Thứ Hai, 13 tháng 12, 2021

MỘT SỐ QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Trong nhiều thập kỷ qua, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách, dùng mọi thủ đoạn “công phá” vào Đảng Cộng sản Việt Nam cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức nhằm từng bước hạ thấp vị thế, uy tín tiến tới xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam. Chúng lập luận rằng: “sự lãnh đạo của một đảng duy nhất là không dân chủ, là độc tài”; thích ứng với nền kinh tế nhiều thành phần thì không thể “nhất nguyên chính trị”, “không thể duy trì sự lãnh đạo của một đảng duy nhất”. Chúng suy diễn, tình trạng chậm phát triển ở Việt Nam “là hậu quả của chính sách cai trị độc tài của Đảng Cộng sản Việt Nam”, nên “phải xoá bỏ Điều 4 ghi trong hiến pháp về quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam”. Trong lúc Đảng và Nhân dân ta đang ra sức ngăn chặn, đẩy lùi tệ tham nhũng thì họ quy kết rằng “tham nhũng thuộc về bản chất của chế độ độc đảng”; những phần tử thoái hoá, biến chất bị các cơ quan chức năng xét xử theo pháp luật làm trong sạch bộ máy của Đảng và Nhà nước thì chúng cho rằng “đó chỉ là thí quân tốt để giữ thế cờ” đồng thời tung tin thất thiệt, nói sai sự thật, vu cáo trắng trợn các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta nhằm gây nghi ngờ, chia rẽ nội bộ và hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quần chúng nhân dân. Tiến công vào đường lối của Đảng, các thế lực thù địch cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn con đường sai, không thể có chủ nghĩa xã hội”. Chúng ra sức xuyên tạc đường lối đổi mới của Đảng, đặc biệt là đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đường lối mở cửa, hội nhập của nước ta, đồng thời ra sức tô son cho chủ nghĩa tư bản, rằng “chủ nghĩa tư bản đã thay đổi về bản chất, chủ nghĩa tư bản hội tụ với chủ nghĩa xã hội trong thời đại văn minh hậu công nghiệp...chủ nghĩa tư bản là vĩnh hằng. Để thực hiện âm mưu đó các thế lực thù địch ráo riết công kích vào các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt của Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ. Chúng cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ nay đã lỗi thời, nó chỉ phù hợp với hoạt động của Đảng khi chưa giành được chính quyền, trong hoạt động bí mật, hoặc khi lãnh đạo chiến tranh, thực hiện tập trung dân chủ là nguyên nhân gây ra độc đoán, chuyên quyền, gây mất dân chủ, vi phạm nhân quyền, nhân đạo trong Đảng, trong xã hội. Đồng thời chúng lợi dụng một bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng, văn nghệ sĩ, trí thức “cấp tiến” bị thoái hóa, biến chất như: Trịnh Xuân Thanh, Phạm Công Danh, Dương Chí Dũng, Đinh La Thăng, Nguyên Ngọc, Hà Sỹ Phu, Nguyễn Quang Lập, Bùi Minh Quốc, Nguyễn Huệ Chi... để công kích. Trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, trước những yêu cầu đòi hỏi của sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã sớm nhận thức rằng, để đấu tranh có hiệu quả với âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, Đảng phải thực sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Phát huy dân chủ trong Đảng, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, giữ vững kỷ cương, kỷ luật; thường xuyên tự phê bình và phê bình, nói thẳng, nói thật; giữ gìn và tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, đấu tranh kiên quyết đối với những phần tử cơ hội. Chăm lo xây dựng tổ chức bộ máy trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, với thẩm quyền, trách nhiệm rõ ràng, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Coi trọng xây dựng tổ chức cơ sở đảng; chăm lo xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất, trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn. Tạo sự chuyển biến thực sự và đồng bộ trong công tác cán bộ; coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt, trọng dụng nhân tài. Bất luận trong hoàn cảnh nào, Đảng phải gắn bó mật thiết với Nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng. Tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Đảng để phát huy ưu điểm, phòng ngừa và khắc phục kịp thời hạn chế, khuyết điểm; xây dựng tổ chức đảng, cơ quan đơn vị và cán bộ, đảng viên ngày càng trong sạch, vững mạnh. Để làm tốt những vấn đề trên chúng ta phải làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng gắn với việc “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” nhằm làm cho cán bộ, đảng viên thấm nhuần sâu sắc phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, giám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, vượt qua khó khăn thử thách, đấu tranh mạnh mẽ các tiêu cực trong xã hội, chống tư tưởng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đảng. Mỗi tổ chức, mỗi cá nhân cần tỉnh táo, sáng suốt phân tích và nhận rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền, lừa bịp của các thế lực thù địch. Chủ động có giải pháp đúng đắn để ngăn chặn và vô hiệu hoá mọi thủ đoạn tung tin, truyền bá những quan điểm thù địch, sai trái tạo ra khả năng “miễn dịch” cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và Nhân dân, nhất là đối với thế hệ trẻ. Đồng thời khuyến khích đội ngũ phóng viên, cộng tác viên, các cây viết sắc bén để phản kích lại các thông tin chống phá Đảng, Nhà nước trên các trang mạng xã hội, nhằm vạch trần sự xuyên tạc, gây hiểu nhầm về chính sách của Đảng và Nhà nước ta./.

Đánh giá nền dân chủ không thể dựa vào một hội nghị

Những ngày qua, trên nhiều báo chí nước ngoài, diễn đàn mạng xã hội, các trang truyền thông của các tổ chức phản động lưu vong người Việt liên tục có các bài viết nhắc đến Hội nghị thượng định về dân chủ, tổ chức tại Hoa Kỳ. Hội nghị thượng đỉnh về dân chủ (Summit for Democracy) theo sáng kiến của Tổng thống Mỹ Joe Biden diễn ra trong hai ngày 9 và 10/12/2021, theo hình thức trực tuyến. Tham gia hội nghị này có đại diện của hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ. Theo thông cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ, trong hai ngày họp, hội nghị tập trung vào những thách thức và cơ hội mà các nền dân chủ đang phải đối mặt, cung cấp một diễn đàn để các nhà lãnh đạo công bố những cam kết, cải cách và sáng kiến nhằm bảo vệ nền dân chủ và nhân quyền ở trong nước và ngoài nước. Đáng chú ý, trước, trong và sau khi hội nghị diễn ra, báo chí quốc tế và nhiều diễn đàn bàn về danh sách khách mời. Với chỉ hơn 100 quốc gia, vùng lãnh thổ được mời, bản danh sách còn thiếu nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ, bao gồm cả những nước lớn như Nga, Trung Quốc… Từ việc suy diễn Việt Nam không có tên trong danh sách mời, các cá nhân, tổ chức phản động lưu vong hào hứng “mở cờ trong bụng”, coi đây là lý do để đẩy mạnh thực hiện các hoạt động công kích, chống phá Việt Nam. Đồng thời, nó cũng trở thành cái cớ để các đối tượng tấn công, quy chụp rằng Việt Nam không có dân chủ, nhân quyền. Thực tế, Hội nghị này do Mỹ đứng ra tổ chức nên việc mời quốc gia nào, mời bao nhiêu hoàn toàn phụ thuộc vào quan điểm, mục đích của người tổ chức. Ngược lại, việc quốc gia được mời có tham gia hay không tham gia cũng không phải là tiêu chí để đánh giá nền dân chủ của một quốc gia. Theo trang tin Theepochtimes, mục đích của việc tổ chức hội nghị trên nhằm giúp cho chính quyền Mỹ đánh giá những tiến bộ về dân chủ của các quốc gia hướng đến việc đưa lãnh đạo các quốc gia, các tổ chức xã hội dân sự các khối tư nhân vào làm việc cùng nhau. Hội nghị thượng đỉnh các nền dân chủ là kế hoạch hành động mới nhất mà chính quyền Tổng thống Biden đã, đang thực hiện nhằm giải quyết vấn đề “thách thức của thời đại chúng ta”. Theo Tổng thống Biden, đây là sự cần thiết phải thể hiện rằng “các nền dân chủ có thể thành công thông qua việc cải thiện đời sống của người dân nước mình và bằng việc giải quyết những vấn đề lớn nhất mà toàn thế giới rộng lớn đang phải đối mặt”. So với các hội nghị khu vực, hội nghị toàn cầu khác như Hội nghị thượng đỉnh G7, Hội nghị thượng đỉnh G20, Hội nghị cao cấp Á Âu… thì hội nghị do một quốc gia đơn phương đứng ra tổ chức chưa thể hiện được vai trò và tác động đối với quốc tế. Trong khi đó, theo đánh giá của chuyên gia quốc tế, việc Mỹ lần đầu tiên đứng ra tổ chức Hội nghị thượng đỉnh về dân chủ cũng không phải là căn cứ hay thước đo gì về dân chủ với các nước. Những hành động can thiệp vào công việc của các nước có chủ quyền, áp đặt các biện pháp trừng phạt kinh tế, tạo bất ổn, gây ra các cuộc chiến tranh xâm lược với danh nghĩa bảo vệ dân chủ đã giúp cho Mỹ lật đổ chính quyền hoặc can thiệp vào một số quốc gia nhưng đã để lại những hậu quả nghiêm trọng với nhân dân tại các nước đó và ảnh hưởng tới cộng đồng quốc tế. Để rồi khi những khẩu hiệu dân chủ rời đi thì chỉ còn lại một đất nước hoang tàn, loạn lạc, bất ổn như Iraq, Afghanistan, Lybia… Với các tổ chức thù địch, phản động thì coi hội nghị này như cái cớ để thúc đẩy chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, tìm kiếm sự tài trợ, hậu thuẫn về vật chất lẫn tinh thần. Xét từ phương diện nào thì nhân quyền trong một xã hội vẫn luôn phải thể hiện qua thực tiễn cuộc sống. Nhân quyền không phải khái niệm trừu tượng, không phải là những khẩu hiệu chung chung, mà có thể quan sát, khảo sát, đánh giá một cách toàn diện đến từng lĩnh vực hoạt động cụ thể của xã hội, con người. Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn phấn đấu để vấn đề dân chủ, nhân quyền ngày càng hoàn thiện, phát triển, cuộc sống mọi mặt của toàn dân ngày càng được nâng cao. Nhìn từ lịch sử cách mạng, phải khẳng định rằng ngay cả trong hoàn cảnh khó khăn nhất, Đảng, Nhà nước Việt Nam vẫn cố gắng chăm lo cuộc sống mọi mặt của người dân. Bởi đó là bản chất, là mục tiêu nhất quán của một Nhà nước của dân, do dân, vì dân, đó cũng là nỗ lực để hiện thực hóa điều Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”. Đến nay, Việt Nam là một trong 6 quốc gia thành viên Liên hợp quốc đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ trước thời hạn năm 2015; được Tổ chức Nông nghiệp và lương thực thế giới trao giải thưởng thành tích xuất sắc trong xóa đói, giảm nghèo. Những đóng góp tích cực và hiệu quả của Việt Nam vào mục tiêu chung là thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, giữ vững các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế về nhân quyền, là sự chứng thực Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm các quyền cơ bản của người dân không chỉ thể hiện ở việc kiện toàn hệ thống pháp luật, chính sách liên quan đến quyền con người, mà được thực hiện trên tất cả các mặt như: Tự do ngôn luận, báo chí, thông tin; tự do tín ngưỡng, tôn giáo; bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, giáo dục... Trên trường quốc tế, Việt Nam được tín nhiệm với tỷ lệ phiếu đồng thuận rất cao khi gia nhập Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2014-2016 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Tại khu vực, uy tín của Việt Nam được thể hiện qua vai trò Chủ tịch Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) 2020, đồng thời là Chủ tịch Ủy ban liên chính phủ ASEAN về nhân quyền (AICHR). Trong cuộc họp đặc biệt lần hai của AICHR theo hình thức trực tuyến diễn ra cuối tháng 11/2020, các nước đánh giá cao vai trò của Việt Nam trên cương vị Chủ tịch AICHR 2020 là đã dẫn dắt hoạt động của AICHR trong giai đoạn đặc biệt khó khăn do tác động của đại dịch COVID-19, không chỉ giúp duy trì đà hợp tác của AICHR và ứng phó hiệu quả trước các tác động của đại dịch, mà còn thúc đẩy soạn thảo và thông qua một loạt các văn kiện quan trọng định hướng hợp tác trong thời gian tới. Bên cạnh đó, Việt Nam không chỉ quan tâm thúc đẩy các quyền cơ bản của người dân ASEAN, đặc biệt chú trọng đến nhóm yếu thế như thúc đẩy quyền của phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, gắn kết tình hữu nghị, thống nhất, tạo đồng thuận và hợp tác trong AICHR. Đặc biệt là nỗ lực bảo đảm quyền con người trong đại dịch COVID-19 được cộng đồng các quốc gia ASEAN đánh giá cao. Với những nỗ lực chung trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trong phạm vi quốc gia và khu vực, quốc tế, các nước thành viên ASEAN chính thức đề cử Việt Nam là ứng cử viên duy nhất đại diện cho ASEAN làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2023-2025. Không phủ nhận rằng trong quá trình quản lý, phát triển kinh tế - xã hội, Việt Nam còn có những tồn tại, khiếm khuyết, trong đó có việc bảo đảm quyền dân chủ của người dân. Tuy nhiên, cần nhận thức rõ về mặt nguyên tắc, nền dân chủ của Việt Nam là một nền dân chủ có kỷ cương, có tổ chức, có hệ thống. Trong xã hội Việt Nam, bảo đảm quyền dân chủ, nhưng phải bảo đảm đúng pháp luật và giữ vững sự ổn định xã hội. Bảo đảm dân chủ vừa là quyền, vừa là mục tiêu hướng đến của chế độ, vì vậy mỗi người dân cần nỗ lực hơn nữa để bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền dân chủ theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật. Quan hệ Việt - Mỹ đã đạt nhiều bước tiến quan trọng trên tất cả các lĩnh vực, tiếp tục phát triển ổn định, đi vào chiều sâu trên cơ sở, nguyên tắc “tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thể chế chính trị của nhau và cùng có lợi”. Đặc biệt, hai bên đã phối hợp để tìm hiểu, đối thoại về vấn đề dân chủ, nhân quyền, thu hẹp những quan điểm khác biệt. Mới đây, Đối thoại Nhân quyền Hoa Kỳ – Việt Nam lần thứ 25 được tổ chức ngày 9/11 tại Thủ đô Washington. Như vậy, dân chủ, nhân quyền là từ ý chí, hành động và thực tiễn đời sống tại mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, thực tiễn đó được chứng minh bằng thành tựu cụ thể, bằng đời sống người dân được nâng lên cả về vật chất lẫn tinh thần và được cộng đồng quốc tế ghi nhận, thể hiện rõ ở vị thế và tín nhiệm. Việc một hội nghị diễn ra ở nơi nào đó, do quốc gia nào đó tổ chức như Hội nghị thượng đỉnh về dân chủ nêu trên không phải là thước đo, là cơ sở đánh giá nền dân chủ của một quốc gia, vùng, lãnh thổ. Nó đơn giản chỉ là một sự kiện, Việt Nam hay những quốc gia khác, dù được mời hay không được mời tham dự là do “ý gia chủ”, do quan điểm, ý nghĩ của người tổ chức, do vậy không thể căn cứ vào những lý do như vậy để phủ nhận thành tựu về dân chủ, nhân quyền mà Việt Nam đã và đang đảm bảo cho nhân dân.

