Thứ Hai, 13 tháng 12, 2021

KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH LOẠI BỎ GHEN GHÉT ĐỐ KỴ

Sự ganh ghét, đố kỵ là một đặc tính tiêu cực trong tính cách của con người, nó hình thành khi một người cảm thấy mình thua kém người khác và tức giận vì điều đó. Ngay từ xa xưa, sự ganh ghét, đố kỵ đã xuất hiện trong cuộc sống của con người, có rất nhiều câu chuyện trong văn hóa phương Đông và phương Tây phản ánh về vấn đề này; như truyện “Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn” của văn hóa phương Tây, vì ganh ghét trước sắc đẹp của nàng Bạch Tuyết mà bà mẹ kế của nàng tìm đủ mọi thủ đoạn để hại nàng, nhưng rốt cục bà lại chết do chính những thủ đoạn của mình gây ra; hay trong truyện “Tam quốc diễn nghĩa” của nền văn hóa phương Đông, nhân vật Chu Du vì ghen tức Gia Cát Lượng tài trí hơn mình đã bao lần tìm cách hãm hại mà không được, cuối cùng vì uất hận hộc máu mồm mà chết. Đối với văn hóa Việt Nam, sự ganh ghét, đố kỵ thường xuất hiện trong các câu ca dao, tục ngữ như: “Trâu buộc thì ghét trâu ăn/ Quan võ thì ghét quan văn dài quần”, “con gà tức nhau tiếng gáy”, “ghen ăn, tức ở”... Trong xã hội hiện nay, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, mối quan hệ giữa người với người ngày càng phức tạp, tâm lý ganh ghét, đố kỵ càng trở nên phổ biến, thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi, mọi lĩnh vực và mọi mặt đời sống xã hội. Người ta hay so sánh mình với những người khác, thấy họ có một vài mặt nào đó hơn mình thì thường cảm thấy trong lòng lo lắng, buồn bã, so bì, tị nạnh… rồi sinh ra bực bội, căm ghét, thấy mình bị xúc phạm, muốn trả thù… Đặc biệt, sự ganh ghét, đố kỵ đang tồn tại ở một bộ phận cán bộ, đảng viên công tác tại các cơ quan, đơn vị; điều dễ nhận thấy nhất là khi ai đó có thành tích, địa vị, vinh dự, chuyên môn, bằng cấp, của cải, nhân duyên, gia đình hạnh phúc, thành đạt là nảy sinh ganh ghét, đố kỵ… Có người thể hiện lòng ganh ghét, đố kỵ ra ngoài, nhưng có người lại giấu kín trong lòng. Họ không công tâm nhìn nhận, đánh giá năng lực, hiệu quả công việc của người khác mà còn tìm mọi cách lôi kéo người có chung suy nghĩ để soi mói, nói xấu sau lưng và tìm cách cản trở đồng chí, đồng nghiệp. Ngoài ra, họ còn tỏ ra vui sướng trước thất bại của người khác; thậm chí họ lươn lẹo “quy chụp, biến báo” người tốt thành người xấu, tâng bốc mình lên để được cấp trên ưu ái mình… Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đã chỉ rõ: “Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình…”, đây là một trong những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức đang tồn tại trong tình hình hiện nay. Những biểu hiện suy thoái này làm nản lòng, nhụt chí và cản trở sự phấn đấu của cá nhân và tổ chức, làm xói mòn đạo đức, văn hóa trong ứng xử, gây hại cho tập thể. Đồng thời, làm ảnh hưởng tiêu cực đến việc xây dựng và củng cố sự đoàn kết, thống nhất và là nguyên nhân của sự nhen nhóm, bè phái, lợi ích nhóm, dẫn đến nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ… Để loại bỏ thói ganh ghét, đố kỵ trong tình hình hiện nay, các cơ quan, đơn vị cần quán triệt và thực hiện nghiêm Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; chú trọng làm tốt công tác tư tưởng, phát huy dân chủ, xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong cấp ủy, tổ chức đảng, làm hạt nhân cho khối đoàn kết của cơ quan, đơn vị. Xây dựng văn hóa ứng xử lành mạnh, kết hợp hài hòa giữa phát huy dân chủ đi đôi với giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, giữ gìn tình yêu thương đồng chí, đồng đội. Thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình, rà soát từ trong cấp ủy đến từng đảng viên, ai có biểu hiện ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình phải chấn chỉnh, chỉ rõ cho họ thấy để họ “tự soi”, “tự sửa”. Phải quán triệt sâu sắc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh “mục đích của tự phê bình và phê bình để giúp nhau tiến bộ, sửa chữa sai lầm”, chứ không phải là để “bới lông tìm vết”, nên cách thức tiến hành phải có lý, có tình, có tính giáo dục cao. Đồng thời, tự phê bình và phê bình phải được làm thường xuyên, phải nêu cả ưu điểm và khuyết điểm, “phê bình việc chứ không phê bình người” để cùng tiến bộ. Thường xuyên tổ chức các phong trào thi đua, các cuộc vận động vào thực tiễn công việc; trong nhận xét, đánh giá, đề bạt, khen thưởng phải thật sự khách quan, dân chủ, công khai và đúng thực chất, không bao che, không ích kỷ, hẹp hòi, thành kiến cá nhân làm tổn hại đồng chí, đồng đội, hạn chế sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng và tập thể cơ quan, đơn vị… Phát huy sự nêu gương của đội ngũ cán bộ các cấp, nói đi đôi với làm, đi đầu trong mọi việc. Thường xuyên động viên, khen thưởng kịp thời những nhân tố điển hình tiên tiến; ngăn chặn cái sai, cái xấu, kèn cựa địa vị, lợi ích nhóm… Đặc biệt, mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng phải nhận thức đúng và luôn rèn luyện đạo đức cách mạng, phòng và chống chủ nghĩa cá nhân; nỗ lực học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, tận tâm, tận lực với công việc, thấy đúng kiên trì bảo vệ, thấy sai kiên quyết đấu tranh. Phải khiêm tốn lắng nghe, tự giác học hỏi cái hay, cái tốt, cái mới của người khác mà mình chưa có; biết chia sẻ, động viên kịp thời với kết quả, thành tích nổi bật của đồng chí, đồng đội; biết nâng niu những việc đồng đội đã làm tốt, đã cống hiến cho tập thể; biết trân trọng, khuyến khích những ý tưởng, hiến kế, giải pháp, sáng chế, phát minh mà người khác nỗ lực tạo ra. Loại bỏ tư tưởng ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, hẹp hòi, ích kỷ; tạo không khí dân chủ, đoàn kết, góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị VMTD “mẫu mực tiêu biểu”, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

CHỦ TỊCH NƯỚC NGUYỄN XUÂN PHÚC TIẾP ĐOÀN ĐẠI BIỂU PHỤ NỮ QUÂN ĐỘI

Chiều 13-12, tại Văn phòng Chủ tịch nước, đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh đã tiếp thân mật 60 đại biểu phụ nữ ưu tú tham dự Đại hội đại biểu Phụ nữ Quân đội lần thứ VII (2021-2026). Cùng dự có Thượng tướng Đỗ Căn, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

Báo cáo với Chủ tịch nước về kết quả tổ chức đại hội và những thành tích công tác phụ nữ và phong trào phụ nữ Quân đội 5 năm (2016 - 2021), Đại tá Phùng Thị Phú, Trưởng ban Phụ nữ Quân đội cho biết, với hơn 90.000 cán bộ, hội viên, Phụ nữ Quân đội có mặt ở tất cả các loại hình đơn vị, trong mọi lĩnh vực công tác, đóng quân trên khắp mọi miền của Tổ quốc. Dù ở đâu, trên cương vị nào, Phụ nữ Quân đội luôn phát huy tốt những phẩm chất tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ, truyền thống “Yêu nước, đoàn kết, sáng tạo, trung hậu, đảm đang” của Phụ nữ Quân đội, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Cùng với đó là làm tốt thiên chức người vợ, người mẹ; chăm lo, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh.

Sau khi nghe kết quả tổ chức đại hội, cùng những thành tích công tác phụ nữ và phong trào phụ nữ Quân đội 5 năm (2016-2021), Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc bày tỏ vui mừng trước những kết quả, thành tích Phụ nữ Quân đội đạt được, đồng thời nhấn mạnh: Trong suốt 77 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam đã không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, lập nhiều chiến công vang dội, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong những chiến công ấy có sự đóng góp rất quan trọng của Phụ nữ Quân đội.

Nhấn mạnh về nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đòi hỏi phải xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, phấn đấu đến năm 2030 tiến thẳng lên hiện đại, Chủ tịch nước lưu ý, cán bộ, chiến sĩ toàn quân phải luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu. Xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu, các tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc.

Nhằm khơi dậy khát vọng cống hiến và phát huy vai trò của các tổ chức hội phụ nữ, tiềm năng, sức sáng tạo của từng hội viên phụ nữ trên mọi lĩnh vực công tác, tiếp tục thắp sáng và lan tỏa những phẩm chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới, Chủ tịch nước đề nghị Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tiếp tục quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện cho phụ nữ học tập, rèn luyện, tiến bộ và trưởng thành, vừa hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của đơn vị, vừa hoàn thành thiên chức của người phụ nữ trong gia đình.

Cùng với đó, cần làm tốt việc phát hiện, bồi dưỡng ngày càng nhiều hơn nữa các nhân tố mới, các điển hình tiên tiến, các tấm gương tiêu biểu để tôn vinh, tuyên truyền, nhân rộng, tạo sự lan tỏa sâu rộng trong quân đội và trong toàn xã hội. Phấn đấu mỗi nữ quân nhân, nữ công nhân viên chức, lao động quốc phòng là một gương sáng; mỗi gia đình là một điểm sáng trong đơn vị và ở khu dân cư.

Chủ tịch nước tin tưởng, với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và quân đội, cán bộ, hội viên phụ nữ trong quân đội sẽ tiếp tục phát huy những phẩm chất cao quý của Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Quân đội, ra sức phấn đấu giữ vững và phát huy những thành tích đã đạt được; lập nhiều thành tích xuất sắc, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, xây dựng và và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
---------------
PT-TG (theo báo QĐND)


LỰC LƯỢNG 47 CÓ BAO NHIÊU NGƯỜI?

