Thứ Hai, 13 tháng 12, 2021
Ứng xử với “công bộc ma-nơ-canh”
Ngành tuyên giáo Hà Nội với nỗ lực giữ bình yên cho thủ đô văn hiến (Phần II)
Ngành tuyên giáo Hà Nội với nỗ lực giữ bình yên cho thủ đô văn hiến
TIN GIẢ, HIỂM HỌA THẬT
Chiêu trò của Việt Tân núp bóng từ thiện – “chuông khánh còn chẳng ăn ai”
NGĂN NGỪA ÂM MƯU KÍCH ĐỘNG, CHIA RẼ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN
ALEXANDRE DE RHODER LÀ NHÀ TRUYỀN GIÁO CÓ TỘI VỚI ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM!
Mấy ngày qua, nhiều anh em dân chủ liên tục chia sẻ bài viết với tiêu đề "KHÓ VẬY MÀ HỌ CŨNG NGHĨ RA?", khẳng định rằng, nhiều người Việt Nam đã vô ơn bạc nghĩa khi cho rằng Alexandre de Rhodes (người được cho là tạo ra chữ Quốc ngữ) là gián điệp của Pháp; lại còn sử dụng chữ quốc ngữ mà ông này tạo ra để "ph.ỉ báng ông ta".
Câu chuyện về Alexandre de Rhodes đã được nhiều nhà sử học lên tiếng, tuy nhiên, với xu thế "xét lại lịch sử", "nhận giặc làm cha" đang nổi lên trong giới trí thức cấp tiến, việc xét lại vai trò của Alexandre de Rhodes và một số nhân vật lịch sử khác như Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký là điều có thể hiểu được.
Trước hết, cần phải hiểu, việc tạo ra chữ Quốc ngữ không nhằm "khai sáng" gì cho dân tộc ta, mà từ ban đầu, nó được các nhà truyền giáo tạo ra nhằm mục đích hàng đầu là cắt đứt gốc rễ văn hóa Việt Nam tồn tại hàng thế kỷ, coi đó là công cụ để đồng hóa dân tộc ta. Giám mục Puginier, người chỉ huy các hội truyền đạo Thiên chúa, trong bức thư gửi cho Bộ trưởng Hải quân và thuộc địa năm 1887 đã viết "phải bãi bỏ chư Nho và thay thế, lúc đầu bằng tiếng Việt Nam, bằng viết Châu Âu gọi là "quốc ngữ" rồi sau đó bằng tiếng Pháp. Và nếu người Việt Nam không còn đọc được sách cổ bằng chữ Nho hay bằng chữ Nôm thì họ há không dần dần đi đến chỗ không biết được văn hóa cùng văn minh của họ sao? Triết học Khổng giáo, nền tảng của tổ chức chính trị và xã hội trong nước há sẽ không bị chết dần mòn sao?
Về công lao tạo ra chữ quốc ngữ, Alexandre de Rhodes không phải là người phát minh ra chữ quốc ngữ, mà chỉ là người đã sử dụng và góp phần quảng bá nó như ông đã viết trong “Lời nói đầu” của “Từ điển Việt – Bồ - La”: “Tuy nhiên trong công việc này, ngoài những điều mà tôi đã học được nhờ chính người bản xứ trong suốt gần 12 năm mà tôi lưu trú tại hai xứ Cochinchine và Đông Kinh, thì ngay từ đầu tôi đã học với cha Francisco de Pina, người Bồ Đào Nha, thuộc Hội dòng Jê-su rất nhỏ bé chúng tôi, là thầy dạy tiếng, người thứ nhất trong chúng tôi rất am tường tiếng này. Tôi cũng sử dụng những công trình của nhiều cha khác cùng một Hội dòng, nhất là của cha Gaspar de Almaral và cha Antonio Barbosa, cả hai ông đều đã biên soạn mỗi ông một cuốn từ điển: ông trước bắt đầu bằng tiếng An Nam, ông sau bằng tiếng Bồ Đào Nha…”.
Sau này, Linh mục người Pháp Roland Jacques đã phát hiện 2 tác phẩm chưa công bố của linh mục người Bồ Đào Nha Francisco de Pina (1585 - 1625) gồm bức thư viết dở bằng Bồ ngữ ở Ma Cao và tiểu luận Nhập môn tiếng Đàng Ngoài bằng La ngữ tại Bồ Đào Nha. Nhờ đó, năm 2002 Roland Jacques đã chứng minh Pina mới chính là người đầu tiên sáng tạo ra chữ quốc ngữ. Pina đến Đàng Trong năm 1617, sau đó học tiếng Việt, trở thành giáo sĩ đầu tiên giảng đạo cho tín đồ bản địa mà không cần phiên dịch. Ông biên soạn tài liệu Phương pháp Latin hóa tiếng Việt và cuốn Ngữ pháp tiếng Việt; dạy tiếng Việt cho một số giáo sĩ khác, trong đó có Rhodes (đến Thanh Chiêm năm 1624).
Ở một khía cạnh khác, chính Alexandre de Rhodes là người đã vận động Chính phủ Pháp xâm lược Việt Nam. Ông này là người đóng vai trò quan trọng trong thành lập Hội thừa sai Paris, tổ chức nhằm "tiến hành nhiệm vụ thực dân, cũng chinh phục và tiêu diệt, tham gia các cuộc chinh phạt để đoạt lấy quyền uy vinh quang và lợi tức. Điều quan trọng nhất của Hội Thừa Sai là đồng hóa văn hóa của các xứ bản địa” (Tự Điển Bách Khoa Hoàn Vũ (Encyclopedia Universallis) của Pháp xuất bản năm 1990). Chính ông này đã vận động Pháp xâm chiếm và đô hộ nước ta qua đoạn văn do chính ông viết trong cuốn “Hành trình và truyền giáo” như sau:
“Tôi tưởng nước Pháp là một nước đạo đức nhất thế giới, nước Pháp có thể cung cấp cho tôi các binh lính (plusieurs soldats) đi chinh phục toàn cõi Đông phương (la conquête de tout l’Orient), đưa về qui phục Chúa Kitô và nhất là tôi sẽ tìm được các giám mục, cha chúng tôi và thầy chúng tôi trong các giáo đoàn. Với ý đó, tôi rời bỏ Rôma ngày 11 tháng 9 năm 1652 sau khi tới hôn chân Đức Giáo hoàng.
