Thứ Ba, 14 tháng 12, 2021

Xóa đói giảm nghèo - điểm sáng trong bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam

Xóa đói giảm nghèo bền vững là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Đây là biểu hiện sinh động về tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa và những thành tựu trong thực hiện chủ trương này thời gian qua là điểm sáng về bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam, không ai có thể phủ nhận.

Thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch luôn lợi dụng và coi vấn đề “nhân quyền” là một trong những mục tiêu chủ yếu để chống phá cách mạng Việt Nam. Nhân quyền có nội dung rộng, nhưng với đất nước có gần 100 triệu dân, còn nhiều khó khăn sau chiến tranh, thiên tai, thì việc bảo đảm quyền tuyệt đối của con người là quyền được sống trong hòa bình và đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu cơ bản, thiết yếu của người dân, được thế giới ghi nhận và đánh giá là quốc gia đã và đang thực hiện có hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo1 là thành tựu lớn của toàn Đảng, cả hệ thống chính trị và toàn dân, toàn quân ta.

Bảo đảm quyền con người, nhất là quyền được đảm bảo an sinh xã hội của công dân không những đã được hiến định tại Điều 34, Điều 59 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, mà thực tiễn kết quả thực hiện Hiến pháp về xóa đói giảm nghèo, trong giai đoạn 2016 - 2020, nước ta đã đạt được những thành tựu hết sức nổi bật. Kết quả giảm nghèo đạt và vượt mục tiêu, chỉ tiêu Quốc hội, Chính phủ giao. Hộ nghèo từ 9,88% năm 2015 (năm đầu kỳ) giảm xuống còn 2,75% năm 2020 (năm cuối kỳ), trong 05 năm giảm bình quân 1,43%/năm (chỉ tiêu: giảm 01% - 1,5%/năm); hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm bình quân 04%/năm (chỉ tiêu: giảm 03% - 04%/năm); hộ nghèo ở các huyện nghèo giảm bình quân 5,4%/năm (chỉ tiêu: giảm 04%/năm). Có được kết quả đó là do Quốc hội, Chính phủ rất quan tâm, bố trí nguồn lực từ ngân sách nhà nước và huy động nguồn lực toàn xã hội để thực hiện Chương trình giảm nghèo. Tổng nguồn lực đã được bố trí, huy động để thực hiện Chương trình khoảng 120 nghìn tỉ đồng; trong đó, nguồn vốn Trung ương (35%), vốn huy động xã hội hóa hỗ trợ an sinh xã hội và giảm nghèo của các địa phương (41%), vốn ủng hộ Quỹ “Vì người nghèo” và các hoạt động an sinh xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp (24%).

Không chỉ giảm về số lượng mà chất lượng giảm nghèo được Việt Nam ngày càng chú trọng nâng lên, thông qua áp dụng chuẩn nghèo đa chiều (không chỉ thiếu hụt hoặc không được thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người về vật chất mà còn đáp ứng nhu cầu về tinh thần). Việt Nam đã 08 lần ban hành chuẩn nghèo quốc gia theo mô hình tháp giảm nghèo, đáp ứng nhu cầu người nghèo từ thấp lên cao, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước từng thời kỳ. Đồng thời, là một trong 30 quốc gia đầu tiên trên thế giới và là một trong những quốc gia đầu tiên của châu Á áp dụng chuẩn nghèo đa chiều, bảo đảm mức sống tối thiểu gắn với mục tiêu phát triển bền vững.  Trên thực tế, đời sống vật chất và tinh thần của người dân, nhất là người sinh sống trên địa bàn nghèo, vùng đặc biệt khó khăn không ngừng được nâng cao. Cả nước hiện có hơn 13 nghìn dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo hiệu quả với trên 2,2 triệu hộ hưởng lợi; 5.500 lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số được hỗ trợ đi làm việc ở nước ngoài. Cùng với đó, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu, liên kết vùng được ưu tiên đầu tư đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều địa phương phát triển kinh tế - xã hội vươn lên thoát nghèo, ra khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn. Đến nay, cả nước có 32 huyện, 125 xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo đã thoát khỏi tình trạng này; 125 xã và 1.298 thôn hoàn thành Chương trình 135; 24.000 công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư. Điều đó bảo đảm an sinh xã hội cho người dân vùng đặc biệt khó khăn được nâng lên, con người ở nơi đây ngày càng được phát triển toàn diện. Trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19, người nghèo, người yếu thế luôn được Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền, Mặt trận Tổ quốc quan tâm. Trong 09 tháng đầu năm 2021, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 4 cấp đã vận động Quỹ “Vì người nghèo” và an sinh xã hội được trên 2.570 tỉ đồng, trong đó Quỹ “Vì người nghèo” trên 619 tỉ đồng, an sinh xã hội trên 1.951 tỉ đồng; thực hiện hỗ trợ xây dựng và sửa chữa được 13.250 nhà Đại đoàn kết, giúp đỡ người nghèo các địa phương không phải thực hiện giãn cách xã hội, phát triển sản xuất và giúp các cháu học sinh phương tiện để học tập trực tuyến; hàng triệu lượt người nghèo, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được khám chữa bệnh, được tiêm vắc xin phòng, chống dịch Covid-19, v.v. Thành quả đó được nhân dân cả nước ghi nhận, cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những thành công nổi bật, có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Việt Nam trong công cuộc xây dựng đất nước thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế.

Cùng với sự phát triển của xã hội, chất lượng bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam không ngừng được nâng lên thông qua áp dụng chuẩn nghèo mới. Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả mục tiêu giảm nghèo bền vững và đảm bảo quyền an sinh xã hội của người nghèo, Việt Nam đã ban hành chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025 với các tiêu chí xác định hộ nghèo về thu nhập và thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản được nâng lên so với giai đoạn 2016 – 2020, không chỉ đảm bảo thu nhập tối thiểu mà còn hỗ trợ cải thiện mức độ tiếp cận của người nghèo đối với các dịch vụ xã hội cơ bản về việc làm, y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, thông tin. Chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025 đảm bảo quyền an sinh xã hội của người nghèo được toàn diện hơn.

