Thứ Ba, 14 tháng 12, 2021

CHỦ NGHĨA XÉT LẠI VÀ NHỮNG BIỂU HIỆN XÉT LẠI LỊCH SỬ Ơ NƯỚC TA!

      Bước vào đầu thế kỷ XXI, Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động đẩy mạnh trào lưu xét lại lịch sử thế giới, nhất là họ tập trung tấn công vào Học thuyết Mác - Lê Nin (MLN), xuyên tạc và phủ nhận tính khoa học và thực tiễn của Chủ nghĩa Mác, cho rằng Chủ nghĩa MLN là lỗi thời, lạc hậu, là ảo tưởng từ những tư tương không tưởng của các nhà Mác xít. Và chính vì không tưởng nên Chủ nghĩa xã hội (CNXH) đã tan rã và không còn hiện thực trên toàn thế giới. Cùng với đó họ đề cao tính ưu việt của Chủ nghĩa tư bản và khẳng định nó là xã hội tiến bộ, tốt đẹp nhất của nhân loại... nhằm che đậy cho những mâu thuẫn nội tại và tính chất phản động của Chủ nghĩa đế quốc.


Song song với việc đó họ quy tội Liên Xô là đồng lõa với Chủ nghĩa Phát xít gây ra cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, và bỉ ổi nhất là đã cướp công của Liên Xô, khẳng định Mỹ và đồng minh phương Tây mới là những nước quyết định đánh bại Chủ nghĩa Phát xít, cứu nhân loại thoát khỏi thảm họa diệt vong. Từ đó chĩa mũi nhọn cô lập, bao vây, cấm vận Nga; tiến hành chống phá các nước XHCN một cách quyết liệt nhằm làm suy yếu và phân rã nước Nga và các nước XHCN còn lại. 


Cùng với trào lưu đó trên thế giới, trong nước ta cũng đã dấy lên hiện tượng xét lại lịch sử một cách mạnh mẽ. Một số nhà sử gia đã từ bỏ phương pháp luận Mác xít họ núp dưới các quan điểm: khách quan, toàn thể, đứng giữa các bên, không phụ thuộc vào ý thức hệ... để từ đó cổ súy cho việc xem xét đánh giá lại các sự kiện, giai đoạn lịch sử, bổ sung, bổ khuyết các khoảng trống trong lịch sử...v.v... 


Từ những quan điểm đó họ từng bước thay đổi dần những nhận thức đã được khẳng định trong lịch sử. Gần đây nỗi lên một số vấn đề sau: Trước hết là nhân vật Nguyễn Ánh - Gia Long kẻ "rước voi giày mả Tổ, cõng rắn cắn gà nhà" bằng các cách biện giải họ đã biến nhân vật này thành một ông vua có công với đất nước vì đã đánh bại nhà Tây Sơn, thống nhất quốc gia... Khi được phóng viên hỏi: Nguyễn Ánh có tội hay không khi rước quân Xiêm vào xâm lược nước ta, ký Hiệp ước rước quân Pháp vào giúp đỡ để chống nhà Tây Sơn? Nhà sử học Phan Huy Lê đã trả lời một cách lập lờ ngụy biện rằng: "Trong những cuộc đấu tranh bên trong quyết liệt, việc nhờ đến ngoại viện là việc thường xảy ra trong lịch sử" (với cách lập luận đó thì rồi đây họ sẽ nói Trần Ích Tắc cũng không có tội và Lê Chiêu Thống cũng sẽ là người yêu nước, thậm chí Ngô Đình Diệm cũng không phải là kẻ bán nước...). 


Sau Nguyễn Ánh họ dấn tới bước nữa là tôn vinh hai kẻ bán nước là Phan Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký thành những người yêu nước (họ yêu nước theo cách của mình), danh nhân lịch sử và đã được rất nhiều địa phương đặt tên đường, tên trường. Họ phủ nhận thực tế là họ Phan đã đầu hàng giặc sau hai lần cắt 6 tỉnh Nam bộ dâng cho thực dân Pháp. Nhân dân Nam bộ hồi đó khí uất tận trời xanh "Phan, Lâm mãi quốc, triều đình khí dân"; họ xóa đi thực tế là cả cuộc đời từ lúc trưởng thành cho đến khi chết Trương Vĩnh Ký đã một lòng, một dạ làm tay sai và gián điệp cho thực dân Pháp. Oái ăm hơn, tại Hội thảo khoa học về sự kiện 160 năm thực dân Pháp xâm lược Việt Nam tại Đà Nẵng, Tổng thư ký Hội sử học Việt Nam Dương Trung Quốc đã công khai bào chữa cho thực dân Pháp là "Pháp không xâm lược Việt Nam mà chỉ mượn đường qua Việt Nam để đánh nhà Thanh". 


Cùng với những việc đó họ tấn công vào các biểu tượng anh hùng của dân tộc mà mở đầu là việc ông Phan Huy Lê công khai khẳng định anh hùng, liệt sĩ thiếu niên Lê Văn Tám là không có thật. Ông ta đã bịa ra chuyện nhà sử học, Bộ trưởng Trần Huy Liệu khi còn làm Bộ trưởng đã yêu cầu ông sau này có trách nhiệm đính chính câu chuyện Lê Văn Tám là không có thực, chỉ là hình tượng do cụ Trần Huy Liệu sáng tác ra để cổ vũ tinh thần yêu nước, kháng Pháp. Thậm chí khi bị các nhà khoa học, sử học chân chính lên án, vạch ra cái giả dối của ông Phan Huy Lê là khi cụ Trần Huy Liệu làm Bộ trưởng, ông Lê mới 11 tuổi làm sao gặp được cụ và cụ tiên đoán ông Lê sau này thành một nhà sử học để dặn dò như vậy. 


Cùng với những tư liệu, báo chí của ta và của Pháp đã khẳng đinh sự kiện này, ông Lê vẫn tìm mọi cách để phủ nhận anh hùng liệt sĩ Lê Văn Tám. Cùng với đó, họ phủ nhận tinh thần anh hùng của chị Võ Thị Sáu, của anh Tô Vĩnh Diện, của anh Nguyễn Văn Trỗi,... họ xuyên tạc đời tư của Bác Hồ, thậm chí ông Nguyễn Đình Đầu còn dám nói Bác Hồ không ra đi từ bến Cảng nhà Rồng, vì năm 1911 bến cảng này chưa có (trong khi đó Cảng nhà Rồng đã được đưa vào sử dụng từ năm 1864)... 


Gần đây nhất họ hướng và lái báo chí nước nhà khi nói về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thành cuộc chiến tranh Việt Nam, với dụng ý nói đây là cuộc nội chiến mà Mỹ chỉ là một bên tham chiến chứ không phải là kẻ xâm lược. Đặc biệt khi viết sử bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ XXI họ đã thay dần và chính thức công khai vào năm 2017 trong buổi họp báo công bố việc tái bản bộ Thông sử 15 tập của Viện Sử học. Ông Trần Đức Cường lúc đó là Viện trưởng Viện Sử học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã nói rõ trong Bộ sử này không dùng cụm từ "ngụy quân, ngụy quyền" khi viết về chế độ tay sai Sài Gòn với mấy lý do sau: để cho khách quan; để tránh miệt thị; để thực hiện hòa giải, hòa hợp dân tộc; để có cơ sở pháp lý đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa; sau năm 1954, ở Việt Nam có hai quốc gia song song tồn tại đó là Việt Nam dân chủ cộng hòa với thủ đô Hà Nội ở miền Bắc và Việt Nam cộng hòa với thủ đô Sài Gòn ở miền Nam. Có thể khẳng định tất cả lý do mà họ nêu ra đều là ngụy biện, phi khoa học, bởi vì họ không có bất cứ một tư cách nào để bỏ hai cụm từ này, khi họ chỉ là những người chép lại lịch sử của Dân tộc, lịch sử lúc đó Dân tộc ta đã gọi bọn tay sai bán nước là "ngụy quyền, ngụy quân", bỏ cụm từ này là phản bội lại lịch sử và dùng ý chí chủ quan của lớp hậu bối để thay cho sự thật khách quan, để rửa tội cho bọn tay sai. Ngày nay Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta chỉ có đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân tộc, việc hòa giải hòa hợp dân tộc đã giải quyết ngay từ sau ngày miền Nam giải phóng và thống nhất đất nước. 


Những luận điệu rất sai trái khi họ chia cắt đất nước thành hai quốc gia, họ đã đi ngược lại với Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa năm 1946 và truyền thống của cả dân tộc được đúc kết trong câu nói bất hủ của Bác Hồ: "Nước Việt Nam là một, Dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lý đó vẫn không bao giờ thay đổi". Thực chất là họ có ý đồ biến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thành cuộc nội chiến của hai miền Bắc - Nam... 


Trên các lĩnh vực khác cũng xuất hiện những quan điểm xét lại: Phủ nhận quá khứ trong lĩnh vực Văn học, nghệ thuật, Văn hóa, giáo dục...như cho rằng Văn học thời kỳ Cách mạng giải phóng dân tộc chỉ là văn học minh họa, phục vụ cho chính trị, không có giá trị nghệ thuật cao, hay như mới đây có quan điểm phủ nhận truyền thống "Tiên học lễ, hậu học văn" phủ nhận yêu cầu "trồng người" đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong câu: "Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người"... Tất cả những vấn đề trên đặt ra cho chúng ta một yêu cầu cần nhận rõ tác hại của chủ nghĩa xét lại và trào lưu xét lại lịch sử ở nước ta. Mục đích của họ là làm nhiễu loạn lịch sử, gây hoài nghi và đi đến phủ nhận sự thật một số sự kiện lịch sử, rửa tội cho một số nhân vật lịch sử, và làm cơ sở để từng bước đi đến đổi trắng thay đen phủ nhận thành quả của Cách mạng giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng ta. 


Nếu họ chính danh hóa bộ máy tay sai bán nước, khẳng định Ngụy quyền Sài Gòn là một chính quyền, một quốc gia độc lập thì cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trở thành cuộc nội chiến (cuộc chiến tranh Việt Nam) của hai miền Nam - Bắc và đế quốc Mỹ không phải là kẻ xâm lược và khi đó mọi sự thật lịch sử sẽ bị đảo lộn... Chúng ta cần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái này, nhằm bảo vệ sự thật lịch sử oai hùng của dân tộc. Bảo vệ lịch sử cũng là bảo vệ thành quả Cách mạng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình hiện nay./.


Ảnh: Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn, TCCT, QĐND Việt Nam.

Yêu nước ST.

VĂN HÓA VIỆT NAM VỪA LÀ CỘI NGUỒN VỪA LÀ ĐẶC TRƯNG CỦA CHÚNG TA CHỨ ĐỪNG DU NHẬP VĂN HOÁ NGOẠI LAI, KỆCH CỠM!

     Chúng ta có cả một nền văn hóa riêng biệt đa màu sắc song thể hiện tình thần và cốt cách của con người Việt Nam nhưng "Trong nửa tháng trở lại đây, cây hồng trăm năm tuổi ở thôn Khê Hạ, xã Ninh Xuân, huyện Hoa Lư (Ninh Bình) bất ngờ nổi tiếng, thu hút đông đảo du khách khắp nơi tới tham quan, chụp ảnh. Hàng loạt bộ ảnh check-in tại địa điểm này được các bạn trẻ chia sẻ rầm rộ trên mạng xã hội.

Cũng từ đây, việc nhiều bạn trẻ chọn mặc trang phục cổ trang Hàn Quốc để chụp ảnh với cây hồng cổ gây tranh cãi. Theo những bạn trẻ này, hình ảnh cây hồng trĩu quả nằm cạnh bức tường gạch phủ rêu phong, cánh cổng gỗ bạc màu "y hệt" như cảnh tượng trong các bộ phim cổ trang Hàn Quốc (?!).