Tôi chưa công bố thánh chiến chống mọi địch thù của đức tin ở Nhật, ở Trung Hoa, ở Đàng Trong, ở Đàng Ngoài và ở Ba Tư thì lập tức đã có một số đông con cái thánh Inhaxu, đầy tinh thần đã đưa thánh Phanxicô Xavie tới 300 quốc gia, các ngài đã bừng bừng ao ước vác thánh giá Thầy và đem đi cắm ở những nơi cùng kiệt cõi đất.”
Ông cựu Chủng sinh Giáo hoàng Chủng viện Bùi Chu - Phát Diệm, cựu Thiếu tá Trưởng ban Quân Pháp Tòa án Quân sự VNCH Charlie Nguyễn Bùi Văn Chấn, sau khi định cư ở Mỹ qua diện HO, ông đã cương quyết dùng sở trường viết Cáo trạng của mình hạ bút khẳng định như sau trước lịch sử:
"...dù cho chữ quốc ngữ đã được phát minh do Alexandre de Rhôde hay do các tu sĩ dòng Tên Bồ Đào Nha trong thế kỷ 17 thì bản chất của nó vẫn không thay đổi: Chữ Quốc Ngữ không phải là một món quà tặng do ngoại nhân có lòng tốt đem lại cho chúng ta. Nó thực sự chỉ là một thứ vũ khí do địch sáng chế để truyền vào dân tộc ta một thứ tôn giáo p.hi nhân, nhằm mục đích n.ô dị.ch nhân dân ta và đưa tổ quốc ta vào vòng nô lệ của chúng.
Nay chúng ta dùng chính vũ khí đó của địch để đánh địch và tay sai. Đó là công việc mà các tác giả Giao Điểm đang làm. Các tác giả Giao Điểm đang noi gương tiền nhân dùng đòn “gậy ông đập lưng ông” trong mục tiêu xây dựng đất nước và bảo vệ văn hóa dân tộc: Noi gương Lý Thường Kiệt xưa kia dùng chữ Hán để viết “Nam Quốc Sơn Hà, Nam Đế Cư” để xác nhận chủ quyền của tổ quốc. Trần Hưng Đạo dùng chữ Hán để viết “Hịch Tướng Sĩ” động viên toàn dân chống quân Nguyên. Nguyễn Trãi dùng chữ Hán viết “Bình Ngô Đại Cáo”. Trong thập niên 1930, các nhà cách mạng yêu nước Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu đã cổ xúy việc học chữ quốc ngữ để mở mang dân trí và phổ biến tư tưởng cách mạng nhằm đánh đuổi thực dân Pháp. Đòn “gậy ông đập lưng ông” là một chiến thuật lâu đời trong truyền thống chiến đấu bảo vệ tổ quốc của nhân dân ta.
Để cụ thể hóa thái độ của chúng ta đối với bọn giáo sĩ đã sáng tạo ra chữ quốc ngữ, chúng ta hãy hình dung một tên cướp đột nhập vào nhà chúng ta với một con dao. Khi bị cảnh sát rượt đuổi, tên cướp đã vứt bỏ lại con dao tang vật. Hành động đúng nhất là chúng ta hãy sử dụng con dao tang vật vào những việc hữu ích, như cắt rau, thái thịt, v.v… Chạy theo tên cướp để cám ơn nó đã để lại con dao rõ ràng là một hành vi ng* x.uẩn. Hô hào mọi người phải cám ơn bọn giáo sĩ đã sáng tạo ra chữ quốc ngữ cũng là một hành vi ng* x.uẩn tương tự."
Lịch sử phải được tôn trọng, dựa trên các căn cứ lịch sử. Không phải mở mắt ra sau vài chục năm, đọc được vài tài liệu trên mạng rồi thích xét lại lịch sử thế nào là được đâu./.
Yêu nước ST.
Luận điệu lạc lõng, sáo rỗng
CẦN NHẬN RÕ NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC CỦA CÁCH MẠNG DO ĐẢNG LÃNH ĐẠO VÀ NHỮNG HẠN CHẾ TRONG ĐẢNG
Trong mỗi nhiệm kỳ Đại hội Đảng, Hội nghị Trung ương lần thứ tư thường diễn ra vào quý IV năm đầu của nhiệm kỳ. Hội nghị Trung ương lần thứ tư các nhiệm kỳ Đại hội XI, XII và XIII của Đảng đều có nội dung bàn về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Điều đó cho thấy, Đảng ta đặc biệt quan tâm tới sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới. Hội nghị Trung ương lần thứ tư khóa XIII là sự kế thừa, phát triển các nghị quyết hội nghị Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong 35 năm đổi mới, đặc biệt là Hội nghị Trung ương lần thứ tư khóa XI và XII.
Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII nêu rõ thành tựu của cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đó là “từ ngày có Đảng, nhân dân ta đã có người lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, và nhờ thế đã giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức và đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào về bản chất tốt đẹp, truyền thống anh hùng và lịch sử vẻ vang của Đảng ta -Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sáng lập và rèn luyện, đại biểu của dân tộc Việt Nam anh hùng”.
Đồng thời, Nghị quyết cũng vạch ra những tiêu cực, hư hỏng của cán bộ, đảng viên, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trong đó, nhấn mạnh nhất là sự “phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm đường lối của Đảng; sa sút về ý chí chiến đấu, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh; thậm chí còn phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao; không thực hiện đúng các nguyên tắc xây dựng Đảng và tổ chức sinh hoạt Đảng”.