Để bảo đảm quyền con người, Việt Nam không chỉ áp dụng chuẩn nghèo mới mà còn thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2021 - 2025, góp phần giải quyết các vấn đề nghèo đói có trọng tâm, trọng điểm, cấp bách, có mục tiêu, thời hạn rõ ràng. Song song với hệ thống chính sách giảm nghèo thường xuyên, Việt Nam phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo (từ năm 1998) tập trung hỗ trợ có mục tiêu cho các địa bàn đặc biệt khó khăn và người nghèo. Ngày 28/7/2021, Quốc hội khóa XV đã ban hành Nghị quyết số 24/2021/QH15, phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025 (sau đây gọi tắt là Chương trình) với mục tiêu giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững, hạn chế tái nghèo và phát sinh nghèo; hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo vượt lên mức sống tối thiểu, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia, nâng cao chất lượng cuộc sống. Đồng thời, hỗ trợ các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo thoát khỏi tình trạng nghèo, đặc biệt khó khăn. Chương trình tập trung đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội vùng “lõi nghèo”, nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống của người nghèo, đào tạo kỹ năng nghề, tạo việc làm tốt, hỗ trợ đối tượng yếu thế không rơi vào tình trạng nghèo đói.

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, trong thực hiện công tác giảm nghèo giai đoạn 2021 - 2025, Việt Nam cũng đồng thời tập trung đẩy mạnh giải quyết một số thách thức. Đó là, (1). Tiếp tục giải quyết các vấn đề mà Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020 chưa thực hiện xong. Nhiều huyện nghèo, xã vùng bãi ngang ven biển và hải đảo chưa thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn do là vùng “lõi nghèo”, có địa hình hiểm trở, kinh tế - xã hội và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn khó khăn, có tỉ lệ hộ nghèo cao. Phần lớn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo sinh sống ở vùng nông thôn, có sinh kế, thu nhập không bền vững, thiếu kỹ năng nghề nghiệp, chất lượng nguồn nhân lực thấp, khó tiếp cận và cạnh tranh trên thị trường việc làm, v.v. (2). Giải quyết một số nội dung phát triển kinh tế - xã hội mới, cấp bách, cần đầu tư công của quốc gia, như: Theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2021 - 2025, ước tính tại thời điểm tháng 01/2022, cả nước có khoảng 16,6% hộ dân cư có thu nhập dưới mức sống tối thiểu; trong đó, hộ nghèo là 10,83%, hộ cận nghèo là 5,77%. Thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững; trong đó, có các mục tiêu: “Chấm dứt mọi hình thức nghèo ở mọi nơi; tạo việc làm đầy đủ, năng suất và việc làm tốt cho mọi người; đảm bảo giáo dục chất lượng, rộng mở và công bằng; giảm bất bình đẳng trong xã hội”.

Để bảo đảm tốt hơn nữa quyền con người, cấp ủy, chính quyền các cấp cần tập trung quán triệt và thực hiện nghiêm Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 23/6/2021 của Ban Bí thư “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giảm nghèo bền vững đến năm 2030” với tổng thể các nhiệm vụ và giải pháp. Trong đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức trong công tác giảm nghèo. Đổi mới nâng cao chất lượng phong trào thi đua “Cả nước chung tay vì người nghèo - không để ai bị bỏ lại phía sau”, khơi dậy ý chí tự lực, tự cường, phát huy nội lực vươn lên “thoát nghèo, xây dựng cuộc sống ấm no” của người dân và cộng đồng. Tiếp tục hoàn thiện chính sách giảm nghèo, chuẩn nghèo đa chiều gắn với mục tiêu phát triển bền vững, bảo đảm mức sống tối thiểu tăng dần và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân. Đẩy mạnh thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội liên vùng, tăng cường kết nối vùng đã phát triển với vùng khó khăn; có chính sách hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư ở những địa bàn khó khăn, gắn với bảo đảm quốc phòng - an ninh. Rà soát, điều chỉnh quy hoạch, tổ chức thực hiện di dời dân cư, bảo đảm sinh kế bền vững và an toàn cho dân cư tại các vùng thường xuyên chịu tác động của biến đổi khí hậu, khu vực rừng đặc dụng. Huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư cho công tác giảm nghèo. Ưu tiên nguồn lực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo hướng tích hợp với các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030. Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo. Xây dựng cơ sở dữ liệu về giảm nghèo, tăng cường cung cấp thông tin, giúp người nghèo kết nối với các loại thị trường, như: lao động, hàng hóa, v.v. Tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế trong công cuộc giảm nghèo bền vững và bảo đảm an sinh xã hội.

Thực hiện đồng bộ nội dung, giải pháp trên, công tác xóa đói giảm nghèo ở nước ta sẽ có kết quả tốt hơn nữa, là minh chứng cho thấy nhân quyền ở Việt Nam luôn được thực thi hiệu quả; bác bỏ những cáo buộc vô căn cứ, sai trái của các thế lực thù địch về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

NGUYỄN PHÚ HƯNG
_______________

1 - Năm 2006, Việt Nam đã hoàn thành “Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) về xóa nghèo”, về đích trước gần 10 năm so với thời hạn (thời hạn là năm 2015), được cộng đồng quốc tế đánh giá là hình mẫu giảm nghèo hiệu quả. Và, tại Hội nghị cấp cao thế giới xem xét tiến trình thực hiện các Mục tiêu MDGs vào năm 2015, Việt Nam và Ghana được Liên hợp quốc đánh giá là những “ngôi sao sáng” trong số các nước đạt tiến bộ lớn trên lộ trình thực hiện các MDGs.

