Đấu tranh tư tưởng, lý luận là một bộ phận của
đấu tranh giai cấp, là cuộc đấu tranh quyết liệt và phức tạp. Trong tình hình
hiện nay, đấu tranh tư tưởng, lý luận còn là một mặt trận hết sức nóng bỏng,
chiếm vị trí hàng đầu của đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc; góp phần
đánh bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.
Quá trình phát triển của lý luận Mác - Lênin đã
luôn phải đấu tranh với những quan điểm sai trái, phản động, phản khoa học, cơ
hội, xét lại dưới mọi màu sắc, cả “tả” khuynh và hữu khuynh. Cuộc đấu tranh đó
vẫn đang tiếp tục diễn ra và sẽ còn diễn ra chừng nào còn có giai cấp, đấu
tranh giai cấp và còn có nhà nước. Mỗi thời kỳ lại có những quy mô, trình độ và
có những nội dung, sắc thái mới. Cuộc đấu tranh đó sẽ diễn ra như thế nào còn
tùy thuộc vào những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, cả về chính trị,
kinh tế, xã hội lẫn quân sự, khoa học và công nghệ… Các thế lực thù địch với
chủ nghĩa xã hội luôn tranh thủ những điều kiện có lợi để tác động vào lĩnh vực
tư tưởng, lý luận hòng đánh bại những người cộng sản ngay từ gốc để chuyển hóa
lập trường của họ. V.I.Lênin đã từng chỉ ra rằng, chỉ có hệ tư tưởng vô sản và
hệ tư tưởng tư sản, không có hệ tư tưởng thứ ba. Vì thế, một khi lập trường vô
sản đã bị lung lay, biến chất, thì thay vào đó sẽ là lập trường và quan điểm tư
sản.
Thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”,
các thế lực thù địch đã triệt để khai thác những hạn chế, mâu thuẫn nảy sinh
trong quá trình phát triển của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa để tác động vào
lĩnh vực tư tưởng, lý luận của chúng ta. Cái đích của “diễn biến hòa bình” là
nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ở hai lĩnh vực trọng yếu là đường lối và tổ chức cán bộ. Muốn
tác động vào đường lối, đương nhiên phải đi từ cán bộ, bởi bản thân đường lối
tùy thuộc một cách quyết định vào phẩm chất, trí tuệ và bản lĩnh của cán bộ.
Cán bộ, đảng viên đều là những con người cụ thể, là những sản phẩm xã hội -
lịch sử cụ thể. Chúng ta không đánh đồng tất cả mọi cán bộ, song ở họ vẫn có
một điểm chung: đều là con người với những khát vọng chính trị, khát vọng xã
hội, khát vọng đời thường chi phối bởi kiến thức, năng lực, bản lĩnh trong cuộc
sống.
Nếu bản lĩnh chính trị không vững, kiến thức, năng
lực không được nâng cao, lại thiếu rèn luyện về đạo đức, lối sống thì chủ nghĩa
cá nhân sẽ phát triển, lấn át đạo đức cách mạng. Bởi thế, nhiều người đã không
gục ngã trong chiến tranh, tuyệt đối trung thành với lý tưởng cộng sản ngay cả
lúc bị tù đày, tra khảo dã man, nhưng trong điều kiện hòa bình, phát triển kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì lại thay đổi lập trường lúc nào
đến chính họ cũng không biết (hay cố tình không biết). Họ vẫn tự khẳng định họ
là người cộng sản, vẫn cho ý kiến của họ là đúng, là phù hợp (!) và lên án tập
thể và xã hội đã không hiểu mình, không chịu “đổi mới” (!). Họ đâu biết hay cố
tình không biết rằng, cái chất người cộng sản trong họ đã không còn nữa. Vì
vậy, trong sự đa dạng của thành phần xuất thân, đa dạng về năng lực, trình độ,
bản lĩnh… của cán bộ, đảng viên hiện nay, một mặt nếu tổ chức thiếu (hoặc
không) chặt chẽ, tất yếu sẽ dẫn đến sự phát triển của những tư tưởng cơ hội đủ
loại, dẫn đến sự phân liệt về tổ chức; mặt khác sẽ bị kẻ địch lợi dụng chống
phá thông qua âm mưu, thủ đoạn của “diễn biến hòa bình”.
Cái nguy hiểm của “diễn biến hòa bình” là ở âm mưu
của các thế lực thù địch, nhưng nó lại được thực hiện một cách mạnh mẽ mà êm ái
thông qua chính đối tượng bị tác động để từ diễn biến chuyển sang tự diễn biến.
