chú trọng đến quyền lợi riêng của mình, đặt quyền lợi của cá nhân mình lên trên quyền lợi của toàn thể và của xã hội. Khác với cá nhân chủ nghĩa là nói đến hành vi cụ thể chỉ nghĩ đến quyền lợi của riêng mình, không nghĩ đến quyền lợi của người khác hay của tập thể, nói chủ nghĩa cá nhân là nói đến quan điểm, tức là cách xem xét và giải quyết vấn đề quan hệ giữa cá nhân và tổ chức, giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung theo lập trường, quan điểm và tư tưởng nào? Trung ương nói tới chủ nghĩa cá nhân là nói tới cái nguồn, cái gốc có tính chất bao trùm, xuyên suốt, cao hơn, rộng hơn, sâu hơn cá nhân chủ nghĩa, “cha đẻ” của mọi thứ xấu xa, tội lỗi, trong đó, có cá nhân chủ nghĩa. Vì vậy, muốn đẩy lùi các tiêu cực, suy thoái, tha hóa của cán bộ, đảng viên “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thì phải tiêu diệt, quét sạch, nhổ tận gốc là chủ nghĩa cá nhân.

     Đánh giá tư tưởng và ý thức của đảng viên là thông qua cách xem xét, bàn bạc và hành động của đảng viên đối với các vấn đề quan trọng của cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng, tổ chức, đường lối cách mạng. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Xem thái độ và lập trường của mọi người đối với những vấn đề căn bản của cuộc đấu tranh chính trị, xem cách bàn bạc hành động, xem kế hoạch, phương châm của họ đối với những vấn đề ấy, thì ta biết rõ họ đại biểu cho tư tưởng, quan điểm, mong muốn, và lợi ích của giai cấp nào”(1).

     Chủ nghĩa cá nhân là trái ngược với chủ nghĩa tập thể. Cách đặt vấn đề của chủ nghĩa tập thể là luôn luôn xuất phát từ lợi ích cách mạng để phục vụ cho lợi ích cách mạng. Ý thức và tư tưởng của giai cấp vô sản biểu hiện cụ thể, rõ ràng trong lập trường và thái độ, đường lối và phương châm trong hoạt động và đấu tranh chính trị phục vụ cho lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Người nhận thức rõ và đề cao chủ nghĩa tập thể là người có đảng tính. Tức là bất kỳ bao giờ, ở đâu, bất kỳ việc gì dù lớn hay bé đều phải tính đến lợi ích chung của cách mạng. Tư tưởng của những người theo chủ nghĩa tập thể là chỉ có sự nghiệp của Đảng và dân tộc, lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, việc của cá nhân và lợi ích cá nhân để lại sau. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích gì khác”(2).

     Cách đặt vấn đề của chủ nghĩa cá nhân là xuất phát từ cá nhân để phục vụ cho cá nhân. Do đó, cách giải quyết của người mang nặng chủ nghĩa cá nhân, thậm chí chỉ dính vào chủ nghĩa cá nhân là khi thấy lợi ích cá nhân và lợi ích của Đảng, của cách mạng, Tổ quốc, nhân dân có mâu thuẫn, thì họ không sẵn sàng, không kiên quyết đặt lợi ích chung của cách mạng lên trên hết, lên trước hết. Thậm chí họ làm ngược lại, đặt lợi ích cá nhân ra trước lợi ích của Đảng; lợi ích của nhân dân phục tùng lợi ích cá nhân; lợi ích toàn thể phục tùng lợi ích nhóm. “Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”(3).

     Vấn đề chủ nghĩa cá nhân đã được Hồ Chí Minh đề cập từ rất sớm. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, Người chỉ ra “trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư”, cho nên mắc phải chứng chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh nguy hiểm”(4). Chỉ dẫn của Hồ Chí Minh cho ta nhận thức chủ nghĩa cá nhân là bệnh gốc, bệnh mẹ; là vi trùng rất độc; chống chủ nghĩa cá nhân phải đi liền với thực hành chí công vô tư, nêu cao chủ nghĩa tập thể.

     Trong di sản của mình, Hồ Chí Minh chỉ rõ chủ nghĩa cá nhân là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc. Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó. “Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”(5). Phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng.

C     ần phải hiểu thấu, nói đến chủ nghĩa cá nhân là nói đến tư tưởng tiểu tư sản ở trong mỗi người. Nó chờ dịp thất bại hoặc thắng lợi là ngóc đầu dậy. Nhưng thể hiện từng nơi, từng lúc, từng trình độ, cương vị công tác khác nhau.

     Nghị quyết Trung ương chỉ ra đối với cán bộ, đảng viên, chủ nghĩa cá nhân biểu hiện ở chỗ sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, hám quyền lực, tham nhũng, tiêu cực; bè phái, cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của dân. Từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thể lực xấu, thù địch, cơ hội, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

     Phải nhận thức đúng đắn rằng “đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”(6). Bởi vì, “mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích tập thể thì không phải là xấu”(7). Vấn đề là ở chỗ “lợi ích của cá nhân gắn liền với lợi ích của tập thể. Nếu lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể”(8).