Tapchiqptd.vn

Đánh giá nền dân chủ không thể dựa vào một… hội nghị

 Những ngày qua, trên nhiều báo chí nước ngoài, diễn đàn mạng xã hội, các trang truyền thông của các tổ chức phản động lưu vong người Việt liên tục có các bài viết nhắc đến Hội nghị thượng định về dân chủ, tổ chức tại Hoa Kỳ. Hội nghị thượng đỉnh về dân chủ (Summit for Democracy) theo sáng kiến của Tổng thống Mỹ Joe Biden diễn ra trong hai ngày 9 và 10/12/2021, theo hình thức trực tuyến. Tham gia hội nghị này có đại diện của hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Theo thông cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ, trong hai ngày họp, hội nghị tập trung vào những thách thức và cơ hội mà các nền dân chủ đang phải đối mặt, cung cấp một diễn đàn để các nhà lãnh đạo công bố những cam kết, cải cách và sáng kiến nhằm bảo vệ nền dân chủ và nhân quyền ở trong nước và ngoài nước.

Đáng chú ý, trước, trong và sau khi hội nghị diễn ra, báo chí quốc tế và nhiều diễn đàn bàn về danh sách khách mời. Với chỉ hơn 100 quốc gia, vùng lãnh thổ được mời, bản danh sách còn thiếu nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ, bao gồm cả những nước lớn như Nga, Trung Quốc… Từ việc suy diễn Việt Nam không có tên trong danh sách mời, các cá nhân, tổ chức phản động lưu vong hào hứng “mở cờ trong bụng”, coi đây là lý do để đẩy mạnh thực hiện các hoạt động công kích, chống phá Việt Nam. Đồng thời, nó cũng trở thành cái cớ để các đối tượng tấn công, quy chụp rằng Việt Nam không có dân chủ, nhân quyền.

Thực tế, Hội nghị này do Mỹ đứng ra tổ chức nên việc mời quốc gia nào, mời bao nhiêu hoàn toàn phụ thuộc vào quan điểm, mục đích của người tổ chức. Ngược lại, việc quốc gia được mời có tham gia hay không tham gia cũng không phải là tiêu chí để đánh giá nền dân chủ của một quốc gia.

Theo trang tin Theepochtimes, mục đích của việc tổ chức hội nghị trên nhằm giúp cho chính quyền Mỹ đánh giá những tiến bộ về dân chủ của các quốc gia hướng đến việc đưa lãnh đạo các quốc gia, các tổ chức xã hội dân sự các khối tư nhân vào làm việc cùng nhau. Hội nghị thượng đỉnh các nền dân chủ là kế hoạch hành động mới nhất mà chính quyền Tổng thống Biden đã, đang thực hiện nhằm giải quyết vấn đề “thách thức của thời đại chúng ta”.

Theo Tổng thống Biden, đây là sự cần thiết phải thể hiện rằng “các nền dân chủ có thể thành công thông qua việc cải thiện đời sống của người dân nước mình và bằng việc giải quyết những vấn đề lớn nhất mà toàn thế giới rộng lớn đang phải đối mặt”. So với các hội nghị khu vực, hội nghị toàn cầu khác như Hội nghị thượng đỉnh G7, Hội nghị thượng đỉnh G20, Hội nghị cao cấp Á Âu… thì hội nghị do một quốc gia đơn phương đứng ra tổ chức chưa thể hiện được vai trò và tác động đối với quốc tế.

Trong khi đó, theo đánh giá của chuyên gia quốc tế, việc Mỹ lần đầu tiên đứng ra tổ chức Hội nghị thượng đỉnh về dân chủ cũng không phải là căn cứ hay thước đo gì về dân chủ với các nước. Những hành động can thiệp vào công việc của các nước có chủ quyền, áp đặt các biện pháp trừng phạt kinh tế, tạo bất ổn, gây ra các cuộc chiến tranh xâm lược với danh nghĩa bảo vệ dân chủ đã giúp cho Mỹ lật đổ chính quyền hoặc can thiệp vào một số quốc gia nhưng đã để lại những hậu quả nghiêm trọng với nhân dân tại các nước đó và ảnh hưởng tới cộng đồng quốc tế. Để rồi khi những khẩu hiệu dân chủ rời đi thì chỉ còn lại một đất nước hoang tàn, loạn lạc, bất ổn như Iraq, Afghanistan, Lybia… Với các tổ chức thù địch, phản động thì coi hội nghị này như cái cớ để thúc đẩy chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, tìm kiếm sự tài trợ, hậu thuẫn về vật chất lẫn tinh thần.

Xét từ phương diện nào thì nhân quyền trong một xã hội vẫn luôn phải thể hiện qua thực tiễn cuộc sống. Nhân quyền không phải khái niệm trừu tượng, không phải là những khẩu hiệu chung chung, mà có thể quan sát, khảo sát, đánh giá một cách toàn diện đến từng lĩnh vực hoạt động cụ thể của xã hội, con người. Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn phấn đấu để vấn đề dân chủ, nhân quyền ngày càng hoàn thiện, phát triển, cuộc sống mọi mặt của toàn dân ngày càng được nâng cao.

Nhìn từ lịch sử cách mạng, phải khẳng định rằng ngay cả trong hoàn cảnh khó khăn nhất, Đảng, Nhà nước Việt Nam vẫn cố gắng chăm lo cuộc sống mọi mặt của người dân. Bởi đó là bản chất, là mục tiêu nhất quán của một Nhà nước của dân, do dân, vì dân, đó cũng là nỗ lực để hiện thực hóa điều Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”.

Đến nay, Việt Nam là một trong 6 quốc gia thành viên Liên hợp quốc đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ trước thời hạn năm 2015; được Tổ chức Nông nghiệp và lương thực thế giới trao giải thưởng thành tích xuất sắc trong xóa đói, giảm nghèo. Những đóng góp tích cực và hiệu quả của Việt Nam vào mục tiêu chung là thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, giữ vững các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế về nhân quyền, là sự chứng thực Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm các quyền cơ bản của người dân không chỉ thể hiện ở việc kiện toàn hệ thống pháp luật, chính sách liên quan đến quyền con người, mà được thực hiện trên tất cả các mặt như: Tự do ngôn luận, báo chí, thông tin; tự do tín ngưỡng, tôn giáo; bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, giáo dục...