THÁNG 12 - NHỮNG THỜI KHẮC LỊCH SỬ HÀO HÙNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Lịch sử hiện đại của Việt Nam mãi mãi ngời sáng với những sự kiện lịch sử tháng 12. Đó là lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp tháng 12/1946 và 12 ngày đêm Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không tháng 12/1972. “Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.”Đó là lời kêu gọi của Bác Hồ ngay trong đêm toàn quốc kháng chiến - 19/12/1946. Lời kêu gọi của Bác Hồ dù đã trải qua hơn 70 năm nhưng nó vẫn còn có giá trị lịch sử sâu sắc đã trở thành một văn kiện, một bản thiên cổ hùng văn trường tồn cùng lịch sử Việt Nam trong mọi thời đại. Đó là tiếng gọi của non sông đất nước, khơi dậy mạnh mẽ chủ nghĩa dân tộc, truyền thống anh hùng bất khuất, làm cho cả nước đứng lên chiến đấu bằng sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ của người Việt Nam với một ý chí “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, một thái độ chính trị dứt khoát và kiên định. Với người Việt Nam, Tổ quốc là trên hết, dân tộc là trên hết. Nhắc nhở chúng ta rằng: không có lỗi đau nào bằng nỗi đau mất nước, không có lỗi nhục nào bằng nỗi nhục nô lệ. Nhân dân Việt Nam sẵn sàng hy sinh tất cả để bảo vệ quyền sống thiêng liêng của dân tộc, quyết không chịu trở lại với cuộc đời nồ lệ tăm tối! Một khi Tổ quốc bị lâm nguy, thì không có gì quan trọng bằng Tổ quốc, chúng ta sẵn sàng đánh đổi tất cả, hy sinh tất cả cho Tổ quốc. Hơn 20 năm sau, khi đất nước đang chịu cảnh bị đế quốc xâm lăng, phá hoại thì tinh thần dân tộc trong mỗi người dân Việt Nam lại sôi sục lên, tinh thần đó đã làm nên một chiến công chói lọi trong lịch sử dân tộc. Vào thời điểm năm 1972, Mỹ đã đẩy tình ác liệt của cuộc chiến tranh ở Việt Nam lên đến đỉnh điểm, thực hiện chiến dịch tiến công bằng pháo đài bay B52 đánh phá miền Băc Việt Nam. Cuộc đối đầu lịch sử này không chỉ về lực, về vũ khí, phương tiện chiến tranh, mà còn là sự thử thách lòng dũng cảm, sự đấu trí, đấu sức sáng tạo giữa hai lực lượng cách mạng và phản cách mạng; chính nghĩa và phi nghĩa một cách quyết liệt nhất. Với 12 ngày đêm cuối tháng 12/1972 quân và dân miền Bắc đã hạ thủ 81 máy bay các loại, trong đó có 34 pháo đài bay B52, đồng thời đã đánh gục ý đồ của Mỹ, mở đường rộng lớn cho ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam ngày 27/1/1973. Chiến dịch “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” năm 1972 là đỉnh cao nhất của sự đối đầu quân sự giữa quân Mỹ, đặc biệt là lực lượng không quân với các lực lượng cách mạng ở Việt Nam khi đó. Nó là nấc thang cuối cùng của sự ngoan cố và tội ác, bắt buộc quân Mỹ phải ra khỏi miền Nam Việt Nam, đồng thời tạo ra tiền đề cho giải phóng hoàn toàn miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước.

MỘT THẾ HỆ KHÔNG BIẾT CÚI ĐẦU

Dân tộc Việt Nam đã phải trải qua mấy nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, hàng trăm năm chiến tranh triền miên, gánh chịu biết bao mất mát đau thương, nên thấu hiểu sâu sắc giá trị của HÒA BÌNH. Không một thế lực nào có thể phủ nhận được điều đó và không một quốc gia nào có thể xứng đáng hơn Việt Nam để nói lên hai tiếng HÒA BÌNH. Để có được cuộc sống thanh bình như ngày hôm nay, ông cha chúng ta đã phải đánh đổi bằng máu và nước mắt. Trong các cuộc trường chinh của dân tộc, lớp lớp thế hệ cha anh lên đường ra mặt trận, bỏ lại sau lưng mẹ già, em thơ, vợ trẻ, họ chiến đấu hy sinh vì Tổ quốc. Họ chiến đấu và mất đi một phần thân thể. Lịch sử được viết lên bằng máu xương của bao người anh hùng đã ngã xuống. Trên mỗi con đường, mỗi thửa ruộng đi qua, thấm đẫm máu nước mắt, máu cha ông đổ xuống để lá cờ Tổ Quốc mãi thắm tươi. Không thể nào kể hết những mất mát đau thương mà cuộc chiến tranh để lại, nên chúng ta không bao giờ có thể quên .. Tuy rằng chiến tranh đã đi vào quá khứ, mất mát đau thương đã nhường chỗ cho một Việt Nam tự hào và phát triển, nhưng mỗi hình ảnh, mỗi câu chuyện được kể lại khiến cho chúng ta hình dung được những tháng năm bi hùng của dân tộc. Nhắc về quá khứ không phải là gây thù chuốc oán, mà để chúng ta biết trân trọng và gìn giữ cuộc sống bình yên mà chúng ta đang được thừa hưởng. Giờ đây dân tộc ta vừa xây dựng đất nước vừa phải hàn gắn vết thương chiến tranh, các thế lực thù địch vẫn luôn tìm mọi cách chống phá Đảng - Nhà nước ta. Hậu quả của cuộc chiến tranh khốc liệt vẫn còn đó, nỗi đau nhức nhối của các anh thương bệnh binh, bao em bé nhiễm chất độc màu da cam có lớn mà không có khôn, bao cảnh vợ mất chồng, mẹ mất con, nước mắt mẹ cạn khô vì những người con ra đi mãi mãi không trở về... Ôn lại lịch sử để nhớ về nguồn cội để tự hào về một thế hệ không biết cúi đầu. Một thế hệ mà chúng ta phải kính cẩn nghiêng mình ngưỡng mộ và biết ơn, để hiểu rằng cái giá của hòa bình là không hề nhỏ. Không ngủ quên trong chiến thắng, nhưng nhìn về quá khứ để mỗi người chúng ta luôn hiểu rằng, mỗi tấc đất thiêng liêng của Tổ Quốc là phần máu thịt của cha ông đã đánh đổi mới có được

Xử lý nghiêm cán bộ, công chức tham gia hoạt động “tín dụng đen”

Các bộ, ngành, địa phương, đoàn thể đã quán triệt, vận động cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, học viên các trường đại học, cao đẳng, các tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên trực thuộc không trực tiếp, gián tiếp tham gia hoạt động “tín dụng đen”... Chỉ thị 12/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động “tín dụng đen”, các bộ, ngành, địa phương, đoàn thể đã tiếp tục triển khai thực hiện nội dung tuyên truyền, phổ biến pháp luật về cho vay trong các giao dịch dân sự. Quán triệt, vận động cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, học viên các trường đại học, cao đẳng, các tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên trực thuộc không trực tiếp, gián tiếp tham gia hoạt động “tín dụng đen”, chấp hành nghiêm pháp luật về vay mượn, huy động, sử dụng vốn an toàn; nghiêm cấm tham gia hoạt động góp vốn, huy động vốn, môi giới, bao che, tiếp tay cho các đối tượng hoạt động “tín dụng đen”, cho vay lãi, thành lập doanh nghiệp, hộ gia đình kinh doanh tài chính, dịch vụ cầm đồ, đòi nợ… để vi phạm pháp luật, tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ lồng ghép các nội dung về phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động “tín dụng đen”. Bộ Công an cũng thực hiện rất nghiêm nội dung này, đã có văn bản nghiêm cấm cán bộ, chiến sĩ tham gia hoạt động góp vốn, huy động vốn, môi giới cho các đối tượng hoạt động “tín dụng đen”, cho vay lãi nặng, thành lập doanh nghiệp, hộ gia đình kinh doanh tài chính, cầm đồ, đòi nợ… Khuyến khích cán bộ, chiến sĩ vận động người thân, nhân dân nơi cư trú không trực tiếp, gián tiếp tham gia hoạt động cho vay lãi nặng, lợi dụng kinh doanh dịch vụ cầm đồ, đòi nợ, kinh doanh tài chính để vi phạm pháp luật. Xây dựng các văn bản về xử lý cán bộ của ngành, quy định xử lý nghiêm hành vi “Biết cha, mẹ đẻ, vợ, chồng, con cùng sống trong gia đình cho vay lãi nặng dưới mọi hình thức mà không có biện pháp ngăn chặn hoặc không báo cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; sử dụng giấy tờ, vật dụng do ngành Công an cấp hoặc bản sao, bản in, bản chụp các giấy tờ, vật dụng đó để thế chấp, cầm đồ vay tiền, tài sản của tổ chức, cá nhân; tham gia góp vốn, điều hành cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ, cho vay lãi nặng; sử dụng các hành vi trái pháp luật để đòi nợ dưới mọi hình thức”. Bộ Nội vụ cũng đã xây dựng chuyên đề “Hoàn thiện chế độ công vụ, công chức, nâng cao chất lượng thực thi công vụ”, báo cáo Ban Nội chính Trung ương nhằm ngăn ngừa những vi phạm có thể xảy ra của cán bộ, công chức khi thực thi công vụ; tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định 112/2020/NĐ-CP ngày 18/9/2020 về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức. Trong đó quy định hình thức khiển trách đối với cán bộ, công chức, viên chức vi phạm quy định của pháp luật về phòng, chống tội phạm và hình thức cảnh cáo, cách chức, buộc thôi việc đối với các trường hợp vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.

BÁC HỒ VỚI HIỀN TÀI

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất trọng dụng người tài, phát huy hiệu quả đức độ, tài năng của các nhân sĩ, trí thức tham gia cách mạng, kháng chiến và kiến thiết đất nước. Trước hết, Bác Hồ là một hiền tài: Bác Hồ đã phấn đấu để trở thành một người hiền, đương nhiên càng biết yêu quý, trân trọng người hiền tài, hiểu rõ vai trò của nhân tài đối với đất nước. Thứ hai, Bác là người tự do, tự tại, không sợ tranh giành địa vị: Người đã tự giải phóng để thành một người tự do tuyệt đối; ung dung tự tại như một ông tiên, thoát vượt khỏi mọi ràng buộc của tiền tài, địa vị và các vật ngoại thân khác; tự nhiên nhi nhiên. Thứ ba, Bác là người hiểu và thấm nhuần chân lý: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Muốn kháng chiến, kiến quốc phải cần đến người tài giỏi. Bác luôn trân trọng và khéo sử dụng người tài: Sự trân trọng và khéo dùng người tài của Bác thể hiện ở hai điểm: 1-Xây dựng tổ chức Đảng, tổ chức Nhà nước có nhiều hiền tài, có khả năng tập hợp, đoàn kết dân chúng; 2-Dùng tâm thành để cuốn hút mọi người có tài năng ra giúp nước, đặt việc phù hợp với khả năng của họ, không phân biệt giai cấp, không thành kiến quá khứ. Trong cuốn hồi ký "Để tâm hồn được thanh thản", GS Hồ Đắc Di viết: “Càng sống lâu, càng suy ngẫm, càng hiểu biết rộng, càng nhìn thấu kim cổ đông tây, ta càng thấy rõ Bác Hồ của chúng ta quả là bậc vĩ nhân của các vĩ nhân".

CHỈ CÓ Ở VIỆT NAM

❤! 🇻🇳🇻🇳🇻🇳

Thời gian gian giãn cách ở nhà, mình xem hết bộ phim Hạ cánh nơi anh của Hàn Quốc mới hiểu phần nào vì sao chị em si mê Đại úy Ri Jeong-hyuk thế. Đó là nghệ thuật xây dựng hình tượng của điện ảnh nước ngoài. Mấy năm trước, bộ phim Hậu duệ mặt trời cũng vậy, làm mưa làm gió. Hình tượng anh đại úy Hàn đẹp trai xả thân làm nghĩa vụ quốc tế đã đốn tim không biết bao chị em bạn dì (dù hoàn toàn là bốc phét). Thậm chí có chị đồng nghiệp lên FB hết lời ca ngợi quân đội Hàn Quốc, chê bai quân đội nước nhà... Khi mình vào giải thích thì chị này xù lông và hủy kết bạn ngay trong 1 nốt nhạc.

Trên thực tế thì sao? Chúng ta đã hiểu gì về Quân đội nhân dân Việt Nam ? Đội quân được sinh ra từ nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu hy sinh. 

Có quân đội nào từ khi thành lập đến nay (76 năm) đã đánh thắng 3 đế quốc lớn xâm lược. 