Lối áp đặt lỗi thời

Lối áp đặt lỗi thời Những thành tựu nổi bật mà đất nước và nhân dân Việt Nam đã đạt được trong hơn 90 năm qua đã chứng minh cho sự lãnh đạo và vai trò lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhưng đâu đó trên không gian mạng xã hội, thật giả lẫn lộn vẫn còn những quan điểm mang tính áp đặt khi cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết thời, không còn đủ khả năng để lãnh đạo đất nước trong thời kỳ mới. Bệnh quy chụp mãn tính Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bất mãn và cơ hội chính trị nhằm ngăn cản nỗ lực phát triển của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, việc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được xem như “căn bệnh quy chụp mãn tính”, với mục tiêu sâu xa là gây mất ổn định về chính trị, gây chia rẽ nội bộ, khiến nhân dân hoang mang, dao động về tương lai của đất nước. Một trong những chiêu bài nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, cho rằng Đảng ta “chuyên quyền”, “độc đoán”, không đem lại cuộc sống tốt đẹp cho nhân dân mà chỉ khiến dân tộc thụt lùi. Từ luận điệu này, nhiều đối tượng kêu gọi nhân dân “thức tỉnh”, “cất cao tiếng nói vì sự tồn vong của dân tộc” và đi ngược hướng với với con đường mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Thậm chí, họ còn đòi xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Lối áp đặt lỗi thời Bên cạnh đó, qua các bài viết chỉ dựa vào ý chí chủ quan được đăng hằng ngày trên mạng xã hội, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc sự thật, bôi nhọ hình ảnh của các lãnh đạo, nhất là lãnh đạo cấp cao để khiến nhân dân hoài nghi, bất mãn, mất lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đặc biệt, những luận điệu kiểu này thường được phát tán với mức độ dày đặc mỗi khi trong nước xuất hiện các hiện tượng tiêu cực, nhất là tình trạng tham nhũng. Những khuyết điểm, sai lầm của một số đảng viên, quan chức chủ chốt bị đem ra mổ xẻ và để rồi quy kết rằng với thực trạng ê chề, rệu rã từ trong nội bộ như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam không đủ năng lực lãnh đạo trong điều kiện mới của đất nước; và rằng, dân còn tin Đảng, theo Đảng là còn khổ... Vai trò lãnh đạo không thể thiếu Thực tế cho thấy, sau khi lãnh đạo nhân dân ta giành được những thành tựu mang tính lịch sử trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục lãnh đạo đất nước trong thời kỳ mới, thời kỳ cả nước thống nhất cùng đi lên CNXH. Qua hơn 35 năm đổi mới, từ chỗ phải đối diện với cảnh nghèo nàn, cơ sở vật chất-kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội lạc hậu, Việt Nam nay đã vươn lên trở thành quốc gia đang phát triển, có thu nhập trung bình; quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên; đời sống mọi mặt của người dân được cải thiện. Sự phát triển vượt bậc về kinh tế-xã hội được thể hiện rõ nét khi năm 2020, quy mô nền kinh đạt khoảng 343 tỷ USD và GDP bình quân đầu người đạt 3.521USD; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều của cả nước cũng liên tục giảm trong vòng 5 năm trở lại đây... Trong Báo cáo cập nhật tình hình kinh tế vĩ mô Việt Nam mới công bố trong tháng 11 này, Ngân hàng Thế giới (WB) nhận định, dù phải đối mặt với nhiều trở ngại trong việc khởi động lại nền kinh tế sau một thời gian cách ly xã hội kéo dài vì đại dịch, song kinh tế Việt Nam đang cho thấy những dấu hiệu cải thiện và phục hồi. Tương tự, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cũng bày tỏ lạc quan về triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam trong trung và dài hạn. Những gì diễn ra trong thời gian phải đối phó với đại dịch Covid-19 cũng cho thấy, ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước không chỉ quan tâm tới việc đưa đất nước phát triển nhanh về kinh tế, mà còn ưu tiên bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân trong những hoàn cảnh ngặt nghèo nhất. Quan trọng hơn, Việt Nam được xem là một trong những quốc gia có sự ổn định về chính trị, xã hội, độc lập, chủ quyền được giữ vững; uy tín và vị thế đất nước trên trường quốc tế cũng chưa bao giờ lớn mạnh như hiện nay. Đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn đang trong quá trình chủ động, tích cực thúc đẩy quan hệ hợp tác, hữu nghị với các đảng cầm quyền ở các nước XHCN và tham gia vào các diễn đàn chính đảng đa phương trên thế giới không phân biệt khuynh hướng và tư tưởng chính trị. Còn nhớ, trong dịp diễn ra Đại hội lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã có hàng trăm thư mừng, điện mừng từ các chính đảng, các nguyên thủ, các tổ chức quốc tế gửi về Hà Nội. Đó không chỉ là minh chứng cho sự tin cậy, tình cảm hữu nghị mà bạn bè quốc tế dành cho Việt Nam, mà còn chứng tỏ vị thế của Đảng ta ngày càng được nâng cao. Những thành quả ấy cũng không phải là “miếng bánh vẽ” như một số đối tượng vẫn rêu rao, cũng không xuất phát từ những nhận định chủ quan, mà được khẳng định bằng những đánh giá thẳng thắn của cộng đồng quốc tế. Ông Vojtech Fillip, Phó chủ tịch thứ nhất Hạ viện Cộng hòa Séc, Chủ tịch Đảng Cộng sản Séc-Morava (KSČM) từng nói rằng, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng được khẳng định thông qua những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trên các lĩnh vực kinh tế-xã hội cũng như nâng cao uy tín trên trường quốc tế. Hiện nay, Việt Nam đang có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao không chỉ ở khu vực Đông Nam Á mà còn trên thế giới. Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế cũng được đánh giá cao không chỉ ở các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa trước đây mà cả đối với các nước phương Tây. Tại một hội thảo được tổ chức vào đầu năm 2020 nhân dịp kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Philip Fernandez, thành viên của CVFS, đảng viên Đảng Cộng sản Canada, nhấn mạnh việc Việt Nam lọt vào nhóm các quốc gia tăng trưởng kinh tế cao và ổn định hàng đầu châu Á, vị thế không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế, là nhờ vai trò lãnh đạo không thể thiếu của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông nói: "Uy tín và vị thế cao của Việt Nam trên trường quốc tế đã phản ánh sức mạnh chính trị và ý thức hệ của Đảng, cũng như khả năng tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam khi tìm ra phương hướng trong tình hình quốc tế phức tạp hiện nay, và cùng với sự tham gia của nhân dân để đưa ra chương trình nghị sự nhằm xây dựng một nước Việt Nam hiện đại”. Và, việc Việt Nam trúng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021 với số phiếu gần như tuyệt đối bắt nguồn từ đâu nếu không phải từ niềm tin của cộng đồng quốc tế đối với Đảng Cộng sản Việt Nam? Những thành quả mà nhân dân Việt Nam đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là không thể phủ nhận. Chiêu bài cố tình nhồi nhét, áp đặt dư luận bằng những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thực sự nó đã lỗi thời!