Trên trường quốc tế, Việt Nam được tín nhiệm với tỷ lệ phiếu đồng thuận rất cao khi gia nhập Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2014-2016 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Tại khu vực, uy tín của Việt Nam được thể hiện qua vai trò Chủ tịch Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) 2020, đồng thời là Chủ tịch Ủy ban liên chính phủ ASEAN về nhân quyền (AICHR). Trong cuộc họp đặc biệt lần hai của AICHR theo hình thức trực tuyến diễn ra cuối tháng 11/2020, các nước đánh giá cao vai trò của Việt Nam trên cương vị Chủ tịch AICHR 2020 là đã dẫn dắt hoạt động của AICHR trong giai đoạn đặc biệt khó khăn do tác động của đại dịch COVID-19, không chỉ giúp duy trì đà hợp tác của AICHR và ứng phó hiệu quả trước các tác động của đại dịch, mà còn thúc đẩy soạn thảo và thông qua một loạt các văn kiện quan trọng định hướng hợp tác trong thời gian tới.

Bên cạnh đó, Việt Nam không chỉ quan tâm thúc đẩy các quyền cơ bản của người dân ASEAN, đặc biệt chú trọng đến nhóm yếu thế như thúc đẩy quyền của phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, gắn kết tình hữu nghị, thống nhất, tạo đồng thuận và hợp tác trong AICHR. Đặc biệt là nỗ lực bảo đảm quyền con người trong đại dịch COVID-19 được cộng đồng các quốc gia ASEAN đánh giá cao. Với những nỗ lực chung trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trong phạm vi quốc gia và khu vực, quốc tế, các nước thành viên ASEAN chính thức đề cử Việt Nam là ứng cử viên duy nhất đại diện cho ASEAN làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2023-2025.

Không phủ nhận rằng trong quá trình quản lý, phát triển kinh tế - xã hội, Việt Nam còn có những tồn tại, khiếm khuyết, trong đó có việc bảo đảm quyền dân chủ của người dân. Tuy nhiên, cần nhận thức rõ về mặt nguyên tắc, nền dân chủ của Việt Nam là một nền dân chủ có kỷ cương, có tổ chức, có hệ thống. Trong xã hội Việt Nam, bảo đảm quyền dân chủ, nhưng phải bảo đảm đúng pháp luật và giữ vững sự ổn định xã hội. Bảo đảm dân chủ vừa là quyền, vừa là mục tiêu hướng đến của chế độ, vì vậy mỗi người dân cần nỗ lực hơn nữa để bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền dân chủ theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật. 

Quan hệ Việt - Mỹ đã đạt nhiều bước tiến quan trọng trên tất cả các lĩnh vực, tiếp tục phát triển ổn định, đi vào chiều sâu trên cơ sở, nguyên tắc “tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thể chế chính trị của nhau và cùng có lợi”. Đặc biệt, hai bên đã phối hợp để tìm hiểu, đối thoại về vấn đề dân chủ, nhân quyền, thu hẹp những quan điểm khác biệt. Mới đây, Đối thoại Nhân quyền Hoa Kỳ – Việt Nam lần thứ 25 được tổ chức ngày 9/11 tại Thủ đô Washington.

Như vậy, dân chủ, nhân quyền là từ ý chí, hành động và thực tiễn đời sống tại mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, thực tiễn đó được chứng minh bằng thành tựu cụ thể, bằng đời sống người dân được nâng lên cả về vật chất lẫn tinh thần và được cộng đồng quốc tế ghi nhận, thể hiện rõ ở vị thế và tín nhiệm. Việc một hội nghị diễn ra ở nơi nào đó, do quốc gia nào đó tổ chức như Hội nghị thượng đỉnh về dân chủ nêu trên không phải là thước đo, là cơ sở đánh giá nền dân chủ của một quốc gia, vùng, lãnh thổ. Nó đơn giản chỉ là một sự kiện, Việt Nam hay những quốc gia khác, dù được mời hay không được mời tham dự là do “ý gia chủ”, do quan điểm, ý nghĩ của người tổ chức, do vậy không thể căn cứ vào những lý do như vậy để phủ nhận thành tựu về dân chủ, nhân quyền mà Việt Nam đã và đang đảm bảo cho nhân dân.

Bình Nguyên - Hoàng Ly

                                                                                                                                        Cand.com.vn

Sáng 15/12, ca F0 cộng đồng tăng cao tại nhiều địa phương cả nước

    Hà Nội, Thanh Hóa, Nghệ An, Đồng Tháp, Cà Mau... đều ghi nhận ca F0 cộng đồng tăng lên rất cao. Cần Thơ có số ca điều trị khỏi trong ngày là 1.198, cao nhất các tỉnh miền Tây.

Hà Nội: 900 ca Covid-19 mới
Tối 14/12, Sở Y tế Hà Nội thông tin trên địa bàn đã phát hiện thêm 900 ca dương tính SARS-CoV-2 , trong đó có 315 ca cộng đồng, 447 ca tại khu cách ly, 138 ca tại khu phong tỏa.

Theo CDC Hà Nội, Đống Đa hiện là quận duy nhất của Thủ đô ở cấp độ 3 (tương ứng với vùng cam). Trong thời gian tới, nếu tình hình dịch diễn biến phức tạp, những quận huyện cấp độ dịch nâng lên "vùng cam" có thể sẽ hạn chế một số hoạt động không thiết yếu.

Hà Nam ghi nhận 14 F0

Theo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Hà Nam, trong ngày 14/12 trên địa bàn tỉnh Hà Nam ghi nhận 14 trường hợp có kết quả xét nghiệm dương tính với SARS-CoV-2.