Có đội quân nào từ khu rừng già Trần Hưng Đạo mà “Khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt, máu trộn bùn non” 9 năm ròng để làm nên một Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.

Có quân đội nào mà “Mười bảy tuổi hành quân dọc Trường Sơn/ dép rộng rút quai/ quần dài xén ống/ những người lính vừa đi vừa lớn...” suốt 20 năm trời để tiến vào giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Có quân đội nào mà “sống bám đá, chết hóa đá, thành bất tử” để đánh đuổi bè lũ quân xâm lược phương Bắc. 

Có quân đội nào mà “Anh đang bò trên đất đai người khác/ Đã tình nguyện thì không hèn nhát/ Tổ quốc xa vời, Tổ quốc lại kề bên” suốt một thập kỷ để làm nghĩa vụ quốc tế cao cả, cứu một dân tộc khỏi diệt chủng. 

Có quân đội nào mà “Đất nước không bóng giặc/Tưởng về gần lại xa/ Vẫn gian nan làm bạn/ Vẫn gió sương làm nhà”, mỗi khi thiên tai, thảm họa là lại nhường nơi ăn chốn ở, vác tăng võng vào rừng; rồi xông pha hứng chịu mọi tai ương để bảo vệ nhân dân. 

Có quân đội nào giữa thời bình vẫn “Sáng sớm mải đi chợ/ Trưa về bận nhặt rau/ Chiều tập trung đong gạo/ Tối lại lo dân đau” suốt hang cùng ngõ hẻm thành phố, bất chấp rủi do, dịch bệnh, bất chấp cả những chê bai phán xét, chỉ đơn giản vì đó là mệnh lệnh từ trái tim. 

Ngày nay không ít người vẫn hàng ngày ra rả kêu lương bộ đội cao, công việc nhàn hạ. Vì sao? Vì họ ko nhìn ra ngoài kia biên giới, hải đảo, nhà giàn, tàu trực, thao trường, bãi tập, dưới khoang tàu ngầm, trong buồng tăng lực tiêm kích... hàng vạn người lính vẫn ngày đêm đổ mồ hôi và cả máu để chúng ta ngồi yên trong phòng lạnh và lên mạng nói những điều xàm xí. Nhiều người bây giờ dễ dàng rơi nước mắt vì “bộ đội” trên phim nước ngoài nhưng lại thờ ơ, lãng quên những người đã hồi sinh Đất nước này, bảo vệ dân tộc này.

Đừng quên những ngày dịch bệnh vừa qua, Đại úy Mỹ (Captain America) hay Đại úy Hàn Soo Shi Jin (Hậu duệ mặt trời) và cả Đại úy Triều Tiên Ri Jeong-hyuk đều không cứu bạn … Mà những chiến sĩ áo trắng, y bác sĩ, cán bộ quân đội, công an... đang ngày đêm làm nhiệm vụ ngoài kia mới là người bảo vệ bạn.

Đừng quên, người lính luôn cầu nguyện cho hoà bình nhiều hơn bất cứ ai.

Đừng quên và hãy tự hào vì chúng ta có một quân đội như thế !  Nguồn TK ST

Giải pháp đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, gắn lý luận với thực tiễn trên không gian mạng.

 

Không ngừng nghiên cứu lý luận, vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn cụ thể, đồng thời thường xuyên tổng kết thực tiễn, đúc rút và khái quát lý luận là yêu cầu đầu tiên, là nhiệm vụ căn bản. Trận địa tư tưởng cần vũ khí quan trọng nhất là vũ khí lý luận, song lý luận phải thật sự khoa học chứ không phải lý thuyết suông, lý luận phải xuất phát từ thực tiễn và mang hơi thở của cuộc sống, phải bao quát được những vấn đề nền tảng, có tính quy luật và đưa ra hướng giải quyết những vấn đề then chốt. Bất kể sự phát triển của không gian mạng và các phương tiện truyền thông như thế nào, thì suy nghĩ và quan điểm vẫn là thành tố quan trọng nhất của nội dung tư tưởng. Nếu không có nội dung, không có chiều sâu thì lý luận dù hay đến đâu cũng chỉ là hô khẩu hiệu, trống rỗng, không có bất kỳ ảnh hưởng tích cực nào. Chúng ta phải sử dụng lý luận làm nền tảng vững chắc cho định hướng chính trị và dẫn dắt dư luận. Trong trận địa tư tưởng trên không gian mạng, việc chúng ta có đứng vững và chiến thắng hay không liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ. Trước tình hình trong nước và quốc tế có những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những biến động khó lường như hiện nay, không gian mạng trở thành công cụ nền tảng mới để giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ và nhân dân; đồng thời, đó cũng là một không gian mới để đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu lý luận, là một phương thức mới để định hướng dư luận xã hội về mặt tư tưởng. Đây thực sự là một mặt trận quan trọng và không thể buông lỏng. Do đó, cần giữ vững và không ngừng tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác nghiên cứu lý luận, giáo dục chính trị, tư tưởng trên mặt trận trực tuyến.

Trong thời đại ngày nay, các cách thức và phương tiện để con người tiếp cận thông tin về mọi vấn đề thuộc mọi lĩnh vực đã vượt xa các cách thức và phương tiện truyền thống. Nhờ vậy, họ có nhiều và nhanh các thông tin, có hiểu biết sâu rộng hơn về thế giới bên ngoài rất nhiều nhờ không gian mạng. Chính vì vậy, để có thể định hướng tư tưởng trên không gian mạng, chúng ta phải tuân thủ nguyên tắc tôn trọng sự thực khách quan, đối mặt với các vấn đề đang nảy sinh từ thực tiễn của xã hội; dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức đúng và đưa ra các ý tưởng, phương án giải quyết các vấn đề của Việt Nam một cách đúng đắn, hiệu quả;từ đó mới có thể nâng cao tính thuyết phục, tính định hướng của hệ tư tưởng chính thống.

Những thiết chế xã hội của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam chưa thay đổi kịp để ứng phó với những thách thức của không gian mạng. Ví dụ, trong  lĩnh vực truyền thông, các cơ quan lớn của Đảng, như: Báo Nhân dân, Tạp chí Cộng sản; cơ quan lớn của Nhà nước, như: Thông tấn xã Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam đều được xây dựng và vận hành chủ yếu trên cơ sở báo viết, báo tiếng, báo hình. Dù có chuyển đổi một phần sang phương thức báo điện tử, song mới chỉ là một phần rất nhỏ trên không gian mạng, khó có thể chiếm lĩnh hoặc định hướng được không gian mạng. Về lâu dài, cần thiết phải có một cơ quan thuộc chính phủ chuyên trách không gian mạng, ở đó các nguồn lực của nhiều bộ, ngành, nhiều cơ quan truyền thông sẽ phải tập trung cho cơ quan mới này.

Thách thức Không gian mạng đối với niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

 

    Không gian mạng đã cải thiện đáng kể khả năng của các cá nhân và tổ chức trong việc công bố, trao đổi,tiếp cận và tiếp thu thông tin, đồng thời nâng cao tính độc lập, tính đa dạng, tính chọn lọc và sự khác biệt của các suy nghĩ. Mọi người có thể tự do bày tỏ ý kiến của mình (một cách ẩn danh), và có thể nhanh chóng trao đổi và chia sẻ thông tin cũng như suy nghĩ của mình với những người khác về mọi vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, lối sống…trên không gian mạng. Không kể sự chống phá có chủ đích của các thế lực thù địch, bản thân sự yếu kém của các công ty công nghệ lớn trong việc bảo mật thông tin, vi phạm quyền riêng tư, buông lỏng tin giả, kích động bạo lực,… và sự bất cập của chúng ta trong việc quản lý và kiểm soát không gian mạng đã tạo ra môi trường thuận lợi cho việc ngụy tạo, phổ biến lan tràn các luận điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, đặc biệt là trên các mạng xã hội. Mặc dù trong vài năm trở lại đây, chúng ta đã phần nào giành lại thế chủ động trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, song tính bất đối xứng của cuộc chiến tư tưởng vẫn là một hiện tượng thường thấy, là một thách thức không nhỏ. Điều này không thể không ảnh hưởng xấu và làm suy giảm niềm tin của người dân đối với Đảng, đối với chế độ, đối với mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

VÌ SAO TƯỚNG GIÁP LÀ VỊ TƯỚNG NGÀN NĂM CÓ MỘT ?

 

Sau hơn 600 năm Việt Nam mới lại có một vị tướng được vinh danh trên toàn thế giới.


Tính từ thời Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn phải mất hơn 600 năm, Việt Nam mới lại có một vị tướng được thế giới công nhận và biết tới. Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn là học trò xuất sắc nhất của Hồ Chủ tịch, là người đặt nền móng cho chiến thuật du kích và chiến tranh nhân dân.


Việt Nam nói riêng


Trong bảng danh sách 10 vị tướng vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới, Việt Nam có đến hai người con ưu tú là: Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn (1228- 1300) và Đại tướng Võ Nguyên Giáp (1911-2013)


Xem lại trận địa cọc ở các bãi lầy được khai quật từ di tích thuộc phạm vi trận Bạch Đằng 1288 của Trần Hưng Đạo có nhiều kích cỡ khác nhau, tận dụng từ nhiều nguồn, được cắm thành cụm dích dắc, theo nhiều hướng có tác dụng ngăn chặn thuyền nhỏ và đặc biệt là quân bộ. Việc bố trí các cánh quân bộ và các thuyền nhỏ ở ven sông và những khu vực gò cao giữa các bãi cọc này, cùng với các lực lượng tiếp ứng chủ lực chứng tỏ sự chuẩn bị rất công phu và tài tình cho một trận đánh lớn.


Những chiếc cọc gỗ được Trần Hưng Đạo bố trí làm thành trận địa mai phục kết hợp với việc vận dụng con nước thủy triều và địa thế lòng sông đã đưa toàn bộ đạo binh Nguyên-Mông vào tử địa, đập tan hoàn toàn tham vọng xâm lăng của kẻ thù, thể hiện huy hoàng tài thao lược và nghệ thuật chiến tranh nhân dân của một triều đại hiển hách nhất trong sự nghiệp giữ nước của dân tộc.


Dù có khoảng cách thế hệ rất lớn nhưng tài cầm quân, mưu lược, cũng như khả năng lấy ít địch nhiều,… của hai vị tướng vĩ đại này có nét tương đồng rất lớn. Chính vì thế, nói không ngoa Đại tướng Võ Nguyên Giáp có thể xem như người thừa kế được tài thao lược của tiền nhân, nhất là trong việc vận dụng triết lý chiến tranh nhân dân.


Trong khi Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn ba lần đánh thắng quân Nguyên Mông được xem là đội quân mạnh nhất thời điểm bấy giờ, thì Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng chiến thắng được hai thế lực lớn là: thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.


Thế giới nói chung


Nếu so sánh ở phạm vi ngoài nước, trong lịch sử chiến tranh thế giới, hiếm có vị tướng nào chưa bao giờ nếm mùi thất bại, chỉ biết có chiến thắng, hết trận này đến trận khác. Tuy nhiên giữa rất nhiều tướng lĩnh nổi danh trong Thế chiến thứ hai, Nguyên soái G.K. Zhukov được xếp đầu bảng về số lượng trận thắng nhiều và quy mô lớn, chiếm bảng vàng về tài năng chỉ đạo chiến dịch, chiến lược.


Những chiến tích sáng chói của ông trở thành tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hoá nhân loại. Nó không những có ảnh hưởng lớn về lý luận quân sự của Liên Xô mà cũng có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển của lý luận quân sự thế giới.


Giống như Zhukov những lý luận quân sự của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng mang tầm ảnh hưởng đến lý luận quân sự thế giới, nhất là những nước thuộc địa chịu nhiều áp bức của các thế lực lớn. Những lý luận về chiến thuật du kích và chiến tranh nhân dân đã thành kim chỉ nan và cuốn sách gối đầu cho không ít dân tộc bị áp bức và các chiến lược gia quân sự vốn phải đương đầu với các thế lực mạnh.


Xứng đáng danh hiệu “Vị tướng năm sao”


Đại tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam là cấp quân hàm sĩ quan Quân đội cao cấp nhất trong Quân đội Nhân dân Việt Nam với cấp hiệu 4 ngôi sao vàng. Theo quy định hiện hành, quân hàm Đại tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam do Chủ tịch nước kiêm Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh Quốc gia ký quyết định phong cấp.


Tính đến tháng 12 năm 2011, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã có 12 quân nhân được phong quân hàm Đại tướng. Nhưng chỉ duy nhất có 2 quân nhân được đặc cách phong quân hàm Đại tướng không qua các cấp trung gian là đồng chí Võ Nguyên Giáp (1948) và đồng chí Nguyễn Chí Thanh (1959).

Tuy nhiên, trước những chiến công của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cả trong và ngoài nước thường gọi ông với cái tên trìu mến là “Vị tướng năm sao”. Trong danh sách 10 vị tướng vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người duy nhất còn sống nên sự ra đi của ông là một mất mát vô cùng to lớn.