Tổ chức Phóng viên Không Biên giới - RSF đã công bố danh sách 20 kẻ thù lớn nhất trên Internet, trong đó có Lực lượng 47 của Quân đội nhân dân Việt Nam. Theo Tổ chức phóng viên không biên giới RSF “Lực lượng 47 gồm 10.000 người chiến đấu chống lại những tiếng nói dân chủ và những người bị cho là chống đối chính phủ. Lực lượng 47 đã sử dụng các công nghệ kỹ thuật số để đe dọa, giám sát hoặc kiểm duyệt các nhà báo và do đó làm giảm nghiêm trọng quyền tự do thông tin trên Internet”. Chưa biết lực lượng 47 mà tổ chức này nhắc tới là những ai, nhưng tôi dám chắc, họ đang liệt chúng tôi - những người chiến sĩ đang đấu tranh trên lĩnh vực không gian mạng vào danh sách của lực lượng này, chỉ đơn giản vì chúng tôi đứng ra đấu tranh bảo vệ ánh sáng của công lý, của sự thật, phản bác các bài viết của Việt Tân, BBC, RFA và các anh “dân chủ” ở trong và ngoài nước. Nghe kinh hoàng thật, toàn các mỹ từ như “chống lại tiếng nói dân chủ”, “giảm quyền tự do thông tin”. Chẳng hiểu tự do thông tin của mấy anh dân chủ là gì, chẳng lẽ, họ không cho người dùng mạng xã hội chúng tôi được phản bác, tranh luận các quan điểm mà chúng tôi cho là sai sự thật, tin giả do các đám dân chủ lan truyền trên mạng hay sao? Chẳng lẽ chúng tôi phải like chia sẻ các bài viết đó mới là cổ vũ dân chủ hay sao? Dân chủ gì toàn đăng tin sai sự thật, toàn nhắm vào chống đối Đảng, Nhà nước; liệu trong số thông tin mà những “nhà báo độc lập” như Đoan Trang, Nguyễn Quang A, Lê Dũng Vova, Trịnh Bá Phương,… đăng tải trên mạng, bao nhiêu phần trăm trong đó là khách quan hay tất cả chỉ là giả dối, không có gì ngoài việc dẫn dắt dư luận tới hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Nếu những người như chúng tôi được liệt vào “Lực lượng 47” thì thưa các vị, ở VN sẽ không phải 10.000 đâu, mà thực tế phải hàng trăm nghìn, thậm chí triệu người trong đội quân này. Vì họ đều là những người tôn trọng sự thật và căm thù những kẻ lợi dụng không gian mạng vào ý đồ xấu.

BIẾN TƯỚNG CỦA PHÁP LUÂN CÔNG VÀ ÂM MƯU CHỐNG PHÁ ĐẤT NƯỚC TRONG ĐẠI DỊCH COVID-19.

Từ khi đại dịch Covid-19 xuất hiện và bùng phát đến nay, với hàng loạt các trang tin của mình, song song với việc tuyên truyền, quảng bá Pháp Luân Công, các trang tin này còn được sử dụng để tán phát nhiều thông tin giả mỗi khi có cơ hội như: thiên tai, dịch bệnh,…nhằm dẫn dắt dư luận, kích động tư tưởng chống phá. Đáng chú ý các trang này đều nằm trong hệ thống truyền thông được tiến hành bởi các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân ở Mỹ. Khi dịch Covid-19 bùng phát, các trang thông tin này đã tích cực đăng tải nhiều bài viết có nội dung sai lệch, thiếu căn cứ, thêu dệt lên nhiều “thuyết âm mưu” làm nhiễu loạn thông tin liên quan dịch bệnh, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho người dân, ảnh hưởng trực tiếp đến công tác phòng, chống dịch bệnh của các lực lượng chức năng, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây bất ổn trong xã hội. Hiện nay, chúng hướng tới 3 mục tiêu: Một là, đẩy người dân vào tình trạng hoảng loạn: Họ đưa ra hàng loạt tin tức kiểu như: “Số người chết vì COVID-19 lớn hơn con số thống kê của chính quyền. “Bệnh viện dã chiến để chống dịch là các “trại tập trung”, trong đó bệnh nhân chết vì không được ăn uống, chăm sóc đầy đủ, hoặc vì bị “thủ tiêu””; “Dịch COVID-19 là “ngày tận thế” đã được tiên đoán… Hai là, khiến người dân mất niềm tin vào đời sống hiện thực, chuyển sang chống lại các Đảng Cộng sản, tiêu biểu như: COVID-19 là “vũ khí sinh học” của chính quyền Trung Quốc; Chính quyền ở Trung Quốc và Việt Nam đang bưng bít thông tin về dịch COVID-19; COVID-19 là phương tiện để “Trời diệt Trung Cộng”. Người bỏ Đảng, Đoàn, Đội sẽ không bị nhiễm virus… Ba là, thuyết phục người dân gia nhập Pháp Luân Công để miễn nhiễm với bệnh tật và được “lên trời” sau tận thế. Kiểu như: Người tập Pháp Luân Công sẽ miễn nhiễm với mọi loại virus… Các thành phần phản động, chống Nhà nước Việt Nam đã triệt để lợi dụng những tin giả từ nguồn này để tuyên truyền, xuyên tạc, gây hoang mang dư luận, tạo các tâm lý phản đối, mâu thuẫn trong xã hội, khiến người dân không tin tưởng vào các cơ quan chức năng, chính quyền… Chính những điều này đã gây cản trở và ảnh hưởng không nhỏ đến công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19 của nước ta trong thời gian qua. Khi mọi chú ý đang dồn vào dịch bệnh, nhiều người vẫn không hay biết bản thân bị cuốn vào nạn tin tức giả trên thế giới mạng, với tốc độ lây lan và phát tán còn nhanh gấp bội lần dịch bệnh thực tế. Điều đáng lo là những tin tức chết chóc gây hoang mang, khiếp hãi, hỗn loạn trong dân chúng thì lại càng được lan truyền, chia sẻ nhanh, nghiêm trọng nhất vẫn là những thông tin sai lệch đi kèm với những lời khuyên y tế hay phương thức chữa trị màu nhiệm... Vì vậy, mỗi người dân, nhất là những người tham gia mạng xã hội cần thể hiện tinh thần trách nhiệm với cộng đồng, đề cao ý thức cảnh giác, tỉnh táo, sàng lọc kỹ lưỡng, khi tiếp nhận thông tin, bình tĩnh lắng nghe lời khuyên của các nhà chuyên môn và khuyến cáo của ngành Y tế để cùng chung tay phòng, chống dịch bệnh. Đồng thời cần mạnh dạn lên án, đấu tranh với tin giả, tin câu view từ mạng xã hội hiện nay.

Omicron nếu có yếu vẫn nguy hiểm như Delta khi lây nhiều

         Trong báo cáo kỹ thuật mới nhất về biến thể Omicron, WHO cho biết biến thể Omicron vẫn đặt ra nguy cơ "rất cao" trên toàn cầu. Tổ chức này cũng cảnh báo dù biến thể này có yếu hơn Delta, nó vẫn nguy hiểm nếu lây nhiễm cho nhiều người. "Rủi ro tổng thể liên quan đến biến thể đáng lo ngại Omicron vẫn rất cao vì nhiều lý do", Tổ chức Y tế thế giới (WHO) nêu vấn đề trong báo cáo công bố ngày 12-12.

Theo tổ chức này, bằng chứng sơ bộ cho thấy Omicron có khả năng thoát khỏi phần nào miễn dịch của cơ thể và có mức độ lây nhiễm cao, có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng.

Báo cáo kế đó trích dẫn một số dữ liệu sơ bộ về việc số người tái nhiễm tại Nam Phi đã tăng lên. Các phát hiện sơ bộ từ Nam Phi cũng cho thấy Omicron có thể ít nguy hiểm hơn biến thể Delta vốn đang chiếm ưu thế trên toàn thế giới. 

Tuy nhiên theo WHO, vẫn chưa rõ độc lực của biến thể có hàng chục đột biến này so với các biến thể trước đó, bao gồm Delta. Theo tổ chức này, ngay cả khi mức độ nguy hiểm của Omicron có khả năng thấp hơn so với biến thể Delta, "số ca nhập viện sẽ tăng lên do mức độ lây nhiễm ngày càng nhiều, từ đó có thể tạo gánh nặng cho hệ thống y tế và dẫn đến nhiều ca tử vong hơn".

Báo cáo của WHO cho biết tất cả các trường hợp mắc Omicron ở khu vực châu Âu đều nhẹ hoặc không có triệu chứng. Tại Anh, số ca mắc Omicron đang tăng với tốc độ "chóng mặt" như lời thừa nhận của giới chức y tế nước này ngày 13-12. "Cứ hai đến ba ngày lại tăng gấp đôi số ca nhiễm. Chúng tôi đang đối mặt với một làn sóng lây nhiễm mới, đẩy chúng tôi vào cuộc chạy đua giữa vắc xin và virus một lần nữa", Bộ trưởng Y tế Anh Sajid Javid nhận xét trên Đài Sky News.

Theo ông Javid, chưa có trường hợp tử vong nào vì Omicron được xác nhận ở Anh và chỉ có 10 người nhập viện sau khi mắc biến thể này. Vị bộ trưởng Anh cũng ước tính Omicron chiếm khoảng 40% ca nhiễm chỉ tính riêng ở thủ đô London.

Giới chức y tế Anh đang ra sức kêu gọi người dân đến các điểm tiêm chủng mũi 3 để tăng mức độ bảo vệ trước biến thể Omicron.

Người đã từng bị sốt xuất huyết có tái nhiễm nữa không?

         Bệnh sốt xuất huyết do virus Dengue gây ra và loại virus này có 4 type gây bệnh bao gồm: D1, D2, D3, D4. Mỗi lần mắc bệnh là do 1 type Dengue xâm nhập vào cơ thể. Vì vậy, bệnh nhân mắc sốt xuất huyết rồi vẫn có thể bị lại.

Mỗi người có thể mắc sốt xuất huyết 4 lần trong đời, tương ứng với 4 type Dengue. Do có 4 type virus gây bệnh khác nhau nên mỗi lần mắc bệnh cơ thể người bệnh chỉ tạo ra miễn dịch với type virus đó chứ không có khả năng chống lại các type còn lại. Tuy nhiên, số lượng mắc sốt xuất huyết đến lần thứ 4 rất hiếm mà thường chỉ bị 2 hoặc 3 lần.