Trong số 14 bệnh nhân ghi nhận, có 6 bệnh nhân tại thôn Nham Tràng, xã Thanh Nghị, huyện Thanh Liêm; một trường hợp từ tỉnh Bình Dương về địa phương; một bệnh nhân làm việc tại Hà Nội; 3 bệnh nhân làm việc tại một số công ty đóng trên địa bàn tỉnh Hà Nam; các trường hợp còn lại là F1 của các bệnh nhân đã được ghi nhận trước đó…

Nam Định thêm 44 F0 mới

Thông tin từ Sở Y tế tỉnh Nam Định cho biết, trên địa bàn tỉnh Nam Định ghi nhận 44 trường hợp có kết quả xét nghiệm dương tính với SARS-CoV-2. Trong đó có 19 ca cộng đồng, 25 ca còn lại tại khu cách ly phong tỏa.

Cụ thể, trong số 44 trường hợp F0 mới có 12 ca tại Hải Hậu, 12 ca tại thành phố Nam Định, một ca tại Giao Thủy, một ca tại Mỹ Lộc, 3 ca tại Vụ Bản, 3 tại Nam Trực, 8 ca tại Trực Ninh, 3 ca tại Ý Yên, một ca tại Nghĩa Hưng.

Thái Bình ghi nhận 45 ca F0 mới

Thông tin từ Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Thái Bình cho biết, trong ngày 14/12, tỉnh Thái Bình xét nghiệm tổng số 1.493 mẫu (895 mẫu test nhanh, 598 mẫu RT- PCR), ghi nhận 45 ca F0 mới tại 7 huyện, thành phố, trong đó có 11 ca tại cộng đồng, số còn lại trong khu cách ly tập trung.

Các ca cộng đồng gồm: huyện Thái Thụy 6 ca, huyện Hưng Hà 3 ca, huyện Đông Hưng 2 ca. Những ca trong khu cách ly tập trung được ghi nhận tại huyện Kiến Xương 2 ca, Vũ Thư một ca, Tiền Hải 2 ca, Đông Hưng 13 ca, Thái Thụy 3 ca, thành phố Thái Bình 3 ca, Hưng Hà 10 ca.

Thanh Hóa: 121 ca mắc mới, phần lớn là trong cộng đồng

Ngày 14/12, Thanh Hóa ghi nhận 121 ca mắc Covid-19, trong đó có 41 trường hợp đang thực hiện cách ly tập trung và từ cách tỉnh khác về địa phương, 80 trường hợp phát hiện trong cộng đồng.

Các ca mắc cộng đồng tại thị xã Bỉm Sơn, Hậu Lộc, Như Thanh, Nông Cống, TP Sầm, TP Thanh Hóa, Thiệu Hóa, Triệu Sơn, Vĩnh Lộc và Yên Định.

Đến nay, Thanh Hóa đã ghi nhận 4.270 bệnh nhân Covid-19, có 2.629 người được điều trị khỏi được ra viện; 12 bệnh nhân tử vong. Thanh Hóa đã tiêm được hơn 3,5 triệu mũi vaccine phòng Covid-19.

Nghệ An: 103 F0, 20 ca cộng đồng

Tỉnh Nghệ An ghi nhận 103 trường hợp mắc Covid-19 mới, trong đó 20 ca mắc ngoài cộng đồng.

Trong ngày có 87 bệnh nhân Covid-19 được công bố khỏi bệnh và ra viện, không có ca tử vong. Đến nay địa phương này có 5.937 bệnh nhân Covid-19, 31 bệnh nhân đã tử vong, 4.773 bệnh nhân khỏi bệnh, hiện đang điều trị 1.133 người.

Sáng 15/12, ca F0 cộng đồng tăng cao tại nhiều địa phương cả nước - 1

Nhấn để phóng to ảnh

Thiết lập khu vực phong tỏa tại thị trấn Thạch Giám, huyện Tương Dương, Nghệ An sau khi ghi nhận ca mắc Covid-19 ngoài cộng đồng (Ảnh: Lô Lan).

Hà Tĩnh: Ghi nhận 14 ca mắc mới

Ngày 14/12, Hà Tĩnh ghi nhận 14 ca mắc Covid-19, tất cả đã được cách ly trước đó. Tính từ ngày 4/11 đến nay, Hà Tĩnh phát hiện 814 ca mắc Covid-19, số bệnh nhân đang điều trị là 271 người.

Sáng 15/12, ca F0 cộng đồng tăng cao tại nhiều địa phương cả nước - 2

Nhấn để phóng to ảnh

Hà Tĩnh phấn đấu đến ngày 20/12 sẽ hoàn thành tiêm vaccine cho 100% công dân trên 18 tuổi (Ảnh: Nhật Thắng).

Quảng Bình: Thêm 27 ca mắc mới

Trong ngày 14/12, tại Quảng Bình ghi nhận tất cả 27 ca mắc Covid-19 mới, trong đó có 14 ca cộng đồng, 9 trong khu phong tỏa và 4 trong khu cách ly.

Trong ngày, tại Quảng Bình cũng có thêm 6 bệnh nhân Covid-19 khỏi bệnh và xuất viện. Đến nay, Quảng Bình đã ghi nhận tất cả 3.138 ca mắc Covid-19, trong đó 2.692 người đã khỏi bệnh và xuất viện, 412 người đang tiếp tục điều trị.

Quảng Bình đã triển khai tiêm được trên 997 nghìn mũi vaccine, trong đó có trên 448 nghìn người đã tiêm đủ 2 mũi.

Quảng Trị: Thêm 35 ca mắc mới

Ngày 14/12, tỉnh Quảng Trị ghi nhận thêm 35 trường hợp dương tính với SARS-CoV-2, trong cộng đồng 9 trường hợp, khu phong tỏa 15 trường hợp...

Đến nay, tỉnh Quảng Trị ghi nhận 1.278 trường hợp mắc Covid-19; đang điều trị 199 người. Trong ngày, địa phương có thêm 28 trường hợp khỏi bệnh.