Bởi thế, nhiều chính đảng đã bị sụp đổ nhưng vẫn không lý giải được nguyên nhân
tại sao có sự sụp đổ đó và trong đó có cái vòi bạch tuộc của “diễn biến hòa
bình” hay không? Thậm chí họ quay lại đổ lỗi cho nhau mà không nhận ra rằng,
đang có một thế lực ngầm hoan hỉ về thành công của chúng.
Sự nguy hiểm của “diễn biến hòa bình” còn ở chỗ: nó
tác động đến chính trị, xuyên qua tất cả các lĩnh vực khác, bằng nhiều kênh
khác nhau, mà trực diện là ngay trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận với những tay
bút chiến sừng sỏ có, bồi bút lá cải cũng có, ở tầng lý luận có, ở tầng tư
tưởng - tâm lý cũng có. Cùng với điều đó là các tác động đủ loại với các quy
mô, cường độ và cách tổ chức đa dạng của các lĩnh vực kinh tế, quân sự, ngoại
giao, gián điệp, tâm lý, xã hội, văn hóa… mà tất cả đều nhằm vào vấn đề con
người, khơi dậy những khát vọng đời thường của mỗi người từ lãnh đạo tới người
dân. Chính cái đa dạng, cái mờ ảo ấy dễ làm người ta lẫn lộn, khó phân biệt được
đâu là tích cực, đâu là tiêu cực ngay chính trong mỗi suy nghĩ, mỗi hành động
của mình.
Chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù
địch (thông qua nhiều kênh, nhiều lĩnh vực để thực hiện “tự diễn biến”) nhằm
thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thủ tiêu chế độ xã hội chủ nghĩa
và thủ tiêu cả những nước, những người trong ban lãnh đạo của nhà nước, các tổ
chức chính trị - xã hội ở những nước có khuynh hướng đi lên chủ nghĩa xã hội.
“Phi chính trị hóa” quân đội cũng là một cái đích
và gắn liền một cách hữu cơ với “diễn biến hòa bình”. Một khi “diễn biến hòa
bình” đã được thực hiện thì đương nhiên vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối
với quân đội không còn nữa. Bản chất của “Phi chính trị hóa” quân đội là làm
cho quân đội vô sản trở thành một quân đội tư sản. Cái mà các thế lực thù địch
rêu rao rằng, quân đội phải trung lập, phải đứng ngoài chính trị chỉ là cái
“bánh vẽ” để lòe bịp. Quân đội bao giờ cũng là một tổ chức vũ trang, gắn liền
với một tập đoàn người, một giai cấp, một nhà nước, một kiểu chế độ chính trị
nhất định. Không có quân đội nào đứng ngoài chính trị và vô chính trị. Quân đội
được sinh ra là để thực hiện mục tiêu chính trị của giai cấp đã tổ chức ra nó.
Lĩnh vực mà quân đội hoạt động - lĩnh vực đấu tranh vũ trang - cũng xuất phát
từ mục tiêu chính trị và phục vụ cho mục đích chính trị. Đến lượt nó, bản thân
quân đội cũng là một lực lượng chính trị, cái khác là ở chỗ, đó là lực lượng
chính trị được tổ chức, chỉ huy chặt chẽ, được vũ trang đầy đủ mà thôi. Do đó,
nếu quân đội không chiến đấu vì mục tiêu chính trị này thì thay vào đó sẽ là
một mục tiêu chính trị khác; không đặt dưới sự lãnh đạo của một chính đảng vô
sản, tất yếu sẽ chịu sự lãnh đạo của đường lối chính trị tư sản. Như thế, bản
chất của cái gọi là “phi chính trị hóa” quân đội không gì khác hơn là làm biến
chất quân đội của chúng ta, nhằm làm cho một quân đội của dân, do dân, vì dân,
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành một quân đội tư sản,
chống lại quyền lợi của nhân dân lao động, bảo vệ quyền lợi của các thế lực thù
địch.