        Thông thường khi tái nhiễm bệnh nhân sẽ bị nặng hơn lần trước do các kháng thể của 2 hoặc 3 type vi trùng cùng tồn tại và tác động lên cơ thể, khiến các phản ứng sốt, đau mỏi, xuất huyết sẽ trầm trọng hơn. Vì vậy, khi có dấu hiệu của việc tái nhiễm sốt xuất huyết, nên đến ngay cơ sở y tế để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Nếu không điều trị kịp thời sốt xuất huyết gây ra những biến chứng nguy hiểm nào? Điều trị trong bao lâu? Khi nào cần nhập viện?

         Sốt xuất huyết được chia làm 3 mức độ từ nhẹ đến nặng. Các dấu hiệu ban đầu của sốt xuất huyết bao gồm: sốt cao đột ngột, nhiệt độ từ 39 - 40 độ C. Có thể xuất hiện hiện tượng xuất huyết, nổi mẩn, phát ban. Nếu không được chẩn đoán và xử trí kịp thời, bệnh có nguy cơ diễn biến xấu, gây sốc hoặc tổn thương các cơ quan khác. Ở giai đoạn nặng, người bệnh thường có các biểu hiện xuất huyết như chảy máu cam, chảy máu chân răng...

Đồng thời, sốt xuất huyết có thể dẫn đến các biến chứng về mắt như mù đột ngột do xuất huyết võng mạc, xuất huyết trong dịch kính mắt. Có thể dẫn đến suy tim do chảy máu liên tục, khiến tim không đủ máu tuần hoàn. Bên cạnh đó, khi huyết tương trong cơ thể bị tràn sẽ xâm nhập vào đường hô hấp, gây viêm đường hô hấp, tràn dịch màng phổi. Đặc biệt, phụ nữ mang thai bị sốt xuất huyết càng có nguy cơ cao đối mặt với nhiều biến chứng nguy hiểm. Khi bệnh nhân sốt cao, khiến nhịp tim thai đập nhanh hơn, có thể ảnh hưởng đến thai nhi.

Khi có các dấu hiệu như chảy máu, chóng mặt, buồn nôn, đau bụng, rối loạn tiêu hóa, đau ngực, khó thở... bệnh nhân phải đến ngay bệnh viện để kịp thời phát hiện và chữa trị, tránh những biến chứng không mong muốn.

Mùa này, ngoài COVID-19 và sốt xuất huyết, còn có những bệnh nào dễ bị bỏ qua? Cần làm gì để phòng bệnh?

         Bên cạnh bệnh nhiễm Covid-19 và sốt xuất huyết ra, những bệnh lý truyền nhiễm có thể gặp như tay chân miệng (trẻ em), thủy đậu, cảm cúm, viêm phổi, viêm não.

Theo khuyến cáo của Y khoa, tiêm vác xin là một trong những biện pháp mang tính chiến lược lâu dài nhất trong phòng chống các loại bệnh trên. Bên cạnh đó một số biện pháp phòng bệnh hiệu quả trước mắt cho các bệnh truyền nhiễm nêu trên là: nêu cao ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường, xây dựng một môi trường thân thiện xanh - sạch - đẹp, vệ sinh nhà ở, đồ chơi của trẻ, diệt muỗi và lăng quăng, ăn đầy đủ chất dinh dưỡng, tăng cường rau xanh, bổ sung vitamin, uống nhiều nước và ngoài ra phải thường xuyên vận động tập thể dục - thể thao để nâng cao sức khỏe.

Những tiến bộ về luật pháp và thực tiễn không thể xuyên tạc trên lĩnh vực quyền con người

 

          Trong khi một số tổ chức, cá nhân luôn tìm cách xuyên tạc về tình hình nhân quyền của Việt Nam thì ở chiều ngược lại, Liên hợp quốc-tổ chức đa phương lớn nhất hành tinh lại luôn coi Việt Nam như một điểm sáng về phát triển con người và thực hiện các quyền con người trong thực hiện các Mục tiêu thiên niên kỷ về xóa đói, giảm nghèo, về công bằng và tiến bộ xã hội. Thực tế ở Việt Nam cũng chứng minh, đánh giá của Liên hợp quốc về Việt Nam là xác đáng.

          Một trong những thành tựu không thể phủ nhận là Việt Nam đã luôn quan tâm để hoàn thiện hệ thống luật pháp về lĩnh vực quyền con người. Điều này được thể hiện toàn diện, đầy đủ trong Hiến pháp-đạo luật gốc, quan trọng nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp đã quy định rất rõ các quyền dân sự, chính trị; các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; các quyền của nhóm dễ bị tổn thương; hiến định rõ ràng địa vị pháp lý của cá nhân, của công dân trong mối quan hệ với nhà nước. Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 và đặc biệt là Hiến pháp năm 2013, chế định quyền con người, quyền nghĩa vụ của công dân giữ vị trí quan trọng. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 được dư luận đánh giá là đỉnh cao trong hoạt động lập hiến bảo vệ quyền con người, quyền công dân, nó phù hợp với thực tiễn Việt Nam và với chuẩn mực quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia.

          Cùng với Hiến pháp, Việt Nam tham gia một loạt công ước quốc tế về quyền con người, như: Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước về các quyền dân sự, chính trị; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ; Công ước về quyền trẻ em; Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người; Công ước về quyền của người khuyết tật... Sau 35 năm đổi mới, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng được hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội, trong đó chú trọng xây dựng pháp luật về quyền con người, quyền công dân tương đối toàn diện, phù hợp với thực tiễn phát triển của đất nước và từng bước tương thích với các quy định quốc tế về quyền con người. Một điểm sáng của Việt Nam luôn được quốc tế ghi nhận đó là, trong chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, Quốc hội Việt Nam luôn dành ưu tiên, tập trung cho việc ban hành các đạo luật về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trên các lĩnh vực.

          Ngày 22-2-2021, tại Phiên họp cấp cao của Khóa họp thường kỳ lần thứ 46 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh trong bài phát biểu thông báo về việc Việt Nam tham gia ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 đã nhấn mạnh: "Việt Nam tin tưởng mạnh mẽ rằng, bảo đảm cho xã hội an toàn trước các dịch bệnh như Covid-19 là cách tốt nhất để bảo đảm cho mỗi thành viên trong xã hội được thụ hưởng đầy đủ các quyền con người. Chúng tôi tiếp tục ưu tiên thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, các quyền tự do cơ bản của người dân, kể cả trong thời điểm khó khăn nhất hiện nay”. Dịch bệnh đã gây ra những thiệt hại to lớn cho toàn thế giới, dù vậy, Nhà nước Việt Nam đã chấp nhận hy sinh về tăng trưởng kinh tế để nỗ lực cao nhất nhằm bảo đảm quyền lợi của người dân, bảo đảm an sinh xã hội. Điều này, cộng đồng quốc tế đã ghi nhận và luôn coi Việt Nam là hình mẫu. Đây chỉ là một trong rất nhiều việc làm đã chứng minh cho lời nói và hành động của Việt Nam trong nỗ lực bảo đảm quyền con người. Nó cũng đủ sức nặng để đập tan những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

          Theo đánh giá của Liên hợp quốc, Việt Nam đã giảm được một nửa tỷ lệ đói nghèo trong hơn một thập kỷ qua và nằm trong số những quốc gia đạt tốc độ giảm đói nghèo nhanh nhất thế giới. Khác với một số quốc gia chỉ chú trọng phát triển kinh tế ở thành thị dẫn tới chênh lệch giàu nghèo rất nghiêm trọng, Việt Nam quan tâm xây dựng nông thôn mới, chăm lo đời sống người nông dân. Song song với phát triển kinh tế đất nước, hầu hết các chỉ tiêu về văn hóa, xã hội, chỉ số phát triển con người... ở Việt Nam đều có sự tiến bộ qua từng năm. Quyền của các nhóm yếu thế như quyền của phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi... có những bước tiến rõ rệt. Theo Báo cáo các chỉ số phát triển con người do Chương trình Phát triển Liên hợp quốc thực hiện và công bố năm 2019 cho thấy: Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam nằm trong nhóm các nước có tốc độ tăng chỉ số HDI cao nhất thế giới. 

          Về bình đẳng giới, các tổ chức quốc tế đánh giá Việt Nam là quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm qua, hiện xếp thứ 68/162 nước về chỉ số phát triển giới. Sự cải thiện, chăm sóc sức khỏe của người dân thể hiện ở các tiêu chí như cơ sở khám, chữa bệnh công lập và ngoài công lập, số giường bệnh, số bác sĩ/10.000 dân đều tăng. So với chuẩn quốc tế thì Việt Nam có mức độ phân hóa giàu nghèo thấp hơn nhiều nước trong khu vực cũng như trên thế giới.

          Thực tiễn sinh động ở Việt Nam khác xa những báo cáo khô cứng, cũ kỹ mà các thế lực thù địch luôn xào xáo qua các năm. Ở Việt Nam, các quyền công dân về bầu cử, ứng cử, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do ngôn luận... luôn được bảo đảm. Mặc dù các thế lực thù địch luôn xuyên tạc rằng Việt Nam không có tự do internet nhưng thực tế đã bác bỏ hoàn toàn điều đó. Theo con số thống kê, Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng và sử dụng internet cao nhất trên thế giới. Khoảng 70% dân số Việt Nam sử dụng internet và điện thoại di động. Năm 2020, số người dùng Facebook ở Việt Nam là gần 70 triệu người. Trên thực tế, Đảng, Nhà nước ta luôn tạo điều kiện tốt nhất cho các tôn giáo hoạt động, luật pháp cũng quy định rất rõ để tôn giáo được bảo vệ. Điều 24 Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam khẳng định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo luôn được coi trọng và thường xuyên được tổ chức. Trong các năm 2008, 2014, 2019, Liên hợp quốc đã chọn Việt Nam làm địa điểm và đã tổ chức thành công Đại lễ Phật đản. Những minh chứng này đã bác bỏ hoàn toàn các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam.