Quan điểm của Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân (CNCN).

      Trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh việc chống chủ nghĩa cá nhân (CNCN). Vì CNCN là thứ trái ngược với chủ nghĩa tập thể và CNXH. Cùng với phê phán những thói hư, tật xấu do chế độ cũ để lại mà mọi người cần biết để tránh, Người nhấn mạnh: “CNCN là như một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm”.

Ảnh tư liệu: tuyengiao.vn.


     Theo Người, có chống CNCN mới xây dựng đạo đức cách mạng được. Trong tác phẩm này, Người nhiều lần nhắc đến CNCN và chống CNCN. Vấn đề này sau đó, Người đã nêu tiếp trong một số tác phẩm, trong đó có tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, viết năm 1969, nhân dịp kỷ niệm 39 năm Ngày thành lập Đảng. Trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng”, Người luận rằng, những người theo CNCN thường biểu hiện ở việc “kể công” với Đảng, đòi ưu đãi, hưởng thụ, danh dự và địa vị, đòi hỏi quá nhiều quyền lợi cá nhân. Có ít nhiều thành tích, thì họ muốn Đảng “cảm ơn” họ. Nếu không thỏa mãn yêu cầu của cá nhân, thì họ oán trách Đảng, cho rằng họ “không có tiền đồ”, họ “bị hy sinh”, rồi dần dần xa rời Đảng, vi phạm kỷ luật Đảng, phá hoại chính sách của Đảng và Nhà nước. Đảng viên bị CNCN trói buộc trở nên kiêu ngạo, công thần, tự cao tự đại, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Họ phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình họ; không tự phê bình hoặc phê bình một cách không thật thà, nghiêm chỉnh. Họ sợ tự phê bình thì sẽ mất thể diện, mất uy tín”. Đó cũng là một thứ CNCN cần phải phê phán.

     Ngay ở thời điểm viết tác phẩm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, CNCN đang ám ảnh một số đồng chí, sinh bệnh quan liêu, mệnh lệnh, kèn cựa, địa vị, vác mặt làm “quan cách mạng”, chung quy là họ không làm nên trò trống gì. Quan điểm của Người là đấu tranh chống CNCN không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”, mà là tôn trọng lợi ích cá nhân, nhưng lợi ích cá nhân phải nằm trong lợi ích của tập thể, không mâu thuẫn với lợi ích của tập thể, là một bộ phận của lợi ích tập thể. Một khi lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể. CNCN là một trở ngại lớn cho việc xây dựng CNXH. Vì vậy, thắng lợi của CNXH không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh chống CNCN. Người kết luận: “CNCN là một kẻ địch hung ác của CNXH. Người cách mạng phải tiêu diệt nó”.

     Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu vấn đề đạo đức cách mạng và chống CNCN còn phải được thể hiện ở việc học tập, nghiên cứu, làm việc để không ngừng tiến bộ. Theo Người, trong học tập, trước hết, phải học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin. Vì có học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao sự hiểu biết và trình độ chính trị, hoàn thành nhiệm vụ được giao; để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn. Người phê bình một số người học thuộc lòng sách vở của Chủ nghĩa Mác-Lênin, nhưng khi va chạm đến thực tế, thì lúng túng hoặc giải quyết một cách máy móc. Họ học sách vở Mác-Lênin, nhưng không học tinh thần của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Học để trang sức, chứ không phải vận dụng vào công việc cách mạng. Người khẳng định: “Xét cho cùng, đó cũng là CNCN”.