Sau thời kỳ chiến tranh lạnh, “diễn biến hòa bình”
và “phi chính trị hóa” quân đội được các thế lực thù địch đẩy lên một mức độ
cao hơn. Với so sánh lực lượng và tiềm lực kinh tế, chính trị, quân sự trên thế
giới đang có lợi, với những gì đã làm được ở Đông Âu và Liên Xô, các thế lực
thù địch tin rằng, chúng sẽ tiếp tục giành thắng lợi trong mặt trận không có
tiếng súng này, ở các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó
có Việt Nam. Âm mưu của chúng là như vậy, nhưng chúng ta cũng không nên cho
rằng, chúng chỉ đánh đổ chúng ta bằng phương pháp êm dịu đó. Nếu cần và thực tế
đã chứng minh, chúng sẵn sàng kích động hoạt động bạo loạn vũ trang, kích động
nội chiến để lấy cớ can thiệp về quân sự. Và trong trường hợp có điều kiện,
chúng không loại trừ cả thủ đoạn trực tiếp tiến công quân sự một cách quyết
liệt. Ngay cả trong trường hợp dùng biện pháp quân sự, chủ nghĩa đế quốc sau
những thất bại của chủ nghĩa thực dân cũ, thực dân mới ở Việt Nam cũng nhận ra
rằng, không thể duy trì một lực lượng quân sự nước ngoài với tư cách là một đội
quân chiếm đóng. Như thế vừa mất miếng lại vừa mang
tiếng; vừa tốn của, hao người, lại vừa tạo nên một làn sóng phản
kháng xâm lược ở cả trong nước và quốc tế. Giải pháp đi kèm với chiến tranh vẫn
phải là dựng lên chính quyền tay sai, hay ít nhất là chính quyền của những
người có cùng quan điểm với chúng.
Một loạt các cuộc chiến tranh và xung đột vũ trang
gần đây trên thế giới đã cho thấy, “diễn biến hòa bình” luôn đi liền với bạo
loạn lật đổ; chiến tranh xâm lược bao giờ cũng đi liền với “diễn biến hòa
bình”.
Từ những vấn đề trên đây cho thấy rõ về âm mưu, thủ
đoạn thâm độc của các thế lực thù địch. Rõ ràng, đấu tranh trên lĩnh vực tư
tưởng, lý luận là một mặt trận hàng đầu trong cuộc đấu tranh giai cấp, đấu
tranh dân tộc hiện nay. Ở nước ta, Đảng ta đã sớm phát hiện, nghiên cứu và có
chủ trương, biện pháp đối phó với âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực
thù địch. Sự ổn định chính trị của Việt Nam đã cho thấy âm mưu đó của các thế
lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam đã thất bại. Trong kết quả chung đó,
công tác tư tưởng, lý luận đã góp phần rất quan trọng. Từ việc nghiên cứu, nhận
diện về âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” đến việc đề ra và thực hiện những
chủ trương, giải pháp đối phó có hiệu quả, từ việc tạo lập cơ sở khoa học cho
đường lối, chủ trương của Đảng đến việc giáo dục, tổ chức nhân dân, quân đội
nâng cao cảnh giác cách mạng, chăm lo công cuộc xây dựng Đảng, chế độ, tự bảo
vệ mình… công tác tư tưởng, lý luận đều có đóng góp rất thiết thực và hiệu quả.
Hiện nay, nhiệm vụ mới đặt ra cho cuộc đấu tranh
trên mặt trận tư tưởng, lý luận ngày càng cao hơn, cấp thiết, quyết liệt và
phức tạp hơn, đòi hỏi công tác tư tưởng, lý luận cần có sự phát triển mạnh mẽ,
toàn diện, hoạt động hiệu quả hơn.
Công tác nghiên cứu, phát triển lý luận cần được
đẩy mạnh hơn nữa, để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đấu tranh tư tưởng, lý luận.