          Trong Báo cáo hạnh phúc thế giới thường niên năm 2021 do Mạng lưới giải pháp phát triển bền vững của Liên hợp quốc công bố: Năm 2021, Việt Nam tăng 4 bậc so với năm 2020, từ vị trí thứ 83 lên 79. Báo cáo này xếp hạng các quốc gia và vùng lãnh thổ dựa trên 6 tiêu chí: GDP trên đầu người, tuổi thọ, quyền tự do, sự hào phóng, phúc lợi xã hội và tình trạng tham nhũng.

Ngừa sốt xuất huyết và nguy cơ 'dịch kép'

         Có thể nói sốt xuất huyết là bệnh "đến hẹn lại lên", vậy nhưng sao vẫn có nhiều ca mắc và chuyển nặng, tử vong? Theo báo cáo của Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế, trong tuần gần đây nhất ghi nhận 1.247 trường hợp mắc sốt xuất huyết, không có ca tử vong. So với tuần trước, số mắc giảm 18,9%, số nhập viện giảm 24,9%.

Đây là tuần thứ 3 liên tiếp số mắc sốt xuất huyết giảm, tuy nhiên Cục Y tế dự phòng cảnh báo không chủ quan khi dịch COVID-19 đang bùng phát, nhiều người e ngại đi bệnh viện, có thể mắc bệnh mà không biết và dễ có nguy cơ chuyển nặng.

Nhiễm virus Dengue có 2 dạng: nhiễm nguyên phát và nhiễm thứ phát. Trong lần nhiễm thứ phát, hệ miễn dịch của người bệnh có thể đáp ứng một cách thái quá và gây tổn thương các hệ cơ quan trong chính cơ thể người bệnh. Cách đáp ứng này lại tùy theo type huyết thanh gây bệnh, tùy cơ địa người bệnh, tùy cách thức điều trị có phù hợp hay không… Bên cạnh đó, nguyên nhân khiến tỉ lệ bệnh nhân sốt xuất huyết tử vong một phần sự chủ quan, lơ là của người dân với dịch. Khi đưa bệnh nhân đến điều trị chậm trễ, rất có thể xảy ra tình trạng suy đa tạng dẫn đến tử vong. 

Thông thường trong 3 ngày đầu tiên, người bệnh sẽ sốt cao, đau đầu, đau mỏi người, nhức mắt. Tuy nhiên, bệnh nhân vẫn có thể điều trị tại nhà bởi đây không phải là thời gian nguy hiểm nhất và không xuất hiện các biến chứng. Từ ngày thứ 4 là giai đoạn cực kỳ nguy hiểm của bệnh, nếu thấy bệnh nhân có các triệu chứng như tràn dịch màng phổi, màng bụng, nề mi mắt và da căng, xuất huyết da, niêm mạc... phải đưa ngay đến bệnh viện để điều trị. Bởi phát hiện sớm sẽ giảm nguy cơ xuất huyết do bệnh diễn biến rất nhanh khi bị xuất huyết não, xuất huyết tiêu hóa… Bệnh nhân sẽ không còn sốt cao như 3 ngày trước, nhiều người bệnh hay cho rằng bệnh đã bớt nguy hiểm và sắp khỏi nhưng chính giai đoạn này có thể có những biến chứng nặng.

Vì vậy, dù là bệnh theo mùa và đến hẹn lại lên nhưng nếu không kiểm soát môi sinh tốt, diệt lăng quăng, ngủ mùng, hạn chế số lượng muỗi trong nhà, hạn chế muỗi chích thì vẫn có nhiều ca mắc và có thể chuyển nặng.

Hiện tượng xơ phổi, mất khứu giác hậu COVID-19 không thể coi thường

         Nhiều bệnh nhân COVID-19 sau khi khỏi bệnh đi khám tầm soát mới phát hiện mình bị xơ phổi, đặc biệt là đối với những bệnh nhân phải nhập viện. Xơ phổi hậu COVID-19 là tình trạng nhu mô phổi bị phá hủy trong giai đoạn cấp tính sẽ không thể phục hồi trạng thái nhu mô phổi bình thường, mà thay bằng những mô xơ dẫn đến khó thở, đặc biệt là khó thở khi vận động thể lực.

Đối với một số ít bệnh nhân COVID-19 phổi sẽ phục hồi nhanh không cần điều trị, tuy nhiên nhiều người bị tổn thương phổi nếu không phát hiện sớm phổi sẽ bị xơ dẫn đến khó điều trị, bị suy hô hấp để lại di chứng về sau.

Khi bị xơ phổi bệnh nhân thường có biểu hiện sớm là tình trạng khó thở, thiếu oxy hoặc khó thở khi gắng sức, đặc biệt là ban đêm. Ở giai đoạn trễ sẽ bị suy hô hấp kéo dài, liên tục thiếu oxy lúc đó bệnh nhân sẽ khó thở, đầu ngón tay, ngón chân sẽ bị tím tái, đầu ngón tay phình ra... Đối với những bệnh nhân xơ phổi việc điều trị có thể diễn ra 1 - 2 tháng là bình phục. Tại nước ngoài nhiều bệnh nhân phải điều trị lâu hơn, các bác sĩ phải cho thuốc để điều trị lâu dài. Hiện nay vẫn chưa có thuốc đặc hiệu, phải điều trị bằng các thuốc corticosteroid hoặc thuốc chống xơ hóa.

Nên tầm soát sau khi khỏi bệnh: những bệnh nhân COVID-19 phải nằm viện nên đi khám lại để theo dõi tình trạng phổi và các di chứng khác. Đối với bệnh nhân không nằm viện mà điều trị ở nhà hay khu cách ly nếu vẫn còn tình trạng khó thở khi gắng sức thì nên đi khám để kiểm tra phổi. Bên cạnh việc dùng thuốc, bệnh nhân xơ phổi cần được tập vật lý trị liệu hô hấp liên tục, lâu dài dưới sự hướng dẫn của chuyên gia vật lý trị liệu, và tránh những tác nhân có thể làm trầm trọng hơn tình trạng tổn thương phổi sẵn. Cụ thể, những bệnh nhân này nên tránh môi trường ô nhiễm khói bụi, cai thuốc lá, tiêm ngừa vắc xin cúm mùa, và có chế độ ăn uống, sinh hoạt hợp lý giúp tăng sức đề kháng - tránh nhiễm trùng hô hấp do bất kỳ nguyên nhân nào.

*"Lưu ý: theo các bác sĩ việc điều trị xơ phổi hậu COVID-19 có thể kéo dài nhiều tháng, nhiều năm tùy diễn tiến bệnh. Do đó, việc kiên trì tuân thủ điều trị và tái khám đóng vai trò quan trọng".

Mất khứu giác sau mắc COVID-19: Không chỉ bệnh nhân COVID-19 mới gặp phải các vấn đề giác quan, mà nhiều người sau khi khỏi bệnh hoàn toàn vẫn gặp lại tình trạng mất khứu giác kéo dài. Mất khứu giác không chỉ gây bất tiện mà còn có thể gây nguy hiểm cho người bệnh trong các trường hợp như không ngửi được mùi ôi thiu của thực phẩm, rò rỉ khí gas, khói do nhà có cháy.

Thông tin từ Bệnh viện Đại học Y dược TP.HCM, giai đoạn sau đợt dịch lần thứ 4, mỗi tháng bệnh viện tiếp nhận gần 150 trường hợp gặp vấn đề về khứu giác hậu COVID-19. Kết quả báo cáo ban đầu tại bệnh viện này cho biết khoảng 70% người bệnh có các tình trạng thay đổi khứu giác và vị giác hậu COVID-19. Tại khoa tai mũi họng của bệnh viện này, cho biết triệu chứng mất khứu giác do COVID-19 thường chỉ là di chứng tạm thời, sẽ tự cải thiện trong khoảng 1 tháng. "Mất khứu giác cấp tính thường sẽ hết sau 2 tuần, còn đối với trường hợp dai dẳng, mãn tính có thể lên đến 2 năm, rất khó chữa trị bởi khi đó có thể đã bị hủy tế bào nhận thức mùi vị", bác sĩ Phước cho biết.

Theo khuyến cáo của các bác sĩ, có thể sử dụng dung dịch nhỏ mũi có chứa corticoid, nhưng phải phụ thuộc vào tình trạng bệnh của bệnh nhân, có đang trong liệu trình điều trị bệnh lý khác hay không. Sử dụng thuốc corticoid xịt mũi tại chỗ chỉ nên chỉ định sau 2 tuần cho những bệnh nhân mất mùi do COVID-19 có nghẹt chảy mũi, giúp làm giảm phù nề niêm mạc mũi. Bên cạnh đó, các bài tập như sử dụng chất có mùi nhằm kích thích khứu giác cũng mang lại hiệu quả với điều kiện bệnh nhân vẫn còn nhận thức được mùi. Ban đầu có thể sử dụng các mùi gần gũi trong cuộc sống như: hương hoa, mùi trái cây, tinh dầu và bạc hà.

QUYẾT LIỆT PHỨC TẠP VỪA TRỰC TIẾP VỪA GIÁN TIẾP

 