     Cùng với chỉ rõ việc cán bộ, đảng viên phải ngǎn ngừa và kiên quyết chống lại CNCN, trong tác phẩm “Đạo đức cách mạnh”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng yêu cầu “mọi đảng viên phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, trước Đảng”. Bởi theo Người, những chính sách và nghị quyết của Đảng đều vì lợi ích của nhân dân. Vì vậy, đạo đức cách mạng của người đảng viên là bất kỳ khó khǎn đến mức nào cũng kiên quyết làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng, làm gương mẫu cho quần chúng. Đảng ta đại biểu cho lợi ích chung của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động, chứ không phải mưu cầu lợi ích riêng của một nhóm người nào, của cá nhân nào. Đồng thời, Đảng phải đi sát quần chúng, khéo tổ chức và lãnh đạo quần chúng, thì cách mạng mới thành công.

     Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, đạo đức cách mạng chính là thể hiện ở mối quan hệ giữa đảng viên và quần chúng. Người nói: “Đảng ta là một đảng có tính chất quần chúng, có hàng chục vạn đảng viên”, vì vậy, phải có mối liên hệ chặt chẽ với quần chúng. Người đảng viên cũng như quần chúng, mỗi khi có khuyết điểm phải thành thật tự phê bình và phê bình để giúp đỡ nhau tiến bộ. “Đảng viên phạm sai lầm thì sẽ đưa quần chúng đến sai lầm, cho nên khi có sai lầm thì các đồng chí ấy sẵn sàng và kịp thời sửa chữa, không thể để nhiều sai lầm nhỏ cộng thành sai lầm to”. Và: “Chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa. Muốn sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà tự phê bình”. Đó là mối quan hệ thiết thực nhất giữa Đảng và quần chúng. Theo Người, khuyết điểm lớn là đảng viên không lắng nghe ý kiến của quần chúng. Khuyết điểm này cần phải sửa chữa ngay. Đạo đức cách mạng là hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng, cùng với quần chúng tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng.

VỀ “ĐƠN KHIẾU TỐ BỔ SUNG” TỐ CÁO NGUYỄN QUANG THIỀU CỦA NHÀ VĂN TRÚC PHƯƠNG!

      Mới đây, 10-12-2021, Nhà Văn Chiến sĩ Trúc Phương, với khí phách của một người từng tham gia cách mạng khi mới 15 tuổi, lại gởi tiếp lên TBT Nguyễn Phú Trọng, các vị có trọng trách và các cơ quan chức năng “Đơn khiếu tố bổ sung”, tố cáo tiếp Chủ tịch Hội Nhà Văn VN Nguyễn Quang Thiều. 

Trong đơn, Nhà Văn Trúc Phương viết: 

“Trước nhất là việc kiểm tra, thẩm tra lại quá trình đi ra khỏi Hội, làm ăn theo phương thức tư nhân ở một số khâu của báo chí bên ngoài thị trường, bỏ sinh hoạt Đảng hơn 5 năm”.

 Cái điều “làm ăn theo phương thức tư nhân” này khiến tôi nhớ lại cái lần Thiều muốn tôi viết một bài về thơ Thiều để tham dự cuộc Hội thảo về thơ Thiều do Nguyễn Đăng Điệp chủ trì tổ chức ở Viện Văn, nên Thiều khoe giờ đã có nhiều tiền, bảo tôi sửa soạn một cuốn sách đi Thiều sẽ tài trợ tiền in. Thêm nữa, một lần một nhà báo có địa vị từng học cùng với TBT Nguyễn Phú Trọng cũng khen Thiều rối rít khi giúp ông tiền in sách. Có một chút liên quan đến tâm linh ở đây. Tôi từng rất chú ý đọc cái bài của nhà báo này viết trên cand.com về chuyện một cựu binh Mỹ đã nhờ Bảo Ninh (khi sang Mỹ) mang kỉ vật của Đặng Thùy Trâm về VN đưa cho gia đình chị, nhưng Bảo Ninh đã không! Vậy mà tôi đã quên mất tiêu tên vị nhà báo. Nhưng rồi khi mở facebook, tôi thấy có bạn Ngô Bồng Lai comment một ý hay quá: “Nguyễn Quang Thiều đặc biệt nguy hiểm khi ở cương vị này. Trung Ương phải có hướng giải quyết trước khi quá muộn”. Thấy ấn tượng, tôi bấm Ngô Bồng Lai xem là ai thì thấy ngay trong danh sách bạn bè của Ngô Bồng Lai hiện ra cái tên đầu tiên là Dương Đức Quảng, chính là nhà báo mà tôi đang cố nhớ lại tên. Tôi nói với bà xã: “Ai đã xếp đặt chuyện kỳ lạ này?” Phải chăng có sự xếp đặt huyền bí là để giúp tôi nhớ ra tên nhà báo Dương Đức Quảng, để chỉ cho mọi người thấy cái chuyện một nhà báo lão luyện như ông, bạn học đại học của TBT Nguyễn Phú Trọng, vẫn bị lầm lẫn trước sự khôn ngoan lấy lòng thiên hạ của Nguyễn Quang Thiều. Dương Đức Quảng không hiểu được bản chất thật của Nguyễn Quang Thiều. Thiều biếu ông tiền in sách nhưng lại ca ngợi cuốn “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh là “Chạm vào mẫu số chung nhân loại”, trong khi cuốn sách bôi đen cuộc kháng chiến vĩ đại và đội quân cách mạng anh hùng, và tư cách tác giả Bảo Ninh ra sao thì chính ông một lần đã chỉ ra.  