Cần nhận diện những chiêu thức chống phá mới của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa

Những năm qua, bằng nhiều thủ đoạn, vừa công khai, trắng trợn, vừa ngấm ngầm hòng phá hoại, bôi nhọ, công kích chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, nền văn hóa mới của dân tộc nhưng không mang lại kết quả, các thế lực thù địch đang có sự điều chỉnh thủ đoạn chống phá hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Chúng cho rằng, vấn đề trước tiên, cốt yếu nhất là phải xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN. Đồng thời, xây dựng hệ thống lý luận khác, có khả năng triệt tiêu chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lấy đó làm nền tảng tư tưởng cho việc xây dựng một xã hội mới, theo mong ước của chúng. Như vậy, mục tiêu tiến công trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa của các thế lực thù địch không hề thay đổi. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đó, chúng đã và đang sử dụng những chiêu thức mới, tiếp cận theo hướng quan hệ “mềm dẻo”, thân thiện hơn, hợp tác toàn diện, thâm nhập sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ đó tác động, phá hoại nền tảng tư tưởng, bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Do vậy, chúng ta trước hết, cần nhận rõ chiêu thức mới của các thế lực thù địch là, chủ động thâm nhập, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng thông qua con đường quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực, nhất là kinh tế, đối ngoại, giáo dục và đào tạo. Đây là những lĩnh vực được Đảng, Nhà nước ta quan tâm, mở rộng trong quá trình hội nhập quốc tế. Trên lĩnh vực kinh tế, chúng âm mưu thông qua hoạt động hợp tác, đầu tư để làm cho nền kinh tế phát triển chệch hướng XHCN, thiết lập hệ thống và cơ cấu kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa tại Việt Nam; từ đó, tạo ra nền tảng vật chất, xã hội thuận lợi, hình thành nền “chính trị dân chủ” và “xã hội dân sự” kiểu phương Tây. Đây chính là môi trường, điều kiện thuận lợi cho các tổ chức chính trị đối lập xuất hiện, công khai chống Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những tồn tại, vướng mắc trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN để xuyên tạc, phủ nhận đường lối lãnh đạo, thành tựu phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước, kích động tâm lý hoài nghi trong xã hội; cổ súy, tung hô việc phát triển nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, làm mất phương hướng, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN, gây bất ổn về tư tưởng, xuất hiện tình thế mới về chính trị. Lợi dụng tình thế đó, chúng sẽ kích động đòi “dân chủ kinh tế”, yêu cầu Đảng, Nhà nước phát triển kinh tế thị trường theo kiểu phương Tây. Đồng thời, kêu gọi “dân chủ hóa chính quyền”, từng bước cô lập, tách các tổ chức đảng, đảng viên ra khỏi quần chúng, tạo áp lực về chính trị - xã hội, thậm chí gây bạo loạn, lật đổ, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Chúng thực hiện chính sách “thân thiện giả hiệu”, thâm nhập sâu vào hoạt động của nền kinh tế, tạo điều kiện, cơ hội tiếp cận rộng rãi với các đối tượng, tầng lớp nhân dân để xây dựng lực lượng, kích động, phá hoại nền tảng tư tưởng, thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Cùng với âm mưu, thủ đoạn thâm nhập vào lĩnh vực kinh tế, các thế lực thù địch đẩy mạnh “tiến công” trên lĩnh vực đối ngoại. Chúng chủ trương, một mặt, thông qua hoạt động ngoại giao chính thức, “ngoại giao thân thiện”, tăng cường giao lưu, trao đổi, đối thoại với Việt Nam trên nhiều lĩnh vực nhằm quảng bá hình ảnh, giá trị tư bản chủ nghĩa; chủ động tiếp cận móc nối, hỗ trợ, mua chuộc, lôi kéo các đối tượng, nhất là những phần tử có tư tưởng bất mãn, thù địch, cơ hội, thoái hóa, biến chất, hữu khuynh, cực đoan, thân phương Tây, tạo lực lượng nòng cốt cho “chuyển hóa” và “tự chuyển hóa” tư tưởng ngay từ bên trên, bên trong. Mặt khác, chúng đa dạng các kênh quan hệ để tìm kiếm cơ hội, tiếp cận sâu hơn, dùng vật chất, tiền bạc mua chuộc, làm suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên. Trong đó, vấn đề hợp tác, giao lưu về giáo dục và đào tạo, nhất là việc đi học tập, đào tạo tại các nước tư bản của thế hệ trẻ được chúng hết sức quan tâm, bởi đây là “con đường” ngắn nhất, thuận lợi nhất để xâm nhập, tác động, chuyển hóa tư tưởng ở Việt Nam hiện nay. Thông qua việc học tập ở nước ngoài, chúng truyền bá các quan điểm, giá trị dân chủ tư sản, làm cho thế hệ trẻ có tư tưởng sùng ngoại, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, chỉ coi trọng giá trị vật chất, bàng quan về chính trị,... tạo mầm mống thúc đẩy dân chủ, nhân quyền tư sản, tiến tới xóa bỏ nền dân chủ và chế độ XHCN ở nước ta. Một trong những chiêu thức vô cùng nguy hiểm mà các thế lực thù địch sử dụng hòng làm chuyển hóa, tiến tới xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là, thúc đẩy hình thành “xã hội dân sự” theo mô thức phương Tây. Chúng núp dưới chiêu bài “dân chủ hóa”, hình thành “kênh phản biện” để cho ra đời các tổ chức đối trọng với các cơ quan, tổ chức trong bộ máy của Đảng, Nhà nước, đòi giám sát hoạt động của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội. Đồng thời, lợi dụng các diễn đàn tư tưởng, thông qua hoạt động hợp tác, nghiên cứu khoa học,... để tuyên truyền về “xã hội dân sự”, đề cao dân chủ tư sản, nhằm chuyển hóa lập trường, tư tưởng của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trên cơ sở đề cao “xã hội dân sự”, các thế lực thù địch âm mưu phủ nhận học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng XHCN, về đấu tranh giai cấp trong điều kiện mới; làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, từng bước hạn chế, tiến tới loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, xây dựng xã hội “dân chủ”, “tự do” theo kiểu phương Tây. Để thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền tác động hướng lái truyền thông. Đây là những vấn đề rất “nhạy cảm”, luôn được chúng triệt để lợi dụng để xuyên tạc, vu cáo, chống phá ta. Một số nước phương Tây còn áp đặt “dân chủ và bảo vệ nhân quyền” là yếu tố không thể thiếu trong chính sách ngoại giao và quan hệ quốc tế. Những năm qua, các thế lực thù địch đã dùng nhiều hình thức, biện pháp, huy động tối đa các phương tiện truyền thông để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo trắng trợn tình hình dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo và vấn đề dân tộc ở Việt Nam. Chúng đưa ra yêu sách đòi mở rộng dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do lập hội để tập hợp lực lượng, kích động gây bạo loạn, dẫn đến mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Đặc biệt, chúng luôn tìm mọi cách hướng lái truyền thông nhằm tác động vào quá trình xây dựng hệ thống pháp luật, nhất là thời điểm sửa đổi các văn bản pháp luật về dân chủ, nhân quyền, tôn giáo hoặc ban hành các chỉ thị, nghị quyết, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng,… để bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước; kích động, lôi kéo, chia rẽ nội bộ, nhằm gây áp lực với Đảng, Nhà nước ta. Đồng thời, thành lập nhiều tổ chức và đưa người vào Việt Nam để theo dõi, tìm hiểu, thu thập thông tin về vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tiến hành móc nối, cài cắm, truyền bá tư tưởng sai trái, vu cáo, xuyên tạc tình hình thực tế ở Việt Nam. Để đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, âm mưu các thế lực thù địch là nhất thiết phải thực hiện “dân chủ” trong đời sống xã hội. Trước hết là thúc đẩy “dân chủ hóa” trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếp đó thực hiện “dân chủ hóa” trong truyền thông và xã hội. Hai yếu tố này có quan hệ mật thiết với nhau, yếu tố thứ nhất mang tính quyết định đến tiến trình “dân chủ hóa” từ bên trên, bên trong nội bộ ta; yếu tố thứ hai sẽ đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của toàn xã hội. Quá trình “dân chủ hóa” truyền thông là đưa dân chủ vào mạng truyền thông quốc gia và đội ngũ cán bộ, phóng viên báo chí, truyền thông. Con đường xâm nhập để hướng lái truyền thông của các thế lực thù địch là tác động thông qua các hoạt động hợp tác giáo dục, hội thảo, giao lưu, “mượn” các phương tiện truyền thông của Nhà nước, các địa phương, cơ quan, đơn vị để tuyên truyền cho chúng. Lợi dụng sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0), các thế lực thù địch sẵn sàng mạnh tay đầu tư tài chính cho quảng cáo, đầu tư, tài trợ các chương trình nhằm tác động, dẫn dắt giới truyền thông hoạt động theo ý đồ của chúng, đưa truyền thông tách khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Mặt khác, chúng còn lợi dụng các trang mạng xã hội, Facebook, blogger và một số báo, đài phương Tây, hệ thống phương tiện truyền thông của lực lượng phản động người Việt lưu vong,… để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo, kêu gọi dân chủ, nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do báo chí và cạnh tranh trên lĩnh vực truyền thông, gây nhiễu loạn tư tưởng, mất phương hướng trong đời sống xã hội. Ngoài ra, các thế lực thù địch còn tăng cường hoạt động xâm nhập, móc nối, xây dựng nhân tố bên trong để tác động tư tưởng, phá hoại bản sắc văn hóa dân tộc, thực hiện xâm lăng văn hóa để thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta... Đây là những con đường mà các thế lực thù địch đang tìm mọi cách, bằng nhiều biện pháp tiến hành thường xuyên hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần không ngừng nâng cao cảnh giác để giữ vững môi trường hòa bình phát triển đất nước, không để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.

ÐẤU TRANH VỚI SAI PHẠM, TIÊU CỰC TRONG ĐẢNG - NIỀM TIN CỦA SỰ KẾT TINH TỪ HÀNH ĐỘNG

         Năm 2021 mở ra chặng đường mới trên tiến trình phát triển đất nước theo tinh thần Nghị quyết Ðại hội XIII của Ðảng. Cùng toàn Ðảng, toàn dân nỗ lực vượt qua khó khăn do tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19, ngành kiểm tra Ðảng tiếp tục nêu cao quyết tâm, hành động mạnh mẽ trên mặt trận đấu tranh với sai phạm, tiêu cực trong Ðảng.

Quán triệt, thực hiện Nghị quyết Ðại hội XIII; các văn bản của Ðảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và chỉ đạo của Tổng Bí thư về phòng, chống suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", tham nhũng, tiêu cực, ngay từ năm đầu nhiệm kỳ, ngành kiểm tra Ðảng đã thể hiện những bước tiến vững vàng, kết quả rõ nét, tiếp tục phát huy vai trò "thanh bảo kiếm", góp phần giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao uy tín của Ðảng.

Quyết tâm đi đôi với hành động

Với tinh thần quyết liệt, không dừng, không nghỉ, không chùng xuống, khẳng định trách nhiệm, quyết tâm trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, ngay khi bắt đầu nhiệm kỳ mới, cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp đã khẩn trương kiện toàn bộ máy và tiến hành thực hiện toàn diện các nhiệm vụ theo quy định của Ðiều lệ Ðảng. Trong đó, việc xử lý có kết quả nhiều tổ chức đảng và đảng viên vi phạm đã góp phần quan trọng thúc đẩy hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Tại chín kỳ họp từ sau Ðại hội XIII của Ðảng đến nay, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã xem xét, quyết định thi hành kỷ luật và đề nghị thi hành kỷ luật đối với tổ chức đảng và đảng viên tại: Ban Thường vụ Ðảng ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh Trà Vinh các nhiệm kỳ 2015-2020, 2020-2025; Ban cán sự đảng Bộ Y tế nhiệm kỳ 2016-2021; Ban Thường vụ Ðảng ủy Cảnh sát biển Việt Nam nhiệm kỳ 2015-2020; Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh các nhiệm kỳ 2015-2020 và 2020-2025; một số tổ chức đảng và đảng viên liên quan ba vụ án xảy ra tại TP Hà Nội và bốn vụ án xảy ra trên địa bàn TP Hồ Chí Minh; Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bình Dương nhiệm kỳ 2015-2020, Ban cán sự đảng UBND tỉnh Bình Dương nhiệm kỳ 2016-2021... Các vi phạm được kết luận là đã gây hậu quả nghiêm trọng đến rất nghiêm trọng, thất thoát, lãng phí tiền, tài sản của Nhà nước, ảnh hưởng lớn đến chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, gây bức xúc trong xã hội, tổn hại uy tín của tổ chức đảng, đơn vị và ngành. Một số cán bộ, đảng viên liên quan bị thi hành kỷ luật là Ủy viên Trung ương Ðảng, nguyên Ủy viên Trung ương Ðảng, sĩ quan cấp tướng, người đứng đầu trong các cơ quan, đơn vị, với các hình thức từ cảnh cáo đến khai trừ ra khỏi Ðảng.

Theo Ủy ban Kiểm tra Trung ương, công tác kiểm tra, giám sát đã hoàn thành khối lượng lớn công việc, các mặt đều tăng so cùng kỳ, với chất lượng, hiệu quả được nâng lên. Nổi bật là, ủy ban kiểm tra các cấp đã tham gia, phục vụ có hiệu quả Ðại hội XIII của Ðảng, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; tham mưu Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và cấp ủy các cấp ban hành nhiều văn bản quan trọng, xây dựng và tổ chức triển khai Chương trình kiểm tra năm 2021 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp ủy các cấp. Ủy ban kiểm tra các cấp đã thực hiện toàn diện các nhiệm vụ, trọng tâm là kiểm tra dấu hiệu vi phạm, tập trung những vi phạm về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, vi phạm các nguyên tắc, quy chế, quy định của Ðảng, pháp luật của Nhà nước. Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bí thư thành lập 10 đoàn kiểm tra do các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Ðảng làm trưởng đoàn, kiểm tra đối với 20 tổ chức đảng trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, nghiên cứu, học tập quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Ðại hội XIII của Ðảng, Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, Quy định về trách nhiệm nêu gương; thành lập 59 đoàn kiểm tra, giám sát, trong đó 18 đoàn kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm. Qua kiểm tra, đã thi hành kỷ luật 12 tổ chức đảng và 74 đảng viên, 11 đảng viên trong số đó là cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý.

Năm qua, nhiệm vụ giám sát tổ chức đảng tiếp tục được coi trọng gắn với trách nhiệm người đứng đầu. Nội dung giám sát tập trung công tác lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện thể chế, chính sách trong lĩnh vực tài chính, đầu tư xây dựng, mua sắm thiết bị y tế, quy hoạch phát triển năng lượng, quản lý cửa khẩu, lối mở biên giới… Trong chín tháng đầu năm, cấp ủy các cấp đã giám sát 18.498 tổ chức đảng và gần 62 nghìn đảng viên; ủy ban kiểm tra các cấp giám sát gần 12.500 tổ chức đảng và 17.500 đảng viên. Qua giám sát, đã chuyển kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 108 tổ chức đảng và 37 đảng viên. Một trong những bài học kinh nghiệm luôn được nhấn mạnh, đó là phải đặc biệt chú trọng công tác giám sát thường xuyên, giám sát chuyên đề, kịp thời nhắc nhở, chấn chỉnh các vi phạm từ lúc manh nha, không để quá đà thành những vi phạm, tham nhũng lớn như một số vụ việc vi phạm thời gian qua. Nhiều lĩnh vực mới và khó, cần tiếp tục được nghiên cứu sâu sắc, toàn diện; bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện nhiều cơ chế, chính sách, pháp luật hiện hành.