Cà Mau lập kỷ lục mới với hơn 1000 F0, cao nhất nước

Tại Cà Mau trong số 1.011 ca có đến 859 ca cộng đồng. Tính đến ngày 14/12, Cà Mau đã có 18.237 ca mắc Covid-19; hiện đang điều trị 9.083 ca; trong ngày 4 ca tử vong, cộng dồn 76 ca.

Đồng Tháp có số ca nhiễm mới cao với 734 người, trong đó có 291 ca cộng đồng. Trong ngày thêm 10 ca tử vong nâng số ca tử vong lên 375.

Sáng 15/12, ca F0 cộng đồng tăng cao tại nhiều địa phương cả nước - 3

Nhấn để phóng to ảnh

Trong ngày Cà Mau là địa phương của miền Tây ghi nhận ca mắc cao nhất cả nước (Ảnh: Hoàng Tùng).

Cần Thơ có thêm 692 ca mắc mới và 1.198 ca được điều trị khỏi (số ca khỏi trong ngày cao nhất các tỉnh miền Tây). Từ ngày 8/7 đến nay, TP này đã có 38.950 ca mắc Covid-19, đã điều trị khỏi 22.241 ca.

Vĩnh Long ghi nhận 596 ca mắc Covid-19, trong đó 338 ca cộng đồng; trong ngày thêm 7 ca tử vong nâng số ca tử vong lên 168.

Bến Tre ghi nhận thêm 562 trường hợp dương tính với SARS-CoV-2, trong đó có 540 ca cộng đồng. Trong ngày tử vong 3 ca, số ca tử vong cộng dồn 93.

Sóc Trăng có thêm 488 ca mắc mới, và có 9 ca tử vong. Đến nay tỉnh đã có 25.682 ca mắc, trong đó có 19.785 ca khỏi bệnh, 183 ca tử vong.

Bạc Liêu có 475 ca có kết quả RT-PCR khẳng định dương tính với virus SARS-CoV-2. Trong đó 244 ca cộng đồng. Số ca tử vong trong ngày 7, nâng số tử vong lên 176 trường hợp.

Trà Vinh ghi nhận 465 ca mắc mới, trong đó 431 ca cộng đồng. Trong ngày thêm 3 trường hợp tử vong, nâng số ca tử vong lên 80. Tổng ca mắc cộng dồn 12.928 đã điều trị khỏi 3.333 ca.

Tiền Giang có 402 ca F0, trong đó 59 ca cộng đồng, 343 ca trong khu cách ly. Trong ngày có 1.349 ca test nhanh dương tính với SARS-CoV-2; thêm 10 ca tử vong, nâng số ca tử vong lên 694.

Kiên Giang phát hiện 353 F0, trong đó 128 ca cộng đồng. Tổng số ca mắc cộng dồn 25.268, ca điều trị khỏi 22.078.

 An Giang ghi nhận 294 trường hợp mắc Covid-19, trong đó 203 ca cộng đồng. Trong ngày địa phương này ghi nhận 27 trường hợp tử vong, lũy kế ca tử vong 674.

Nguồn: Dân trí.

VĂN HÓA VIỆT NAM


So với vài thập niên trước đây, văn hóa Việt Nam hiện nay, ở tất cả các dạng hoạt động và với tất cả các loại hình của nó, đều có những thay đổi, theo cả hai chiều tích cực và tiêu cực.

Kể từ khi tham gia Thập kỷ quốc tế về văn hóa trong phát triển (1986-1997), đặc biệt kể từ khi thực hiện Nghị quyết TW 5 khóa VIII năm 1998 về văn hóa, văn hóa, Việt Nam đã có những bước phát triển đạt tới chất lượng và diện mạo khác nhiều so với trước đó.

Vượt ra khỏi khuôn khổ thế giới quan và phương pháp luận về văn hóa giai đoạn trước kia, ngày nay văn hóa không còn bị xem là sản phẩm thụ động của đời sống kinh tế, của cơ sở hạ tầng, mà đã trở thành nhân tố bên trong, là cái quy định hành vi và hoạt động của con người, thậm chí quy định cả diện mạo sự phát triển ở phạm vi quản lý, điều hành chính sách của Đảng và Chính phủ Việt Nam, và ở cả phạm vi hoạt động thường ngày của mỗi con người. Quan điểm mới này về văn hóa đem lại cho con người và các tổ chức xã hội khả năng can thiệp, giải quyết các vấn đề xã hội bằng nguyên nhân văn hóa, điều mà trước kia chưa được quan tâm. Chức năng điều tiết của văn hóa cũng được thực hiện một cách thầm lặng và đôi khi nằm ngoài sự tính toán.

Quan điểm đổi mới của Đảng, Nhà nước Việt Nam và toàn thể xã hội về văn hóa, coi văn hóa là nền tảng tinh thần của đời sống xã hội, là mục tiêu và là động lực của sự phát triển, mặc dù trên bề mặt xã hội có vẻ sáo mòn, không mấy thực chất, nhưng thực tế thì khác. Bằng lối đi riêng của văn hóa, quan điểm đó đã xoay chuyển nhận thức, tạo nền cho văn hóa khởi sắc, kích thích sự hồi sinh của phần lớn những giá trị truyền thống trước đó còn bị bỏ quên, thậm chí bị kỳ thị, làm cho văn hóa Việt Nam trở lại với diện mạo bình thường của nó, nối được với quá khứ và rồi nhờ hội nhập mà bắt nhịp ngày càng sâu vào văn hóa thế giới, đóng góp được cho kho tàng văn hóa chung của cộng đồng thế giới.

Hiện nay, văn hóa truyền thống được tôn trọng và phục hồi rất căn bản, các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể được xác định và đánh giá theo Chuẩn quốc tế, nhiều di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, di sản thiên nhiên và di sản ký ức thế giới được cộng đồng quốc tế ghi nhận3. Các hoạt động văn hóa được hiện đại hóa; giao lưu và tiếp biến văn hóa đặc biệt mở rộng; văn hóa công quyền, văn hóa ứng xử, văn hóa hội nhập… gần gũi hơn với khu vực và thế giới. Đời sống văn hóa của nhiều tầng lớp dân cư có dấu hiệu được nâng cao cả về trình độ và chất lượng.