Nhưng Thiều lấy tiền ở đâu để cho tôi (sau tôi không cần), cho anh Dương Đức Quảng, chưa hết, Thiều còn phải có thu nhập rất lớn mới có thể có xe hơi, nhà lầu, cho hai con du học Mỹ, (tôi có con du học Mỹ nên biết, trung bình một đứa khoảng 1 tỷ/năm). Vậy có phải Thiều có nhiều tiền do “làm ăn theo phương thức tư nhân” như đơn tố cáo của Nhà Văn Trúc Phương hay không? Hay còn có những khoản tài trợ phi pháp khác, trong đó có không sự tài trợ từ nước ngoài với mục đích chống phá VN?

 *** 

Nhà Văn Trúc Phương viết:

“Đảng phí là tình cảm, trách nhiệm… là bổn phận không thể thiếu của một đảng viên, nếu không nói là thiêng liêng, căn cội, chứ nào phải chỉ là công việc phải trả như trả nợ tiền góp chợ, hay thuế môn bài v.v... Đó là chưa nói đến việc mờ ám, bất minh, vô nguyên tắc nếu tổ chức Đảng ở Hội Nhà Văn hay Báo Văn Nghệ-nơi ông Thiều ra đi-lại cho phép ông Thiều đóng một lần với một cục tiền cho hơn 5 năm Đảng phí”.

 Nhà Văn trúc Phương viết:

“Rồi việc ông Thiều phải nhận kỷ luật cảnh cáo… Nếu ông Thiều bị kỷ luật thì theo nguyên tắc nào mà ông Thiều được cơ cấu vào chức Phó Chủ tịch và sau đó còn trực tiếp đảm đương chức vụ Giám đốc-Tổng Biên tập Nhà Xuất Bản của Hội?”

 Nhà Văn trúc Phương viết:

“… việc bố trí nhân sự, xây dựng bộ máy của Hội. Tôi đề nghị Ủy Ban Kiểm Tra và các Ban Ngành chức năng rà soát lại trong trách nhiệm và quyền hạn của mình về vấn đề nhân sự ở các bộ phận trọng yếu của Hội… Chủ tịch Hội đồng Lý Luận Phê Bình-người có liên quan trực tiếp đến Luận văn Thạc sĩ viết về nhóm “Mở miệng” đầy tai tiếng của Nhã Thuyên, tiếp đến là Chủ tịch Hội đồng Thơ, Giám đốc Nhà Xuất Bản của Hội, và những phòng ban khác… những con người với tư tưởng, tình cảm, khuynh hướng, quan điểm sáng tác theo hướng kỳ thị, đối lập, bài xích, thậm chí triệt hạ tinh thần sáng tác chính thống, truyền thống và Cách Mạng của nhân dân và chế độ ta, có thực sự xứng đáng nhận lấy những vị trí trọng trách trong Hội hay không… Và điều này có trái ngược hoàn toàn với lời đồng chí Tổng Bí Thư chỉ đạo trong Hội Nghị Văn Hóa & Văn Nghệ diễn ra ngày 24/11/2021 vừa qua hay không…” 

 Nhà Văn trúc Phương viết:

“Đề nghị Ban Tuyên Giáo và các Ban Ngành chức năng đọc lại, thẩm định lại các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp mà ông Nguyễn Quang Thiều hết lời ca ngợi; đồng thời với các quyển sách có tên “Tây Hùng Vương”, “Bi Kịch Gia Đình”, “Đất Mồ Côi”... cùng một số tác phẩm của các tác giả Hậu Hiện Đại, để có cách nhìn nhận… một cách nhất quán và khoa học tư tưởng, tình cảm, khuynh hướng lãnh đạo và sáng tác của ông Nguyễn Quang Thiều, cũng như của ông Nguyễn Đăng Điệp, ông Văn Giá, ông Inrasara, ông Phạm Lưu Vũ, ông Văn Chinh...” 

 Nhà Văn trúc Phương viết:

“… tôi khẩn thiết yêu cầu Ủy Ban Kiểm Tra Trung ương, Ban Tổ Chức Trung ương, Ban Tuyên Giáo, Ban Nội Chính, Bộ Công An vào cuộc (cần thiết phải dử dụng cả những biện pháp nghiệp vụ giám định khoa học) để xác minh, thẩm định lại nội dung tố giác mà tôi đã nêu…”

 Cuối cùng, Nhà Văn trúc Phương: “Nhân danh một đảng viên 53 tuổi Đảng, 56 năm là chiến sĩ Cách Mạng, sinh mệnh chính trị vẫn lành lặn, chưa bị trầy xước bởi một lần kỷ luật nào, tôi chân thành gửi đến Trung ương và các Ban Ngành những lời tâm huyết của tôi cùng yêu cầu về một sự bình đẳng, công bằng trong bổn phận, nghĩa vụ giữa các đảng viên trong Đảng, không phân biệt cao thấp, Trung ương hay địa phương, hưu trí hay còn đương nhiệm, trẻ hay già. Tôi sẵn sàng nhận lấy kỷ luật Đảng, sẵn sàng nhận chịu hình phạt của pháp luật để bảo vệ Đảng và chế độ, cũng là lý tưởng mà tôi đã một lòng một dạ đi theo và dâng hiến hết đời mình”.