Trung ương nhấn mạnh nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, “bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân, từ việc bản thân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên mất trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước dân”. Vì vậy, Trung ương nhấn mạnh phải “kiên quyết đấu tranh quét sạch chủ nghĩa cá nhân trong toàn Đảng”.
Nhân đây, cần nói thêm, nhấn mạnh mấy điểm về chủ nghĩa cá nhân.
Chủ nghĩa cá nhân là quan điểm của người chỉ chú trọng đến quyền lợi riêng của mình, đặt quyền lợi của cá nhân mình lên trên quyền lợi của toàn thể và của xã hội. Khác với cá nhân chủ nghĩa là nói đến hành vi cụ thể chỉ nghĩ đến quyền lợi của riêng mình, không nghĩ đến quyền lợi của người khác hay của tập thể, nói chủ nghĩa cá nhân là nói đến quan điểm, tức là cách xem xét và giải quyết vấn đề quan hệ giữa cá nhân và tổ chức, giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung theo lập trường, quan điểm và tư tưởng nào? Trung ương nói tới chủ nghĩa cá nhân là nói tới cái nguồn, cái gốc có tính chất bao trùm, xuyên suốt, cao hơn, rộng hơn, sâu hơn cá nhân chủ nghĩa, “cha đẻ” của mọi thứ xấu xa, tội lỗi, trong đó, có cá nhân chủ nghĩa. Vì vậy, muốn đẩy lùi các tiêu cực, suy thoái, tha hóa của cán bộ, đảng viên “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thì phải tiêu diệt, quét sạch, nhổ tận gốc là chủ nghĩa cá nhân.
Đánh giá tư tưởng và ý thức của đảng viên là thông qua cách xem xét, bàn bạc và hành động của đảng viên đối với các vấn đề quan trọng của cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng, tổ chức, đường lối cách mạng. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Xem thái độ và lập trường của mọi người đối với những vấn đề căn bản của cuộc đấu tranh chính trị, xem cách bàn bạc hành động, xem kế hoạch, phương châm của họ đối với những vấn đề ấy, thì ta biết rõ họ đại biểu cho tư tưởng, quan điểm, mong muốn, và lợi ích của giai cấp nào”(1).
Chủ nghĩa cá nhân là trái ngược với chủ nghĩa tập thể. Cách đặt vấn đề của chủ nghĩa tập thể là luôn luôn xuất phát từ lợi ích cách mạng để phục vụ cho lợi ích cách mạng. Ý thức và tư tưởng của giai cấp vô sản biểu hiện cụ thể, rõ ràng trong lập trường và thái độ, đường lối và phương châm trong hoạt động và đấu tranh chính trị phục vụ cho lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Người nhận thức rõ và đề cao chủ nghĩa tập thể là người có đảng tính. Tức là bất kỳ bao giờ, ở đâu, bất kỳ việc gì dù lớn hay bé đều phải tính đến lợi ích chung của cách mạng. Tư tưởng của những người theo chủ nghĩa tập thể là chỉ có sự nghiệp của Đảng và dân tộc, lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, việc của cá nhân và lợi ích cá nhân để lại sau. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích gì khác”(2).
Cách đặt vấn đề của chủ nghĩa cá nhân là xuất phát từ cá nhân để phục vụ cho cá nhân. Do đó, cách giải quyết của người mang nặng chủ nghĩa cá nhân, thậm chí chỉ dính vào chủ nghĩa cá nhân là khi thấy lợi ích cá nhân và lợi ích của Đảng, của cách mạng, Tổ quốc, nhân dân có mâu thuẫn, thì họ không sẵn sàng, không kiên quyết đặt lợi ích chung của cách mạng lên trên hết, lên trước hết. Thậm chí họ làm ngược lại, đặt lợi ích cá nhân ra trước lợi ích của Đảng; lợi ích của nhân dân phục tùng lợi ích cá nhân; lợi ích toàn thể phục tùng lợi ích nhóm. “Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”(3).
Vấn đề chủ nghĩa cá nhân đã được Hồ Chí Minh đề cập từ rất sớm. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, Người chỉ ra “trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư”, cho nên mắc phải chứng chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh nguy hiểm”(4). Chỉ dẫn của Hồ Chí Minh cho ta nhận thức chủ nghĩa cá nhân là bệnh gốc, bệnh mẹ; là vi trùng rất độc; chống chủ nghĩa cá nhân phải đi liền với thực hành chí công vô tư, nêu cao chủ nghĩa tập thể.
Trong di sản của mình, Hồ Chí Minh chỉ rõ chủ nghĩa cá nhân là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc. Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó. “Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”(5). Phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng.
C ần phải hiểu thấu, nói đến chủ nghĩa cá nhân là nói đến tư tưởng tiểu tư sản ở trong mỗi người. Nó chờ dịp thất bại hoặc thắng lợi là ngóc đầu dậy. Nhưng thể hiện từng nơi, từng lúc, từng trình độ, cương vị công tác khác nhau.
Nghị quyết Trung ương chỉ ra đối với cán bộ, đảng viên, chủ nghĩa cá nhân biểu hiện ở chỗ sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, hám quyền lực, tham nhũng, tiêu cực; bè phái, cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của dân. Từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thể lực xấu, thù địch, cơ hội, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.
Phải nhận thức đúng đắn rằng “đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”(6). Bởi vì, “mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích tập thể thì không phải là xấu”(7). Vấn đề là ở chỗ “lợi ích của cá nhân gắn liền với lợi ích của tập thể. Nếu lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể”(8).
Lối áp đặt lỗi thời
Quan điểm của Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân (CNCN).
Trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh việc chống chủ nghĩa cá nhân (CNCN). Vì CNCN là thứ trái ngược với chủ nghĩa tập thể và CNXH. Cùng với phê phán những thói hư, tật xấu do chế độ cũ để lại mà mọi người cần biết để tránh, Người nhấn mạnh: “CNCN là như một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm”.
| Ảnh tư liệu: tuyengiao.vn. |
Theo Người, có chống CNCN mới xây dựng đạo đức cách mạng được. Trong tác phẩm này, Người nhiều lần nhắc đến CNCN và chống CNCN. Vấn đề này sau đó, Người đã nêu tiếp trong một số tác phẩm, trong đó có tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, viết năm 1969, nhân dịp kỷ niệm 39 năm Ngày thành lập Đảng. Trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng”, Người luận rằng, những người theo CNCN thường biểu hiện ở việc “kể công” với Đảng, đòi ưu đãi, hưởng thụ, danh dự và địa vị, đòi hỏi quá nhiều quyền lợi cá nhân. Có ít nhiều thành tích, thì họ muốn Đảng “cảm ơn” họ. Nếu không thỏa mãn yêu cầu của cá nhân, thì họ oán trách Đảng, cho rằng họ “không có tiền đồ”, họ “bị hy sinh”, rồi dần dần xa rời Đảng, vi phạm kỷ luật Đảng, phá hoại chính sách của Đảng và Nhà nước. Đảng viên bị CNCN trói buộc trở nên kiêu ngạo, công thần, tự cao tự đại, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Họ phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình họ; không tự phê bình hoặc phê bình một cách không thật thà, nghiêm chỉnh. Họ sợ tự phê bình thì sẽ mất thể diện, mất uy tín”. Đó cũng là một thứ CNCN cần phải phê phán.
Ngay ở thời điểm viết tác phẩm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, CNCN đang ám ảnh một số đồng chí, sinh bệnh quan liêu, mệnh lệnh, kèn cựa, địa vị, vác mặt làm “quan cách mạng”, chung quy là họ không làm nên trò trống gì. Quan điểm của Người là đấu tranh chống CNCN không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”, mà là tôn trọng lợi ích cá nhân, nhưng lợi ích cá nhân phải nằm trong lợi ích của tập thể, không mâu thuẫn với lợi ích của tập thể, là một bộ phận của lợi ích tập thể. Một khi lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể. CNCN là một trở ngại lớn cho việc xây dựng CNXH. Vì vậy, thắng lợi của CNXH không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh chống CNCN. Người kết luận: “CNCN là một kẻ địch hung ác của CNXH. Người cách mạng phải tiêu diệt nó”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu vấn đề đạo đức cách mạng và chống CNCN còn phải được thể hiện ở việc học tập, nghiên cứu, làm việc để không ngừng tiến bộ. Theo Người, trong học tập, trước hết, phải học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin. Vì có học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao sự hiểu biết và trình độ chính trị, hoàn thành nhiệm vụ được giao; để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn. Người phê bình một số người học thuộc lòng sách vở của Chủ nghĩa Mác-Lênin, nhưng khi va chạm đến thực tế, thì lúng túng hoặc giải quyết một cách máy móc. Họ học sách vở Mác-Lênin, nhưng không học tinh thần của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Học để trang sức, chứ không phải vận dụng vào công việc cách mạng. Người khẳng định: “Xét cho cùng, đó cũng là CNCN”.
Cùng với chỉ rõ việc cán bộ, đảng viên phải ngǎn ngừa và kiên quyết chống lại CNCN, trong tác phẩm “Đạo đức cách mạnh”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng yêu cầu “mọi đảng viên phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, trước Đảng”. Bởi theo Người, những chính sách và nghị quyết của Đảng đều vì lợi ích của nhân dân. Vì vậy, đạo đức cách mạng của người đảng viên là bất kỳ khó khǎn đến mức nào cũng kiên quyết làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng, làm gương mẫu cho quần chúng. Đảng ta đại biểu cho lợi ích chung của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động, chứ không phải mưu cầu lợi ích riêng của một nhóm người nào, của cá nhân nào. Đồng thời, Đảng phải đi sát quần chúng, khéo tổ chức và lãnh đạo quần chúng, thì cách mạng mới thành công.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, đạo đức cách mạng chính là thể hiện ở mối quan hệ giữa đảng viên và quần chúng. Người nói: “Đảng ta là một đảng có tính chất quần chúng, có hàng chục vạn đảng viên”, vì vậy, phải có mối liên hệ chặt chẽ với quần chúng. Người đảng viên cũng như quần chúng, mỗi khi có khuyết điểm phải thành thật tự phê bình và phê bình để giúp đỡ nhau tiến bộ. “Đảng viên phạm sai lầm thì sẽ đưa quần chúng đến sai lầm, cho nên khi có sai lầm thì các đồng chí ấy sẵn sàng và kịp thời sửa chữa, không thể để nhiều sai lầm nhỏ cộng thành sai lầm to”. Và: “Chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa. Muốn sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà tự phê bình”. Đó là mối quan hệ thiết thực nhất giữa Đảng và quần chúng. Theo Người, khuyết điểm lớn là đảng viên không lắng nghe ý kiến của quần chúng. Khuyết điểm này cần phải sửa chữa ngay. Đạo đức cách mạng là hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng, cùng với quần chúng tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng.
VỀ “ĐƠN KHIẾU TỐ BỔ SUNG” TỐ CÁO NGUYỄN QUANG THIỀU CỦA NHÀ VĂN TRÚC PHƯƠNG!
Mới đây, 10-12-2021, Nhà Văn Chiến sĩ Trúc Phương, với khí phách của một người từng tham gia cách mạng khi mới 15 tuổi, lại gởi tiếp lên TBT Nguyễn Phú Trọng, các vị có trọng trách và các cơ quan chức năng “Đơn khiếu tố bổ sung”, tố cáo tiếp Chủ tịch Hội Nhà Văn VN Nguyễn Quang Thiều.