Nghĩa là, có đủ sơ sở để nói rằng, hệ giá trị văn hóa Việt Nam sau mấy chục năm phát triển theo xu thế đổi mới đã xác lập được các khuôn mẫu văn hóa mới4, thực sự hội nhập tương đối sâu vào văn hóa nhân loại theo các chuẩn mực phổ biến của cộng đồng thế giới. Tình trạng dị biệt - không giống ai đã bớt dần.


Ở khá nhiều loại hình thuộc hoạt động văn hóa, hệ giá trị văn hóa Việt Nam đã không còn lạc lõng, khoảng cách lạc hậu đã được thu hẹp. Thậm chí, ở nhiều hoạt động văn hóa, như văn hóa biểu diễn - tổ chức các sự kiện, văn hóa Showbiz, văn hóa thời trang, văn hóa hội thảo, văn hóa du lịch, Việt Nam đã không còn thua kém bao nhiêu so với các nền văn hóa có kinh nghiệm.

Với những lĩnh vực thuộc đời sống văn hóa (như văn hóa tiêu dùng, văn hóa kinh doanh,văn hóa xuất bản, văn hóa khách sạn, v.v.), Việt Nam mặc dù vẫn chịu khá nhiều phê phán hay phàn nàn, nhưng mặt bằng chung đã có những tiến bộ khá xa so với trước; thậm chí ở một số hoạt động cụ thể, còn tỏ ra nhanh nhạy không thua kém các nước có nền kinh tế phát triển.

Về văn hóa ẩm thực, văn hóa khách sạn, văn hóa sử dụng IT…, ngày nay Việt Nam đã tạo được ấn tượng tích cực trên trường quốc tế.

Về văn hóa chính trường, văn hóa công quyền, văn hóa đối ngoại (ngoại giao), văn hóa công an, văn hóa quân sự, văn hóa học đường, v.v., hệ giá trị văn hóa Việt Nam cũng đã có không ít điểm sáng, với những chuẩn mực gần với thế giới, dù những lĩnh vực này hiện vẫn bị chê trách nhiều cả từ phía bên trong và bên ngoài.

Không chỉ ở những hiện tượng bề ngoài thuộc hoạt động văn hóa, mà cả ở tầng sâu hơn, trong các nội dung thuộc phẩm chất nhân văn của phát triển, với các chiều cạnh thuộc về con người, về cộng đồng và về dân tộc, văn hóa Việt Nam cũng có những bước phát triển mà trước kia khó có thể đạt được.

Bằng cách thức độc đáo của “sức mạnh mềm”, văn hóa đã ngày càng làm sâu sắc hơn ý thức dân tộc - quốc gia; ngày càng làm rõ thêm lịch sử dân tộc, giá trị thiêng liêng của độc lập và chủ quyền quốc gia. Trên cơ sở “Chủ nghĩa dân tộc lành mạnh” (lời Joseph S. Nye đánh giá về Việt Nam [9]), văn hóa đã thực sự uốn nắn quan điểm cực đoan của một số chủ thể, làm xích lại gần nhau những quan niệm trước vốn xa nhau. Các giá trị và bản sắc văn hóa, gồm cả bản sắc văn hóa các địa phương, các tộc người, được nghiên cứu ngày càng sâu và khơi dậy được ý nghĩa nhân văn khách quan của sự tồn tại của cộng đồng các dân tộc Việt Nam trong Quốc gia Việt Nam độc lập, thống nhất. Các thành tựu văn minh của nhân loại từng có mặt tại Việt Nam đã được đánh giá ngày càng hợp lý, và là nhân tố được kế thừa của văn hóa người Việt. Nhận thức của xã hội, đặc biệt của các cơ quan có trách nhiệm, về tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, được nhận thức và được triển khai ngày càng thực tế và có hiệu quả. Không phải ngẫu nhiên rằng, Việt Nam đã hoàn thành hầu hết các mục tiêu Thiên niên kỷ, đã thực hiện một cách ấn tượng chỉ tiêu giảm nghèo, đã thực hiện thành công nhiều chính sách an sinh xã hội. Thu nhập của người dân ở khắp mọi miền tuy còn nhiều vấn đề nhưng không ngừng được cải thiện. Khoa học, giáo dục mặc dù còn rất nhiều hạn chế, nhưng đã có những bước phát triển tương đối rõ theo hướng hội nhập. Người Việt Nam vẫn được đánh giá là năng động, thông minh. Học sinh Việt Nam, theo kết quả khảo sát quốc tế (PISA), vẫn được xếp ở thứ hạng cao về nhận thức toán, ngôn ngữ và khoa học5.

Nhìn nhận những điểm mạnh của văn hóa Việt Nam hơn 30 năm qua, Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đánh giá: “Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”[1, tr.126].

Trong dịp tuần lễ cấp cao APEC, nhiều chính khách đã không tiếc lời khen ngợi Việt Nam, coi Việt Nam đã thực sự trở thành một trong những “Điều kỳ diệu lớn” (The Great Miracles) của thế giới; “Ngày nay, Việt Nam là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất trái đất” (One of the Fastest-growing Economies on Earth) [10],[11].

Tuy nhiên, cùng với sự tiến bộ không thể phủ nhận ấy, văn hóa Việt Nam với bộ mặt thường ngày của nó trong đời sống xã hội, lại tỏ ra là chưa đủ bản lĩnh để đề kháng trước những tác động tiêu cực từ bên trong và bên ngoài. Sự tử tế và tính nhân văn của văn hóa đôi lúc lại không đủ mạnh để tự vệ và tấn công lại cái thiếu văn hóa và vô văn hóa. Ngược lại, chính nó trong không ít trường hợp lại bị tha hóa vì những tác động của cái xấu và cái ác. 