Tôi thấy hình ảnh này đậm chất Việt Nam, là hình ảnh đặc trưng của làng quê Bắc bộ chứ đâu mang nét Hàn Quốc? Trang phục truyền thống Việt Nam rất đẹp sao các bạn không mặc? Đừng "râu ông nọ cắm cằm bà kia như vậy", một độc giả bày tỏ.

"Cây hồng rất đẹp. Tôi thì không phản đối việc các bạn trẻ mặc đồ Hàn Quốc nhưng mình có thể lựa chọn trang phục quê hương để vừa có ảnh đẹp vừa giới thiệu văn hóa nước nhà mà", một độc giả khác chia sẻ.

"Sao các bạn không thử mặc áo dài, nhật bình, tứ thân, cầm nón lá nhỉ?", một độc giả nêu ý kiến." Cảm thấy các bạn trẻ bây giờ đua theo "mốt" thật buồn với những suy nghĩ lệch chuẩn như vậy!

Yêu nước ST.

GIẶC LÀ ĐÂY!

Hỏi rằng giặc trốn nơi đâu?

Thưa rằng trước mặt chứ đâu xa nào!

Âm mưu phá hoại sử ta, 

Làm cho con cháu rời xa cội nguồn!



Yêu nước ST.

TIẾP TỤC TĂNG CƯỜNG ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI ÂM THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN MẠNG XÃ HỘI

Yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam là phải kết hợp chặt chẽ giữa "xây" và "chống", lấy xây dựng là chính, tích cực chủ động phòng, chống là quan trọng; kết hợp chặt chẽ giữa chủ động ngăn chặn, phòng ngừa với chủ động tiến công làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch.


Nền tảng tư tưởng của Đảng ta là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng ta khẳng định rõ: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng của Đảng”. Trong quá trình cách mạng, Đảng ta thường xuyên cảnh giác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng; đồng thời cũng đặt ra yêu cầu nâng cao nhận thức, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước, nên đã giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.


Nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là hệ thống quan điểm, nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường, biện pháp tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa nhằm giải phóng giai cấp công nhân, giải phóng dân tộc, giải phóng con người và là cơ sở vững chắc để Đảng đề ra chủ trương, đường lối lãnh đạo; là kim chỉ nam định hướng cho mọi hành động của mình. Nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được cấu thành bởi hai thành tố có mối quan hệchặt chẽ, khăng khít với nhau là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.


Thế giới mà chúng ta sống đang diễn ra những quá trình, những xu hướng quá độ mà sự vận động của nó là điều rất khó dự lường, tác động mạnh mẽ và sâu sắc, làm thay đổi toàn bộ đời sống nhân loại. Thế giới hiện nay vẫn đang quá độ từ trật tự thế giới cũ của thời kỳ chiến tranh lạnh sang trật tự thế giới mới, nhưng vẫn chưa được định hình rõ nét, đặc biệt trở nên rất khó đoán lường sau khi ông Joe Biden làm Tổng thống Mỹ. Thế giới cũng bắt đầu bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, (cách mạng công nghiệp 4.0), với sự phát triển vô cùng nhanh chóng, mà hiện nay chúng ta chưa có thể nắm bắt và tiên lượng hết mọi điều sẽ diễn tiến và hệ quả của nó đối với cuộc sống con người, mọi quốc gia dân tộc và cộng đồng nhân loại. Thế giới hiện nay lại đang chứng kiến sự nổi lên của chủ nghĩa dân tộc và dân túy, những nguy cơ phá vỡ nhiều luật lệ và tổ chức, thiết chế quốc tế tưởng như đã phát triển ổn định, bền vững của thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Thế giới vẫn đang phải đối mặt với sự gia tăng sức mạnh quốc phòng, quân sự, đặc biệt là sự ra đời nhiều loại vũ khí trang bị mới, kể cả vũ khí hạt nhân với những chính sách cực đoan của nhiều nước, đặc biệt là các nước lớn, các nước phát triển, treo lơ lửng trên đầu nhân loại nguy cơ xung đột, chiến tranh quy mô lớn, có thể bùng phát vào bất kỳ ở đâu và thời điểm nào.


Toàn bộ những quá trình, những xu hướng quá độ nêu trên đang vận động, biến đổi và phát triển nhanh chóng trong điều kiện mới của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, cách mạng công nghiệp 4.0, kinh tế tri thức và toàn cầu hóa phát triển hết sức mạnh mẽ và sâu rộng; phản ánh sâu sắc tính chất gay go, phức tạp mới của thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn cầu trong bối cảnh lịch sử mới. Những quá trình, những xu hướng đó tác động mạnh mẽ và ảnh hưởng vừa gián tiếp vừa trực tiếp đến nền tảng tư tưởng  và hoạt động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay.


Sự phát triển của mạng xã hội và sự lợi dụng không gian mạng chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch ảnh hưởng đến hoạt động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay... Đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến hoạt động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam, gây nhiều khó khăn đối với các đơn vị cung cấp thông tin, quản lý mạng xã hội hiện nay.


Thực tiễn hoạt động mạng xã hội & âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam


Mạng xã hội ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ, có thể phân thành hai loại: 


Thứ nhất, mạng xã hội của Việt Nam do các doanh nghiệp trong nước cung cấp và chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam. Ở Việt Nam không thiếu các mạng xã hội xưng danh là mạng xã hội Việt, nhưng rất ít trong số đó tồn tại được quá một năm trước khi phải khai tử. Các mạng xã hội Ở Việt Nam, đặc biệt là các trang mạng xã hội đã được cấp phép hoạt động phần lớn đều tuân thủ quy định của pháp luật hiện hành. Số ít trường hợp để xảy ra sai phạm và nội dung vi phạm chủ yếu là do thành viên chia sẻ, trao đổi các nội dung vi phạm về thuần phong mỹ tục, dung tục và phản cảm.


Thứ hai, mạng xã hội của nước ngoài, do các doanh nghiệp nước ngoài cung cấp xuyên biên giới vào Việt Nam, điển hình như: Facebook, Google, Youtube, Twitter, Microsoft... cung cấp vào Việt Nam, được người Việt Nam lựa chọn sử dụng nhiều nhất hiện nay là Facebook và Youtube. Theo báo cáo của Google, Việt Nam là một trong nhóm 10 nước có lượng người dùng Youtube vào loại cao trên thế giới. Cả hai loại mạng xã hội này đều hoạt dộng và cạnh tranh lẫn nhau ở Việt Nam.


Trong môi trường phát triển số hóa mạnh mẽ như ngày nay, mạng xã hội cũng như “con dao hai lưỡi”. Không thể phủ nhận tiện ích mà mạng xã hội đem lại cho con người trong đời sống hiện đại; thế nhưng, đây lại là một thế giới ảo, thật giả lẫn lộn, có những điều tốt nhưng có cả “thuốc độc”. Tính chất thật, giả lẫn lộn không chỉ trên phương diện cá nhân, đối với từng con người, mà còn đối với phương diện xã hội, càng đặc biệt trở nên nguy hiểm khi nó được sử dụng vào các hoạt động chính trị. Với khả năng tương tác và tính lan truyền nhanh, làm cho sự thật giả của những thông tin trên mạng xã hội càng trở nên nguy hiểm. Tuy nhiên, vấn đề không phải là cấm mạng xã hội, nhưng mạng xã hội bộc lộ nhiều mặt trái mà chúng ta cần phải hạn chế, quản lý, đặc biệt là sự lợi dụng mạng xã hội để công kích, chống đối Đảng, Nhà nước và chế độ. Một hệ thống luật pháp đầy đủ để quản lý và điều chỉnh hành vi những người sử dụng mạng xã hội và thiết bị trực tuyến là đòi hỏi bức thiết của tình hình.


Thực tế mạng xã hội ở nước ta hiện nay cho thấy, tình trạng mất an toàn thông tin mạng xã hội diễn biến rất phức tạp, mang tính phổ biến; ý thức bảo đảm an toàn thông tin của một số cá nhân, tổ chức trong sử dụng công nghệ thông tin chưa được đề cao; ý thức bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng của một số cán bộ, chiến sĩ, nhất là số chiến sĩ trẻ còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng tốt yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo đảm an toàn, an ninh mạng thông tin quốc gia, về giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng chưa thật đồng bộ, hiệu lực thi hành chưa cao… Các hành vi tiêu cực như: Tung tin giả mạo, phát tán tin xấu độc, xuyên tạc, bịa đặt, phát ngôn gây thù ghét... chủ yếu tồn tại trên các mạng xã hội nước ngoài do nhận thức của người sử dụng cho rằng mạng xã hội là môi trường ảo, nên có thể tự do phát ngôn, tự do thông tin mà không phải chịu trách nhiệm.


Mạng xã hội trở thành môi trường thuận lợi để thông tin xấu độc, gây hại, những phát ngôn thù ghét tràn lan; mức độ tác động đến xã hội ngày càng nghiêm trọng. Nhiều thông tin không chính thống trên mạng xã hội đã làm nhiễu loạn, ảnh hưởng rất nhiều đến công tác chỉ đạo, điều hành. Tuy nhiên, không thể chỉ ngăn cấm mạng xã hội bằng những mệnh lệnh hành chính, mà phải biết tận dụng mặt tích cực của nó để định hướng dư luận đến với cái đúng, cái tốt, đấu tranh với cái sai, cái xấu. Điều đó chỉ có thể được thực hiện khi cơ quan chức năng chủ động cung cấp thông tin chính xác, kịp thời đến với người dân. 


Trong tình hình mới, không gian mạng sẽ còn tiếp tục phát triển mạnh mẽ, các thế lực thù địch ngày càng lợi dụng để chống phá cách mạng nước ta, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong điều kiện đó, vấn đề bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng càng trở nên quan trọng và cấp thiết. Thông qua hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta, chúng còn triển khai hướng tiến công “mềm” thông qua việc đẩy mạnh việc sử dụng các mạng thông tin, mạng quốc tế để tuyên truyền chống phá cách mạng nước ta với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt khó lường. Trong đó đáng lưu ý là, việc Mỹ đang lợi dụng những cơ hội của toàn cầu hoá kinh tế để thực hiện chiến lược “Mỹ hoá" toàn cầu. Sự du nhập lối sống phương Tây từ việc mở rộng kết nối Internet đang thách thức sự kiểm soát của Nhà nước ta; sự suy giảm niềm tin vào chủ nghĩa xã hội, vào khả năng xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế; sự lẫn lộn về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, phai nhạt ý thức quốc gia dân tộc, suy giảm ý thức quốc phòng trong một bộ phận nhân dân, trước hết là một bộ phận trong thế hệ trẻ là không tránh khỏi.


Với phương châm lấy chống phá về chính trị, tư tưởng làm hàng đầu, kinh tế là mũi nhọn, ngoại giao làm hậu thuẫn, tôn giáo, dân tộc làm ngòi nổ, kết hợp với uy hiếp, răn đe, gây sức ép về quân sự, chúng triệt để lợi dụng những vấn đề "dân tộc", "tôn giáo", "dân chủ", "nhân quyền"…; kết hợp "diễn biến hoà bình" với bạo loạn lật đổ chống phá từ bên trong, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, khi cần thiết và có điều kiện thì phát động chiến tranh xâm lược quy mô lớn. “Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những diễn biến phức tạp”.