 *** 

 Trong cuộc điện thoại mới đây với anh Thái Thăng Long, người cách nay gần 30 năm đã viết thư giới thiệu tôi với Nguyễn Quang Thiều, tôi nói:

 -Thằng Thiều bây giờ nó bậy bạ lắm rồi. Nó sử dụng thằng Inrasara một thằng bụi đời, bỏ học, làm Chủ tịch Hội đồng Thơ, đề cao thứ thơ “buồi, dái, lồn, cặc” (xin lỗi độc giả), vậy thì chúng nó coi thơ anh ra cái gì!

 -Tao đã bỏ sinh hoạt Hội Nhà Văn rồi, đã lâu tao cũng không gặp thằng Thiều.

 Như vậy, không chỉ Nhà thơ Đỗ Trung Lai do phản đối BCH mới của HNV đã xin ra khỏi HNV, mà Nhà Thơ Thái Thăng Long cũng không quan tâm sinh hoạt của Hội do đã quá chán chường cái Hội Nhà Văn giờ đã như một cái hố rác!

Môi Trường ST.

Yêu cầu đối với xã hội trong chống chủ nghĩa cá nhân


     Hiện nay, tăng cường vai trò giám sát của xã hội đối với hoạt động của bộ máy nhà nước và cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức quyền là một đòi hỏi cấp thiết. Bởi lẽ, nhân dân có ngàn vạn tai mắt, có thể đánh giá chính xác những ưu điểm, khuyết điểm của bộ máy chính quyền và của từng cán bộ, đảng viên. Đây cũng chính là điều Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Tin vào dân chúng… Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”6. Thời gian qua, nhiều vụ việc tiêu cực của cán bộ, đảng viên, công chức đã được xem xét, xử lý xuất phát từ những bức xúc của dư luận xã hội. Mặt khác, dư luận xã hội còn có tác dụng răn đe, cảnh báo đối với cán bộ, đảng viên, công chức trong thực hiện nhiệm vụ.

     Để phát huy vai trò của xã hội trong đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, Đảng và Nhà nước cần quan tâm hơn nữa đến việc xây dựng môi trường văn hóa, đạo đức xã hội lành mạnh. Chủ nghĩa cá nhân sẽ không còn đất sống khi mọi người đều hiểu biết sâu sắc, tự hào về lịch sử, văn hóa dân tộc; luôn khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng; nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân văn. Đồng thời, đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến xây dựng nền văn hóa, làm tha hóa con người. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách, thiết chế đồng bộ để thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội, tạo cơ sở pháp lý và điều kiện cần thiết để nhân dân tham gia phòng, chống tiêu cực. Mở rộng dân chủ trong Đảng và toàn xã hội; nâng cao ý thức chính trị và động viên, phát huy vai trò của nhân dân trong giám sát cán bộ, đảng viên, các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước. Phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của truyền thông, báo chí trong phản ánh các vụ việc tiêu cực và định hướng dư luận xã hội. Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân để khẳng định tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, tăng cường niềm tin của nhân dân vào sự thắng lợi của sự nghiệp cách mạng theo con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Yêu cầu đối với tổ chức đảng trong chống chủ nghĩa cá nhân


     Để quét sạch chủ nghĩa cá nhân, làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng, phải bắt đầu từ việc cấp ủy, tổ chức đảng các cấp tăng cường giáo dục lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, đường lối, chính sách của Đảng, nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên, củng cố lập trường giai cấp công nhân; làm cho cán bộ, đảng viên, quần chúng nhận rõ những căn bệnh do chủ nghĩa cá nhân sinh ra, tác hại của nó và sự cần thiết phải đấu tranh quét sạch chúng; xây dựng ý thức, tinh thần tích cực, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Cùng với đó, phải giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ sinh hoạt đảng; nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Đồng thời, thực hiện kiểm tra, giám sát có hiệu quả, đồng bộ từ trên xuống và từ dưới lên, nhằm kịp thời phát hiện những cán bộ, đảng viên mắc sai lầm, khuyết điểm để có biện pháp sửa chữa nghiêm túc, đặc biệt là đối với những cán bộ, đảng viên có chức, quyền gắn liền với những vị trí dễ mang lại đặc quyền, đặc lợi. Mọi biểu hiện thu nhập, chi tiêu không bình thường phải được thanh tra, kiểm tra làm rõ và công khai, minh bạch trước Đảng và nhân dân. Thực hiện nghiêm minh kỷ luật Đảng, kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những phần tử cơ hội, thực dụng, tham ô, tham nhũng, lợi ích nhóm, v.v. Kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng đạo đức cách mạng với chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