Trong đơn, Nhà Văn Trúc Phương viết:
“Trước nhất là việc kiểm tra, thẩm tra lại quá trình đi ra khỏi Hội, làm ăn theo phương thức tư nhân ở một số khâu của báo chí bên ngoài thị trường, bỏ sinh hoạt Đảng hơn 5 năm”.
Cái điều “làm ăn theo phương thức tư nhân” này khiến tôi nhớ lại cái lần Thiều muốn tôi viết một bài về thơ Thiều để tham dự cuộc Hội thảo về thơ Thiều do Nguyễn Đăng Điệp chủ trì tổ chức ở Viện Văn, nên Thiều khoe giờ đã có nhiều tiền, bảo tôi sửa soạn một cuốn sách đi Thiều sẽ tài trợ tiền in. Thêm nữa, một lần một nhà báo có địa vị từng học cùng với TBT Nguyễn Phú Trọng cũng khen Thiều rối rít khi giúp ông tiền in sách. Có một chút liên quan đến tâm linh ở đây. Tôi từng rất chú ý đọc cái bài của nhà báo này viết trên cand.com về chuyện một cựu binh Mỹ đã nhờ Bảo Ninh (khi sang Mỹ) mang kỉ vật của Đặng Thùy Trâm về VN đưa cho gia đình chị, nhưng Bảo Ninh đã không! Vậy mà tôi đã quên mất tiêu tên vị nhà báo. Nhưng rồi khi mở facebook, tôi thấy có bạn Ngô Bồng Lai comment một ý hay quá: “Nguyễn Quang Thiều đặc biệt nguy hiểm khi ở cương vị này. Trung Ương phải có hướng giải quyết trước khi quá muộn”. Thấy ấn tượng, tôi bấm Ngô Bồng Lai xem là ai thì thấy ngay trong danh sách bạn bè của Ngô Bồng Lai hiện ra cái tên đầu tiên là Dương Đức Quảng, chính là nhà báo mà tôi đang cố nhớ lại tên. Tôi nói với bà xã: “Ai đã xếp đặt chuyện kỳ lạ này?” Phải chăng có sự xếp đặt huyền bí là để giúp tôi nhớ ra tên nhà báo Dương Đức Quảng, để chỉ cho mọi người thấy cái chuyện một nhà báo lão luyện như ông, bạn học đại học của TBT Nguyễn Phú Trọng, vẫn bị lầm lẫn trước sự khôn ngoan lấy lòng thiên hạ của Nguyễn Quang Thiều. Dương Đức Quảng không hiểu được bản chất thật của Nguyễn Quang Thiều. Thiều biếu ông tiền in sách nhưng lại ca ngợi cuốn “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh là “Chạm vào mẫu số chung nhân loại”, trong khi cuốn sách bôi đen cuộc kháng chiến vĩ đại và đội quân cách mạng anh hùng, và tư cách tác giả Bảo Ninh ra sao thì chính ông một lần đã chỉ ra.
Nhưng Thiều lấy tiền ở đâu để cho tôi (sau tôi không cần), cho anh Dương Đức Quảng, chưa hết, Thiều còn phải có thu nhập rất lớn mới có thể có xe hơi, nhà lầu, cho hai con du học Mỹ, (tôi có con du học Mỹ nên biết, trung bình một đứa khoảng 1 tỷ/năm). Vậy có phải Thiều có nhiều tiền do “làm ăn theo phương thức tư nhân” như đơn tố cáo của Nhà Văn Trúc Phương hay không? Hay còn có những khoản tài trợ phi pháp khác, trong đó có không sự tài trợ từ nước ngoài với mục đích chống phá VN?
***
Nhà Văn Trúc Phương viết:
“Đảng phí là tình cảm, trách nhiệm… là bổn phận không thể thiếu của một đảng viên, nếu không nói là thiêng liêng, căn cội, chứ nào phải chỉ là công việc phải trả như trả nợ tiền góp chợ, hay thuế môn bài v.v... Đó là chưa nói đến việc mờ ám, bất minh, vô nguyên tắc nếu tổ chức Đảng ở Hội Nhà Văn hay Báo Văn Nghệ-nơi ông Thiều ra đi-lại cho phép ông Thiều đóng một lần với một cục tiền cho hơn 5 năm Đảng phí”.
Nhà Văn trúc Phương viết:
“Rồi việc ông Thiều phải nhận kỷ luật cảnh cáo… Nếu ông Thiều bị kỷ luật thì theo nguyên tắc nào mà ông Thiều được cơ cấu vào chức Phó Chủ tịch và sau đó còn trực tiếp đảm đương chức vụ Giám đốc-Tổng Biên tập Nhà Xuất Bản của Hội?”
Nhà Văn trúc Phương viết:
“… việc bố trí nhân sự, xây dựng bộ máy của Hội. Tôi đề nghị Ủy Ban Kiểm Tra và các Ban Ngành chức năng rà soát lại trong trách nhiệm và quyền hạn của mình về vấn đề nhân sự ở các bộ phận trọng yếu của Hội… Chủ tịch Hội đồng Lý Luận Phê Bình-người có liên quan trực tiếp đến Luận văn Thạc sĩ viết về nhóm “Mở miệng” đầy tai tiếng của Nhã Thuyên, tiếp đến là Chủ tịch Hội đồng Thơ, Giám đốc Nhà Xuất Bản của Hội, và những phòng ban khác… những con người với tư tưởng, tình cảm, khuynh hướng, quan điểm sáng tác theo hướng kỳ thị, đối lập, bài xích, thậm chí triệt hạ tinh thần sáng tác chính thống, truyền thống và Cách Mạng của nhân dân và chế độ ta, có thực sự xứng đáng nhận lấy những vị trí trọng trách trong Hội hay không… Và điều này có trái ngược hoàn toàn với lời đồng chí Tổng Bí Thư chỉ đạo trong Hội Nghị Văn Hóa & Văn Nghệ diễn ra ngày 24/11/2021 vừa qua hay không…”
Nhà Văn trúc Phương viết:
“Đề nghị Ban Tuyên Giáo và các Ban Ngành chức năng đọc lại, thẩm định lại các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp mà ông Nguyễn Quang Thiều hết lời ca ngợi; đồng thời với các quyển sách có tên “Tây Hùng Vương”, “Bi Kịch Gia Đình”, “Đất Mồ Côi”... cùng một số tác phẩm của các tác giả Hậu Hiện Đại, để có cách nhìn nhận… một cách nhất quán và khoa học tư tưởng, tình cảm, khuynh hướng lãnh đạo và sáng tác của ông Nguyễn Quang Thiều, cũng như của ông Nguyễn Đăng Điệp, ông Văn Giá, ông Inrasara, ông Phạm Lưu Vũ, ông Văn Chinh...”