Đặc biệt, các thế lực thù địch sẽ đẩy mạnh tuyên truyền các luận điệu nhằm ca ngợi chủ nghĩa tư bản, cổ súy cho chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng. Chúng tuyên truyền rằng chủ nghĩa tư bản là chế độ xã hội cuối cùng của lịch sử loài người, hiện nay chủ nghĩa tư bản đã thay đổi bản chất, không còn là một xã hội áp bức, bóc lột nữa. Đồng thời, chúng cho rằng con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn là “mù mờ”, là “không tưởng”, hoặc cho rằng “chủ nghĩa nào, chế độ nào cũng được, miễn dân giàu, nước mạnh”. Chúng cố tình tách rời và đối lập độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội; đối lập một cách sai lầm chủ quyền dân tộc với ý thức hệ xã hội chủ nghĩa; tuyên truyền luận điệu thù địch cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ý thức hệ cao hơn chủ quyền dân tộc”…


Các thế lực thù địch thông qua việc phát tán các ấn phẩm, tài liệu sách, báo, băng hình trên các phương tiện thông tin, trên các trang mạng xã hội,... nhằm xuyên tạc, bôi nhọ cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng còn đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng Hồ Chí Minh chỉ là người theo chủ nghĩa dân tộc, chứ không lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa. Chúng vin vào một số khuyết điểm, sai lầm trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng, sự tha hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên đã làm cho cách mạng nước ta có lúc gặp khó khăn, đẩy mạnh tuyên truyền các luận điệu nhằm bôi xấu, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.


Được sự hậu thuẫn mạnh của các thế lực phản động bên ngoài, các phần tử cơ hội chính trị, chống đối ở trong nước tăng cường viết và phát tán các tài liệu đưa ra những luận điệu, quan điểm, sai trái phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên không gian mạng. Họ cho rằng, đã đến lúc phải xét lại cả những nguyên lý cơ bản có tính chất thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, những nguyên lý về giai cấp, đấu tranh giai cấp, lý luận về hình thái kinh tế - xã hội… Các thế lực thù địch đã và đang điều chỉnh một số vấn đề về chủ trương, giải pháp sử dụng các thủ đoạn “mềm, ngầm, sâu, điểm”, mở rộng địa bàn hoạt động, nhất là các địa bàn trọng yếu; tích cực móc nối, liên kết các nhóm, tổ chức phản động và tìm mọi cách xâm nhập vào nội bộ ta (nhất là các cơ quan lãnh đạo, chính quyền, đoàn thể) nhằm tạo dựng “ngọn cờ” chuẩn bị thời cơ gây bạo loạn, ly khai ở một số vùng hoặc nhiều vùng có tính chất độc lập để chia cắt nước ta, hy vọng tạo dựng nhà nước “tự do”, “độc lập” chịu sự chi phối của bên ngoài,... Phương thức chống phá của các thế lực thù địch hết sức đa dạng, có lúc lợi dụng sự công khai của báo chí, truyền thông, lợi dụng sự tự do tư tưởng; có lúc ngụy trang dưới nhiều hình thức, vỏ bọc tinh vi, đặc biệt là chúng triệt để lợi dụng mạng xã hội.


Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, internet đã trở thành không gian xã hội mới “không gian mạng” mang lại những cơ hội, vận hội mới để các quốc gia, dân tộc cùng nhau  hợp tác và phát triển. Các thế lực thù địch, phản động đang tận dụng những ưu thế vượt trội của công nghệ số, mạng xã hội để tuyên truyền những tư tưởng độc hại; thu thập thông tin, bí mật nhà nước, bí mật quân sự, phá vỡ niềm tin và cắt đứt sợi dây liên kết giữa Đảng với nhân dân; xuyên tạc, phủ nhận những thành quả cách mạng trong công cuộc đổi mới ở nước ta. Với sự phát triển rất sôi động và phong phú của mạng thông tin toàn cầu, thì đó lại là một "điều kiện", "thời cơ" thuận lợi để các thế lực thủ địch thực hiện âm mưu, thủ đoạn chống phá chủ nghĩa xã hội, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin, truyền thông hiện đại như báo chí, đài phát thanh đặt ở ngoài nước, internet, các trang mạng xã hội, các blog, tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng còn trực tiếp tiến công vào báo chí cách mạng nước ta, làm nhiễu mạng điện tử, tiến công vào những nhà báo cách mạng.


Sự chống phá của các thế lực thù địch, đặc biệt lợi dụng báo chí, mạng xã hội chống phá cách mạng nước ta, làm cho việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay gặp những khó khăn, thách thức mới. Trong Báo cáo gửi Bộ Ngoại giao Mỹ, Jon Aloisi (cựu Phó Đại sứ Mỹ tại Việt Nam) từng viết: “Thành công lớn nhất là đã thực hiện việc đưa vào Việt Nam mạng lưới internet. Đó là phương tiện hữu hiệu cho chiến dịch truyền bá các tư tưởng phương Tây nằm trong chiến lược nhằm thay đổi chính thể ở quốc gia này”.


Trong tình hình mới, “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam càng quyết liệt và nguy hiểm hơn. Cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam ngày càng phức tạp, khó khăn. Trong thời gian tới, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá, trong đó tập trung tuyên truyền, phủ nhận nền tảng tư tưởng, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là những thời điểm Quốc hội thông qua các văn bản pháp luật mới; phủ nhận thành quả cách mạng, vai trò lãnh đạo của Đảng; xuyên tạc chủ trương củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội; bóp méo sự thật lịch sử, bôi nhọ hình ảnh các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, quân đội; đả kích bản sắc văn hóa dân tộc; làm giảm sút lòng tin của nhân dân ta đối Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.


Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam là nhiệm vụ cấp bách hiện nay của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam là phải kết hợp chặt chẽ giữa "xây" và "chống", lấy xây dựng là chính, tích cực chủ động phòng, chống là quan trọng; kết hợp chặt chẽ giữa chủ động ngăn chặn, phòng ngừa với chủ động tiến công làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch.

Nguồn: dangconsan.vn

NHÓM 72 LÀ GÌ?


-----------

NHỮNG KẺ PHẢN ĐẢNG, PHẢN QUỐC, ĐÒI ĐA NGUYÊN ĐA ĐẢNG.! 


Đó là biệt danh không phải chỉ có cộng đồng mạng, mà của cả những người thân, đồng môn, đồng liêu và bạn hữu một thời đặt cho “Nhóm kiến nghị 72”. Trong nhóm này, có ông Nguyễn Đình Lộc (sinh năm 1935), ở huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An và từng là Bộ trưởng thứ hai của Bộ Tư pháp, giai đoạn 1992-2002. Thuộc thành phần cơ bản thời ấy và lại thông minh, ham học nên ông ta đã được cử đi đào tạo tại Liên Xô và có bằng phó tiến sĩ luật học. Sau khi về nước, ông ta được trọng dụng vào các vị trí quan trọng ở nhiều cơ quan khác nhau và là đại biểu Quốc hội các khóa VII (1981-1987), IX (1992-1997), X (1997-2002), XI (2002-2007). Và cũng như Nguyễn Đình Lộc, tất thảy những người trong nhóm này đều từng là cán bộ cấp cao hoặc trí thức có danh tiếng một thời ở các bộ, ngành của Trung ương và các trường đại học tại Hà Nội. Thế nhưng không bao lâu sau khi nghỉ hưu, cả Nguyễn Đình Lộc và những người trong nhóm này vì các lý do khác nhau đã nảy sinh bất mãn, cơ hội chính trị rồi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thành kẻ tự phản lại chính mình.


Vào ngày 4-2-2013, Nguyễn Đình Lộc với vai trò là người cầm đầu “nhóm kiến nghị 72”, gọi là “nhóm nhân sĩ, trí thức”, đã trao kiến nghị sửa Hiến pháp tại Văn phòng Ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Đây thực sự là nhóm chống Đảng, chống Nhà nước, gồm những cái tên cộm cán nhưng bất hảo như: Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ; Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội; giáo sư Hoàng Xuân Phú; nhà văn Nguyên Ngọc; giáo sư Tương Lai; Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội; Phan Hồng Giang, tiến sĩ khoa học, nhà nghiên cứu văn hóa, Hà Nội; Lê Công Giàu, nguyên Phó bí thư Thường trực Thành đoàn thành phố Hồ Chí Minh; Phạm Duy Hiển, giáo sư, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội; Huỳnh Tấn Mẫm, bác sĩ, đại biểu Quốc hội khóa VI, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước năm 1975...


Nhóm người này đã tự xưng trong bản kiến nghị, rằng: “…chúng tôi, những người Việt Nam ký tên dưới đây… nói lên ý kiến để nhân dân ta có một Hiến pháp bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ và sự phát triển bền vững của đất nước, mang lại tự do hạnh phúc cho các thế hệ hiện tại và tương lai…”. Tất nhiên là nhóm người này không quên gửi kèm bản “Dự thảo Hiến pháp 2013” - gọi là tài liệu để tham khảo, thảo luận. Điều muốn nói ở đây là trong nội dung của bản kiến nghị này, có nhiều quan điểm sai trái mà lâu nay một số người thuộc nhóm bất mãn chế độ, cơ hội chính trị, phản động ở cả trong và ngoài nước được sự “tiếp sức” của các thế lực cực đoan, thù địch sử dụng như là một chiêu bài hòng chống phá Đảng và Nhà nước ta. Theo đó, những nội dung chính của kiến nghị chống Đảng này là:


Thứ nhất, họ đưa ra yêu cầu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Điều 4 của Hiến pháp, với lý lẽ vừa hết sức ngụy biện vừa suy diễn một cách tùy tiện, vừa công kích nói xấu Đảng ta. Trong khi đó, thực tế lịch sử cách mạng Việt Nam từ ngày có Đảng lãnh đạo đã chứng minh rằng, chỉ có tổ chức tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam mới mang lại độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân. Hơn nữa, trong toàn bộ quá trình thực thi các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và Hiến pháp năm 1992, đều gắn liền với những thắng lợi vĩ đại do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Đây là sự thật lịch sử hoàn toàn không thể phủ nhận. Do vậy, việc đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Hiến pháp nếu xét về mặt đạo lý thuần túy thì đó là hành động vô ơn, bội nghĩa.


Thứ hai, họ đòi phân chia sự lãnh đạo duy nhất của Đảng, bằng cách yêu cầu thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, với lập luận “ru ngủ”, thậm chí là “mập mờ đánh lận con đen”, như: “Việc Đảng cầm quyền chấp nhận cạnh tranh chính trị là phù hợp với xu thế lịch sử, là điều kiện cho sự phát triển của đất nước, đáp ứng đòi hỏi của nhân dân, kể cả các đảng viên trung thực của Đảng Cộng sản Việt Nam trước bối cảnh hiện nay của đất nước”. Đúng là giọng điệu nói láo, bởi vì chẳng có nhân dân hay đảng viên nào chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, ngoài những kẻ hèn nhát và phản động như chúng. Vì thế, nếu những ai bản lĩnh chính trị không vững vàng, lại nhẹ dạ cả tin và mất cảnh giác thì rất dễ dàng sa vào cái bẫy của họ. Thực tế đã có một số cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, có tài sản không nhỏ đã bị mắc lừa và cuối cùng là thân bại, danh liệt. Chưa hết, có người chỉ vì ham cái “bánh vẽ” của bọn xấu để rồi phải ngồi tù vì tội phản dân, hại nước.


Thứ ba, nhóm này đòi phi chính trị đối với lực lượng vũ trang. Họ đưa ra lập luận hết sức đơn điệu và lạc lõng rằng: “Lực lượng vũ trang phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức nào như quy định tại Điều 70 của Dự thảo Hiến pháp năm 2013”. Từ chỗ lập luận điên rồ này, họ đã đi đến chỗ ngông cuồng bằng việc đưa ra tuyên bố: “Chúng tôi yêu cầu bỏ quy định lực lượng vũ trang phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam”. Đây quả là một đòi hỏi phi lý và vô cùng lố bịch. Vì, nếu không có lực lượng vũ trang tuyệt đối trung thành thì liệu đất nước Việt Nam có được như ngày nay không? Và bài học về tình hình đảo chính ở Myanmar hiện nay là bài học cho những ai còn mơ hồ về vai trò lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng đối với lực lượng vũ trang, cũng như sự trung thành tuyệt đối của lực lượng vũ trang đối với Đảng Cộng sản Việt Nam.