     Để chống chủ nghĩa cá nhân hiệu quả, phải đặc biệt chú trọng thực hành tự phê bình và phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Cấp ủy và từng đảng viên phải luôn nhận thức đúng, đầy đủ, sâu sắc rằng: tự phê bình và phê bình là động lực phát triển của Đảng, là nguyên tắc, chế độ thường xuyên trong tổ chức, sinh hoạt và hoạt động lãnh đạo của Đảng; là quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi tổ chức đảng và từng đảng viên; phương thuốc hữu hiệu nhất để toàn Đảng và mỗi đảng viên sửa chữa khuyết điểm, không ngừng tiến bộ và ngày một mạnh thêm. Từ đó, nâng cao chất lượng sinh hoạt tự phê bình và phê bình ở tổ chức đảng các cấp, nhất là ở cơ sở; khắc phục những biểu hiện hữu khuynh, né tránh, “dĩ hòa vi quý” hoặc lợi dụng phê bình để đả kích, gây mất đoàn kết nội bộ. Đồng thời, động viên tinh thần đấu tranh của mọi đảng viên, quần chúng, xây dựng cho họ niềm tin vào sức mạnh và thắng lợi của chính nghĩa; kiên quyết đấu tranh, không che giấu, nể nang, thiên vị, né tránh, sợ ảnh hưởng đến lợi ích của cá nhân và thành tích của đơn vị. Từng người phải lấy tinh thần xây dựng với tình cảm yêu thương, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau một cách chân tình và thẳng thắn; không thêm bớt, “đao to búa lớn”; tránh kỳ thị với người có khuyết điểm, v.v. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần nghiên cứu ban hành quy chế, quy định cụ thể, rõ ràng nhằm khuyến khích, bảo vệ, biểu dương người đấu tranh thẳng thắn. Đây là mấu chốt để xây dựng tính chiến đấu, phát huy tinh thần đấu tranh, dám nhìn thẳng vào sự thật, nói lên sự thật mà không sợ bị quy chụp, trù dập.


Xuyên tạc quanh chuyện làm căn cước công dân gắn chíp

 

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hiện đại hóa, nhất là trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, Đảng, Nhà nước luôn coi trọng việc đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ để phục vụ hiệu quả công tác quản lý nhà nước, quản lý dân cư và đảm bảo cuộc sống cho người dân.

Đặc biệt, 2 dự án: Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Sản xuất, cấp và quản lý căn cước công dân (CCCD) chính là chủ trương lớn nhằm góp phần xây dựng Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số, xã hội số và tạo nền tảng hình thành công dân số trên không gian mạng.

Tuy nhiên, thời gian gần đây, trên một số diễn đàn mạng xã hội xuất hiện những thông tin gây nhiễu loạn, bịa đặt, xuyên tạc chủ trương này nhằm hướng lái, “bẻ cong” vấn đề đảm bảo an ninh con người mà Đảng, Nhà nước ta đang tập trung thực hiện. Bằng những luận điệu không có căn cứ thực tiễn, các đối tượng có tư tưởng cực đoan, chống đối đã cố tình tung ra những thông tin sai sự thật, như “đi đâu cũng bị định vị”, “thẻ căn cước gắn chíp là để theo dõi người dân”, “Chính phủ, Bộ Công an thu thập dữ liệu cá nhân”… từ đó chỉ trích Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền nhằm gây mất ổn định về an ninh chính trị.

Thậm chí, các đối tượng còn ngụy tạo rằng “vì chỉ tiêu thiếu tính thực tế mà chính quyền ép dân làm căn cước công dân gắn chíp điện tử, làm lây lan dịch bệnh COVID-19 nhưng vẫn bao biện chối trách nhiệm”.

Rõ ràng, những thông tin “tung hỏa mù” này mặc dù đánh trực diện trên nhiều khía cạnh khác nhau như: an ninh chính trị, kinh tế, sức khỏe… nhưng tựu trung lại đều nhằm chĩa mũi nhọn công kích vào vấn đề an ninh con người đã được Đảng ta nhấn mạnh trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII. Trên thực tế, với việc ứng dụng những thành tựu công nghệ tiên tiến nhất trên thế giới, thẻ CCCD gắn chíp điện tử của Việt Nam ra đời không những giúp thúc đẩy mạnh mẽ việc chuyển đổi phương thức quản lý con người từ thủ công sang hiện đại, mà còn đảm bảo đầy đủ, chặt chẽ các yếu tố an ninh an toàn và có khả năng bảo mật thông tin ở mức độ rất cao. Đồng thời, sử dụng thẻ CCCD gắn chíp có thể phòng ngừa các loại giấy tờ giả mạo, giảm chi phí việc công chứng nhiều loại giấy tờ truyền thống, tạo thuận lợi cho công dân khi thực hiện các dịch vụ trực tuyến của Chính phủ điện tử.