Nhà Văn trúc Phương viết:
“… tôi khẩn thiết yêu cầu Ủy Ban Kiểm Tra Trung ương, Ban Tổ Chức Trung ương, Ban Tuyên Giáo, Ban Nội Chính, Bộ Công An vào cuộc (cần thiết phải dử dụng cả những biện pháp nghiệp vụ giám định khoa học) để xác minh, thẩm định lại nội dung tố giác mà tôi đã nêu…”
Cuối cùng, Nhà Văn trúc Phương: “Nhân danh một đảng viên 53 tuổi Đảng, 56 năm là chiến sĩ Cách Mạng, sinh mệnh chính trị vẫn lành lặn, chưa bị trầy xước bởi một lần kỷ luật nào, tôi chân thành gửi đến Trung ương và các Ban Ngành những lời tâm huyết của tôi cùng yêu cầu về một sự bình đẳng, công bằng trong bổn phận, nghĩa vụ giữa các đảng viên trong Đảng, không phân biệt cao thấp, Trung ương hay địa phương, hưu trí hay còn đương nhiệm, trẻ hay già. Tôi sẵn sàng nhận lấy kỷ luật Đảng, sẵn sàng nhận chịu hình phạt của pháp luật để bảo vệ Đảng và chế độ, cũng là lý tưởng mà tôi đã một lòng một dạ đi theo và dâng hiến hết đời mình”.
***
Trong cuộc điện thoại mới đây với anh Thái Thăng Long, người cách nay gần 30 năm đã viết thư giới thiệu tôi với Nguyễn Quang Thiều, tôi nói:
-Thằng Thiều bây giờ nó bậy bạ lắm rồi. Nó sử dụng thằng Inrasara một thằng bụi đời, bỏ học, làm Chủ tịch Hội đồng Thơ, đề cao thứ thơ “buồi, dái, lồn, cặc” (xin lỗi độc giả), vậy thì chúng nó coi thơ anh ra cái gì!
-Tao đã bỏ sinh hoạt Hội Nhà Văn rồi, đã lâu tao cũng không gặp thằng Thiều.
Như vậy, không chỉ Nhà thơ Đỗ Trung Lai do phản đối BCH mới của HNV đã xin ra khỏi HNV, mà Nhà Thơ Thái Thăng Long cũng không quan tâm sinh hoạt của Hội do đã quá chán chường cái Hội Nhà Văn giờ đã như một cái hố rác!
Môi Trường ST.
Yêu cầu đối với xã hội trong chống chủ nghĩa cá nhân
Hiện nay, tăng cường vai trò giám sát của xã hội đối với hoạt động của bộ máy nhà nước và cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức quyền là một đòi hỏi cấp thiết. Bởi lẽ, nhân dân có ngàn vạn tai mắt, có thể đánh giá chính xác những ưu điểm, khuyết điểm của bộ máy chính quyền và của từng cán bộ, đảng viên. Đây cũng chính là điều Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Tin vào dân chúng… Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”6. Thời gian qua, nhiều vụ việc tiêu cực của cán bộ, đảng viên, công chức đã được xem xét, xử lý xuất phát từ những bức xúc của dư luận xã hội. Mặt khác, dư luận xã hội còn có tác dụng răn đe, cảnh báo đối với cán bộ, đảng viên, công chức trong thực hiện nhiệm vụ.
Để phát huy vai trò của xã hội trong đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, Đảng và Nhà nước cần quan tâm hơn nữa đến việc xây dựng môi trường văn hóa, đạo đức xã hội lành mạnh. Chủ nghĩa cá nhân sẽ không còn đất sống khi mọi người đều hiểu biết sâu sắc, tự hào về lịch sử, văn hóa dân tộc; luôn khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng; nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân văn. Đồng thời, đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến xây dựng nền văn hóa, làm tha hóa con người. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách, thiết chế đồng bộ để thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội, tạo cơ sở pháp lý và điều kiện cần thiết để nhân dân tham gia phòng, chống tiêu cực. Mở rộng dân chủ trong Đảng và toàn xã hội; nâng cao ý thức chính trị và động viên, phát huy vai trò của nhân dân trong giám sát cán bộ, đảng viên, các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước. Phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của truyền thông, báo chí trong phản ánh các vụ việc tiêu cực và định hướng dư luận xã hội. Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân để khẳng định tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, tăng cường niềm tin của nhân dân vào sự thắng lợi của sự nghiệp cách mạng theo con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.