Đa nguyên chính trị, đa đảng lãnh đạo ắt sẽ xảy ra tranh giành quyền lãnh đạo và cuộc đảo chính ở Myanmar hiện nay, cũng như ở một số quốc gia trên thế giới thời gian qua vừa là bằng chứng vừa là bài học để nhân dân Việt Nam không chấp nhận đa đảng. Vì vậy, “nhóm kiến nghị 72” không đủ tư cách đại diện cho hơn 90 triệu người Việt Nam, mà chỉ là đại diện cho chính họ. Đó là những kẻ bất mãn với chế độ và cơ hội chính trị, rồi lại được các thế lực thù địch, phản động bơm thổi, dụ dỗ, kích động, lôi kéo, cổ xúy để thực hiện chiêu bài “diễn biến hòa bình”, “chiến tranh không tiếng súng” nhằm chống phá Đảng và Nhà nước ta, chống lại khát vọng xây dựng một nước Việt Nam độc lập, hòa bình, thịnh vượng của nhân dân ta.


Xin nhắc lại để mọi người đừng bao giờ quên rằng, những kẻ trở cờ, phỉ báng lịch sử, phản bội lý tưởng và dân tộc..., không bao giờ có kết cục tốt đẹp dù có chui xuống mồ. Luật đời là thế, đối với những kẻ như Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống ngày xưa và thời nay là Hoàng Văn Hoan, Trần Xuân Bách, Nguyễn Hà Phan, Trần Độ, Bùi Tín, Hoàng Minh Chính, Lê Hiếu Đằng, Nguyễn Trọng Vĩnh… thì nỗi nhục phản quốc cùng với tiếng nhơ muôn đời không bao giờ gột rửa được.!  

XT ST

HÌNH ẢNH BỘ ĐỘI CỤ HỒ!

Em luôn khâm phục các anh

Những người chiến sĩ hiền lành dễ thương

Xông pha trên khắp chiến trường

Vì yêu Tổ Quốc và thương đồng bào


Đời anh cực khổ gian lao

Pháo bom cày xới chiến hào đạn bay

Hiểm nguy đe dọa hàng ngày

Vẫn luôn súng chắc trong tay không rời


Hình ảnh đẹp lắm anh ơi

Những người mang lại cho đời tự do

Anh là Bộ đội Bác Hồ

Dân thương dân quý hoan hô đón chào


Trên đầu lấp lánh ngôi sao

Quân thù khiếp sợ đồng bào yêu thương

Khi rời tay súng chiến trường

Lại cùng xây dựng quê hương đẹp giàu


Dù cho bất cứ ở đâu

Bộ đội vẫn cứ đi đầu xông pha

Trong anh Tổ Quốc là nhà

Hôm nay cả nước cờ hoa chúc mừng./.


Yêu nước ST.

TỪ SUY THOÁI DẪN TỚI "TỰ DIỄN BIẾN", "TỰ CHUYỂN HOÁ" CHỈ LÀ MỘT BƯỚC RẤT NGẮN!

Bài học từ Liên Xô và Đông Âu là những ví dụ thực tiễn để Đảng ta luôn chủ trương phải tự xây dựng, tự chỉnh đốn và có giải pháp đấu tranh phòng, chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ từ rất sớm.

Tại hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XIII ngày 9/12 vừa qua, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp tục dành những lời “gan ruột” để nói với các đồng chí của mình về lý do phải thường xuyên xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trước hàng trăm nghìn đảng viên (thông qua 13.000 điểm cầu), phát biểu của người đứng đầu Đảng không chỉ mang tính chỉ đạo mà còn là những lời tự sự, trăn trở về sự trường tồn bền vững của Đảng - một Đảng có bề dày hơn 90 năm đồng hành và lãnh đạo đất nước đi qua rất nhiều thử thách, gian nan.

Trong bài phát biểu của mình, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng, dù nhiệm vụ xây dựng và chỉnh đốn Đảng được tiến hành thường xuyên, liên tục trong nhiều năm qua, “hầu như không có Đại hội nào và không mấy Hội nghị Trung ương không đề cập đến công tác xây dựng Đảng” song ông cũng rất buồn khi phải nói ra một thực tế rằng: Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí chiến đấu, đặc biệt là sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói không đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước.

Người lãnh đạo cao nhất đất nước một lần nữa nhấn mạnh nguy cơ từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với các biểu hiện như: phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng; sa sút về ý chí chiến đấu, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, hám quyền lực, tham nhũng, tiêu cực; bè phái, cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của dân.

“Từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, cơ hội, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và Dân tộc”- Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định.

Báo cáo của Ban Tổ chức Trung ương tại hội nghị này cho biết, nhiệm kỳ khóa XII, từ năm 2016- 2020, có hơn 25.000 đảng viên suy thoái hoặc có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” (chiếm 0,5% tổng số đảng viên) bị xử lý kỷ luật. 

Trong số gần 8.300 đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị bị xử lý kỷ luật, nhiều nhất là không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nói không đi đôi với làm, hứa nhiều, làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về nghỉ hưu...

Trong số hơn 15.000 đảng viên bị xử lý kỷ luật vì suy thoái đạo đức, lối sống thì nhiều nhất là “đánh bạc, rượu chè bê tha, mê tín, dị đoan", ủng hộ hoặc tham gia các tổ chức tôn giáo bất hợp pháp hoặc sa vào tệ nạn xã hội, vi phạm thuần phong mỹ tục, truyền thống văn hóa của dân tộc...

Năm 2021, tròn 30 năm Liên Xô sụp đổ. Các phương tiện truyền thông ở Việt Nam có nhiều bài viết về sự kiện này, rút ra nhiều bài học “xương máu” cho Việt Nam. Trong đó có bài học về “tự diễn biến, tự chuyển hóa” có nguồn gốc trực tiếp từ sự suy thoái. Bài viết trên Báo Quân đội Nhân dân cuối tháng 10 vừa qua có đoạn: “Nạn tham nhũng, độc quyền, đặc quyền, đặc lợi trong đội ngũ cán bộ tràn lan, làm suy thoái cán bộ, người dân mất lòng tin, dẫn đến sự sụp đổ nhanh chóng của “toà thành trì” kiên cố, vĩ đại. GS, TSKH Vladimir Kolotov, Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh thuộc trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Saint Petersburg (Liên bang Nga) nhận định: Liên Xô bị sụp đổ vì thua trong cuộc chiến tham nhũng, vì cán bộ thoái hóa, biến chất".

Bài học từ Liên Xô và Đông Âu là những ví dụ thực tiễn để Đảng ta luôn chủ trương phải tự xây dựng, tự chỉnh đốn và có giải pháp đấu tranh phòng, chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ từ rất sớm.

Ngày 25/10 vừa qua, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm thay thế cho quy định cũ. Một điểm rất mới trong Quy định 37-QĐ/TW là nghiêm cấm đảng viên: Xuyên tạc, phủ nhận, phản bác Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; không chấp hành các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; không thực hiện trách nhiệm nêu gương; sa vào chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi; "tư duy nhiệm kỳ", đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa rời quần chúng

Mặc dù coi những quy định trên như “biệt dược” để đặc trị những các loại bệnh phát sinh trong “cơ thể” Đảng, song, Tổng Bí thư cho rằng, quan trọng nhất vẫn là khâu thực hiện. Mỗi đảng viên phải tự soi, tự sửa, tự “gột rửa” mình. Mọi đảng viên đều phải làm như vậy, chứ không phải chỉ đứng ngoài mà "phán", hoặc "chờ xem", coi như mình vô can. 

Rõ ràng, việc ban hành những quy định, chỉ thị, kết luận có đầy đủ bao nhiêu mà không ngấm, không thấm vào đội ngũ cán bộ, đảng viên thì sự suy thoái sẽ khó ngăn chặn. Việc xử lý kỷ luật hàng ngàn, hàng vạn đảng viên thời gian qua, nhất là những đảng viên giữ trọng trách trong bộ máy lãnh đạo đã thể hiện quyết tâm rất lớn của Đảng. Khó mấy cũng làm. Ai không tự soi, tự sửa, tự “gột rửa” thì sẽ bị loại ra khỏi đội ngũ. Cái giá phải trả là rất đắt.

Để có một "cơ thể" khỏe mạnh, Đảng không có cách nào khác!

Môi Trường ST.

BÁC HỒ VỚI BỘ TRƯỞNG GIÁO DỤC NGUYỄN VĂN HUYÊN!

      Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên (1908 - 1975) là người Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp hai bằng cử nhân và bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ văn khoa bộ môn sử - địa tại Đại học Tổng hợp Sorbone (Pháp) năm 26 tuổi. Sự kiện này khiến vị Chủ tịch Hội đồng giám khảo của nhà trường đã phải thốt lên: “Đây là sự kiện lớn lao đáng ghi nhớ trong lịch sử Trường Đại học Sorbone!”. Sau khi đỗ Tiến sĩ, ông Huyên nghĩ ngay tới việc trở về nước và: “Nhất định không làm quan, chỉ dạy và nghiên cứu khoa học”.

Thoạt đầu, ông dạy ở trường Bưởi rồi làm ở Viện Viễn Đông Bác Cổ và tham gia Hội đồng nghiên cứu khoa học Đông Dương, đồng thời bắt đầu xây dựng bộ môn lịch sử văn minh Việt Nam. Với nhiệt tình và lòng say mê đối với nền văn hoá dân tộc, trong 10 năm liên tục, ông đã hoàn thành 45 công trình nghiên cứu khoa học có giá trị, đặc biệt là cuốn Văn minh Việt Nam xuất bản năm 1944. Trước cảnh đổ nát, hoang phế của Văn Miếu - Quốc Tử Giám, di tích Trường Đại học đầu tiên của Việt Nam, ông Nguyễn Văn Huyên đã viết bài kêu gọi trên báo Tri Tân số tháng 10/1944: “…Văn Miếu không phải của riêng tỉnh Hà Đông, không phải của Hà Nội mà là của toàn quốc, không phải của riêng phái cựu học hay tân học mà là của hết thảy người Việt Nam vì đó là di tích của các bậc tiền bối có quan hệ đến cuộc sống văn hoá nước nhà”. Tên tuổi và uy tín của ông rất được vị nể trong giới trí thức và con đường quan lộc của ông cũng vì thế mà có nhiều thay đổi bất ngờ. 


Năm 1938, Nguyễn Văn Huyên đã tham gia Ban Trị sự Hội truyền bá quốc ngữ, một cuộc vận động do Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương. Khi cuộc Cách mạng Tháng Tám diễn ra, chiều 22/8/1945, Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên đã cùng ba nhà trí thức nổi tiếng ở Hà Nội là Nguyễn Xiển, Nguỵ Như Kon Tum và Hồ Hữu Tường đứng tên dưới một bức điện gửi Hoàng đế Bảo Đại nêu rõ: “Một Chính phủ nhân dân lâm thời đã thành lập. Chủ tịch là cụ Hồ Chí Minh. Yêu cầu vua thoái vị ngay để củng cố và thống nhất nền độc lập của nước nhà”. Sau ngày độc lập, ông đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao giữ chức Tổng Giám đốc Vụ Đại học Bộ quốc gia Giáo dục kiêm Giám đốc Viện Viễn Đông Bác Cổ. Đúng 9h sáng ngày 15/11/1945, tại Hà Nội đã diễn ra lễ khai giảng khoá đầu tiên của trường Đại học Việt Nam gồm 5 ban: Y khoa, khoa học, văn khoa, chính trị - xã hội và mỹ thuật tại 19 Lê Thánh Tông. Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều vị trong Chính phủ lâm thời đã đến dự. Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên đọc diễn văn khai mạc nêu rõ: “Buổi lễ hôm nay anh em Giáo sư và sinh viên chúng tôi muốn là một dịp để tỏ cho thế giới biết, trong giờ phút nghiêm trọng này của tiền đồ Tổ quốc, dân tộc Việt Nam, ngoài công cuộc đấu tranh bằng xương máu trên chiến địa, còn nỗ lực tham gia vào công cuộc tiến triển văn hoá của nhân loại…”. Ngày 9/2/1946, cũng tại Hà Nội, Bảo tàng Quốc gia mở cửa triển lãm lịch sử- văn hoá dân tộc do Giám đốc Nguyễn Văn Huyên và các cán bộ Viện Bác Cổ tổ chức. Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều vị trong Chính phủ đã đến dự và chụp ảnh kỷ niệm với anh em cán bộ của Viện.