Bên cạnh những thành tích, kết quả được ghi nhận, thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống suy thoái, tham nhũng, tiêu cực đồng thời chỉ ra thực trạng đáng lo ngại, đó là nguy cơ gia tăng về số lượng, phức tạp và nghiêm trọng về mức độ, tính chất vi phạm. Hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, lạm quyền, lộng quyền, vi phạm nguyên tắc tổ chức đảng, vi phạm đạo đức, lối sống còn diễn biến khó lường; năng lực của cấp ủy và ủy ban kiểm tra cấp ủy một số nơi còn hạn chế.

Xây dựng và hoàn thiện thể chế, tạo đột phá

Ðổi mới mạnh mẽ, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng tiếp tục là một trong những nhiệm vụ trọng tâm về công tác xây dựng Ðảng nhiệm kỳ này. Trong đó, chú trọng xây dựng và hoàn thiện quy định, quy chế, quy trình nhằm siết chặt kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, tạo đột phá trong phòng, chống vi phạm, tiêu cực. Mới đây, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã tham mưu Trung ương, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 22-QÐ/TW về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Ðảng; Quy định số 37-QÐ/TW về những điều đảng viên không được làm; Quyết định số 35-QÐ/TW về ban hành quy trình giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, thay thế các quy định, quy trình đã thực hiện trước đó. Các quy định, quy trình mới kế thừa những nội dung còn phù hợp, bổ sung một số nguyên tắc, nội dung quan trọng và những vấn đề nảy sinh trong nhiệm kỳ qua. Việc sửa đổi, bổ sung nhằm phát huy đầy đủ hơn nữa chức năng kiểm tra, giám sát của Ðảng, thể hiện sự phát triển về lý luận, đồng thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra.

Với các quy định hiện hành của Ðảng, công tác kiểm tra, giám sát có thêm cơ sở để chủ động, đi trước, làm tiền đề cho xử lý kỷ luật hành chính và xử lý hình sự. Có những vi phạm của đảng viên chưa đến mức xử lý vi phạm hành chính, hình sự nhưng vẫn có thể xem xét, xử lý theo quy định của Ðảng do các vi phạm đó được quy định tại Quy định về những điều đảng viên không được làm và quy định về trách nhiệm nêu gương. Ðây là "đường dẫn" và cách làm mới để cấp ủy đảng có cơ sở chỉ đạo xử lý hàng loạt các vụ việc tham nhũng, tiêu cực.

Theo Ủy ban Kiểm tra Trung ương, việc ban hành Quy định số 22 với nhiều điểm mới, nhiều điểm lần đầu được thể chế hóa đã khắc phục cơ bản bất cập, lúng túng trong kiểm tra, xem xét kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên. Ðó là phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng "bao gồm cả tổ chức đảng đã hết nhiệm kỳ hoạt động, đã giải thể hoặc thay đổi do chia tách, sáp nhập về mặt tổ chức; đảng viên đã chuyển công tác, nghỉ việc, nghỉ hưu". Quy định số 22 bổ sung một nguyên tắc rất quan trọng, đó là: "Công tác kiểm tra, giám sát phải kịp thời phát hiện nhân tố mới, tích cực để phát huy, phải bảo vệ cái đúng, bảo vệ người tốt, cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung; phải chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục vi phạm, khuyết điểm của tổ chức đảng và đảng viên ngay từ khi còn mới manh nha, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài và lan rộng. Khi các vụ việc vi phạm được phát hiện, phải cương quyết xử lý kỷ luật nghiêm minh, kịp thời để răn đe, giáo dục". Nội dung này cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết Ðại hội XIII của Ðảng, đồng thời thể hiện công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Ðảng nhằm phát huy ưu điểm, lấy "xây" là chính. Tại Quy định số 22, quyền hạn của ủy ban kiểm tra cấp trên được mở rộng "chỉ đạo cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Ðảng"…

Việc điều chỉnh, bổ sung, ban hành các văn bản mới, một lần nữa khẳng định, Trung ương đã xác định rõ hơn vị trí, tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Ðảng, tăng thêm chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp, nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Ðảng.

Bước vào giai đoạn mới, với động lực lớn là những thành tựu của nhiệm kỳ trước, là vị trí, vai trò, uy tín của ủy ban kiểm tra các cấp, nhất là Ủy ban Kiểm tra Trung ương được đề cao; quyền hạn, trách nhiệm được mở rộng, đội ngũ những người làm công tác kiểm tra của Ðảng đã có năm đầu nhiệm kỳ thành công. Ðó là cơ sở, tiền đề, động lực quan trọng để ngành kiểm tra Ðảng thêm quyết tâm, hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn nữa; xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra có bản lĩnh vững vàng, tinh thông nghiệp vụ, đủ năng lực gánh vác trọng trách trong cuộc đấu tranh nhiều cam go, thử thách và không ít cám dỗ này. Hành động kết thành niềm tin để cán bộ, đảng viên và nhân dân tiếp tục tin tưởng vào những đột phá về xây dựng Ðảng trong giai đoạn cách mạng mới.

KHÔNG THỂ SUY DIỄN VÀ BẺ CONG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG

 


Thực hiện theo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, công tác phát triển Đảng luôn được thực hiện nghiêm túc để Đảng thường xuyên tăng thêm nguồn sinh lực, sức chiến đấu, đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của Đảng. 


Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn tìm cách xuyên tạc và bôi đen công tác phát triển Đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó, phải kể đến một số luận điệu mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thường rêu rao là: Hiện nay, tình trạng "nhạt Đảng, xa Đoàn" trở nên phổ biến trong đoàn viên, thanh niên, học sinh, sinh viên; các thủ tục để trở thành đảng viên rườm rà, gây ức chế cho người muốn vào Đảng, nên quần chúng không ham; nhất là, sự bịa đặt trắng trợn rằng "vào Đảng chả ích lợi gì" nên quần chúng không muốn phấn đấu vào Đảng…

Về vấn đề này, cần phải khẳng định chắc chắn rằng:


ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÀ ĐỘI TIỀN PHONG CỦA GIAI CẤP VÀ DÂN TỘC


Khi nói về chính Đảng cách mạng của giai cấp công nhân, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (tháng 2/1848), C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định rằng: “Những người cộng sản chỉ khác với các đảng vô sản khác trên hai điểm: một là, trong các cuộc đấu tranh của những người vô sản thuộc các dân tộc khác nhau, họ đặt lên hàng đầu và bảo vệ những lợi ích không phụ thuộc vào dân tộc và chung cho toàn thể giai cấp vô sản; hai là, trong các giai đoạn khác nhau của cuộc đấu tranh giữa vô sản và tư sản, họ luôn luôn đại biểu cho lợi ích của toàn thể phong trào. Vậy là về mặt thực tiễn, những người cộng sản là một bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên; về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản”(1).


Cùng với đó, “Điều lệ của Liên đoàn những người cộng sản” cũng ghi rõ điều kiện và tiêu chuẩn để trở thành đảng viên cộng sản, trong đó, không thể không nhắc đến các yêu cầu như thừa nhận chủ nghĩa cộng sản; không tham gia vào mọi tổ chức chính trị hoặc tổ chức dân tộc chống cộng sản; hoạt động phù hợp với mục đích của Đảng; có nghị lực cách mạng và lòng nhiệt thành khi tiến hành công tác tuyên truyền; giữ bí mật công việc của Đảng; được một chi bộ đồng ý kết nạp… Điều đó có nghĩa là, Đảng Cộng sản là tổ chức của những con người thực sự tiêu biểu, vượt trội về nhận thức, tư tưởng, hành động hơn quần chúng ngoài Đảng và đảng viên của Đảng Cộng sản phải là những người có đủ năng lực, phẩm chất để tuyên truyền, vận động, thuyết phục giai cấp công nhân và các tầng lớp khác tham gia vào cuộc đấu tranh chống lại giai cấp bóc lột.


Ở Việt Nam, được xây dựng và phát triển theo nguyên tắc một Đảng Mácxít Lêninnít chân chính, Đảng Cộng sản là một tổ chức của những con người tiên tiến nhất. Đảng là đội tiền phong của giai cấp công nhân và dân tộc. Trong một chỉnh thể được tổ chức chặt chẽ, thống nhất ấy, mỗi đảng viên là một tế bào của Đảng; sinh hoạt gắn liền và chịu sự lãnh đạo, quản lý, kiểm tra của tổ chức Đảng. Để trở thành một thành viên của tổ chức ấy, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam (thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng, tháng 2-1930) đã ghi rõ tại mục III: “Ai tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương trình đảng và Quốc tế Cộng sản, hăng hái tranh đấu và dám hy sinh phục tùng mệnh lệnh Đảng và đóng kinh phí, chịu phấn đấu trong một bộ phận đảng thời được vào Đảng”(2). Trong từng giai đoạn cách mạng, từng thời điểm cụ thể, căn cứ vào nhiệm vụ chính trị của Đảng và trình độ giác ngộ cách mạng của quần chúng, Đảng đề ra điều kiện, tiêu chuẩn đảng viên phù hợp và chặt chẽ, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ. Cụ thể, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (thông qua tại Đại hội lần thứ XI, tháng 1-2011) quy định tại mục 2, Điều 1 là: “Công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên, thừa nhận và tự nguyện: thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ đảng viên, hoạt động trong một tổ chức cơ sở đảng; qua thực tiễn chứng tỏ là người ưu tú được nhân dân tín nhiệm, đều có thể được xét để kết nạp vào Đảng”.


Từ quy định trong Điều lệ vắn tắt và Điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, có thể thấy rõ rằng, người/quần chúng muốn trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam thì tất yếu phải tuân thủ những quy định, nguyên tắc và Điều lệ Đảng. Đó gọi là “tính Đảng”, đồng thời cũng chính là sự thừa nhận một cách tự nguyện và tuyệt đối trung thành với nền tảng tư tưởng của Đảng; với lý tưởng cách mạng chiến đấu cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì lợi ích của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam mà Đảng lựa chọn. Người được kết nạp vào Đảng nhất định phải là những người ưu tú trong quần chúng; phải có giác ngộ chính trị tốt, thể hiện được tính tiên phong trong mọi lĩnh vực công tác và cuộc sống đời thường; đồng thời, có khả năng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Tổ quốc và nhân dân giao phó. Đó chính là giá trị cao quý của Đảng để Đảng luôn xứng đáng với vai trò tiền phong; đồng thời cũng là giá trị của mỗi người đảng viên trong quá trình phấn đấu, trưởng thành. Điều đó cũng có nghĩa là quần chúng đã muốn/đã quyết tâm phấn đấu vào Đảng thì đều phải nhận thức sâu sắc rằng, đã "gọi là đảng viên thì phải biết rõ Đảng ta phải làm gì, vào Đảng để làm gì…Vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, phục vụ cách mạng… Đảng không bắt buộc ai vào Đảng cả. Vào thì có nhiệm vụ, có trách nhiệm của đảng viên, nếu sợ không phục vụ được nhân dân, phục vụ được cách mạng thì đừng vào hay là khoan hãy vào”(3) như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ.


Để làm tròn nhiệm vụ rất nặng nề nhưng rất vẻ vang là lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thì Đảng phải luôn trong sạch, vững mạnh. Thực tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Đảng mạnh là do chi bộ tốt, chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”(4), song “Đảng không phải chỉ cần con số cho nhiều, tuy nhiều là tốt, nhưng phải có cái chất của người đảng viên. Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: Mình vào Đảng để làm đày tớ cho nhân dân, Bác nhấn mạnh: Làm đày tớ nhân dân chứ không phải là “quan” nhân dân”(5). Vì thế, Người yêu cầu "Đảng phải phát triển tổ chức của mình một cách thận trọng, vững chắc và rộng rãi trong quần chúng”(6), thông qua quá trình phát hiện, bồi dưỡng quần chúng về mọi mặt; đồng thời, các tổ chức cơ sở Đảng “cần phải xem công tác củng cố và phát triển đảng là một công tác quan trọng và thường xuyên. Và phải nắm vững phương châm phát triển Đảng là trọng chất hơn lượng”(7) để đề phòng các phần tử thù địch, cơ hội chui vào Đảng.


Vì nghiêm túc trong công tác phát triển đảng viên và coi đó là một nội dung quan trọng để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cho nên trong hơn 90 năm qua, nhất là trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, phương hướng phát triển đảng viên được đẩy mạnh theo từng nhiệm kỳ Đại hội Đảng. Theo nghị quyết các nhiệm kỳ Đại hội Đảng và kế hoạch công tác hằng năm, các cấp ủy Đảng đã căn cứ điều kiện cụ thể của địa phương, cơ quan, đơn vị để tập trung phát triển Đảng toàn diện; đặc biệt, đẩy mạnh việc phát triển Đảng trong công nhân và các thành phần khác như sinh viên đang học tập tại hệ thống các trường đại học, cao đẳng, các học viện, nhà trường, ở các vùng nông thôn hay tại các doanh nghiệp, trong các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập và lao động tự do tại các địa phương… tự nguyện rèn luyện tư tưởng, lập trường giai cấp công nhân/mong muốn được đứng trong hàng ngũ của Đảng, phấn đấu cho mục đích, lý tưởng cao cả của Đảng.


Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng: “Nếu Đảng ta không biết chọn lọc, kết nạp, đề bạt đồng chí mới thì đâu có như ngày nay”(8) và nếu không được bổ sung nguồn sinh lực thì Đảng đâu có đủ năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu để đảm đương vai trò cầm quyền/độc quyền lãnh đạo như đã hiến định trong Điều 4 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì thế, xuyên suốt 9 thập niên xây dựng và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng công tác phát triển Đảng, coi đó là một nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách vừa thường xuyên và lâu dài.


BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH


Thực tế, "Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài" và "vào Đảng là để hết lòng hết sức phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, làm trọn nhiệm vụ của người đảng viên"(9) như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, cho nên, cán bộ, đảng viên của Đảng phải luôn phấn đấu để xứng đáng vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân; suốt đời tận trung với nước, tận tâm phụng sự nhân dân, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư… Những điều căn cốt này đã được mỗi quần chúng nhận thức rõ. Vì thế, khi đã xác định phấn đấu trở thành đảng viên, tất yếu mỗi người đều không chỉ cần phải tuân thủ những quy định, nguyên tắc thuộc về tổ chức, sinh hoạt và Điều lệ Đảng mà còn phải trải qua quá trình phấn đấu, tu dưỡng, thử thách để trưởng thành.


Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức, cũng ở trong xã hội và Đảng trong sạch, vững mạnh được quyết định bởi số lượng, chất lượng đảng viên và việc thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng. Số lượng đảng viên là cần thiết, song số lượng đó chỉ trở thành sức mạnh khi đạt được những yêu cầu về chất lượng. Vì thế, công tác phát triển Đảng toàn diện vào các vùng, các ngành, các giới, nhất là trong thanh niên, phụ nữ, bộ đội xuất ngũ; trong các vùng xung yếu và các cơ sở còn ít đảng viên để khắc phục tình trạng "vùng trắng", nhằm đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng là rất cần thiết. Hơn nữa, việc phát triển Đảng trong hệ thống các trường đại học, cao đẳng, học viện, nhà trường; ở các vùng nông thôn; trong các khu vực doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài… càng cần phải được thực hiện nghiêm túc, đảm bảo chất lượng. Nếu không quán triệt và thực hiện đúng vấn đề có tính nguyên tắc đó; nếu chỉ chú trọng số lượng mà coi nhẹ chất lượng, thì các tổ chức Đảng dù "đảm bảo chỉ tiêu kết nạp", song cũng chỉ là "một câu lạc bộ", không thể mạnh mà trái lại còn trở nên lỏng lẻo, rệu rã.


Trên thực tế, việc kết nạp người vào Đảng luôn được các cấp ủy xem xét toàn diện, từ phẩm chất đạo đức và năng lực công tác đến trình độ giác ngộ, động cơ vào Đảng; từ quá trình rèn luyện, tu dưỡng thông qua thử thách thực tiễn đến việc thực hiện nghiêm các nguyên tắc, thủ tục kết nạp Đảng và theo dõi, đánh giá quá trình phấn đấu trong thời gian là đảng viên dự bị. Mỗi người khi được đứng trong hàng ngũ của Đảng đều hiểu rõ rằng vào Đảng/trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là để mưu cầu lợi ích cho mình, làm giàu cho bản thân và người thân mà là để cống hiến và phụng sự. Tuy nhiên, thời gian qua, bên cạnh đại đa số giới trẻ, những quần chúng ngoài Đảng đã và đang nỗ lực trau dồi tri thức, nỗ lực làm việc để gây dựng sự nghiệp cho mình; thường xuyên tu dưỡng, phấn đấu để vinh dự được trở thành người đảng viên cộng sản, thì đâu đó cũng vẫn có một bộ phận giới trẻ (công nhân ở các khu công nghiệp, thanh niên ở các vùng nông thôn…) sống thiếu lý tưởng, hoài bão, chỉ biết an phận mình. Đồng thời, cũng vẫn có một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" đã xa rời lý tưởng cách mạng, vi phạm kỷ luật Đảng…, song đó chỉ là hiện tượng. Cho nên, không thể vì một vài nhận xét về thực trạng công tác phát triển Đảng ở một số địa bàn cụ thể mà vội quy kết rằng "nếu không bị bắt buộc" thì người dân "không muốn vào Đảng"; và hiện nay công nhân lao động, thanh niên "ngại vào Đảng", "không tha thiết vào Đảng" như các phần tử phản động đã suy diễn, xuyên tạc.


Chỉ riêng những con số cụ thể này: "Theo dự thảo báo cáo, trong giai đoạn 2010-2020 và 9 tháng đầu năm 2021, tổng số đoàn viên ưu tú do tổ chức đoàn giới thiệu cho đảng là 2.868.498. Theo phân bổ chỉ tiêu của nhiệm kỳ 2012-2017 số lượng đoàn viên ưu tú giới thiệu cho đảng xem xét kết nạp so với chỉ tiêu đề ra đạt 99,16%; nhiệm kỳ 2017-2022, tính đến thời điểm hiện tại đạt tỉ lệ 87,39%. Số lượng đoàn viên ưu tú được kết nạp đảng, theo số liệu thống kê của 67/67 tỉnh, thành đoàn, đoàn trực thuộc, toàn Đoàn có gần 1,6 triệu đảng viên là đoàn viên đang sinh hoạt tại các chi đoàn, chiếm 25,39% tổng số đoàn viên cả nước và chiếm 30,76% tổng số đảng viên cả nước"(10) cũng đủ là minh chứng sinh động cho thấy công tác phát triển Đảng trong đoàn viên, thanh niên những nhiệm kỳ gần đây. Đó cũng là một trong những bằng chứng bác bỏ sự xuyên tạc của các thế lực thù địch khi cho rằng: cả 3 nhiệm kỳ Đại hội XI, XII, XIII của Đảng cũng không "chữa được hiện tượng chán đảng" dù có sự vào cuộc của ngành Tuyên giáo, của Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng và Bộ Công an.


Thực tế, trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là mục tiêu phấn đấu; đồng thời cũng là niềm tự hào của mỗi quần chúng ngoài Đảng nói chung, của tuổi trẻ nước nhà nói riêng. Vì thế, việc vin vào cớ cho rằng thủ tục vào Đảng "rườm rà", nhất là phải khai lý lịch và được xác minh từ địa phương là thành phần ưu tú trong xã hội về mọi mặt như đạo đức, lối sống, gương mẫu, trong sạch; phải đi học lớp bồi dưỡng đối tượng Đảng và "vào Đảng không đem lại lợi ích cụ thể gì', "vào Đảng không có gì khác biệt"… đã "cản trở nhiều người không muốn vào Đảng" chỉ là sự suy diễn cá nhân của những kẻ cơ hội đầy dã tâm chống phá Đảng. Hơn nữa, trên cơ sở thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 23/11/1996 của Bộ Chính trị về "Tăng cường công tác xây dựng Đảng, các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tư nhân" và Kết luận số 80-KL/TW ngày 29/7/2010 của Ban Bí thư về "Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW về “Tăng cường công tác xây dựng Đảng và các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần tư nhân (gọi tắt là doanh nghiệp tư nhân) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” của Bộ Chính trị (khóa VIII) trong tình hình mới” cùng Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 18/3/2019 của Ban Bí thư về "Tăng cường xây dựng tổ chức đảng trong các đơn vị kinh tế tư nhân”…, công tác phát triển Đảng, thành lập tổ chức Đảng cũng như tạo nguồn phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp và có vốn đầu tư từ nước ngoài thời gian qua cũng có những chuyển biến nhất định và đạt được những kết quả khả quan.

Thông qua việc thay đổi nhận thức của chủ doanh nghiệp với vấn đề phát triển Đảng và thành lập tổ chức Đảng; việc khắc phục những khó khăn về thời gian tham dự lớp cảm tình Đảng của công nhân các khu công nghiệp; nhất là việc đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về công tác phát triển Đảng trong khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh, ở các vùng nông thôn… công tác phát triển đảng viên ở những địa bàn này đã có những thay đổi tích cực. Vì thế, câu chuyện "giới trẻ nhạt Đảng", "giới trẻ ngại vào Đảng" là hiện tượng phổ biến ở Việt Nam mà một luận điệu thù địch nêu ra không phản ánh đúng thực tế công tác phát triển Đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó chỉ là một vài hiện tượng đơn lẻ, chỉ là thiểu số, không phải là bản chất, cho nên sự quy chụp đó là vội vàng, là thiển cận và ác ý; là bôi đen sự thật để xuyên tạc công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung, công tác phát triển Đảng nói riêng.


Đương nhiên, để Đảng luôn xứng đáng với vai trò tiên phong, trong thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ chú trọng công tác phát triển Đảng mà còn luôn tự chỉnh đốn và đổi mới. Một mặt, các cấp ủy Đảng chủ động làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, tạo nguồn trong quần chúng tích cực, đảm bảo về số lượng, cơ cấu hợp lý; bồi dưỡng, theo dõi, giúp đỡ để họ có đủ điều kiện trở thành đảng viên cộng sản; xem xét toàn diện về mọi mặt (trình độ giác ngộ, phẩm chất đạo đức, năng lực công tác, uy tín trước quần chúng…) và thử thách trong thực tiễn; bồi dưỡng, kết nạp và giúp đỡ đảng viên dự bị trở thành đảng viên chính thức. Mặt khác, Đảng thường xuyên tiến hành tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát, để kịp thời phát hiện, xử lý, đưa ra khỏi Đảng những kẻ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong từng tổ chức cơ sở Đảng/những kẻ đã xa rời lý tưởng cách mạng, thiếu tu dưỡng đạo đức cách mạng của người đảng viên, không còn là "tấm gương" cho quần chúng noi theo.


Một trong những nội dung quan trọng của Văn kiện Đại hội XIII cần được cả hệ thống chính trị và cấp ủy Đảng các cấp quán triệt sâu sắc là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên; phát huy tính tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân của cán bộ, đảng viên. Tăng cường hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, củng cố và không ngừng nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng”(11). Theo đó, để công tác phát triển Đảng thật sự đảm bảo chất lượng, toàn Đảng không chỉ cần phải nâng cao hơn nữa nhận thức về vị trí, vai trò của nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên này theo đúng tinh thần Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 21/1/2019 của Ban Bí thư về "Nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và rà soát, sàng lọc đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng" mà còn phải chú trọng, đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục trong cán bộ, đảng viên nói chung, quần chúng ngoài Đảng nói riêng về mục đích, ý nghĩa của công tác phát triển đảng viên. Đồng thời, quan tâm đào tạo, rèn luyện phẩm chất đạo đức và bản lĩnh chính trị cho thế hệ trẻ, cho những quần chúng ngoài Đảng trong các tổ chức chính trị-xã hội ở các vùng, các địa bàn, các giới… để chủ động phát hiện và tạo nguồn dự bị của Đảng; tổ chức nhiều lớp bồi dưỡng để giúp quần chúng, đảng viên mới nhận thức sâu sắc hơn về vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng, bồi đắp lý tưởng cách mạng, xác định đúng đắn động cơ vào Đảng trên cơ sở giác ngộ lý tưởng và tự giác phấn đấu, rèn luyện để được đứng trong hàng ngũ của Đảng.


Cùng với đó, các tổ chức cơ sở Đảng phải quán triệt sâu sắc quan điểm "trọng chất lượng hơn số lượng", để khi tiến hành các khâu, các quy trình phát triển Đảng vừa tránh sa vào hiện tượng chạy theo chỉ tiêu mà tùy tiện hạ thấp tiêu chuẩn, điều kiện của người vào Đảng vừa tránh được tình trạng mắc bệnh hẹp hòi, cầu toàn, gây tác hại nhiều mặt, làm tổn hại đến việc bổ sung nguồn sinh lực cho Đảng. Trong quá trình triển khai, một mặt, phải thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và tuyên truyền, giáo dục về mục tiêu, lý tưởng của Đảng; phát huy vai trò, trách nhiệm của người đảng viên, nhất là người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo, quản lý để làm gương cho quần chúng tự nguyện phấn đấu vào Đảng. Mặt khác, điều chỉnh linh hoạt những bất cập (bố trí các lớp cảm tình Đảng, lớp đảng viên mới bằng hình thức trực tuyến, học vào ngày nghỉ, ngoài giờ hành chính, bố trí địa điểm, thời gian cho phù hợp điều kiện thực tế…) để tạo thuận lợi cho những đối tượng đặc thù; đồng thời, thực hiện nghiêm các khâu, các quy trình bồi dưỡng, kết nạp, giúp đỡ đảng viên dự bị trở thành đảng viên chính thức để Đảng thật sự thu hút và kết nạp được những người ưu tú nhất, tiêu biểu nhất về phẩm chất, bản lĩnh, năng lực, trí tuệ vào Đảng.


Chỉ có như vậy, công tác phát triển Đảng mới đạt chất lượng cao, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng nói chung, từng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh nói riêng, để Đảng có đủ uy tín, năng lực và trí tuệ lãnh đạo sự nghiệp cách mạng đi đến thành công!.


TS. VĂN THỊ THANH MAI

ThS. NGUYỄN TUẤN DŨNG

-----------------------------

(1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Sự thật, H, 1983, t.4, tr.614-615.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1998, t.2, tr.7.

(3) (4) (5) (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2011, t.15, tr.291-292, 113, 292, 112.

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.419.

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.14, tr.187.

(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.276.

(10) Hương Diệp: Thực trạng và giải pháp phát triển đảng viên là đoàn viên, thanh niên trong tình hình mới, mattran.org.vn, ngày 2/11/2021

(11) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t. II, tr.229.

CẦN TUYÊN CHIẾN VỚI TỆ CHẠY CHỨC, CHẠY QUYỀN


Tha hóa quyền lực là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến sự sụp đổ của chế độ nhà nước ở nhiều quốc gia từ xưa đến nay. Nhận thức rõ vấn đề này, trong suốt quá trình cách mạng, Đảng, Nhà nước ta luôn “tuyên chiến” với tha hóa quyền lực, đề ra nhiều giải pháp để kiểm soát quyền lực. Thế nhưng, sự tha hóa quyền lực ngày càng diễn ra tinh vi, nên mỗi thời kỳ cần có những giải pháp hợp lý, hiệu quả.