Yêu cầu đối với tổ chức đảng trong chống chủ nghĩa cá nhân
Để quét sạch chủ nghĩa cá nhân, làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng, phải bắt đầu từ việc cấp ủy, tổ chức đảng các cấp tăng cường giáo dục lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, đường lối, chính sách của Đảng, nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên, củng cố lập trường giai cấp công nhân; làm cho cán bộ, đảng viên, quần chúng nhận rõ những căn bệnh do chủ nghĩa cá nhân sinh ra, tác hại của nó và sự cần thiết phải đấu tranh quét sạch chúng; xây dựng ý thức, tinh thần tích cực, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Cùng với đó, phải giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ sinh hoạt đảng; nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Đồng thời, thực hiện kiểm tra, giám sát có hiệu quả, đồng bộ từ trên xuống và từ dưới lên, nhằm kịp thời phát hiện những cán bộ, đảng viên mắc sai lầm, khuyết điểm để có biện pháp sửa chữa nghiêm túc, đặc biệt là đối với những cán bộ, đảng viên có chức, quyền gắn liền với những vị trí dễ mang lại đặc quyền, đặc lợi. Mọi biểu hiện thu nhập, chi tiêu không bình thường phải được thanh tra, kiểm tra làm rõ và công khai, minh bạch trước Đảng và nhân dân. Thực hiện nghiêm minh kỷ luật Đảng, kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những phần tử cơ hội, thực dụng, tham ô, tham nhũng, lợi ích nhóm, v.v. Kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng đạo đức cách mạng với chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Để chống chủ nghĩa cá nhân hiệu quả, phải đặc biệt chú trọng thực hành tự phê bình và phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Cấp ủy và từng đảng viên phải luôn nhận thức đúng, đầy đủ, sâu sắc rằng: tự phê bình và phê bình là động lực phát triển của Đảng, là nguyên tắc, chế độ thường xuyên trong tổ chức, sinh hoạt và hoạt động lãnh đạo của Đảng; là quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi tổ chức đảng và từng đảng viên; phương thuốc hữu hiệu nhất để toàn Đảng và mỗi đảng viên sửa chữa khuyết điểm, không ngừng tiến bộ và ngày một mạnh thêm. Từ đó, nâng cao chất lượng sinh hoạt tự phê bình và phê bình ở tổ chức đảng các cấp, nhất là ở cơ sở; khắc phục những biểu hiện hữu khuynh, né tránh, “dĩ hòa vi quý” hoặc lợi dụng phê bình để đả kích, gây mất đoàn kết nội bộ. Đồng thời, động viên tinh thần đấu tranh của mọi đảng viên, quần chúng, xây dựng cho họ niềm tin vào sức mạnh và thắng lợi của chính nghĩa; kiên quyết đấu tranh, không che giấu, nể nang, thiên vị, né tránh, sợ ảnh hưởng đến lợi ích của cá nhân và thành tích của đơn vị. Từng người phải lấy tinh thần xây dựng với tình cảm yêu thương, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau một cách chân tình và thẳng thắn; không thêm bớt, “đao to búa lớn”; tránh kỳ thị với người có khuyết điểm, v.v. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần nghiên cứu ban hành quy chế, quy định cụ thể, rõ ràng nhằm khuyến khích, bảo vệ, biểu dương người đấu tranh thẳng thắn. Đây là mấu chốt để xây dựng tính chiến đấu, phát huy tinh thần đấu tranh, dám nhìn thẳng vào sự thật, nói lên sự thật mà không sợ bị quy chụp, trù dập.
Xuyên tạc quanh chuyện làm căn cước công dân gắn chíp
Trong
bối cảnh toàn cầu hóa, hiện đại hóa, nhất là trước sự phát triển mạnh mẽ của
cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, Đảng, Nhà nước luôn coi trọng việc đẩy mạnh ứng
dụng các thành tựu khoa học công nghệ để phục vụ hiệu quả công tác quản lý nhà
nước, quản lý dân cư và đảm bảo cuộc sống cho người dân.
Đặc
biệt, 2 dự án: Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Sản xuất, cấp và
quản lý căn cước công dân (CCCD) chính là chủ trương lớn nhằm góp phần xây dựng
Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số, xã hội số và tạo nền
tảng hình thành công dân số trên không gian mạng.
Tuy
nhiên, thời gian gần đây, trên một số diễn đàn mạng xã hội xuất hiện những
thông tin gây nhiễu loạn, bịa đặt, xuyên tạc chủ trương này nhằm hướng lái, “bẻ
cong” vấn đề đảm bảo an ninh con người mà Đảng, Nhà nước ta đang tập trung thực
hiện. Bằng những luận điệu không có căn cứ thực tiễn, các đối tượng có tư tưởng
cực đoan, chống đối đã cố tình tung ra những thông tin sai sự thật, như “đi đâu
cũng bị định vị”, “thẻ căn cước gắn chíp là để theo dõi người dân”, “Chính phủ,
Bộ Công an thu thập dữ liệu cá nhân”… từ đó chỉ trích Việt Nam vi phạm dân chủ,
nhân quyền nhằm gây mất ổn định về an ninh chính trị.
Thậm
chí, các đối tượng còn ngụy tạo rằng “vì chỉ tiêu thiếu tính thực tế mà chính
quyền ép dân làm căn cước công dân gắn chíp điện tử, làm lây lan dịch bệnh
COVID-19 nhưng vẫn bao biện chối trách nhiệm”.
Rõ
ràng, những thông tin “tung hỏa mù” này mặc dù đánh trực diện trên nhiều khía
cạnh khác nhau như: an ninh chính trị, kinh tế, sức khỏe… nhưng tựu trung lại
đều nhằm chĩa mũi nhọn công kích vào vấn đề an ninh con người đã được Đảng ta
nhấn mạnh trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII. Trên thực tế, với việc ứng
dụng những thành tựu công nghệ tiên tiến nhất trên thế giới, thẻ CCCD gắn chíp
điện tử của Việt Nam ra đời không những giúp thúc đẩy mạnh mẽ việc chuyển đổi
phương thức quản lý con người từ thủ công sang hiện đại, mà còn đảm bảo đầy đủ,
chặt chẽ các yếu tố an ninh an toàn và có khả năng bảo mật thông tin ở mức độ
rất cao. Đồng thời, sử dụng thẻ CCCD gắn chíp có thể phòng ngừa các loại giấy
tờ giả mạo, giảm chi phí việc công chứng nhiều loại giấy tờ truyền thống, tạo
thuận lợi cho công dân khi thực hiện các dịch vụ trực tuyến của Chính phủ điện
tử.