Tuy không nhận mình là một nhân tài nhưng GS.TS Nguyễn Văn Huyên rất vui sướng nhận thấy rằng ông và các trí thức thời thuộc Pháp đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh trọng dụng, dìu dắt với “một sự quan tâm liên tục, cụ thể và hết sức đặc biệt”. Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên tiếp tục được Hội đồng Chính phủ (HĐCP) cử tham dự hai cuộc hội nghị lịch sử có quan hệ đến vận mệnh đất nước: Ông là thành viên trong Ban cố vấn Hội nghị Đà Lạt và thành viên trong phái đoàn ta dự Hội nghị Fontainebleu tại Pháp. Cũng đúng hôm rời Hà Nội sang thăm chính thức Pháp, tại sân bay Gia Lâm, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp một cháu nhỏ chừng 4 tuổi trong những người đi tiễn, Người vui vẻ bế cháu một lúc khi biết đó là con gái bố Huyên, tên là Hiếu. (Trong những năm đầu cuộc kháng chiến, cháu Hiếu bị ốm liệt giường vì bệnh lao xương. Chủ tịch Hồ Chí Minh biết tin đó cho người tìm thuốc và cao uống giao cho GS.TS Nguyễn Văn Huyên đem về chạy chữa cho bé Hiếu. Mỗi lần họp HĐCP, người lại hỏi thăm sức khoẻ cháu Hiếu. 


Đến năm 1953, biết tin cháu Hiếu khỏi bệnh và được cử sang nước bạn học tập cùng một số thiếu nhi khác, Bác Hồ đã gửi GS.TS Nguyễn Văn Huyên một hộp sữa và một miếng vải làm quà cho cháu, Người cũng dặn: “Chú bảo cụ may gấp cho cháu một cái áo bằng mảnh vải này nhé!”. Sau khi về lại Thủ đô, một lần các cháu ngoan Bác Hồ được vào Phủ Chủ tịch gặp Người. Khi hỏi chuyện, thấy một cháu thưa: “Cháu là con bố Huyên”, Người đã ôm hôn và âu yếm hỏi: “Có phải cháu là Hiếu không?”). Sau chuyến đi Pháp trở về, đầu tháng 11/1946, GS.TS Nguyễn Văn Huyên bất ngờ nhận được danh thiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh mời đến Phủ Chủ tịch bàn công việc. Trước đó, Hồ Chủ tịch đã cho mời GS Nguỵ Như Kon Tum - Giám đốc Trung học Vụ đến gặp và ngỏ ý muốn giao cho ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Giáo dục, nhưng GS Kon Tum xin từ chối nhiệm vụ vì: “Bộ trưởng Giáo dục phải là người có chuyên môn sâu rộng về khoa học xã hội và nhân văn thì quản lý, sáng tạo mới tốt. Tôi là người làm khoa học tự nhiên, e khó hoàn thành được nhiệm vụ”. Nghe vậy, Hồ Chủ tịch đề nghị GS tiến cử người khác, ông trả lời ngay rằng: “Người làm Bộ trưởng Giáo dục tốt nhất là GS-TS Nguyễn Văn Huyên”. 


Sau đó, Hồ Chủ tịch tham khảo ý kiến đồng chí Võ Nguyên Giáp và cũng nhận được sự ủng hộ như vậy, Người mời GS.TS Nguyễn Văn Huyên đến để thuyết phục ông nhận chức Bộ trưởng Bộ quốc gia Giáo dục, Người nói: “Tôi thấy chú chăm chỉ, có đạo đức nên đã giới thiệu với đoàn thể và được chấp nhận”. Thế là GS.TS Nguyễn Văn Huyên bắt đầu nhận chức Bộ trưởng Giáo dục trong Chính phủ kháng chiến từ ngày 3/11/1946, vào năm 38 tuổi. Ngày 28/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 225 cử ông Hồ Đắc Di giữ chức Tổng Giám đốc Đại học Vụ thay ông Nguyễn Văn Huyên và ông Nguỵ Như Kon Tum giữ chức Đổng lý sự vụ Bộ quốc gia Giáo dục. Chỉ một tháng sau khi nhận chức, GS.TS Nguyễn Văn Huyên đã cùng Chính phủ bước vào cuộc trường kỳ kháng chiến. Sự nghiệp giáo dục vẫn tiếp tục cùng với cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ. Ngày 6/10/1947, tại làng Ải bên con ngòi Quẫng, Trường Y tổ chức khai giảng năm học mới, Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên chủ toạ buổi lễ này, nhưng đúng một ngày sau, quân Pháp đã ồ ạt tấn công lên Việt Bắc, các cơ quan được lệnh lên bè nứa, rời đến làng Bình ở gần rừng, chờ đến khi quân địch rút đi mới quay về địa điểm cũ. Hình ảnh của vị Bộ trưởng Giáo dục được ghi lại trên những nẻo đường Việt Bắc: “Với chiếc balô gọn nhỏ, một chiếc xe đạp cà tàng, một trí tuệ uyên bác ẩn trong một sức vóc không mấy cường tráng, vị Bộ trưởng ấy đã ngang dọc trên nhiều làng bản xa xôi, hẻo lánh cùng các cộng sự đem mầm tri thức và ánh sáng văn hoá đến cho đồng bào…”. 

Trong suốt những năm kháng chiến, hệ thống giáo dục của ta vẫn phát triển trong muôn vàn khó khăn, vất vả. Từ các lớp bình dân học vụ đến giáo dục phổ thông, trung học chuyên nghiệp, đại học đều mở rộng, năm 1950 đã có 10 triệu người được xoá mù chữ, học sinh phổ thông tăng lên 44 vạn. Tính đến 1954, nền giáo dục trong vùng giải phóng có nhiều tiến bộ hơn từ khi có chính sách cải cách, số học sinh phổ thông tăng 1 triệu, hàng nghìn cán bộ kỹ thuật được đào tạo, một số lớn sinh viên, cán bộ được gửi đi đào tạo ở nước ngoài.. 


Tuy vậy, trong những năm làm Bộ trưởng, mọi khó khăn về vật chất đều được khắc phục, nhưng một số khó khăn về tinh thần không ít lần làm Nguyễn Văn Huyên nản chí. Trong công tác, vì là trí thức không phải đảng viên cộng sản nên ông gặp nhiều trở ngại trên cương vị quản lý, một số người có chức trách còn tỏ thái độ phân biệt đối xử. Đã có lần ông Dương Xuân Nghiêm - khi đó là Vụ phó Vụ Tổ chức cán bộ của Bộ - đã lặng cả người khi nghe ông chất vấn dồn dập: “Thế nào là Đảng đoàn? Đã có Bộ trưởng, Thứ trưởng tại sao lại cần có Đảng đoàn? Đảng đoàn bao gồm tất cả các Thứ trưởng là Đảng viên, thêm 1 hay 2 thành viên khác phụ trách các Vụ quan trọng. Thế thì Đảng đoàn bàn những việc gì? Tại sao tôi là Bộ trưởng mà lại không được biết những gì Đảng đoàn bàn và quyết định...?”. Dẫu vậy, cái tiếng chưa phải là đảng viên của ông Bộ trưởng cũng không tránh khỏi lời “ì xèo” rằng: Phải là đảng viên mới có thể lãnh đạo được quần chúng. Nghe được những điều này, ông đã rất trăn trở và đi đến quyết định... xin thôi giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Lý do của ông là vì... chưa phải là đảng viên nên có thể gặp khó khăn trong công tác chỉ đạo ngành, nên xin để người khác giữ chức vụ quan trọng này! 


Và ông gửi thư lên Chủ tịch Hồ Chí Minh xin thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Giáo dục để làm công tác chuyên môn. Nhận được lá đơn ấy, ngay lập tức, Hồ Chủ tịch đã gặp ông, ân cần giải thích và khuyên ông cứ tiếp tục công việc: “Chú đã làm việc rất tốt, điều đó chứng tỏ không phải cứ phải là đảng viên thì mới làm việc hiệu quả. Vấn đề cốt yếu là có tư tưởng yêu nước thương dân, có phương pháp làm việc đúng, nhiệt tình và công tác tích cực thì sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ. Chú có đủ những yếu tố đó, vì vậy Bác khuyên chú cứ tiếp tục giữ trọng trách mà Chính phủ giao. Đây cũng là chú làm việc vì dân vì nước”, Người nhấn mạnh: “Không cốt là đảng viên cộng sản hay không đảng, mà cốt là làm việc có tốt hay kém, có hiệu quả hay không hiệu quả, điều đó mới quan trọng”. Nghe lời Hồ Chủ tịch, ông vẫn tiếp tục đảm trách chức vụ Bộ trưởng. Sau đó, Hồ Chủ tịch đã cho gọi một số đảng viên lãnh đạo của ngành giáo dục đến gặp Người để nhắc nhở, phê bình họ về một bài học vỡ lòng mà Mác đã dạy: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Đảng viên chỉ là số ít, người ngoài Đảng thì hàng triệu, hàng chục triệu, đoàn kết với nhau mới đưa cách mạng đến thắng lợi”. 

Năm 1960, chi bộ văn phòng Bộ Giáo dục nhất trí đề nghị kết nạp ông Nguyễn Văn Huyên vào Đảng. Đề nghị đã được Đảng uỷ cơ quan Bộ Giáo dục và Đảng uỷ Dân chính văn phòng Trung ương đồng ý. Nhưng khi thông qua Ban Bí thư, Hồ Chủ tịch góp ý rằng: “Để chú Huyên ở ngoài Đảng có lợi hơn là ở trong Đảng”. Biết tin này, ông Huyên rất xúc động, bởi không ai hiểu rõ tấm lòng ông hơn Hồ Chủ tịch: Dù ở cương vị nào, tổ chức nào cũng suốt đời làm việc vì lợi dân, ích nước. Suốt 30 năm giữ chức Bộ trưởng Bộ Giáo dục cho đến khi qua đời vào tháng 10/1975, ông liên tục là Đại biểu Quốc hội các khoá II- III- IV- V, là Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và ông cũng là một vị Bộ trưởng giữ chức vụ lâu nhất, đi cùng hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc cho đến ngày thắng lợi./.

Môi Trường ST.