 “Chạy chức” là gốc của tha hóa quyền lực


Sở dĩ trước hết phải “tuyên chiến” với “chạy chức”, vì đây vừa là biểu hiện rõ nhất của sự tha hóa quyền lực, vừa là nguyên nhân cơ bản, trực tiếp dẫn đến tha hóa quyền lực. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra chân lý đúng trong mọi trường hợp, ở mọi quốc gia: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Thử hỏi, cả người “chạy chức” và người chấp thuận “chạy chức” (hoặc ưu ái, “nâng đỡ không trong sáng” người thân quen) có phải là cán bộ tốt hay không?


Người không tốt mà lại làm cán bộ, nắm quyền lực trong tay thì đương nhiên sẽ dẫn đến tha hóa quyền lực. Ai đó đã phải đầu tư để “chạy chức”, “chạy quyền” thì tất yếu sẽ nghĩ cách để ít nhất là thu hồi số tài sản đã dùng để “chạy”. Với thu nhập chính đáng của cán bộ, công chức, viên chức (lương, phụ cấp) như hiện nay, những người đã mất hàng trăm triệu, thậm chí cả tỷ đồng để “chạy” sẽ rất khó có thể làm việc một cách vô tư trong sáng, không tham nhũng, tiêu cực, không tha hóa quyền lực.


Thật vô cùng nguy hiểm khi đối tượng “chạy chức” lại được giữ cương vị lãnh đạo hoặc làm công tác tổ chức cán bộ. Khi đó họ sẽ lại ưu ái sử dụng những người biết “dùng phong bì, đi cửa sau” (để thu hồi vốn và còn có tiền “chạy” tiếp). Cái vòng “chạy chọt” cứ thế tiếp diễn khiến người thực sự có tâm, có tài không được trọng dụng. Tha hóa quyền lực vì thế sẽ ngày càng nghiêm trọng, ngày càng khiến nhân dân bức xúc. Do đó, muốn kiểm soát quyền lực, trước tiên phải chặn bằng được nạn “chạy chức”, “chạy quyền”, kiểu “nâng đỡ không trong sáng”.

Chống nạn “chạy chức” bằng cách nào?


Nhận thức rõ sự nguy hại của “chạy chức”, “nâng đỡ không trong sáng”, ngày 23-9-2019, Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Quy định số 205-QĐ/TW “về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”. Theo quy định này, người vi phạm bị xử lý kỷ luật; nếu liên quan đến việc đưa, nhận hối lộ hoặc các hành vi vi phạm khác đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải chuyển hồ sơ sang cơ quan chức năng để xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật; nghiêm cấm giữ lại để xử lý hành chính.


Thế nhưng thực tế cho thấy, để có bằng chứng về việc đưa và nhận hối lộ nhằm “chạy chức”, “chạy quyền” là vô cùng khó vì nó diễn ra hết sức tinh vi, bí mật, rất khó có bằng chứng để xử lý. Do đó, rất cần thiết phải siết chặt quy trình, quy định về công tác tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ theo hướng: Gắn trách nhiệm cụ thể của người đề cử cán bộ và người đứng đầu cấp ủy đề nghị bổ nhiệm cán bộ, ví dụ nếu cán bộ có sai phạm trong 5 năm đầu kể từ khi được bổ nhiệm thì người đề cử cán bộ đó và người đứng đầu cấp ủy đề nghị bổ nhiệm cán bộ đó cũng bị xem xét xử lý kỷ luật (tránh tình trạng núp bóng tập thể cấp ủy để “nâng đỡ không trong sáng”). Bên cạnh đó, cần thực hiện ngay việc công khai danh sách cán bộ từ quy hoạch đến đề bạt, bổ nhiệm, đánh giá, luân chuyển để quần chúng biết và cùng giám sát. Bác Hồ đã khẳng định rằng: “Thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn”.


Đặc biệt, Đảng, Nhà nước phải kiên quyết đổi mới công tác đánh giá cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức theo nguyên tắc lấy hiệu quả công việc làm thước đo chủ yếu; chuyển từ đánh giá định tính sang định lượng rõ ràng bằng hình thức chấm điểm theo thang điểm trên từng nội dung, từng mặt công tác... để tránh tình trạng đánh giá chung chung, cào bằng, đại đa số cán bộ, đảng viên được đánh giá hoàn thành tốt và xuất sắc nhiệm vụ nhưng sau đó vẫn phát hiện người hoàn thành tốt và xuất sắc vi phạm pháp luật, kỷ luật. Cần nghiên cứu ban hành cơ chế lấy phiếu tín nhiệm cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý sao cho thực chất.


Bên cạnh đó, việc tổ chức thi tuyển cán bộ cần được triển khai thống nhất theo lộ trình ở từng cấp đối với những chức vụ có thể thi tuyển đã được kiểm nghiệm qua thí điểm ở một số địa phương, bộ, ngành trong thời gian qua. Với mỗi chức vụ cần bổ nhiệm, trên cơ sở quy hoạch cán bộ, tổ chức đảng giới thiệu hai ứng viên trở lên cùng trình bày chương trình hành động để bảo đảm cạnh tranh lành mạnh. Đó là những biện pháp hiệu quả phòng ngừa nạn “chạy chức”, “nâng đỡ không trong sáng”, đồng thời tạo động lực để cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phấn đấu không ngừng, chống tha hóa quyền lực...


Một bất cập nữa cần khắc phục ngay, đó là mặc dù pháp luật đã có quy định về những hành vi phạm tội hình sự liên quan đến nhóm tội phạm về chức vụ, như: Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ, thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, vi phạm các quy định của Nhà nước gây hậu quả nghiêm trọng... với các mức án phạt tù rất nghiêm khắc; song trong nhóm tội này chưa có quy định nào về xử lý hình sự đối với hành vi liên quan đến việc thiếu trách nhiệm hay vi phạm các quy định về công tác tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ. Trong khi đó, việc lợi dụng chức vụ quyền hạn, thiếu trách nhiệm dẫn đến “bổ nhiệm nhầm cán bộ” có khi còn gây hậu quả nghiêm trọng hơn rất nhiều so với những thiệt hại về kinh tế, sức khỏe, môi trường... của các tội danh khác đã được Bộ luật Hình sự quy định.


Thủ đoạn của những người “chạy chức”, “chạy quyền”, “nâng đỡ không trong sáng” là rất tinh vi, nguy hại khôn lường, ảnh hưởng nghiêm trọng tới uy tín của Đảng và sự phát triển của đất nước. Muốn phòng, chống tha hóa quyền lực thì trước hết phải khắc phục triệt để những hạn chế, tiêu cực trong công tác cán bộ. Tục ngữ có câu “Thuốc đắng dã tật”, do đó cần phải có thái độ kiên quyết và biện pháp đồng bộ, chặt chẽ, xử lý thật nghiêm khắc để đủ sức răn đe. Nếu “giơ cao đánh khẽ” sẽ không thể giải quyết được.


P/s: Đại hội XIII của Đảng xác định: Tiếp tục hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo công tác cán bộ, cải cách thủ tục hành chính và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền về công tác cán bộ. Kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong từng khâu của công tác cán bộ, nhất là đối với người đứng đầu cấp ủy đồng thời là thủ trưởng cơ quan, đơn vị, chủ tịch UBND. Giữ vững kỷ luật, kỷ cương; tăng cường kiểm tra, giám sát, chống chạy chức, chạy quyền... Kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ... Thí điểm chủ trương người đứng đầu lựa chọn, giới thiệu với cấp có thẩm quyền để bầu cử, bổ nhiệm cấp phó của mình; bí thư cấp ủy giới thiệu để bầu ủy viên ban thường vụ và chịu trách nhiệm về việc giới thiệu; giao quyền cho người đứng đầu bổ nhiệm, miễn nhiệm đối với cấp trưởng cấp dưới trực tiếp và chịu trách nhiệm về quyết định đó...


Theo QĐND 

Mối quan hệ Việt-Nga vững bền theo năm tháng

Nhận lời mời của Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và Phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm chính thức LB Nga từ ngày 29/11 đến 2/12. Chuyến thăm diễn ra trong bối cảnh Việt Nam và LB Nga vừa kỷ niệm 70 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 2020 và tổ chức Năm chéo tại mỗi quốc gia nhân kỷ niệm 25 năm ký Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản của mối quan hệ hữu nghị Việt-Nga và 20 năm ký Tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược Việt-Nga. Với bối cảnh đặc biệt và đầy ý nghĩa nêu trên, chuyến thăm chính thức LB Nga của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nhằm củng cố hơn nữa quan hệ hữu nghị truyền thống và đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Nga. Kể từ khi hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 30/1/1950, quan hệ song phương phát triển rất mạnh mẽ. Nhìn lại lịch sử quan hệ hai nước trên suốt chặng đường hơn 70 năm qua, có thể thấy, quan hệ Việt-Nga luôn vững bền theo năm tháng và ngày càng phát triển sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực như chính trị-ngoại giao, kinh tế-thương mại, văn hóa-xã hội, khoa học-công nghệ... Trải qua thử thách của thời gian và biến động của lịch sử, mối quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai nước luôn nồng ấm và tin cậy. Nhân dân Việt Nam luôn biết ơn sự giúp đỡ chí nghĩa, chí tình của nhân dân LB Nga trong thành phần Liên Xô (trước đây) dành cho Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Trên các diễn đàn đa phương, hai bên đồng quan điểm về nhiều vấn đề quốc tế và khu vực, phối hợp chặt chẽ và ủng hộ nhau tại các diễn đàn quốc tế như Liên hợp quốc, ASEAN... Trong lĩnh vực chính trị-ngoại giao, quan hệ Việt Nam-Nga có sự tin cậy cao và được củng cố thông qua các chuyến thăm các cấp cũng như các cơ chế tham vấn, đối thoại chiến lược hằng năm. Các chuyến thăm cấp cao được hai nước thực hiện khá thường xuyên, tạo xung lực mới cho các lĩnh vực hợp tác khác. Bất chấp ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, hợp tác kinh tế-thương mại song phương duy trì đà tăng trưởng tích cực với kim ngạch thương mại hai chiều năm 2020 đạt gần 4,85 tỷ USD. Tính đến tháng 4/2021, Nga đứng thứ 25 trong số các nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với 144 dự án và tổng số vốn đăng ký khoảng 944 triệu USD. Việt Nam có hơn 20 dự án đầu tư sang Nga với tổng vốn đăng ký gần 3 tỷ USD. Năng lượng là lĩnh vực hợp tác truyền thống chiến lược và hiệu quả, đem lại nguồn thu đáng kể cho ngân sách hai nước. Cộng đồng người Việt Nam tại Nga hiện có khoảng 60-80 nghìn người, đã làm ăn, sinh sống tại Nga trong ba thập kỷ; có những đóng góp đáng kể cho đất nước, luôn đi đầu trong các hoạt động từ thiện. Đại dịch Covid-19 càng khẳng định sức mạnh của sự đoàn kết, tinh thần tương thân tương ái giữa Việt Nam và Nga. Kể từ thời điểm bùng phát dịch bệnh đến nay, hai nước đã phối hợp chặt chẽ trong cung ứng và chuyển giao công nghệ, sản xuất vaccine phòng Covid-19. Trong giai đoạn đầu khi dịch mới bùng phát, Chính phủ Việt Nam, Quốc hội, các bộ, ngành của Việt Nam đã tặng Nga khẩu trang và một số vật tư y tế. Phía Nga đã viện trợ cho ta các liều vaccine Sputnik V và thuốc điều trị, vật tư y tế. Chuyến thăm của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nhằm thắt chặt quan hệ hữu nghị truyền thống, đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-LB Nga, từ đó mở ra cơ hội mới trong các lĩnh vực còn nhiều tiềm năng hợp tác giữa hai nước. Chuyến thăm cũng góp phần khẳng định đường lối đối ngoại do Đại hội Đảng lần thứ XIII đề ra là độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ song phương đi vào chiều sâu. Việc hai nước trao đổi đoàn cấp cao sau thời gian gián đoạn do đại dịch Covid-19 có ý nghĩa quan trọng trong việc củng cố sự tin cậy chính trị và tăng cường quan hệ giữa lãnh đạo cấp cao hai nước, nhất là sau khi Việt Nam tổ chức thành công Đại hội Đảng lần thứ XIII và Nga tiến hành bầu cử Duma quốc gia vào tháng 9/2021./.

CÚ BẮT TAY QUÂN SỰ CỦA NGA - ẤN CÓ THỂ KHIẾN CẢ MỸ VÀ TRUNG QUỐC PHẢI "CÂN NÃO'


Việc Nga và Ấn Độ công bố thỏa thuận hợp tác quân sự quy mô lớn được đánh giá là động thái có thể khiến cho cả Trung Quốc và Mỹ phải cân nhắc cách ứng phó.


Quan hệ thân thiết lịch sử giữa Ấn Độ và Nga từng trải qua một giai đoạn phức tạp vì những yếu tố địa chính trị, nhưng hội nghị thượng đỉnh tuần trước giữa Thủ tướng Ấn Độ Narenda Modi và Tổng thống Nga Vladimir Putin cho thấy ý định xích lại gần nhau hơn nữa của cả 2 bên. Và động thái này có thể khiến cả Mỹ và Trung Quốc phải "cân não".


Ông Harsha Kakar, một tướng về hưu trong lục quân Ấn Độ, cho biết cuộc gặp giữa 2 nhà lãnh đạo cho thấy, dù Nga có quan hệ tương đối gần gũi với Trung Quốc và Ấn Độ có xu hướng xích lại gần phương Tây, thì mối quan hệ mà Moscow và New Delhi đã vun đắp trong nhiều năm qua không nên bị xói mòn bởi những thay đổi về địa chính trị.


Kể từ sự kiện Nga sáp nhập bán đảo Crimea vào năm 2014, Moscow đã xu hướng nâng cao quan hệ với Trung Quốc trong bối cảnh họ bị phương Tây áp lệnh trừng phạt. Trong khi đó, Ấn Độ lại gia tăng hợp tác với các đối tác phương Tây, bao gồm tham gia vào nhóm "Bộ Tứ" với Mỹ, Nhật Bản và Australia - động thái được xem là để ứng phó với tầm ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Trung Quốc ở khu vực. Căng thẳng giữa Trung Quốc và Ấn Độ cũng leo thang kể từ giữa năm ngoái sau cuộc giao tranh chết người ở khu vực biên giới tại Himalaya.