Hơn
nữa, mức độ an toàn, bảo mật của chíp rất cao và việc đối sánh sinh trắc học có
thể thực hiện ngay trên chíp nên thông tin định danh của công dân được lưu trên
thẻ là không thể thay đổi, hạn chế tối đa giả mạo. Mặt khác, chíp điện tử được
sử dụng gắn trên thẻ CCCD không có khả năng định vị, thông tin lưu trữ trên
chíp cần phải có công cụ chuyên dụng để đọc và thông tin mới được mã hóa.
Thủ
tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã khẳng định: “Dữ liệu là tài nguyên, nhưng
khác với tài nguyên truyền thống, tài nguyên dữ liệu càng được khai thác nhiều
thì không bị mất đi, mà ngược lại càng tạo nên giá trị gia tăng”. Hiện, Bộ Công
an đang tiếp tục đẩy mạnh triển khai các ứng dụng, tiện ích trên nền tảng Cơ sở
dữ liệu quốc gia về dân cư và thẻ CCCD gắn chíp điện tử để phục vụ hiệu quả,
toàn diện trên mọi lĩnh vực. Nhất là trở thành trung tâm liên kết, thống nhất
toàn bộ dữ liệu quốc gia, là công cụ hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý nhà
nước về an ninh trật tự và đấu tranh, phòng chống tội phạm.
Đặc
biệt, với tình hình chống dịch cấp bách, thẻ CCCD gắn chíp điện tử đã được tích
hợp nhiều tiện ích quan trọng góp phần đảm bảo an ninh trên nhiều mặt an ninh
sức khỏe, an ninh kinh tế, an ninh cá nhân và an ninh cộng đồng; tích hợp thông
tin thẻ xanh tiêm chủng; giấy đi đường; xét nghiệm; thông tin về hưởng chế độ,
chính sách theo Nghị quyết số 68/NQ-CP của Chính phủ…
Từ
đầu năm 2021 đến nay, với tinh thần khẩn trương, cấp bách, lực lượng Công an cả
nước đã ngày, đêm phấn đấu đạt được mục tiêu, hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, Nhà
nước và nhân dân giao phó. Không những thế, trong thời điểm vô cùng khó khăn do
chịu ảnh hưởng của làn sóng dịch COVID-19 lần 4 bùng phát, lực lượng Công an
không quản ngại khó khăn, gian khổ, cùng với nhiều cách làm hay, sáng tạo, sâu
sát, quyết liệt, an toàn, hiệu quả và sự đồng thuận, ủng hộ cao của cấp ủy,
chính quyền và quần chúng nhân dân đã góp phần tạo nên sự thành công bước đầu
của hai Dự án.
Có thể khẳng định, đây không chỉ là trách
nhiệm pháp lý, trách nhiệm chính trị, mà còn là danh dự của lực lượng CAND, vì
thực hiện mục tiêu cao nhất là bảo đảm cuộc sống bình yên, an toàn, hạnh phúc
cho người dân.
Tự mình
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: chủ nghĩa cá nhân là thứ giặc “nội xâm” vô cùng nguy hiểm, nó nằm ngay trong lòng mỗi con người, “ai cũng có một ít”, nó ẩn nấp đằng sau bức bình phong quyền và lợi ích cá nhân, đội lốt cái đặc quyền ấy của con người để ký sinh trên thân thể của tập thể, của Đảng, phá từ trong phá ra, làm biến chất, suy thoái Đảng. Chủ nghĩa cá nhân với những biểu hiện “muôn hình vạn trạng” của nó còn làm cho nhiều người mơ hồ rằng đó là “căn bệnh” của người khác, còn mình thì không. Do vậy, chống chủ nghĩa cá nhân trước hết là phải tự bản thân mỗi người, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải vượt lên chính mình, kiên quyết với chính mình.
Trong nhận thức, tư tưởng của mỗi cán bộ, đảng viên, phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết; gột rửa cho sạch đầu óc ngôi thứ, địa vị, tư tưởng “dựa vào vị thế, uy tín của Đảng để theo đuổi mục đích riêng của mình”…; có thái độ kiên quyết, rõ ràng, không được “lừng chừng” trong cuộc chiến chống chủ nghĩa cá nhân. Luôn cảnh giác, đề phòng mọi biểu hiện của những căn bệnh từ cá nhân chủ nghĩa và tự đề kháng cho bản thân bằng việc thường xuyên phấn đấu, rèn luyện để nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức, tính kỷ luật. Mỗi cán bộ, đảng viên “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến”3, mà phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện và thực hành đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; luôn “trung với nước”, “hiếu với dân”, sẵn sàng hy sinh quên mình cho lý tưởng cách mạng của Đảng. Có đạo đức cách mạng sẽ không hề sợ sệt, rụt rè, lùi bước trước khó khăn, gian khổ, thắng không kiêu, bại không nản.
Quá trình tu dưỡng đạo đức cách mạng, cần đề cao tính tự giác; nắm chắc những biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ ra để tự soi, tự sửa và tự răn mình. Đồng thời, xem việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là nhu cầu tự thân để tạo khả năng đề kháng tốt với chủ nghĩa cá nhân; cụ thể hóa thành những việc “làm theo” hiệu quả, sát chức trách, nhiệm vụ được giao. Kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân còn cần phải nêu cao tinh thần tự vấn, tự phê, dám nhận lỗi và quyết tâm sửa chữa để tiến bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chúng ta không sợ có khuyết điểm. Chúng ta chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi”4. Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đề nghị từng đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và mọi cán bộ, đảng viên, công chức cần thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, tự soi, tự sửa, tự răn mình, tránh xa những cám dỗ vật chất, tham vọng, tránh đi vào vết xe đổ, để tay nhúng chàm và nếu đã trót ít nhiều nhúng chàm rồi thì sớm tự giác gột rửa. “Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ mạnh khỏe vô cùng”5.