Cần tiếp tục đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là xu hướng chính trị tiêu cực, phản cách mạng, xa rời mục tiêu, lý tưởng, định hướng chính trị; dao động, mơ hồ, mất phương hướng, thực chất là sự biến đổi về tư tưởng chính trị theo chiều hướng xấu dần, từng bước xa rời mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng hiện nay sẽ góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi và đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống. “Tự diễn biến” là quá trình tự biến đổi bên trong của sự vật theo một chiều hướng nhất định; “Tự chuyển hóa” dùng để chỉ quá trình tự biến đổi của sự vật, hiện tượng sang một cấu trúc, một dạng tồn tại, một chất mới. “Tự diễn biến” được hiểu là sự suy thoái, biến chất về tư tưởng chính trị, về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; “tự chuyển hóa” là sự biến đổi về lập trường, quan điểm, tư tưởng, thái độ, hành vi, lối sống của cán bộ, đảng viên theo hướng đối lập với trạng thái ban đầu. Trong đó, “tự chuyển hóa” là hệ quả tất yếu, sự nối tiếp của quá trình “tự diễn biến”, là quá trình biến đổi về chất các quan điểm, tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một tổ chức và cá nhân. Thuật ngữ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được đề cập trong các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng đánh dấu bước chuyển trong tư duy của Đảng về sự nhận diện một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ chính trị ở nước ta. Theo đó, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là quá trình thay đổi từ bên trong của mỗi chủ thể theo chiều hướng xấu, từ đúng sang sai, từ tốt sang xấu, từ tích cực sang tiêu cực, từ tiến bộ sang phản tiến bộ… nếu không ngăn chặn hiệu quả, khắc phục kịp thời sẽ dẫn đến tha hóa, biến chất. Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên thì “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là một quá trình tự vận động, thay đổi từ nhận thức đến hành động của chủ thể, từ lựa chọn chế độ XHCN sang lựa chọn chế độ tư bản chủ nghĩa. Quá trình này chịu sự tác động, chi phối của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan, trong đó nhân tố chủ quan là chủ yếu. Quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đều dẫn đến các mục tiêu, kết quả như: phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực tế trong những năm qua cho thấy bên cạnh mặt tích cực là chủ yếu thì công tác tổ chức, cán bộ và quản lý cán bộ, đảng viên còn yếu kém. Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có một bộ phận người đứng đầu cơ quan, đơn vị chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu. Tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi mang tính hình thức; vẫn còn tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm; một số cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ được giao. Tình trạng quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn xảy ra, trong đó tập trung vào số đảng viên có chức vụ, quyền hạn trong bộ máy nhà nước. Nhiều tổ chức, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nguyên nhân của tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là do một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài. Sự chống phá quyết liệt, nhất là hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch cũng là nguyên nhân quan trọng dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng. Nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, Nghị quyết Đại hội ĐBTQ lần thứ XI của Đảng đánh giá: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp". Vấn đề đặt ra hiện nay là phải kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và đảng viên, củng cố niềm tin của đảng viên và của Nhân dân đối với Đảng. Nghị quyết Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII của Đảng một lần nữa chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”… Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí ở một số địa phương, bộ, ngành chưa có chuyển biến rõ rệt; công tác phòng ngừa tham nhũng ở một số nơi còn hình thức”. Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thực sự là vấn đề cấp bách đối với sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Đây không chỉ là đợt sinh hoạt chính trị thường xuyên nhằm quán triệt, triển khai nghị quyết của Trung ương mà còn có ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt như một đợt “chỉnh huấn”, “chỉnh Đảng” mà Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn. Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về các văn kiện trình Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII của Đảng đã nhấn mạnh: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, thường xuyên củng cố, tăng cường đoàn kết trong Đảng và hệ thống chính trị; thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng, thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; hoàn thiện cơ chế kiểm soát chặt chẽ quyền lực; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, ‘tự chuyển hóa” trong nội bộ; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí”.

CỐT LÕI THIÊNG LIÊNG

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc xây dựng mối đoàn kết trong Đảng, đoàn kết toàn dân. Tư tưởng của Người về đại đoàn kết dân tộc là một cống hiến đặc sắc, có giá trị lý luận và thực tiễn hết sức quan trọng.

Quán triệt tư tưởng đó, Đảng ta đã dẫn dắt toàn dân thực hiện thành công các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, giành những thành tựu quan trọng có ý nghĩa lịch sử cả về kinh tế, văn hóa, xã hội trong thời kỳ đổi mới. Đất nước giữ vững ổn định chính trị, trật tự an ninh được bảo đảm, đời sống nhân dân được cải thiện. Nhờ đoàn kết nên mọi công việc của đất nước đều được nhân dân đồng thuận, tham gia rộng rãi, nhiệt tình và mang lại kết quả tốt đẹp.

Đặc biệt, trong thử thách vô cùng khó khăn của đại dịch Covid-19 hiện nay, mối đại đoàn kết toàn dân đã và đang được thể hiện vô cùng phong phú và sinh động. Đó là lớp lớp thầy thuốc tình nguyện vào tâm dịch, là các lực lượng bộ đội, công an ngày đêm trực chốt, giúp dân; cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc chống dịch và san sẻ yêu thương với đồng bào... Tình đoàn kết, nghĩa đồng bào trở nên gắn bó, thiêng liêng hơn bao giờ hết, tạo thành sức dân cuồn cuộn vượt qua mọi thử thách.  

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII cũng đã nêu mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn tới “phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp sức mạnh thời đại”. Tại tỉnh ta, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII cũng đã đưa đoàn kết vào chủ đề Đại hội, nay cụ thể hóa bằng các chương trình cụ thể, điển hình là việc “ba cùng” với nhân dân đang diễn ra tại khắp các cơ quan, đơn vị, các miền quê trong tỉnh.

Mới càng thấm thía, việc tăng cường đoàn kết là yếu tố cốt lõi, thiêng liêng tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân; để vững vàng vượt qua khó khăn thử thách, nâng cao hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Nguồn TK-ST

Cán bộ, đảng viên phải biết tự bảo vệ lấy mình để ngăn chặn các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự suy thoái”

Lênin từng dạy “một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự bảo vệ”. Để ngăn chặn các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay, chúng ta phải xác định rõ các mức độ biểu hiện, các nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những mức độ biểu hiện đó trong đội ngũ cán bộ, đảng viên thông qua việc “tự soi”; trên cơ sở đó đề ra các biện pháp khắc phục. Trong giai đoạn hiện nay, việc phòng, chống quan liêu, tham nhũng, khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên được xem như là nội dung, yêu cầu quan trọng trong vấn đề tự bảo vệ, nhằm ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự suy thoái” . Bởi vì, có khắc phục hiệu quả tình trạng quan liêu, tham nhũng, suy thoái mới làm cho mỗi đảng viên và tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh hơn, có sức đề kháng cao hơn trước các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng, đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên là công việc rất khó khăn, phức tạp, vì nó liên quan đến xây dựng tổ chức, xây dựng con người, là công tác con người, dễ đụng chạm đến danh dự, lợi ích, quan hệ của con người. Do vậy, yêu cầu đặt ra là, mỗi cán bộ, đảng viên phải biết tự bảo vệ lấy mình; phải nâng cao trình độ năng lực, lập trường cách mạng, bản lĩnh chính trị. Không ai có thể làm thay sự nỗ lực quyết tâm phấn đấu của từng cán bộ, đảng viên. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là vấn đề đặc biệt nguy hiểm đối với sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Nhưng nó có phát triển đến mức nào, có làm biến chất đội ngũ cán bộ, đảng viên, biến chất Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta được hay không, điều đó phụ thuộc vào chính chúng ta, vào khả năng đề kháng của mỗi cán bộ, đảng viên, khả năng tự bảo vệ và sức mạnh của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Có thể khẳng định rằng, trong tình hình hiện nay, không thế lực nào có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta. Mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức cơ sở đảng, mỗi cơ quan, đơn vị cần phải tập trung nâng cao khả năng tự bảo vệ, kết hợp chặt chẽ giữa bảo vệ với xây dựng, xây dựng phải gắn với bảo vệ, bảo vệ phải nhằm mục đích phát triển tốt hơn. Không để vì một lý do nào đó rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, phai nhạt mục tiêu lý tưởng, đi ngược lại con đường cách mạng của Đảng, của dân tộc.

Giải pháp lấy dân làm gốc kết hợp với xây dựng đội ngũ làm công tác lý luận trên địa hạt không gian mạng.

 

Chúng ta luôn tâm niệm phải lấy dân làm gốc, vậy “dân” trên không gian mạng có phải là gốc không? Dù trong tình huống nào đi nữa, nhất là trên không gian mạng, chúng ta càng cần phải tuân thủ nguyên tắc “lấy dân làm gốc”, nghĩa là chúng ta cần cần có sự ủng hộ của những người quản trị (Admin), người điều hành (Smod), người điều tiết (Moderator), người gây ảnh hưởng (Kol),… cũng như của toàn thể cư dân mạng. Chúng ta cần phải luôn tôn trọng địa vị cao nhất của nhân dân, tin tưởng và dựa vào quần chúng nhân dân trên không gian mạng. Vấn đề cốt lõi của công tác tư tưởng trực tuyến là cách đối xử với quần chúng trên không gian mạng. Chúng ta nói lên tiếng nói của người dân, bênh vực nhân dân, đứng về phía quyền lợi của nhân dân thì nhân dân sẽ tin yêu chúng ta, bảo vệ chúng ta.

Không gian mạng có tính mở, vì vậy, nếu chúng ta không chiếm lĩnh mạng thì những người khác cũng sẽ chiếm lĩnh; hơn nữa, điều hết sức nguy hiểm là địa hạt này bị bỏ trống, trong khi nó có những ưu thế rất lớn như đã nói ở trên. Trong tình huống như vậy, tính hiệu quả của công tác tư tưởng, lý luận chắc chắn sẽ ảnh hưởng đáng kể. Do đó, chúng ta cần phải chủ động chiếm lĩnh không gian mạng, tăng cường sức ảnh hưởng của hệ tư tưởng chính thống bằng các hoạt động tuyên truyền, giáo dục tư tưởng đối với cư dân mạng.Cư dân mạng có cả người dân lẫn cán bộ, đảng viên. Đối với nhân dân, công tác giáo dục tư tưởng, chính trị cho nhân dân cần gắn với giáo dục lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, lịch sử, văn hóa, tình cảm, đạo đức. Đối với cán bộ, đảng viên, cần tăng cường giáo dục lý tưởng, niềm tin và quan trọng hơn là nâng cao nhận thức về các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cán bộ, đảng viên không những không được có những biểu hiện trái với quan điểm của Đảng, mà còn phải có trách nhiệm và nghĩa vụ tuyên truyền, bảo vệ quan điểm của Đảng trên không gian mạng.

Định hướng tư tưởng bằng công tác lý luận không thể tách rời việc xây dựng đội ngũ những người làm công tác lý luận. Định hướng tư tưởng, lãnh đạo dư luận bằng chuyên gia và học giả là xu thế tất yếu. Mối quan hệ biện chứng giữa “xây” và “chống” chính là thể hiện ở đây. Những người làm công tác tư tưởng, lý luận trên không gian mạng đòi hỏi phải có tầm cao của tư tưởng, độ sắc nét của các nhận định, đánh giá và độ vững chắc của lý luận. Giống như Bác Hồ trước đây nói ai cũng hiểu, ai cũng thấm thía, những người làm công tác tư tưởng, lý luận cũng phải học theo phương pháp diễn ngôn đó. Nói một cách hình ảnh, lý luận không chỉ như một món ăn cầu kỳ dành cho khách sành ăn trong nhà hàng sang trọng, mà cần thiết hơn, nó còn phải là món ăn đường phố cho người lao động, món ăn hàng ngày trong mỗi gia đình. Những vấn đề lý luận mà quần chúng quan tâm cần được giải thích rõ ràng, cặn kẽ bằng ngôn ngữ của quần chúng; người làm lý luận phải nắm vững cách nói của quần chúng, sử dụng ngôn ngữ sinh động, gần gũi với nhiều hình thức đa dạng để dễ được quần chúng chấp nhận, để lý luận thực sự bén rễ và đi vào suy nghĩ,cũng như trở thành hành động cụ thể, thiết thực của người dân.

Thực tiễn cần được tổng kết, đúc rút kinh nghiệm; vì vậy, một đặc thù của hoạt động tư tưởng, lý luận là không thể nhanh chóng có kết quả như một số hoạt động thực tiễn khác. Sáng tạo lý luận là một hoạt động đặc biệt, đòi hỏi phải có thời gian. Immanuel Kant, một trong những triết gia vĩ đại nhất thế giới, cả đời chỉ đọc sách và nghiên cứu, thế mà cũng phải đến khi ông 57 tuổi mới có thể cho ra mắt cuốn Phê phán lý tính thuần tuý, một trong bộ ba tác phẩm phê phán nổi tiếng của ông. Bản thân C.Mác cũng mất 20 năm để viết cuốn Tư bản, song vẫn chưa thể hoàn thành. Sáng tạo lý luận đòi hỏi sự đầu tư rất lớn cả về công sức lẫn thời gian như vậy, song hoạt động chống phá về tư tưởng trên không gian mạng lại diễn ra từng phút, từng giây, đây là một trong những vấn đề đặt ra cần phải giải quyết. Không thể để những người làm công tác lý luận liên tục trả lời, đối thoại hoặc phản bác mọi thông tin sai trái, điều này vừa lãng phí tài nguyên trí tuệ, vừa có thể kéo lùi các nhà khoa học xuống những điều vụn vặt. Cần hết sức tiết kiệm trí tuệ, công sức của những người làm công tác lý luận để tập trung đấu tranh ở những luận điểm lớn, những luận điểm nền tảng mang tính then chốt, mang tính nguyên tắc của Đảng, của chế độ, của dân tộc; đấu tranh với những trường phái, những nhân vật đại diện mang tính tiêu biểu của thế lực thù địch trong và ngoài nước.