Mặc dù các thế lực thù địch, cơ hội chính trị hoạt động chống phá ngày càng ráo riết, nhưng cần phải khẳng định rằng, văn hóa, văn nghệ của chúng ta vẫn phát triển đúng hướng, góp phần tích cực vào sự nghiệp chung của dân tộc. Lực lượng sáng tạo và hoạt động trên lĩnh vực này, theo nhận định sáng suốt của Đảng và nhân dân, là những người tin cậy, trung thành, có nhiều đóng góp, có tình yêu đất nước, dân tộc, nhân dân, tâm huyết với sự nghiệp đổi mới và với nghề nghiệp. Nhận định đó là khách quan, trung thực và đã được minh chứng trong thực tiễn. Tuy nhiên, cũng không thể lảng tránh một thực tế là tác động của âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ đã thể hiện ngày càng rõ hơn, tinh vi hơn, cả trực tiếp lẫn gián tiếp trong các khâu của quá trình sáng tạo, quản lý, quảng bá, truyền bá lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật. Đã xuất hiện những “tác phẩm” có dụng ý chính trị rõ rệt phủ định con đường và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, thông qua việc bôi đen hiện thực lịch sử hoặc dùng những “hình tượng” mang tính ẩn dụ đen tối nhằm giễu nhại con đường cách mạng của dân tộc mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Vũ Thư Hiên, Bùi Tín những năm trước đây, nhóm “mở miệng” trong những năm cuối thế kỷ XX và cả truyện ngắn của một số cây bút trẻ gần đây đã bộc lộ rõ khuynh hướng này. Hùa theo khuynh hướng đó là những người làm phê bình, giới thiệu đã tìm cách đề cao các loại “tác phẩm” như vậy, coi đó là “trung thực”, là “sức mạnh” của bên lề, của ngoại vi đang tấn công để “giải” (hóa giải) trung tâm, là sự “sáng tạo” và “phát hiện” độc đáo. Thực chất, họ đã dùng những thủ pháp nghệ thuật để vu cáo, xuyên tạc, bôi bẩn các giá trị văn hóa dân tộc, các thành tựu cách mạng cả trong quá khứ và hiện tại. Thực tế cho thấy, để đi tới thắng lợi hoàn toàn, độc lập dân tộc và thống nhất đất nước, trong suốt 30 năm (từ năm 1945 đến năm 1975), dân tộc ta đã phải trải qua muôn vàn hy sinh, gian khổ tận cùng. Đó là sự thật lịch sử, và sự hy sinh đó không phải vô ích, vô nghĩa. Chúng ta không hề muốn chiến tranh nhưng kẻ thù đem gươm, súng đến đất nước này thì “giặc dùng đạn bom ta giáng trả bằng đạn bom”, vì sự mất còn của cả dân tộc, vì độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc. Chân lý lịch sử đó là rõ ràng nhưng các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính trị và một số người trẻ “ngây thơ” đã tìm cách xuyên tạc chân lý đó. Một số tác phẩm văn học, nghệ thuật đã miêu tả cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc ta toàn một màu đen tối, chết chóc, bi kịch, vô nghĩa; phủ định sạch trơn những sáng tạo văn hóa, văn nghệ trong thời kỳ chiến tranh, coi đó là “minh họa”, là tô hồng, là cao hơn, là đứng trên hiện thực. Chúng ta không phủ nhận những hạn chế lịch sử của mảng văn học, nghệ thuật trong chiến tranh nhưng không thể nhân danh “đổi mới” để bôi nhọ cuộc chiến đấu chính nghĩa của dân tộc bằng việc chỉ miêu tả mặt đen tối, sự chết chóc và tha hóa con người trong chiến tranh. Khuynh hướng này chỉ là phiến diện, chưa trung thực với lịch sử. Đã từ lâu, ở phương Tây và ở Mỹ lan truyền một thông tin rằng, cuộc chiến tranh ở Việt Nam là do bị “giật dây” hoặc đó là một cuộc “nội chiến”. Những năm gần đây, luận điệu đó được “sản xuất” bởi một số chính trị gia phương Tây và đã nhanh chóng được “nhập khẩu” vào Việt Nam, tác động đến suy nghĩ, nhận định của một số trí thức, văn nghệ sĩ. Luận điệu đó đã đi vào một vài “sản phẩm” nghiên cứu, một số sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật. Ở một vài tác phẩm, các tác giả đã cố tình cài cắm luận điệu “nhập khẩu” đó như là một sự “phát hiện mới” của mình. Có lẽ, do phần lớn trong số họ đều là những người đứng ngoài cuộc chiến đấu nên không hiểu được khát vọng sâu thẳm của hàng triệu người Việt Nam đã chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc, hoặc có người chạy theo “mốt thời thượng” về chính trị mà không am hiểu, thậm chí “không muốn hiểu” sự thật lịch sử đã được thừa nhận từ lâu. Thực tế đã chứng minh luận điệu của ai đó cho rằng cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam là “chiến tranh ủy nhiệm” hoàn toàn là sự “ngây thơ” hoặc cố tình xuyên tạc lịch sử. Năm 1965, đế quốc Mỹ đem quân ồ ạt vào miền Nam nước ta, bắt đầu chiến lược “chiến tranh cục bộ”. Nhưng chỉ vài năm sau, chiến lược đó thất bại thảm hại. Tổng thống Mỹ công khai tuyên bố chuyển sang chiến lược mới “Việt Nam hóa chiến tranh”, nghĩa là Mỹ vẫn chủ mưu, vẫn viện trợ, trang bị “tận răng” cho quân đội và chính quyền Sài Gòn. Âm mưu này thâm độc hơn nhưng ngay từ đầu đã mang dấu hiệu thất bại. Đầu năm 1975, khi chúng ta mở chiến dịch giải phóng hoàn toàn miền Nam, chính quyền Sài Gòn đã kêu gào Mỹ viện trợ tiền và vũ khí và khi không đạt được sự cầu cứu thảm hại đó, chính họ đã “đổ lỗi” cho Mỹ về sự sụp đổ của mình. Mặc dù vậy, tại sao lại vẫn có người cố tình miêu tả, bình luận cuộc chiến này là “nội chiến”. Phải chăng họ đã “ăn phải bả” của một số chính trị gia phương Tây? Những năm gần đây, rải rác xuất hiện một số sáng tác tập trung miêu tả, khắc họa những con người bi quan, bế tắc, tâm trạng trống rỗng, không tin và không tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống. Nhân vật trong các tác phẩm đó thường là thanh niên hay những người ở độ tuổi mới lớn. Chúng ta không phủ nhận trong xã hội hiện nay có một bộ phận nhỏ rơi vào tâm trạng đó. Song cường điệu điều đó để đi tới sự phủ định những điều tốt đẹp của cuộc sống, tạo ra bức tranh thê thảm của xã hội, reo giắc trong thế hệ trẻ sự bế tắc là trái với bản chất nhân văn của văn học, nghệ thuật. Ví dụ như lời một số ca khúc trong đĩa “Cái nường 8X” của nhạc sĩ Ngọc Đại với 9 bài hát mà hầu hết lời lẽ đều toát lên một tâm trạng uất ức, tức tối, căm giận với những ca từ, như “Thôi chào nhé. Chào vĩnh biệt những mùa xuân thật là thê thảm. Những mùa xuân thật là dã man. Những mùa xuân tối tăm, bệnh hoạn. Những mùa xuân đã chết rồi trong trái tim của anh và em và cũng có thể của cả một dân tộc. Chết dần, chết mòn, chết thật rồi....”(bài Vĩnh biệt). “ Mùa xuân thật là ngu ngốc, chán ngắt, buồn nôn”, “phí hoài, chán ngắt, bước chân mộng du...” (bài Thông điệp hoa hồng)... Đây là những bài hát đi ngược lại thuần phong, mỹ tục của người Việt Nam, tuyên truyền chống Tổ quốc, chống nhân dân, bôi xấu, xuyên tạc chế độ. Có thể thấy, đó là quan niệm lệch lạc của cá nhân nghệ sĩ, vậy “diễn biến hòa bình” ở đâu? Phải chăng đó chính là việc truyền bá chủ nghĩa hư vô, bi quan, trầm cảm và hoài nghi. Mục tiêu chính của nó là làm nảy sinh sự bất mãn, làm sai lệch tư tưởng, làm suy yếu chủ nghĩa yêu nước trong thế hệ trẻ. Tác động tai hại, thâm độc của âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật chính là như vậy

CÂU TRẢ LỜI LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

 

Ngay từ năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra, cùng với âm mưu xâm lăng nước ta bằng quân sự, các nước đế quốc còn thực hiện âm mưu xóa bỏ những giá trị truyền thống, tinh hoa văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta. Nhận định của Bác là sáng suốt, bởi đến nay, mặc dù thế giới đã thay đổi nhanh chóng, tương quan và hình thái xã hội trên toàn cầu đã có nhiều biến đổi, nhưng có thể thấy các nghị quyết, văn kiện của Đảng và Nhà nước ta trong mấy nhiệm kỳ gần đây đều vẫn nhấn mạnh các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với nước ta. Thực tế, không ít các nhà nghiên cứu nước ngoài từng đưa ra những lo ngại, băn khoăn rằng, trong quá khứ Việt Nam có đủ khả năng chống trả ảnh hưởng của văn hóa nước ngoài, nhưng hiện nay liệu người Việt Nam sẽ có những biện pháp gì để chống lại thông tin xấu, độc từ các nước phương Tây nhằm hạn chế tối đa những tác động xấu đối với xã hội và con người... Không phải vô cớ mà Tổng thống Mỹ R. Nich-xơn, khi thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô (trước đây) đã lớn tiếng tuyên bố khâu quyết định có ý nghĩa chiến lược là bằng mọi cách “tước bỏ vũ khí tư tưởng của đối phương” và coi tư tưởng, văn hóa, văn nghệ như là “cửa mở” của “cuộc chiến tranh không có khói súng”, các “cuộc cách mạng sắc màu”, “cách mạng nhung”... để đi đến “chiến thắng không cần chiến tranh”... Hiện nay, nhiều thông tin toàn diện, trong đó có nhiều minh chứng cụ thể đã cho chúng ta thấy rõ hơn các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch đối với Việt Nam. Thông qua các phương tiện truyền thông, mạng xã hội, các blogger đã tấn công cá nhân các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản và toàn bộ hệ thống chính trị - xã hội Việt Nam, chiến lược chung là nhằm tạo ra sự mất ổn định kinh tế - chính trị - xã hội. Hoạt động này đã và đang được thực hiện một cách ráo riết cùng với việc lợi dụng các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức núp dưới chiêu bài bảo vệ “nhân quyền” và không ít người đã nhận được “hỗ trợ”, “tài trợ” từ các cơ quan nước ngoài, các tổ chức văn hóa, thậm chí trực tiếp từ chính phủ một số nước phương Tây. Về văn hóa, toàn bộ vũ khí văn hóa chống lại “nền tảng tư tưởng” đã được thiết kế, “sản xuất” ở phương Tây, sau đó được “cấy ghép” vào các nước ở Trung và Nam Mỹ, khu vực Nam Phi, vào Trung Quốc, Nga và ngày càng nhiều ở Việt Nam. Như vậy, dù vẫn còn những người nghi ngờ, lảng tránh, “bỏ qua”, thậm chí cho là “báo động giả”, nhưng thực tế cho thấy, âm mưu của các thế lực thù địch hòng thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam là có thật, thậm chí “sản phẩm” này còn được đề ra, được xác định thực hiện trong một thời gian dài, có lộ trình cụ thể và đã được đưa lên thành chiến lược trong thời kỳ mới từ những năm 80 của thế kỷ XX đến nay. Trong chiến lược đó, tư tưởng, văn hóa, văn nghệ luôn là “cửa mở”, “cửa đột phá để tước bỏ vũ khí tư tưởng của đối phương”, từ đó nhằm đánh gục đối phương từ bên trong, từ bên trên, từ gốc “nền tảng tư tưởng”.