Hơn nữa, mức độ an toàn, bảo mật của chíp rất cao và việc đối sánh sinh trắc học có thể thực hiện ngay trên chíp nên thông tin định danh của công dân được lưu trên thẻ là không thể thay đổi, hạn chế tối đa giả mạo. Mặt khác, chíp điện tử được sử dụng gắn trên thẻ CCCD không có khả năng định vị, thông tin lưu trữ trên chíp cần phải có công cụ chuyên dụng để đọc và thông tin mới được mã hóa.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã khẳng định: “Dữ liệu là tài nguyên, nhưng khác với tài nguyên truyền thống, tài nguyên dữ liệu càng được khai thác nhiều thì không bị mất đi, mà ngược lại càng tạo nên giá trị gia tăng”. Hiện, Bộ Công an đang tiếp tục đẩy mạnh triển khai các ứng dụng, tiện ích trên nền tảng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và thẻ CCCD gắn chíp điện tử để phục vụ hiệu quả, toàn diện trên mọi lĩnh vực. Nhất là trở thành trung tâm liên kết, thống nhất toàn bộ dữ liệu quốc gia, là công cụ hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý nhà nước về an ninh trật tự và đấu tranh, phòng chống tội phạm.

Đặc biệt, với tình hình chống dịch cấp bách, thẻ CCCD gắn chíp điện tử đã được tích hợp nhiều tiện ích quan trọng góp phần đảm bảo an ninh trên nhiều mặt an ninh sức khỏe, an ninh kinh tế, an ninh cá nhân và an ninh cộng đồng; tích hợp thông tin thẻ xanh tiêm chủng; giấy đi đường; xét nghiệm; thông tin về hưởng chế độ, chính sách theo Nghị quyết số 68/NQ-CP của Chính phủ…

Từ đầu năm 2021 đến nay, với tinh thần khẩn trương, cấp bách, lực lượng Công an cả nước đã ngày, đêm phấn đấu đạt được mục tiêu, hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Không những thế, trong thời điểm vô cùng khó khăn do chịu ảnh hưởng của làn sóng dịch COVID-19 lần 4 bùng phát, lực lượng Công an không quản ngại khó khăn, gian khổ, cùng với nhiều cách làm hay, sáng tạo, sâu sát, quyết liệt, an toàn, hiệu quả và sự đồng thuận, ủng hộ cao của cấp ủy, chính quyền và quần chúng nhân dân đã góp phần tạo nên sự thành công bước đầu của hai Dự án.

Có thể khẳng định, đây không chỉ là trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm chính trị, mà còn là danh dự của lực lượng CAND, vì thực hiện mục tiêu cao nhất là bảo đảm cuộc sống bình yên, an toàn, hạnh phúc cho người dân.

Tự mình

 

     Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: chủ nghĩa cá nhân là thứ giặc “nội xâm” vô cùng nguy hiểm, nó nằm ngay trong lòng mỗi con người, “ai cũng có một ít”, nó ẩn nấp đằng sau bức bình phong quyền và lợi ích cá nhân, đội lốt cái đặc quyền ấy của con người để ký sinh trên thân thể của tập thể, của Đảng, phá từ trong phá ra, làm biến chất, suy thoái Đảng. Chủ nghĩa cá nhân với những biểu hiện “muôn hình vạn trạng” của nó còn làm cho nhiều người mơ hồ rằng đó là “căn bệnh” của người khác, còn mình thì không. Do vậy, chống chủ nghĩa cá nhân trước hết là phải tự bản thân mỗi người, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải vượt lên chính mình, kiên quyết với chính mình.

      Trong nhận thức, tư tưởng của mỗi cán bộ, đảng viên, phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết; gột rửa cho sạch đầu óc ngôi thứ, địa vị, tư tưởng “dựa vào vị thế, uy tín của Đảng để theo đuổi mục đích riêng của mình”…; có thái độ kiên quyết, rõ ràng, không được “lừng chừng” trong cuộc chiến chống chủ nghĩa cá nhân. Luôn cảnh giác, đề phòng mọi biểu hiện của những căn bệnh từ cá nhân chủ nghĩa và tự đề kháng cho bản thân bằng việc thường xuyên phấn đấu, rèn luyện để nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức, tính kỷ luật. Mỗi cán bộ, đảng viên “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến”3, mà phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện và thực hành đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; luôn “trung với nước”, “hiếu với dân”, sẵn sàng hy sinh quên mình cho lý tưởng cách mạng của Đảng. Có đạo đức cách mạng sẽ không hề sợ sệt, rụt rè, lùi bước trước khó khăn, gian khổ, thắng không kiêu, bại không nản.

     Quá trình tu dưỡng đạo đức cách mạng, cần đề cao tính tự giác; nắm chắc những biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ ra để tự soi, tự sửa và tự răn mình. Đồng thời, xem việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là nhu cầu tự thân để tạo khả năng đề kháng tốt với chủ nghĩa cá nhân; cụ thể hóa thành những việc “làm theo” hiệu quả, sát chức trách, nhiệm vụ được giao. Kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân còn cần phải nêu cao tinh thần tự vấn, tự phê, dám nhận lỗi và quyết tâm sửa chữa để tiến bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chúng ta không sợ có khuyết điểm. Chúng ta chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi”4. Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đề nghị từng đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và mọi cán bộ, đảng viên, công chức cần thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, tự soi, tự sửa, tự răn mình, tránh xa những cám dỗ vật chất, tham vọng, tránh đi vào vết xe đổ, để tay nhúng chàm và nếu đã trót ít nhiều nhúng chàm rồi thì sớm tự giác gột rửa. “Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ mạnh khỏe vô cùng”5.