Ba là,truyền thông tư tưởng trên không gian mạng cần hay hơn, hấp dẫn hơn.

Thời đại thông tin ngày nay tạo ra những thay đổi lớn trong cấu trúc dư luận, thay đổi cách thức và phương tiện truyền thông, thậm chí còn tái tạo lại “hệ sinh thái” mới của nội dung. Trên không gian mạng, mọi người không muốn xem, nghe các bài viết một chiều.Trên không gian mạng, quyền lực của các tổ chức không tác động được đến cơ chế tiếp cận thông tin. Đồng thời, quan niệm truyền thông truyền thống lấy tin tức làm trung tâm đã dần thay đổi, chức năng giáo dục, chức năng tư tưởng của truyền thông ngày càng giảm đi, đồng thời các chức năng giao tiếp, chức năng giải trí ngày càng tăng lên. Nội dung thể hiện luận điểm của những người tham gia không gian mạng có xu hướng ngày càng ngắn lại, từ những cuộc tranh luận hàng trăm trang trên các diễn đàn (forum) trước kia, giờ đây được rút gọn, cá nhân hoá thành các bài dài trên trang cá nhân (blog), rồi rút ngắn hơn nữa ở các tút trên Facebook, rồi các thông điệp cực ngắn trên Twitter. Bản thân các video dài trên Youtube đã ngắn đi nhiều ở các nền tảng video khác, đặc biệt là ở TikTok với độ dài chỉ khoảng 15 giây. Với không gian mạng như vậy thì các bài nghiên cứu lý luận, các bài viết mang tính tư tưởng như hiện nay dường như dài và khô khan với cư dân mạng. Chính vì vậy, truyền thông tư tưởng trên không gian mạng muốn đạt hiệu quả thì thông tin cần phải thực sự hấp dẫn, thu hút và lấy được sự yêu thích của không chỉ đảng viên, mà cả của người dân, đặc biệt là giới trẻ.

Truyền thông tư tưởng trên không gian mạng có được người dân đón nhận và tham gia hay không phải là một tiêu chí cơ bản để đánh giá mức độ thành công của công tác xây dựng Đảng về tư tưởng. Truyền thông tư tưởng cần chủ động thích ứng với hoàn cảnh mới, tình hình mới, nhiệm vụ mới trên không gian mạng, không ngừng đổi mới quan niệm, hình thức, phương pháp, phương tiện, thậm chí thay đổi phương thức diễn ngôn truyền thống, sử dụng cách diễn ngôn hiện đại, hấp dẫn, sinh động một cách lành mạnh và thẩm mỹ để lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân dân./.

 

Thứ Hai, 13 tháng 12, 2021

Thế hệ trẻ cần có sự hiểu biết sâu sắc về lịch sử, không bị lôi kéo, mắc lừa bởi âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động

Thời gian gần đây các thế lực thù địch với sự tiếp sức của các thế lực phản động trong nước đưa ra những chiêu bài thâm độc, khơi dậy trào lưu xét lại lịch sử, xét lại cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc; với những chiêu trò rất tinh vi, xảo quyệt, cả âm thầm lẫn rầm rộ, công khai trên các phương tiện truyền thông và không gian mạng, nhằm tác động vào nhận thức của thế hệ trẻ theo cách “mưa dầm thấm lâu”, gây nghi ngờ và hiện thực hóa mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta được ghi dấu bằng lớp lớp những chiến công oanh liệt, hiển hách và những thành tựu to lớn trên con đường xây dựng, phát triển. Đặc biệt, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lịch sử dân tộc được viết tiếp bằng thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đó là những mốc son chói lọi nhất trong lịch sử dân tộc, mang tầm vóc quốc tế và có tính thời đại sâu sắc. Đặc biệt, chiến thắng ngày 30/4/1975 đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một mốc son chói lọi, là biểu tượng về sự đoàn kết, anh dũng chiến đấu để giành độc lập, thống nhất đất nước với việc đánh bại đế quốc Mỹ, cường quốc hùng mạnh nhất thế giới. Ngày 30/4 là ngày hội thống nhất non sông, là sự kiện lịch sử trọng đại có tầm ảnh hưởng quốc tế vô cùng to lớn và tính thời đại sâu sắc trong thế kỷ XX, đó là thắng lợi của chính nghĩa trước bạo lực cường quyền là biểu tượng sáng ngời của ý chí bất khuất, khát vọng hòa bình, tự do của dân tộc Việt Nam và nhân loại tiến bộ, đó là lịch sử, là lịch sử thì hiện hữu sự thật không thể nào thay đổi được. Thế nhưng, núp dưới cái bóng của phương pháp luận nghiên cứu khoa học, nhiều đối tượng phản động trong và ngoài nước đã cổ súy cho phong trào “lật sử”, “ngụy sử” theo xu hướng xét lại lịch sử, thực chất là xuyên tạc, cố tình làm sai lệch ý nghĩa, vai trò của sự kiện hoặc nhân vật lịch sử, phủ nhận lịch sử, khoét sâu, thổi phồng sai lầm, khuyết điểm. Chúng tập hợp những ý kiến, phát biểu của những người có “uy tín”, “vị thế” nhưng có quan điểm, chính kiến trung dung, thậm chí trái với đường lối, quan điểm của Đảng, chủ trương, luật pháp của Nhà nước; tích hợp, dẫn dắt những quan điểm, tư tưởng đối lập, sai lầm về chính trị từ những kẻ tạo dựng là “nhà khoa học”, “nhân sĩ, trí thức yêu nước”, giả danh, đăng tải các bài viết với thủ đoạn “đánh giá lại một cách khách quan”; một số tổ chức phản động ở hải ngoại đưa ra luận điệu “Việt Nam không nên kỷ niệm 30/4 nếu muốn hòa hợp dân tộc”... mục đích cuối cùng của chúng là làm lung lay niềm tin của Nhân dân vào Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là với thế hệ trẻ, từ đó lôi kéo, xúi giục, cổ súy cho tư tưởng đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ. Lịch sử Việt Nam là những trang sử hào hùng của quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Trải qua nhiều năm chiến tranh đã khiến một số tư liệu, dữ kiện lịch sử bị mai một, không phải giai đoạn lịch sử nào cũng được ghi chép đầy đủ và phong phú. Với sự phát triển của khoa học, nhu cầu tìm hiểu kỹ càng về quá khứ là nhu cầu chính đáng, nhưng lợi dụng khoa học để xuyên tạc và làm sai lệch lịch sử là hành vi đáng lên án, chỉ có những đối tượng không có tâm trong sáng, không vì sự phát triển chung của đất nước, không vì lợi ích quốc gia, dân tộc; những luận điệu này, chắc chắn, sẽ là tiếng nói lạc lõng trong thời đại mới. Để làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc lịch sử của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, mỗi người cần có sự hiểu biết sâu sắc về lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Nêu cao niềm tự hào, trách nhiệm phát huy truyền thống hào hùng đó và viết tiếp những trang sử mới. Nhận diện đúng các luận điệu xuyên tạc lịch sử của các thế lực thù địch, không để bị lôi kéo, mắc lừa bởi những thông tin bôi đen, xuyên tạc, bịa đặt. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị, tỉnh táo phát hiện, chủ động đấu tranh ngăn chặn các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, xung kích trên mặt trận phòng, chống “diễn biến hòa bình” và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; góp phần bảo vệ những giá trị lịch sử đã “trường tồn” gắn liền với sự nghiệp đấu tranh giải phóng của dân tộc ta, bảo vệ Đảng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Ngoại giao Việt Nam

 Ngoại giao cây tre Việt Nam

Tổng Bí thư nhấn mạnh tới quan điểm chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của Việt Nam, người đã đặt nền móng trực tiếp và chỉ đạo, dẫn dắt sự phát triển của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quán triệt, phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ, biết mình, biết người; luôn làm chủ tình thế, đặc biệt coi trọng xử lý quan hệ với các nước, nhất là các nước láng giềng, chủ động giữ thể diện cho nước lớn, cương - nhu kết hợp vì lợi ích tối cao của dân tộc.

Tổng Bí thư đặc biệt nhấn mạnh trường phái ngoại giao cây tre Việt Nam - 3

Nhấn để phóng to ảnh

Tổng Bí thư: "Ông cha ta luôn chú trọng hoạt động ngoại giao tạo ra bản sắc riêng rất độc đáo, hòa khí hòa hiếu, trọng nghĩa khí, đem đại nghĩa thắng hung tàn" (Ảnh: Mạnh Quân).

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết, hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cơ sở vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết thừa và phát huy bản sắc đối ngoại, ngoại giao và văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc, tinh hoa văn hóa thế giới và tư tưởng tiến bộ của nhân loại, của thời đại, chúng ta đã xây dựng nên trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh.

Bên cạnh các cuộc chiến đấu ngoan cường, ông cha ta luôn chú trọng hoạt động ngoại giao tạo ra bản sắc riêng rất độc đáo, hòa khí hòa hiếu, trọng nghĩa khí, "đem đại nghĩa thắng hung tàn" - Tổng Bí thư trích Bình ngô Đại cáo của Nguyễn Trãi và cho rằng đây là nguyên tắc bất di bất dịch, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt để đất nước muôn thuở thái bình.

Tổng Bí thư nhắc lại dịp sang làm việc với Bộ Ngoại giao cách đây mấy năm và có ví ngoại giao chúng ta là "ngoại giao cây tre Việt Nam". "Thân gầy guộc lá mong manh, mà sao nên lũy nên thành tre ơi" - Tổng Bí thư trích dẫn và nhấn mạnh trường phái ngoại giao Việt Nam rất độc đáo và đặc sắc, từ đây có thể gọi là "ngoại giao cây tre Việt Nam".

Theo Tổng Bí thư, sở dĩ ông ví như vậy bởi sự đặc biệt của cây tre là rất mềm dẻo, rất kiên cường, thành cây tre, khóm tre, lũy tre.

"Khi là măng thì măng mọc thẳng, rồi đẻ ra thành khóm thành bụi, rễ chằng chịt với nhau… Rễ tre bám rất chắc với nhau, rất mềm mại. Khi chẻ lạt thì lạt mềm buộc chặt. Tôi mạnh dạn ví đường lối đối ngoại của chúng ta là trường phái riêng, tạm gọi là cây tre Việt Nam. Gốc vững chắc, cành uyển chuyển. Cây tre Việt Nam, mềm mại nhưng cứng cỏi, rất dẻo nhưng rất kiên cường" - Tổng Bí thư phân tích.

Tổng Bí thư đặc biệt nhấn mạnh trường phái ngoại giao cây tre Việt Nam - 4

Nhấn để phóng to ảnh

Tổng Bí thư ví đường lối đối ngoại của Việt Nam là trường phái riêng, tạm gọi là cây tre Việt Nam (Ảnh: Mạnh Quân).

Người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định, nền ngoại giao thấm đượm tâm hồn cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam đó là mềm mại khôn khéo nhưng rất kiên cường, quyết liệt, linh hoạt sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định can trường trước mọi thử thách khó khăn vì độc lập dân tộc, vì tự do hạnh phúc của nhân dân, đoàn kết nhân ái nhưng kiên quyết kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, biết nhu biết cương, biết thời biết thế, biết mình biết người, biết tiến biết thoái, tùy cơ ứng biến, lạt mềm buộc chặt, mềm nắn rắn buông đúng theo trường phái rất riêng "ngoại giao cây tre Việt Nam". 