NHẬN DIỆN DIỄN BIẾN HÒA BÌNH TRONG LĨNH VỰC VĂN HÓA

 

Trong xã hội hiện nay, dư luận và trong giới trí thức, văn nghệ sĩ đang có những nhận định, ý kiến khác nhau về tác động của âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với văn hóa, văn nghệ nước ta. Có ý kiến khẳng định mạnh mẽ, “báo động” về tác hại trực tiếp và thực trạng rất phức tạp của “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực có nhiều đặc thù này. Cũng có ý kiến cho rằng, các thế lực thù địch thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chủ yếu trên lĩnh vực chính trị, tổ chức, nhân sự, ngoại giao..., còn nói “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ thì chỉ là sự cường điệu, thậm chí là “báo động giả”. Vậy cần bình tĩnh, tỉnh táo khi nhận diện những biểu hiện của “diễn biến hòa bình”, đánh giá những tác động, ảnh hưởng của “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ. Có thể thấy rằng, nghiên cứu, đánh giá tác động của âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” với văn hóa, văn nghệ không đơn thuần là vấn đề chính trị mà đó vừa là vấn đề của chính trị, vừa là vấn đề của khoa học. Do vậy, không thể giản đơn, máy móc, quy chụp và cũng không thể lảng tránh, không nhận ra tác động tinh vi, phức tạp của “diễn biến hòa bình” đối với lĩnh vực này. Tuy nhiên, quá trình nghiên cứu, đánh giá cần tránh hai khuynh hướng sau: Một là, mất cảnh giác hoặc phủ nhận tác động của “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ. Hai là, quy chụp với cách nhìn máy móc, cứng nhắc, không hiểu biết đầy đủ về bản thân văn hóa, văn nghệ trong thời kỳ mới với rất nhiều vấn đề đặt ra trong thực tiễn, đòi hỏi sự tham gia trực tiếp của văn hóa, văn nghệ, góp phần vào sự phát triển của con người và xã hội.

Quân đội - Dấu ấn trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19

 

Quân đội - Dấu ấn trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19

Với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, dưới sự lãnh đạo toàn diện, sáng suốt của Đảng, sự chỉ đạo linh hoạt, kịp thời của Chính phủ, hai năm qua, cán bộ, chiến sĩ toàn quân và lực lượng dân quân tự vệ cả nước đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần yêu nước, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, làm tròn chức năng, nhiệm vụ được giao, vừa huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, vừa tích cực, chủ động tham gia phòng, chống dịch (PCD) Covid-19 hiệu quả, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng cấp ủy, chính quyền và nhân dân.

Bài 1: Chống dịch như chống giặc!

Khi dịch xâm nhập, bùng phát trong nước, yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe, tính mạng, cuộc sống bình yên của nhân dân luôn được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, quyết liệt. Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, từ đồng chí lãnh đạo cao nhất của quân đội đến người binh nhì đều thấu triệt tinh thần chống giặc vô hình, trở thành điểm tựa vững chắc của nhân dân.

Vững vàng ý chí trên trận tuyến mới

Cách đây tròn hai năm, đúng vào tháng cuối cùng của năm 2019, Trung Quốc công bố ca nhiễm virus Corona đầu tiên tại TP Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc. Thông tin về mức độ nguy hại của dịch bệnh và những cảnh báo khiến thế giới không khỏi quan ngại.

Theo dõi sát sao diễn biến tình hình, ngay từ rất sớm-dấu mốc là từ khi Việt Nam xuất hiện hai ca nhiễm đầu tiên (ngày 23-1-2020), Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã sớm xác định Covid-19 là “kẻ thù vô hình”-một dạng thách thức an ninh phi truyền thống hết sức nguy hiểm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, kinh tế-xã hội, sức khỏe, tính mạng con người. Quán triệt nghiêm túc, sâu sắc chỉ đạo của Tổng Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban chỉ đạo quốc gia PCD Covid-19, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng kịp thời tham mưu, đề xuất, triển khai đồng bộ, quyết liệt các biện pháp PCD với tinh thần “chống dịch như chống giặc”; xác định đây là nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình; bảo đảm trong bất cứ tình huống nào, quân đội cũng sẵn sàng đi đầu trong PCD, bảo vệ sức khỏe, tính mạng và cuộc sống bình yên của nhân dân.

Với sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Thường vụ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, Bộ Tổng Tham mưu và cấp ủy, chỉ huy, chính ủy, chính trị viên các cấp, quan điểm “chống dịch như chống giặc” được thấu triệt xuyên suốt từ lãnh đạo Bộ Quốc phòng đến từng cán bộ, chiến sĩ và lan tỏa ra cộng đồng xã hội. Tinh thần, trách nhiệm trong chống dịch được đề cập từ những hội nghị quan trọng của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, Bộ Tổng Tham mưu, các quân chủng, binh chủng, cho đến mọi cấp ở cơ sở. Mọi diễn biến liên quan đến tình hình dịch bệnh được liên tục cập nhật, thông tin đến với cán bộ, chiến sĩ. Các thông tin thời sự trên hệ thống báo chí quân đội, các bản tin, truyền thanh nội bộ ở đơn vị cơ sở liên tục phát đi những chỉ đạo, hướng dẫn của lãnh đạo, chỉ huy các cấp. Nhờ đó mà tinh thần chống dịch được thấm, ngấm vào từng cán bộ, chiến sĩ; nhận thức về tình hình dịch bệnh khá đầy đủ, quyết tâm chính trị được xây dựng, bồi đắp sâu sắc và mạnh mẽ.

Trong khi đó, xét về mặt tổ chức, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện được vận hành bài bản, nhịp nhàng trong toàn Đảng bộ Quân đội và các cơ quan, đơn vị toàn quân, dù đây là lần đầu ứng phó với một trạng thái thách thức an ninh phi truyền thống mới. Ngay sau khi nhận được các chỉ thị về công tác PCD, cấp ủy đảng các cấp trong quân đội đã nghiêm túc thảo luận, xây dựng nghị quyết chuyên đề về việc lãnh đạo công tác ứng phó với từng cấp độ dịch Covid-19. Theo kết quả khảo sát ở nhiều đơn vị trực thuộc Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật, Bộ đội Biên phòng, các quân khu 1, 3, 5, 7, Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội, các quân đoàn 2, 4... cho thấy: 100% cấp ủy, tổ chức đảng đều ban hành nghị quyết chuyên đề lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ PCD. Cấp ủy, chỉ huy các cấp xác định rõ tư tưởng, quyết tâm chính trị và tập trung sức lãnh đạo, chỉ đạo, huy động mọi nguồn lực, mọi lực lượng để PCD Covid-19 đạt hiệu quả cao nhất. Căn cứ vào diễn biến dịch, các tổ chức đảng thường xuyên rà soát, điều chỉnh, bổ sung chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo sát, đúng, hiệu quả. Các cấp khẩn trương kiện toàn ban chỉ đạo PCD; xác định rõ mục tiêu, nội dung, triển khai toàn diện, quyết liệt, đồng bộ các giải pháp hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị trong PCD; kịp thời nắm bắt, giải quyết dứt điểm những vướng mắc, bất cập nảy sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; nhất là ở các đơn vị đóng quân trên địa bàn tâm dịch.

Quân đội - Dấu ấn trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19

Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng động viên cán bộ, học viên Học viện Quân y trước khi lên đường vào miền Nam chống dịch.

Ảnh: TUẤN HUY 

Nói như vậy để thấy rằng, ngay trong lần đầu tiên đối mặt với Covid-19-đại dịch chưa từng có trong lịch sử, Quân đội ta đã chủ động đề ra biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, ứng phó kịp thời, hiệu quả với diễn biến của dịch bệnh. Cũng từ đó, chất lượng các mặt công tác trong hoạt động quân sự có bước chuyển biến tích cực, tạo sức mạnh tổng lực trong công tác PCD. Trong đó, các hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị được khẳng định bằng hiệu quả bao trùm lên tất cả các khâu, các bước, các lĩnh vực của hoạt động PCD; kịp thời định hướng, dẫn dắt các lực lượng xung kích thực hiện nhiệm vụ nơi tuyến đầu với bản lĩnh vững vàng, ý chí kiên cường, bình tĩnh và không hoang mang, dao động, với tinh thần tự phòng, chống cho mình trước để duy trì và bảo đảm tình trạng sức khỏe tốt nhất phục vụ nhân dân.

Cùng với đó, các cơ quan chức năng theo phân cấp đã làm tốt việc xây dựng kế hoạch, phương án ứng phó với các cấp độ, tổ chức thực hiện từ cấp chiến lược xuống cơ sở; dự báo các tình huống phức tạp, xây dựng phương án, biện pháp xử lý tốt nhất với tinh thần “sớm hơn và cao hơn một bước”. Đặc biệt, các cơ quan chức năng của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng luôn bám sát tình hình dịch bệnh, tham mưu, đề xuất với Đảng, Chính phủ, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng các biện pháp: Kiểm soát, ngăn chặn, hạn chế tối đa các nguồn lây nhiễm, nhất là từ nước ngoài; chủ động chuẩn bị tổ chức các khu cách ly tập trung, sẵn sàng ứng phó với cấp độ dịch cao hơn, phạm vi rộng hơn; xây dựng kế hoạch, tổ chức diễn tập PCD Covid-19 nhằm thống nhất trình tự, nội dung, phương pháp PCD ở các cấp độ, đồng thời tham mưu xây dựng, ban hành kế hoạch phòng, chống, ứng phó với cấp độ dịch; phối hợp với các bộ, ngành liên quan dự báo tình hình; đẩy mạnh các hoạt động thông tin, tuyên truyền về PCD Covid-19 theo phương châm quyết liệt, bình tĩnh, không hoang mang, dao động, định hướng tốt tư tưởng, dư luận; kiểm soát không gian mạng; chủ động nghiên cứu và tham gia sản xuất, cung ứng trang thiết bị y tế, chuẩn bị cơ sở vật chất, lực lượng; phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với các cấp, các ngành, cấp ủy, chính quyền và nhân dân ngăn chặn, khống chế, không để dịch bệnh lan rộng trong cộng đồng.