Trong cuộc gặp tuần trước, hai nhà lãnh đạo đã ký 28 thỏa thuận trong các lĩnh vực như than đá, đóng tàu, dầu mỏ… Nga và Ấn Độ cũng cam kết sẽ tăng quy mô thương mại song phương lên 30 tỷ USD và đầu tư lẫn nhau lên 50 tỷ USD vào năm 2025.


Ông Modi và ông Putin đã ký hợp đồng trong đó cho phép Ấn Độ sản xuất hơn 600.000 khẩu súng trường tấn công AK-203 của Nga cho quân đội của phía New Delhi. Hai nước cũng mở rộng thỏa thuận hợp tác kỹ thuật - quân sự có thể hỗ trợ việc chuyển giao công nghệ quốc phòng giữa 2 bên trong 10 năm tới.


Kể từ năm 1991, Nga đã bán cho Ấn Độ số vũ khí tổng trị giá 70 tỷ USD. Dù con số này có xu hướng giảm những năm qua do Ấn Độ đã nỗ lực sản xuất vũ khí nội địa, nhưng cả 2 bên vẫn hợp tác trong các dự án phát triển vũ khí chung từ tên lửa hành trình siêu thanh tới tàu hộ vệ tàng hình.


Tình hình địa chính trị phức tạp


Tổ hợp phòng không S-400 Ấn Độ mua của Nga được các chuyên gia xem là ví dụ điển hình của tình hình địa chính trị phức tạp mà 2 bên đang đối mặt.


Ấn Độ được cho muốn đặt S-400 tại gần Đường kiểm soát Ấn Độ - Trung Quốc (LoC), nhằm đáp trả việc Trung Quốc được cho đã đưa S-400 cũng mua của Nga tới Tân Cương và Tây Tạng. Ông Kakar nhận định rằng, hệ thống S-400 của Ấn Độ sẽ đóng vai trò quan trọng trong mạng lưới phòng không của nước này trong tranh chấp về chủ quyền với 2 nước láng giềng sở hữu vũ khí hạt nhân là Trung Quốc và Pakistan.


Alexey Kuprianov, chuyên gia tại Học viện khoa học Nga, nhận định rằng việc Nga để cả Trung Quốc và Ấn Độ cùng sở hữu S-400 là nhằm làm giảm nguy cơ xảy ra chiến tranh bằng việc để 2 bên cân bằng về mặt sức mạnh. Ngoài ra, ông cho rằng, việc nâng cao quan hệ với Ấn Độ là "cơ hội để Nga tiếp tục xoay trục về châu Á mà không phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc".


Tuy nhiên, Trung Quốc không phải là nước duy nhất có thể có vấn đề với việc Ấn Độ có S-400. Năm 2017, Mỹ từng ra đạo luật CAATSA nhằm trừng phạt những cá nhân và thực thể có "giao dịch quy mô lớn" với lĩnh vực quốc phòng của Nga. Mỹ đã áp lệnh trừng phạt lên Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ vì mua S-400 của Nga.


Tuy nhiên, có một khả năng là Ấn Độ sẽ không bị trừng phạt như 2 nước trên. Các nhà làm luật của Washington đã kêu gọi chính phủ nước này không áp lệnh trừng phạt lên đối tác của Mỹ trong "Bộ Tứ". Các chuyên gia cũng nhận định rằng, Mỹ có thể sẽ có động thái miễn trừng phạt với Ấn Độ.


Dù kịch bản miễn trừ trừng phạt sẽ được áp dụng với Ấn Độ, căng thẳng giữa Nga và phương Tây liên quan tới vấn đề Ukraine có thể sẽ tiếp tục làm tình hình thêm phức tạp. Trong những tuần qua, Mỹ cáo buộc Nga đưa gần 100.000 quân tới gần biên giới Ukraine và có ý định tấn công Kiev, cáo buộc mà Moscow mạnh mẽ bác bỏ.


Trong kịch bản căng thẳng Nga - Mỹ leo thang, chuyên gia Richard Rossow của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) cho rằng, Mỹ sẽ cố gắng tránh đặt Ấn Độ vào vị trí khó xử và không yêu cầu New Delhi tham gia vào lệnh trừng phạt của phương Tây. Tuy nhiên, Washington có thể sẽ thúc đẩy Ấn Độ giảm bớt quan hệ với Nga, đặc biệt trong lĩnh vực quốc phòng.


Tướng Kakar cho rằng, Ấn Độ sẽ không làm như vậy. "Bất kể chuyện gì xảy ra với bên thứ 3, tôi cho rằng quan hệ Nga và Ấn Độ sẽ tiếp tục phát triển. Sẽ không có chuyện quan hệ này bị trì hoãn hoặc đi lùi", ông nói

Ỷ THẾ LÀM LIỀU

Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ đạo xử lý nhiều vụ án quan trọng có liên quan đến các cán bộ, đảng viên. Đã cách chức, giáng chức, giáng cấp, khai trừ, kỷ luật hàng nghìn cán bộ, đảng viên có vi phạm. Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ cao cấp của Đảng, sĩ quan cao cấp trong LLVT đã bị truy tố do vi phạm pháp luật. Trong số các vụ án nói trên có không ít vụ là do các đối tượng đã lợi dụng danh nghĩa, danh tiếng của cá nhân, tổ chức để làm liều. Điển hình là các vụ án như vụ Phan Văn Sào Nam, lợi dụng, cấu kết với một số cán bộ để tổ chức đánh bạc và rửa tiền; vụ Phan Văn Anh Vũ lợi dụng chức vụ, quyền hạn, núp bóng cấp trên, lôi kéo, tha hóa cán bộ và đã phạm nhiều tội nghiêm trọng như: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ; Cố ý làm lộ bí mật Nhà nước; Lạm dụng chức vụ chiếm đoạt tài sản. Hoặc như phạm nhân Trịnh Xuân Thanh (bị tòa án xét xử năm 2018), trước khi bị khởi tố đã có một quá trình vi phạm pháp luật, tham nhũng, nhưng lợi dụng các mối quen biết, tiếp tục “luồn lách” “chui sâu, leo cao” và được bổ nhiệm giữ chức Phó chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang. Sở dĩ Thanh tham nhũng, vi phạm pháp luật trong thời gian dài có một nguyên nhân rất quan trọng đó là dựa bóng cấp trên, dựa vào sự bao che của cấp trên để phóng tay làm liều, biết sai mà vẫn làm. Việc Thanh bị báo chí phanh phui từ hành vi sử dụng chiếc xe ô tô tư nhân đắt tiền, nhưng lại gắn biển xe công vụ thực chất chỉ là giọt nước tràn ly và cũng là xuất phát từ thói huênh hoang, khoe mẽ, "coi trời bằng vung" của một cán bộ đã nhiễm thói hư, tật xấu từ lâu... Trên đây chỉ là một số vụ án lớn, điển hình về sự tha hóa của cán bộ có nguyên nhân khởi nguồn từ thói dựa hơi, dựa tiếng cấp trên, thậm chí tha hóa cán bộ cấp trên để tạo tấm bình phong cho mình làm liều, làm bậy, vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Trong thực tế cuộc sống, cũng còn nhiều cán bộ, đảng viên mới có một chút chức quyền trong tay nhưng đã bộc lộ thói huênh hoang, làm liều, như: Dọa nạt, hành hung cán bộ, nhân viên khi họ đang thi hành công vụ; mạt sát, coi thường, sách nhiễu nhân dân khi người dân có việc cần đến cơ quan công quyền; nịnh trên, nạt dưới, vi phạm dân chủ ở cơ quan, đơn vị... Thậm chí có cả những người có học hàm, học vị, giữ chức vụ quan trọng ở một nhà trường, nhưng lại nói năng lỗ mãng, hống hách, ứng xử thiếu văn hóa với khách đến tìm hiểu về cơ quan, đơn vị mình. Sửa những thói hư, tật xấu, thói khoe mẽ, huênh hoang của cán bộ, đảng viên là việc cấp thiết và phải tiến hành thường xuyên, liên tục. Bởi trong một đảng cầm quyền thì mỗi đảng viên phải là một hạt nhân đoàn kết, phải có phẩm chất đạo đức tốt, có liêm sỉ, có cách ứng xử văn hóa trước quần chúng nhân dân, như thế mới tập hợp, thu hút được quần chúng, mới giúp Đảng hoàn thành trọng trách của mình./.

TIỀN ẢO VÀ CÁI BẪY “LÙA GÀ”

 

Thời gian qua, nhiều sàn giao dịch tiền ảo trái phép ngang nhiên hoạt động với cam kết lãi suất khủng, lên tới hàng trăm phần trăm mỗi năm đã thu hút nhiều người tham gia và "sập bẫy" để rồi tiền mất tại mang, tan gia bại sản. Mặc dù nhiều đường dây lừa đảo thông qua các sàn giao dịch tiền ảo như forex, MyAladdinz, Lion Group, Wefinex, Coolcat... đã bị lực lượng công an liên tiếp triệt phá, đánh sập, tuy nhiên, tình hình hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng tiền ảo vẫn diễn biến hết sức phức tạp và tiếp tục gia tăng, đồng nghĩa với việc tiếp tục có những con thiêu thân bất chấp lao vào.


Đừng tự biến mình thành những con “gà”!


Lợi nhuận lớn, tài sản khổng lồ với vốn đầu tư khiêm tốn là bức tranh màu hồng mà những kẻ lừa đảo giăng ra để “lùa gà”. Lợi dụng dịch bệnh, nhu cầu kiếm tiền tăng cao, những lời mời chào hấp dẫn kiểu “đầu tư một ăn mười” đã và đang tiếp tục lôi kéo được không ít người tham gia mặc dù đã được cảnh báo trước những rủi ro, tiềm ẩn nhiều biến tướng, gây nên những hệ lụy đáng tiếc. Lợi dụng sự kém hiểu biết trong lĩnh vực mới này của đa số người, với thủ đoạn tự giới thiệu là sản phẩm của công nghệ tài chính nước ngoài, gắn mác ứng dụng công nghệ Blockchain, các sàn giao dịch sử dụng các công cụ truyền thông để quảng bá cho các sản phẩm của mình làm cho các nhà đầu tư tiềm năng lầm tưởng các sàn này đã được cấp phép tại Việt Nam.


Trong khi đó theo quy định của luật pháp Việt Nam chỉ có tổ chức tín dụng được phép thực hiện kinh doanh ngoại hối. Do vậy các sàn giao dịch quyền chọn nhị phân đang hoạt động tại Việt Nam không thuộc đối tượng được xem xét, cấp phép. Bên cạnh những chiêu bài “thổi phồng”, bi-a kinh điển, các chủ sàn giao dịch còn có nhiều mánh khóe với chiêu trò mới khó nhận diện. Họ tung thêm ra các thông tin để chiếm lấy sự tin tưởng của các nhà đầu tư như: sẽ mua lại với giá cao, hoạt động lại bình thường, đồng tiền được sử dụng cho thanh toán hàng hóa... khiến các “chú gà” bổ nhào thu mua coin giá thấp mà không hề biết đã bị họ mua gom trước khi tung tin và lập lại cú xả hàng cho các “gà”. Mặt khác, họ kêu gọi nhà đầu tư nộp thêm tiền để có thể lấy coin ra sớm hơn người khác... và rồi một vòng luẩn quẩn cứ tiếp diễn đến vô tận khi các “chú gà” bị vặt sạch lông.


Lợi nhuận siêu khủng đã chạm sâu vào lòng tham của con người, mong muốn làm giàu nhanh trỗi dậy, thôi thúc nhiều người lao vào các kênh đầu tư một cách mù quáng và khi nhận ra mình chính là miếng mồi béo bở của những sàn lừa đảo thì các nhà đầu tư đã chả khác gì “gà trên đĩa” ngậm ngùi bị nuốt chửng. 


Thậm chí, trong số những nạn nhân, có rất nhiều người có hiểu biết, có kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính, kinh doanh, thế nhưng vẫn không khỏi “sập bẫy”. Điều đáng lo ngại, thị trường tiền ảo không đơn thuần là một sân chơi tài chính cao cấp, đòi hỏi nhà đầu tư cần có IQ cao để tổng hợp tình hình và dự báo, mà còn là môi trường biến tướng mọi loại hình kinh doanh; tiền ảo có nguy cơ cao bị các nhóm tội phạm lợi dụng để rửa tiền, chuyển đổi các khoản tiền bất hợp pháp thành tiền “sạch”.


Trước những rủi ro và hệ lụy về tiền ảo trong thời gian qua đã dấy lên hồi chuông cảnh báo những nhà đầu tư tham gia các hoạt động tiền ảo. Mỗi người dân hãy là những nhà đầu tư tài chính thông minh để không bị dụ dỗ, lôi kéo vào các sàn giao dịch lừa đảo để rồi tiền mất tật mang./.

HỘI NGHỊ DIÊN HỒNG” CỦA NGÀNH VĂN HÓA

Hôm qua, 24/11, Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai thực hiện nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã chính thức khai mạc, với sự tham dự của 600 đại biểu từ các bộ, ngành; giới văn nghệ sĩ và đại diện các tổ chức chính trị-xã hội trong cả nước. Đây được coi là "Hội nghị Diên Hồng" của ngành văn hóa, do Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp cùng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức. Hội nghị nhằm đánh giá việc triển khai đường lối, chủ trương, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng về công tác văn hóa, văn nghệ thời gian qua; kết quả xây dựng văn hóa, con người Việt Nam sau 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước và đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm công tác văn hóa, văn nghệ trong giai đoạn 2021-2026, tầm nhìn đến năm 2045. Hội nghị cũng đồng thời là diễn đàn để lắng nghe và là dịp cổ vũ, động viên các nhà văn hóa, trí thức, văn nghệ sĩ tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, thống nhất trong ý chí, hành động; liên kết các lực lượng làm công tác văn hóa, văn nghệ trong và ngoài nước tạo thành một mặt trận đồng lòng, dốc sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại, triển khai thắng lợi nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.