Học sinh lớp 1 học thêm tối ngày

'Giờ học chính khóa chỉ có buổi sáng, nhưng con tôi dù mới lớp 1 vẫn phải đi học thêm từ chiều tới tối'. Bên cạnh những tranh cãi về bộ sách giáo khoa lớp 1 cải cách, nhiều bậc phụ huynh cũng bày tỏ nỗi trăn trở khi học sinh phải học thêm quá nhiều: Cháu lớn nhà tôi năm nay học lớp 5 ở Hà Nội. Từ năm lớp 1 đến nay, chỉ có duy nhất cô giáo chủ nhiệm lớp 4 không tổ chức học thêm, cô nói thẳng với các phụ huynh rằng "các con học trên lớp cả ngày rồi nên không cần phải học thêm nữa". Kết quả, năm lớp 4, vợ chồng tôi thật sự được bình yên nhất, không còn cảnh mẹ quát mắng, bố đánh phạt con mỗi khi đọc tin nhắn cuối ngày của cô giáo gửi như năm lớp 3 (năm mà chúng tôi không cho cháu đi học thêm dù cô tổ chức). Tôi thấy nhiều lỗi quá nhỏ nhặt với một đứa trẻ nhưng cô giáo cũng quan trọng hóa lên. Các cháu đã học trên lớp cả ngày rồi, tối về lại học thêm cô, ở cái tuổi đó, tôi thấy tội các cháu.

Cảnh giác với “Thuyết âm mưu chính trị”, sử dụng thông tin sai lệch để chống phá Việt Nam

Hiện nay, các thế lực thù địch không ngừng chống phá nước ta trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng – an ninh, đối ngoại... với nhiều thủ đoạn, phương phương thức khác nhau, bản chất là Thuyết âm mưu chính trị, sử dụng thông tin sai lệch để chống phá Việt Nam. Theo thống kê của Cục An ninh Điều tra - Bộ Công an, từ năm 2004 đến nay, cơ quan an ninh điều tra các cấp đã tiến hành điều tra, xử lý gần 150 vụ án làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam, với hàng trăm đối tượng có hành vi phạm tội theo quy định tại Điều 11 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đáng chú ý là trong thời gian tổ chức các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc vào các giai đoạn 2005 - 2006 (Đại hội X), 2010 - 2011 (Đại hội XI), 2015 - 2016 (Đại hội XII), 2020 (Đại hội XIII), số lượng vụ án làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam có xu hướng tăng nhanh, trung bình 15 vụ án mỗi giai đoạn. Đặc biệt, với sự phát triển của khoa học công nghệ nói chung, Internet nói riêng, đã và đang tồn tại hàng trăm kênh đài, trang mạng khác nhau như: kênh RFA, VOA, BBC, RFI, YouTube; trang “Dân làm báo”, “Thông luận”, “Boxit”, “Đàm chim Việt”, “Quê mẹ”, “Việt Nam thời báo”, “Mẹ Nấm”… thường xuyên đăng tải, phát tán các thông tin xấu, độc chống phá Việt Nam. Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, chỉ tính từ đầu năm 2020 đến trước thềm Đại hội Đảng lần thứ XIII, Bộ đã gỡ bỏ gần 400 trang giả mạo, 4.500 tin xấu độc trên Facebook và 30.000 video xấu độc trên Youtube. Số lượng gỡ bỏ thông tin xấu độc của Facebook năm 2020 tăng 30 lần so với năm 2017. Số video xấu độc được gỡ bỏ trên Youtube năm 2020 tăng 8 lần so với năm 2017. Tỷ lệ tin xấu độc về các đồng chí lãnh đạo chủ chốt năm 2017 lên tới trên 70% thì nay chỉ còn dưới 3%. Những thông tin sai lệch của các đối tượng thù địch, phản động được đăng tải, phát tán tập trung tuyên truyền vào một số nội dung trọng điểm như: phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên CNXH của nước ta. Chúng thường xuyên phê phán, đả kích hệ tư tưởng của Đảng và xã hội ta lạc hậu lỗi thời; bôi nhọ Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức “tự phong”, là người “tiếm quyền” của nhân dân, Đảng “chỉ biết đến lợi ích của Đảng”, là “Đảng đầu hàng”, “bán nước, làm tay sai”, “lệ thuộc” vào Trung Quốc; Cương lĩnh của Đảng ta, nhất là Cương lĩnh thông qua tai Đại hội XI (2011) là “giáo điều, bảo thủ”, là “ảo tưởng”... Tiếp đến, tung tin bôi nhọ, xuyên bạc, bịa đặt nhằm gây mất lòng tin của nhân dân vào phẩm chất, uy tín và năng lực lãnh đạo của những người lãnh đạo cấp cao trong Đảng, Nhà nước ta. Các trang mạng thường xuyên đăng tải những bài viết xuyên tạc, bịa đặt với mục đích chia rẽ tinh thần đoàn kết nội bội trong Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Chúng xuyên tạc công cuộc chống tham nhũng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng ta. Thông qua các trang mạng xã hội, những phần tử xấu tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo sự thật về cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam. Hoạt động của các thế lực thù địch khi đăng tải, phát tán những thông tin sai lệch trên không gian mạng nói riêng, trong không gian địa lý của Việt Nam nói chung đã và đang tác động xấu đến công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta. Nó làm suy giảm niềm tin của một bộ phận quần chúng nhân dân vào nền tảng tư tưởng của Đảng; đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước ta; gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, làm mất an ninh chính trị, trật tự xã hội, uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Nói cách khác, các thế lực chống phá nước ta đang thực hiện thuyết âm mưu chính trị ở Việt Nam với những “câu chuyện bịa đặt, hư cấu”; những thông tin sai lệch, xấu độc được lan truyền trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, nhằm thực hiện mục đích chính trị của chúng là chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc xây dựng CNXH của nước ta. Vì vậy, để khắc chế âm mưu, thủ đoạn của các thế lực chống phá trong việc sử dụng thông tin sai lệch, đồng thời đánh bại thuyết âm mưu chính trị đó, chúng ta cần thực hiện một số giải pháp như quán triệu sâu sắc, thực hiện nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước Việt Nam về phòng chống chiến lược “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc, quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực chống đối nước ta. Trong đó, đặt trọng tâm vào việc tổ chức thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” và Luật An ninh mạng. Phát huy vai trò của Ban Chỉ đạo 35, đồng thời phối hợp với các ban, bộ ngành (đặc biệt là Bộ Công an và Bộ Thông tin & Truyền thông), đơn vị, địa phương tham gia công tác đấu tranh phản bác luận điệu sai trái, thù địch. Tăng cường công tác nghiên cứu lý luận và nghiệp vụ về phòng chống quan điểm sai trái, thù địch nói chung, xử lý thông tin sai lệch nói riêng. Huy động các chuyên gia, nhà khoa học, phóng viên, đảng viên ưu tú,... nghiên cứu làm rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn, phương thức thực hiện của thuyết âm mưu và thuyết âm mưu chính trị. Từ đó đăng tải những tin bài phản bác luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, bọn phản động, cơ hội chính trị. Đồng thời, vạch trần bản chất xấu, độc trong thuyết âm mưu chính trị của chúng. Kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi và tiến tới xóa bỏ những thông tin sai lệch, xấu độc của các thế lực chống đối nước ta. Chúng ta phải luôn luôn xác định thông tin sai lệch là “linh hồn” của thuyết âm mưu chính trị, là công cụ hữu hiệu nhất mà các thế lực thù địch sử dụng để chống phá Việt Nam. Vì vậy, cắt đứt chuỗi phát tán, lan truyền thông tin xấu độc, sai lệch là cách thức hiệu quả nhất trong phòng chống quan điểm sai trái, thù địch,... Có thể thấy, những quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực chống đối, phản động, cơ hội chính trị nhằm vào nước ta trong thời gian qua về bản chất giống như một Thuyết âm mưu chính trị, nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc xây dựng CNXH của nước ta. Chúng lựa chọn “thông tin sai lệch” làm “át chủ bài” trong quá trình hiện thực hóa Thuyết âm mưu chính trị đó. Với việc in ấn, phát tán và đăng tải thông tin sai lệch, xấu độc, các thế lực chống đối đã và đang gây ra không ít khó khăn cho chúng ta trong công cuộc bảo vệ Đảng, Nhà nước và Tổ quốc Việt Nam. Tuy nhiên, với sự đoàn kết, đồng lòng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, chúng ta từng bước bóc tách, vạch trần những âm mưu, thủ đoạn của chúng, đồng thời “khai tử” Thuyết âm mưu chính trị của chúng đối với Việt Nam.

Thầy dạy giỏi, trò không cần học thêm

Nhiều người nói 'giáo viên dạy giỏi nên có người đến học thêm, sao lại cấm?', nhưng tôi nghĩ nếu họ giỏi thì sao học sinh còn phải học thêm. Chứng kiến thực trạng dạy thêm, học thêm ở nước ta, tôi thấy phần lớn là các thầy cô dạy cho chính học sinh của mình ở lớp chính khóa. Nếu không làm vậy, có lẽ sẽ chẳng mấy người có đông học trò. Tôi biết rất nhiều người khi đang còn dạy ở trường thì có cả mấy trăm học sinh đi học thêm, nhưng khi vừa mới nghỉ hưu thì chỉ còn tầm hơn chục đứa theo học. Nhiều người bảo vệ quan điểm "giáo viên dạy giỏi nên có người đến học thêm, sao lại cấm?". Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng, nếu giáo viên dạy giỏi thì sao học sinh còn phải đi học thêm? Học sinh đã giỏi sao còn phải đi học thêm? Ngày tôi còn đi học, thầy giáo có nói một câu mà tôi nhớ mãi đến giời: "Một học sinh giỏi là học sinh làm được những thứ mà học sinh khác không làm được, chứ không phải chỉ là đạt điểm 9, 10". Tôi không muốn làm đẹp học bạ cho con mình và luôn nói với con rằng: "Hãy chọn một môn con thấy mình giỏi nhất để làm định hướng nghề nghiệp sau này, học thêm một ngoại ngữ để bổ sung kỹ năng nghề nghiệp và một môn mình thực sự thích để tạo cảm hứng sống". Nghĩ vậy nên tôi cho con thi vào một trường đại học ở địa phương để tránh con phải chịu những áp lực điểm số trong suốt thời gian học phổ thông. >> Phụ huynh châm ngòi dạy thêm tràn lan Tôi cho rằng, dạy thêm, học thêm tràn lan xuất phát từ căn bệnh thành tích chứ không phải do chương trình học quá nặng. Nhiều người nói chương trình học bây giờ rất nặng, nhưng tôi tin khối lượng học của 20-30 năm trước đây chẳng hề thua kém, nếu không muốn nói là nặng hơn. Không thể nói là học sinh ngày nay học nặng khi thi đại học 28-29 điểm vẫn rớt, trong khi thời của tôi chỉ 17-18 điểm đã đỗ đại học top đầu. Nên rõ ràng, nói dạy thêm, học thêm do chương trình học nặng là không hợp lý. Tôi rất ủng hộ quan điểm cấm triệt để việc dạy thêm. Cách đây 30-40 năm, chúng ta không có dạy thêm, học thêm, nhưng mọi chuyện vẫn ổn đó thôi. Việc dạy thêm, học thêm suy cho cùng là do giáo viên muốn ép học sinh để tăng thu nhập, phụ huynh muốn con mình đạt điểm cao, học bạ đẹp. Thử hỏi, có quốc gia nào học thêm tối ngày như chúng ta không? Cứ làm một thống kê hàng năm phụ huynh Việt bỏ bao nhiêu tiền cho con em mình đi học thêm, tôi nghĩ đó sẽ là một con số khủng khiếp.