Ở cả 4 giai đoạn dịch Covid-19 bùng phát với tính chất, mức độ, đặc thù khu vực khác nhau, nhưng quân đội luôn làm tốt công tác dự báo, đi trước về kế hoạch, phương án, lãnh đạo toàn quân xung kích, ứng phó kịp thời, đúng kịch bản nhưng cũng hết sức linh hoạt, bám sát thực tế, góp phần cùng toàn Đảng, hệ thống chính trị và nhân dân từng bước khống chế, đẩy lùi dịch bệnh và hiện nay là thích ứng linh hoạt, kiểm soát hiệu quả, đưa cuộc sống trở về trạng thái bình thường mới.

Nhìn lại bức tranh tổng thể suốt hai năm qua, có thể khẳng định: Việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác PCD của QĐND Việt Nam được vận hành một cách toàn diện, đồng bộ, thiết thực, tròn khâu. Sớm xác định quan điểm, chủ trương, chuyển hóa thành nghị quyết, xây dựng thành kế hoạch, chỉ thị; triển khai chặt chẽ, có kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm thường xuyên, thực chất. Trong phần việc này, hệ thống tổ chức đảng, chỉ huy các cấp, tổ chức quần chúng... đã có sự vào cuộc đồng bộ, nhịp nhàng, có lớp lang, có diện rộng và chiều sâu, có trọng tâm, trọng điểm; các lĩnh vực quân sự, chính trị, hậu cầu, kỹ thuật; các đầu mối cơ quan, đơn vị, quân binh chủng, đặc biệt là cả “ba thứ quân” đều có những đóng góp hết sức quan trọng.

Thực hiện lãnh đạo bằng nêu gương

Trong các phương thức, cách thức lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng đối với cuộc chiến PCD Covid-19, có thể nhận thấy rất rõ vị trí, tầm quan trọng và tính hiệu quả thiết thực của việc lãnh đạo bằng nêu gương của đội ngũ cán bộ các cấp trong quân đội.

Thực tế cho thấy, trong các đợt bùng phát dịch Covid-19 ở Việt Nam, mỗi cán bộ, chiến sĩ có nhiều điều kiện quan sát, theo dõi và bày tỏ sự cảm phục, tự hào về quyết tâm chính trị và hành động của đội ngũ lãnh đạo, chỉ huy các cấp. Các đồng chí tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp và đội ngũ cán bộ chủ trì, chủ chốt, nhất là người đứng đầu đã không quản ngại nguy cơ lây nhiễm, chủ động có mặt ở các vùng dịch diễn biến phức tạp, cùng hệ thống chính trị ở cơ sở trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn cộng đồng triển khai các giải pháp PCD; động viên cán bộ, chiến sĩ đồng lòng khắc phục khó khăn, chiến thắng dịch bệnh. Nơi nào là tâm dịch hay dịch diễn biến phức tạp là nơi đó có lãnh đạo Bộ Quốc phòng đến trực tiếp chỉ đạo, đưa ra hàng loạt “mệnh lệnh nóng”; chủ trì những cuộc họp khẩn cấp để bàn quyết sách chống dịch. Không ít lần, các cơ quan của Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, Bộ Tổng Tham mưu phải họp gấp trong đêm, họp xuyên trưa... để sớm có phương án ngăn chặn, đẩy lùi dịch bệnh trong các tình huống cấp bách.

Những câu chuyện về người đứng đầu các cơ quan chiến lược của Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, Bộ Tổng Tham mưu nêu gương xung kích chống dịch là hình ảnh thường nhật, được cán bộ, chiến sĩ, người dân chứng kiến ở địa phương, địa bàn mình đang sinh sống; được đăng tải trên các phương tiện truyền thông và cả trên các tài khoản không gian mạng. Thậm chí, nhiều người dân còn viết thư, làm thơ, bày tỏ sự cảm phục, lòng biết ơn đối với cán bộ, đảng viên trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo cuộc chiến khốc liệt với một loại “giặc” nguy hiểm. Hàng triệu lượt “like” và “comment” tích cực của quần chúng với những bài viết, tin tức là minh chứng cho sự ghi nhận, biết ơn của chiến sĩ, đồng bào cả nước dành cho đội ngũ cán bộ trong quân đội.

Chính sự lãnh đạo bằng nêu gương ấy đã tạo nên sức mạnh hiệu triệu, cổ vũ, động viên hàng vạn cán bộ, chiến sĩ tự nguyện xung kích lên tuyến đầu, sẵn sàng dấn thân nơi gian khó, lao vào vùng tâm dịch để bảo vệ tính mạng, sức khỏe của nhân dân.

Đặc biệt, từ khi đợt dịch Covid-19 lần thứ tư bùng phát, đe dọa trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của nhân dân, theo lời hiệu triệu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, với tinh thần “Chống dịch như chống giặc”, “đặt sức khỏe, tính mạng của nhân dân là trên hết, trước hết”, “giúp dân là mệnh lệnh trái tim của cán bộ, chiến sĩ”, QĐND Việt Nam đã không quản ngại hy sinh, gian khổ, “xông thẳng” vào tâm dịch, hỗ trợ địa phương và nhân dân PCD Covid-19. Hưởng ứng tinh thần của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và phong trào thi đua đặc biệt của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, ngày 23-8-2021, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tổ chức Lễ phát động Phong trào thi đua đặc biệt với chủ đề “Quân đội cùng cả nước chung sức, đồng lòng thi đua phòng, chống và chiến thắng đại dịch Covid-19”. Tại lễ phát động, Đại tướng Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị nhấn mạnh: "Toàn quân tập trung thi đua, thể hiện ý chí quyết chiến quyết thắng, chủ động, tích cực, đi đầu trong tham gia và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ PCD".

Trong buổi gặp gỡ, động viên, giao nhiệm vụ cho đoàn cán bộ, nhân viên, học viên Học viện Quân y trước giờ lên đường vào TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam làm nhiệm vụ PCD Covid-19, những lời căn dặn, chỉ đạo của Đại tướng Phan Văn Giang như lời hiệu triệu, thổi bùng ngọn lửa quyết tâm, sẵn sàng xông pha lên tuyến đầu của các chiến sĩ quân y: “Tôi tin các đồng chí sẽ là những tấm gương sáng để chúng ta hoàn thành nhiệm vụ, dứt khoát chúng ta sẽ hoàn thành nhiệm vụ... Đội ngũ thầy thuốc quân y sẽ cùng với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, không phụ lòng tin của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với chúng ta. Chúng ta hãy vì nghĩa lớn, vì tình đồng bào để thực hiện nhiệm vụ...!”. 

Đáp lại kỳ vọng của đồng chí bộ trưởng, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ trên cả 3 lực lượng, gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ đã xung phong ra tuyến đầu chống dịch, cứu dân, chung sức cùng cả nước sớm chiến thắng đại dịch Covid-19.

Trong vùng tâm dịch, các cơ quan, đơn vị quân đội đã phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương và các lực lượng tổ chức tiếp nhận, xét nghiệm, cấp cứu, điều trị, chăm sóc bệnh nhân; tuần tra, kiểm soát giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội tại các điểm chốt chặn, các vùng cách ly, phong tỏa nơi tâm dịch; tuyên truyền, vận động, giám sát người dân thực hiện nghiêm việc giãn cách; tham gia điều tiết, phân luồng đưa người lao động, học sinh, sinh viên về quê hoặc về những nơi cách ly theo quy định. Ngoài ra, lực lượng quân đội và dân quân tự vệ đã tích cực hỗ trợ nhân dân thu hoạch, vận chuyển, tiêu thụ nông, thủy sản; cung cấp lương thực, nhu yếu phẩm, thuốc điều trị tới từng nhà dân, không để ai đói khát và mắc bệnh mà không được chăm sóc.

Dưới sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, các lực lượng biên phòng, hải quân, cảnh sát biển, phối hợp chặt chẽ với các quân khu và các lực lượng duy trì gần 2.000 tổ, chốt biên giới đường bộ, đường biển, đường sông và nội địa, ngày đêm tuần tra, kiểm soát chặt biên giới, khu cách ly, khu phong tỏa, khu điều trị nhằm ngăn chặn, không để F0 xâm nhập vào nội địa, lan ra cộng đồng. Hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ nhiều tháng liền bám trụ trên các tuyến biên giới trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, sinh hoạt thiếu thốn. Nhiều đồng chí hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, nhưng vẫn xung phong lên tuyến đầu thực hiện nhiệm vụ; thường xuyên bám dân, bám bản, vận động, hướng dẫn nhân dân thực hiện các biện pháp PCD; cùng cấp ủy, chính quyền địa phương PCD, ổn định đời sống, giữ vững địa bàn-nơi “phên giậu” của Tổ quốc. 

Những đóng góp của QĐND Việt Nam thời gian qua được Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các ban, ngành Trung ương, địa phương và toàn xã hội đánh giá cao. Trong lời kêu gọi, thư của lãnh đạo Đảng, Nhà nước đều ghi nhận, khen ngợi những chiến công, đóng góp đặc biệt xuất sắc của cán bộ, chiến sĩ toàn quân.

Quyền con người-khát vọng của nhân loại tiến bộ

 

Quyền con người-khát vọng của nhân loại tiến bộ

Tuyên ngôn Quốc tế về quyền con người (UDHR) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1948 khẳng định: “Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi".

Là một đất nước đã phải trải qua những năm dài bị đô hộ, chiến tranh tàn phá, dân tộc Việt Nam hiểu hơn ai hết giá trị, khát vọng để giành lại những quyền cơ bản vốn có của con người. Bởi thế, mọi sự xuyên tạc, vu khống, chống phá Việt Nam về vấn đề nhân quyền đều trở nên lạc lõng. Không thế lực bên ngoài nào có quyền ban phát, hay từ chối thành tựu lớn lao về quyền con người của dân tộc Việt Nam.

Bài 1: Sự áp đặt khiên cưỡng và xa lạ

Quyền con người là thành tựu chung của nhân loại và luôn là khát vọng cháy bỏng của con người dù bất kể chế độ chính trị nào.

Dù vậy, đã từ lâu, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch lại sử dụng quyền con người như một vũ khí lợi hại để chống phá Việt Nam, mà thực chất là muốn xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phá bỏ con đường mà nhân dân Việt Nam đã lựa chọn.