Hiện nay, công tác lý luận chưa lý giải một cách thuyết phục những vấn đề rất
cơ bản về định hướng xã hội chủ nghĩa và những vấn đề cụ thể trên từng lĩnh
vực, từng cấp, từng ngành thì còn rất chung chung. Hơn nữa, biện pháp, cơ chế,
chính sách cụ thể hóa định hướng đó còn ở tình trạng vừa thiếu, vừa không đồng
bộ và chưa thật hiệu quả, đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế và văn hóa. Tình trạng
chưa rõ ràng ấy ở tầm lý luận đã tác động mạnh đến hiệu quả của công tác tư
tưởng, đến sự thống nhất ý chí và hành động trong Đảng, trong xã hội trước
những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn. Cho dù thực tiễn luôn vận động, phát
triển và đặt ra những vấn đề ngày càng mới, nhưng phải chăng sự vận động đó của
thực tiễn vẫn phải tuân theo những vấn đề có tính quy luật của nó. Nhiệm vụ
hàng đầu của công tác tư tưởng, lý luận là phải khái quát được những gì đã và
đang diễn ra trên thực tế, từ đó vạch ra xu thế vận động, phát triển tất yếu
của nó, dự báo những biểu hiện cơ bản của xu thế đó cùng những biện pháp để tận
dụng lợi thế và khắc phục những mặt trái trong quá trình vận động, phát triển
của thực tiễn. Một khi những vấn đề lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội của chúng ta chưa được phân tích, lý giải có cơ sở khoa học, có tính thuyết
phục thì lại chính là kẽ hở cho các luận điệu xuyên tạc, nói xấu, kích động của
kẻ thù. Ngay trong nội bộ, để đi đến một sự thống nhất cũng là một quá trình
tìm tòi, đấu tranh và phát triển nhận thức lý luận. Quá trình đó nếu không được
tổ chức chặt chẽ thì tự nó dễ dẫn tới khuynh hướng tự phát, tạo điều kiện cho
kẻ thù lợi dụng.
Công tác lý luận chưa phát huy hết vai trò chủ động
trong việc truyền bá lý luận chính trị của Đảng đến quảng đại quần chúng nhân
dân, có những thời điểm chưa thật chủ động và sắc sảo trong đấu tranh với những
luận điệu phản động, sai trái của các thế lực thù địch chống lại cách mạng nước
ta. Những năm gần đây, Đảng ta đã có nhiều đổi mới trong việc tổ chức học tập,
quán triệt nghị quyết, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, bước
đầu thu được kết quả tốt, nâng cao tính thuyết phục và tạo được tác động tích
cực trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực vẫn còn nhiều hạn
chế, yếu kém cả về nội dung, phương pháp, tình trạng hình thức chủ nghĩa còn
khá phổ biến và hiệu quả chưa thật tốt. Có nhiều nguyên nhân cả trong tư duy,
lãnh đạo, chỉ đạo lẫn trong tổ chức thực tiễn, song căn bản là trình độ lý
luận, năng lực của một bộ phận cán bộ chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ.
Trong tất cả mọi công việc của Đảng, của Nhà nước, sau khi đã có đường lối, chủ
trương đúng thì kết quả công việc hầu như tùy thuộc vào khâu cán bộ. Không thể
có chất lượng cao của các công trình nghiên cứu về lý luận và hiệu quả cao
trong đấu tranh lý luận, giáo dục lý luận nếu như những người trực tiếp liên
quan đến hoạt động này không phải là những người thật sự tâm huyết và có trình
độ, năng lực.
Những năm qua, công tác tư tưởng, lý luận trong quân
đội đã đạt được những thành tựu quan trọng. Công tác tư tưởng, lý luận trong
quân đội đã đi trước một bước trong việc góp phần cung cấp luận cứ khoa học để
Đảng, Nhà nước xây dựng các quan điểm, chủ trương, chính sách về quân sự, quốc
phòng và vận dụng vào xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận chiến
tranh nhân dân và xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng quân đội nhân dân
trong điều kiện mới. Hầu như những diễn biến cơ bản của tình hình chính trị -
quân sự - kinh tế - văn hóa - xã hội có liên quan đến quân sự, quốc phòng đều
đã được nghiên cứu ở các mức độ khác nhau. Trong đó, phải kể đến một loạt các
công trình nghiên cứu và phát triển lý luận xây dựng các lực lượng vũ trang
như: phát triển lý luận xây dựng quân đội trong thời bình; chức năng, nhiệm vụ
quân đội trong tình hình mới; hoàn thành một bước quan trọng lý luận xây dựng
quân đội về chính trị, cơ chế Đảng lãnh đạo quân đội, phát triển lực lượng vũ
trang ba thứ quân, dự báo tình hình và đề xuất giải pháp đối phó với các tình
huống chiến lược trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Vì thế, quốc phòng - an ninh
tuy là một trọng điểm chống phá của các thế lực thù địch, nhưng đây lại là lĩnh
vực mà chúng ta đạt được nhiều thành tựu, góp phần to lớn vào sự ổn định chính
trị, xã hội cho đất nước trong quá trình phát triển. Sự kiên định, rõ ràng và
đúng đắn về quan điểm chính trị, về lập trường giai cấp trong lĩnh vực quân sự,
quốc phòng, cùng với công tác tổ chức chặt chẽ ở lĩnh vực này đã chặn đứng mọi
sự xâm nhập, chống phá của kẻ thù. Công tác tư tưởng, lý luận trong quân đội đã
nhạy bén và đi đầu trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận để bảo vệ và phát
triển nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng, của chế độ, quân đội và kiên quyết
đấu tranh chống lại những quan điểm, nhận thức mơ hồ, sai trái, những luận điệu
phản động của các thế lực thù địch, trong đó, có thể nêu điển hình là trong
cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”.
Tuy nhiên, công tác tư tưởng, lý luận trong quân
đội những năm qua cũng còn có những hạn chế. Đó là sự chủ quan, giản đơn của
một số cấp ủy, chất lượng và hiệu quả ứng dụng củ các công trình nghiên cứu còn
khiêm tốn, tính chủ động và sắc sảo, tính thuyết phục trong đấu tranh tư tưởng,
lý luận chưa thật cao. Trong một số trường hợp còn thiếu kịp thời, thiếu kiên
quyết; tính chiến đấu còn chung chung. Việc giáo dục lý luận còn rập khuôn máy
móc, có biểu hiện chạy theo thành tích, chưa thực sự linh hoạt, sáng tạo.
Những hạn chế trên, một phần là do chất lượng và cơ
cấu đội ngũ cán bộ làm công tác lý luận, công tác tổ chức hoạt động này. Quân
đội ta có một truyền thống quý báu là hầu hết các tướng lĩnh, các cán bộ cao
cấp đều là những người văn võ song toàn, giỏi về chỉ huy tác chiến và là những
con người có trí tuệ, bản lĩnh chính trị vững vàng, có công lao trong nghiên
cứu, bổ sung phát triển lý luận quân sự cách mạng Việt Nam. Cùng với đội ngũ
này, quân đội còn có một đội ngũ cán bộ khoa học hùng hậu trên các lĩnh vực,
trong đó có lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Vấn đề là ở chỗ cần kế thừa và phát
triển truyền thống quý báu trên đây và có sự đánh giá khách quan, trung thực về
chất lượng, cơ cấu và tổ chức sao cho đội ngũ cán bộ khoa học hiện có phát huy
được tốt vai trò của mình.
Để phát huy được vai trò của đội ngũ cán bộ nòng
cốt, đi đầu trong đấu tranh tư tưởng, lý luận, thiết nghĩ cần tiếp tục xây dựng
và hoàn thiện cơ chế quản lý, cung cấp thông tin cho họ một cách kịp thời, tạo
điều kiện để đội ngũ này sớm được tiếp cận thông tin. Muốn vậy, phải tổ chức và
định hướng hoạt động thông tin chặt chẽ, kịp thời, chính xác, chú trọng phân
cấp và quản lý thông tin, trước hết là những thông tin đối lập. Đi liền với nó
là kiện toàn tổ chức đội ngũ và tổ chức hoạt động của đội ngũ này ở các cấp.
Các cơ quan thông tin báo chí của quân đội rất có thế mạnh và tiềm năng trong
tổ chức các chiến dịch đấu tranh tư tưởng, lý luận, vì vậy, cần phát huy mạnh
mẽ hơn thế mạnh này trong tình hình mới. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh hơn việc đưa
nội dung đấu tranh tư tưởng, lý luận về cơ sở, tăng cường hoạt động tuyên
truyền miệng, nói chuyện chuyên đề nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, chiến sĩ
về “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” quân đội và đấu tranh chống lại nó
ngay từ cơ sở. Những hoạt động này vừa qua chúng ta làm chưa được tốt, dẫn đến
thực trạng là không ít cán bộ, chiến sĩ hiểu biết chưa đầy đủ, chưa sâu sắc về
“diễn biến hòa bình”. Thực tế đã chứng minh, không thể làm tốt chức năng là một
đội quân công tác trong tuyên truyền, vận động nghiên cứu đấu tranh chống lại
mọi âm mưu và hoạt động chống phá của kẻ thù nếu không có sự hiểu biết đầy đủ,
chính xác ở chính những con người đang đấu tranh.
Trong tình hình mới, cần phải tăng cường đấu tranh
trên mặt trận tư tưởng, lý luận để làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa
bình” và “phi chính trị hóa” quân đội. Theo đó, phải tiến hành đồng bộ và nâng
cao chất lượng, hiệu quả của nhiều nội dung, hình thức và biện pháp khác nhau.
Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu để làm rõ quan điểm
cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định tính đúng
đắn của hệ tư tưởng đó trong lịch sử, hiện tại và tương lai.