Thành tựu không phải của riêng phương Tây

“Lập lờ đánh lận con đen”, các thế lực thù địch chống phá, xuyên tạc sự thật về tự do, dân chủ ở Việt Nam tự cho rằng: “Quyền con người là thành tựu riêng có của phương Tây”... Từ sự nhận xằng đó, họ áp đặt “các giá trị phổ quát”, lấy nhân quyền cao hơn chủ quyền để ra điều kiện với Việt Nam với ý đồ chống phá chứ không phải vì mục tiêu là sự tiến bộ.

Điều đương nhiên, không phải chỉ đến cách mạng tư sản với sự ra đời của nhà nước tư sản mới có quyền con người. Thực chất, quyền con người xuất hiện từ khi con người ý thức về sự tồn tại của mình và ý thức về nhu cầu, lợi ích cá nhân trong các quan hệ xã hội.

Tư tưởng và nội hàm về quyền con người đã xuất hiện từ sớm và tồn tại trong mọi nền văn hóa. Về bản chất, quyền con người là các quyền bẩm sinh thuộc sở hữu vốn có của mọi người, nó gắn liền với hành động công nhận, thừa nhận chứ không phải là ban phát, từ chối hay tước đoạt vô cớ. Nó bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người, đó là các quyền và tự do cơ bản của con người trên lĩnh vực quyền dân sự, chính trị; quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Lịch sử phát triển của xã hội, xét đến cùng đều là lịch sử đấu tranh vì quyền con người. Điều đó càng khẳng định chân lý, quyền con người là giá trị chung của nhân loại.

Quyền con người-khát vọng của nhân loại tiến bộ
Ảnh minh họa / tuyengiao.vn 

Khẳng định như vậy có ý nghĩa hết sức quan trọng vì nó chỉ ra nguồn gốc của quyền con người. Tuy vậy, thuật ngữ “quyền con người” ra đời khá muộn, gắn liền với cuộc cách mạng tư sản nên nó thường bị lợi dụng để gây hiểu lầm rằng nó là thành tựu của riêng phương Tây.

Chúng ta có đầy đủ cơ sở để bác bỏ quan điểm sai trái, coi quyền con người là phát kiến, là giá trị riêng có của các nước phương Tây. Đây cũng là cơ sở để góp phần khắc phục các biểu hiện phiến diện, cực đoan, quay lưng, khước từ những giá trị tiến bộ, văn minh hoặc chấp nhận sự áp đặt mô hình của nước này cho nước khác.

Lịch sử đã chứng minh, những tư tưởng về quyền con người cũng như những quy định trong luật pháp và kết quả đạt được về quyền con người là thành quả đấu tranh lâu dài, gian khổ của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức, qua mọi thời kỳ phát triển.

Đó cũng là thành quả của cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên; qua đó, quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại. Vì là giá trị chung của nhân loại nên tất cả các quốc gia, dân tộc không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển đều có quyền thụ hưởng và có nghĩa vụ bảo vệ, phát triển giá trị xã hội cao quý này.

Áp đặt là vô nghĩa

Áp đặt tiêu chuẩn dân chủ, nhân quyền phương Tây trên phạm vi toàn cầu nói chung và với Việt Nam nói riêng là cách thức rất vô lý và hoàn toàn không phù hợp với thực tiễn. Ngay trong Hiến chương Liên hợp quốc cũng nhấn mạnh: Không quốc gia nào, kể cả Liên hợp quốc, có quyền can thiệp vào công việc thực chất thuộc thẩm quyền quốc gia. Vậy mà, một số nước phương Tây lại tự cho mình có quyền áp đặt các “giá trị phương Tây” nhằm tác động vào việc xây dựng pháp luật, hoàn thiện thể chế, thúc đẩy phát triển xã hội dân sự, nhằm tạo ra lực lượng đối trọng với Chính phủ Việt Nam thì thật khó chấp nhận.

Một số nước này luôn sử dụng “tiêu chuẩn kép” về quyền con người. Họ áp đặt quan điểm “quyền con người phổ quát” nhưng theo kiểu “nhân quyền cao hơn chủ quyền”. Trong các chiêu bài áp đặt, họ luôn kêu gọi, khuyến khích các đòi hỏi cực đoan, hành vi vi phạm pháp luật, chống đối chính quyền thông qua các hình thức “bất tuân dân sự”, “kiến nghị tập thể”, “đấu tranh bất bạo động”... nhằm phá hoại sự ổn định và phát triển của Việt Nam.

Thực tiễn đang chứng minh một nghịch lý, trong khi không ngừng thúc ép các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam cải thiện nhân quyền, nhưng ở chính nội tại một số nước đó vẫn áp dụng chính sách phân biệt đối xử. Có những nước lớn luôn tỏ ra quan tâm quá mức đến nhân quyền ở các nước khác thì sự bất công về phân biệt đối xử giữa người da trắng và người da đen chưa bao giờ chấm dứt. Hố sâu phân hóa giàu nghèo đang ngày càng xa hơn.

Trong khi những tỷ phú đô la ở nước đó có quyền năng rất lớn thì rất nhiều người sống trong nghèo khổ; nhiều con người vẫn bị tước đoạt mạng sống bởi tình trạng súng đạn mất kiểm soát. Thậm chí có những nước lớn đến nay vẫn chưa phê chuẩn một số công ước quốc tế quan trọng về quyền con người, trong đó có Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 (CRC).

Một số nước phương Tây hiện nay vẫn đang sử dụng hình thức viện trợ, hợp tác để công khai lôi kéo và hỗ trợ cho hoạt động đối lập, bất đồng chính kiến ở Việt Nam, thậm chí đưa các yêu sách cải thiện nhân quyền thành điều kiện cho hợp tác song phương và đa phương là vô lý. Các nước trên thế giới ở những trình độ phát triển khác nhau nên không thể lấy giá trị, tiêu chuẩn của nước này áp đặt cho nước khác.

Trong xã hội còn giai cấp, còn nhà nước thì một vấn đề tất yếu là quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc. Chỉ thị số 12/CT/TW của Ban Bí thư ngày 12-7-1992 “về vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta” khẳng định: “Trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, khái niệm nhân quyền mang tính giai cấp sâu sắc”.

Bởi vậy, việc áp đặt tiêu chuẩn của một nước này cho một nước khác về các tiêu chí nhân quyền là hoàn toàn vô lý. Trên phạm vi quốc tế, tính giai cấp của khái niệm quyền con người được thể hiện trong cuộc đấu tranh giữa lực lượng cách mạng, tiến bộ với các lực lượng phản động, phản tiến bộ. Ngày nay nó được biểu hiện chính là dưới hình thức thúc đẩy chiến lược “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn, lật đổ...

Bảo đảm quyền con người trước hết và chủ yếu thuộc trách nhiệm của mỗi quốc gia. Trách nhiệm pháp lý này đã được Liên hợp quốc quy định trong các văn kiện quyền con người quốc tế. Dù đã được quốc tế hóa nhiều mặt, nhưng việc bảo đảm quyền con người chủ yếu vẫn thuộc thẩm quyền của các quốc gia. Sự hợp tác trên lĩnh vực quốc tế về quyền con người là rất quan trọng, vì có thể bổ sung thêm nguồn lực và kinh nghiệm trong việc bảo đảm quyền con người. Tuy nhiên, các cơ chế quyền con người quốc tế chỉ nhằm bổ sung chứ không thể thay thế các cơ chế đang vận hành tại các quốc gia.

Đối với việc bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, trách nhiệm của quốc gia càng rõ ràng, không bất cứ một quốc gia hay tổ chức quốc tế nào có thể đảm đương được công việc bảo đảm các quyền này thay cho mỗi nhà nước. Đây là những nguyên tắc cần được nhận thức rõ ràng, đầy đủ. Độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là đòi hỏi hàng đầu trong việc bảo đảm và thực thi quyền con người.

Một yếu tố quan trọng khác trong xem xét vấn đề quyền con người, đó là phải đặt nó trong bối cảnh lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của đất nước đó. Chính điều này đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận thông qua Tuyên bố Vienna và Chương trình Hành động tại Hội nghị thế giới về nhân quyền năm 1993 tại Vienna (Áo).

Tuyên bố đã khẳng định khi xem xét vấn đề nhân quyền phải luôn ghi nhớ tính đặc thù dân tộc, khu vực và bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hóa và tôn giáo... Như vậy, không thể áp đặt hay sao chép máy móc các tiêu chuẩn, mô thức của nước này cho nước khác.

Việc một số nước nào đó tự cho mình quyền áp đặt chuẩn mực cho quốc gia khác, rồi lại tự cho phép mình bảo vệ quyền con người ở mọi nơi theo ý đồ của họ, bất chấp chủ quyền của các quốc gia đó là điều không thể chấp nhận. Quyền con người là giá trị được kết tinh từ những thành tựu, kinh nghiệm đặc sắc trong lịch sử, truyền thống, văn hóa của mỗi quốc gia.

Tính phụ thuộc của quyền con người còn bắt nguồn từ sự phát triển không đều về mọi mặt của thế giới, nên quyền con người cũng không thể được đáp ứng như nhau giữa các quốc gia, mà phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi nước. Việt Nam đã tiệm cận rất rõ quan điểm này từ sớm, thể hiện trong Chỉ thị số 12/CT/TW của Ban Bí thư ngày 12-7-1992: “Nhân quyền luôn luôn gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa của đất nước. Do vậy, không thể áp đặt hoặc sao chép máy móc các tiêu chuẩn, mô thức của nước này cho nước khác”. 

Chính trong hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người cũng cho phép một quốc gia bảo lưu những điều khoản cụ thể khi tham gia một công ước, hoặc có các nghị định thư bổ sung cho một công ước nào đó, thể hiện việc chưa ngang bằng giữa các quốc gia.

Mỗi quốc gia có quyền lựa chọn các giải pháp tối ưu cho việc cân bằng giữa ổn định xã hội với việc bảo đảm đầy đủ quyền con người, có quyền xây dựng lộ trình trong việc thực hiện cam kết đối với các điều ước quốc tế về quyền con người. Như vậy mọi sự sao chép, áp đặt các mô hình dân chủ, quyền con người là không thể chấp nhận.