Tác động tiêu cực đến văn hóa hiện nay là một loạt những vấn nạn lớn và không kém phần nghiêm trọng về kinh tế - chính trị - xã hội, dù ai đó muốn lãng quên cũng không thể. Như nhiều tài liệu chính thức và không chính thức đã phản ánh, chẳng hạn, nền kinh tế ngày càng lệ thuộc nặng nề vào nguồn vốn FDI và vào kinh tế Trung Quốc; tỷ lệ nợ công sắp chạm trần; sự chuyển đổi mô hình phát triển vẫn rất lúng túng và chậm trễ; tình trạng tham nhũng và làm ngơ trước tham nhũng mới chỉ có dấu hiệu dừng lại; hiểm họa của tình trạng môi trường “gần chết” khó lường; khai thác tài nguyên vẫn khó kiểm soát; khủng hoảng giáo dục chưa có lối thoát; hoạt động y tế đã xuống cấp ở chính quan hệ giữa thày thuốc với con bệnh; tình trạng cán bộ công quyền lãnh cảm với dân và với các bên đối tác chưa bớt; Biển Đông và chủ quyền lãnh thổ bị trực tiếp đe dọa, v.v..

 

VÌ SAO PHẢI KIÊN QUYẾT PHÒNG CHỐNG

 


Phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” vốn là công việc rất khó khăn, phức tạp, vì nó liên quan tới vấn đề tư tưởng, biểu hiện âm thầm, gặm nhấm dần lòng tin, xói mòn dần phẩm chất đạo đức của cá nhân, tổ chức. Trong thực tế thì hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cũng liên quan cả gián tiếp và trực tiếp tới công tác xây dựng tổ chức, xây dựng con người, công tác cán bộ v.v..

Hơn nữa, khi thực hiện nhiệm vụ này rất dễ đụng chạm đến danh dự, lợi ích, quan hệ của mỗi con người. Tuy khó nhưng không thể không làm, vì vấn đề này có liên quan đến sinh mệnh chính trị, uy tín của Đảng và sự tồn vong chế độ. Bởi thế, ngoài quan điểm tích cực và chủ động thì việc kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là rất quan trọng. Nếu không kiên quyết trong phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thì việc thực hiện sẽ trở nên “nửa vời” và không đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra.

Khác với nhiều quốc gia trên thế giới, QCN và QCD ở Việt Nam do nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng lên đấu tranh giành lấy. Đó là thành quả trực tiếp của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945. Trong Tuyên ngôn độc lập (ngày 2-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trân trọng trích dẫn Tuyên ngôn độc lập của Mỹ: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng... quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".

Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp: "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi". Hơn nữa, Người còn khái quát và kết luận: "Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do".

Như vậy, với Hồ Chí Minh và Đảng ta, QCN ở một quốc gia, dân tộc phải dựa trên tiền đề, điều kiện cơ bản là: Độc lập dân tộc, CNXH, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất đất nước. Bởi vậy, có thể nói: Tuyên ngôn độc lập năm 1945 là Tuyên ngôn "kép" về quyền dân tộc tự quyết và QCN của dân tộc Việt Nam và các dân tộc thuộc địa. Đây là cống hiến vô giá của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam về lý luận chính trị nói chung, về nhân quyền nói riêng trong thời đại ngày nay.

Hiện nay, QCN và QCD ở Việt Nam luôn được khẳng định, điều chỉnh và mở rộng phù hợp với luật pháp quốc tế và thực tiễn phát triển của đất nước. Hiện nay, ở Việt Nam, QCN, quyền và nghĩa vụ công dân được quy định tại Chương II, Hiến pháp năm 2013. Văn kiện pháp luật quan trọng này đã tiếp thu những giá trị phổ quát về QCN của cộng đồng quốc tế; đồng thời, kế thừa, mở rộng QCD đã được ghi nhận trong các bản Hiến pháp trước đây của Nhà nước ta (Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992), mà ở đó, lần đầu tiên QCN được đề cập một cách trực tiếp, tách bạch và không đồng nhất với QCD.

Chương II, Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện một cách khoa học những nội dung, các nguyên tắc của QCN, QCD, tương thích với các công ước quốc tế cơ bản về QCN. Trong đó, các quyền dân sự, chính trị được quy định đầy đủ, như: Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình... Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.

Nguyên tắc về QCN được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 gồm các nội dung lớn: Xác định rõ mối quan hệ giữa Nhà nước với người dân; nguyên tắc hạn chế quyền và nguyên tắc "suy luận vô tội". Điều 14, Hiến pháp năm 2013 ghi: "Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các QCN, QCD về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật". Như vậy, nghĩa vụ của Nhà nước bao gồm: Tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm (thực hiện) quyền của người dân.

Theo đó, các cơ quan Nhà nước (Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, các cấp chính quyền...) không được phép ra các văn bản vi phạm các quyền và tự do của người dân đã được ghi trong Hiến pháp. Nhà nước có nghĩa vụ kịp thời ngăn chặn mọi hành vi vi phạm quyền của người dân, dưới bất cứ hình thức nào, khi nào và từ đâu, nhằm bảo vệ người dân; chủ động xây dựng các chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội phù hợp, bảo đảm tính dễ tiếp cận và các dịch vụ sẵn có cho người dân...

Tuy nhiên, công dân có nghĩa vụ với Nhà nước, xã hội và tôn trọng Hiến pháp, pháp luật. Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên đưa ra nguyên tắc "hạn chế quyền". Tại Khoản 2,      Điều 14 quy định: "QCN, QCD chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng". Như vậy, QCD sẽ bị hạn chế bằng văn bản luật, chứ không phải bằng các mệnh lệnh hành chính hoặc văn bản dưới luật...

     Ở Việt Nam, QCN, QCD không chỉ được quy định trong Hiến pháp, pháp luật, mà còn được thực thi trong thực tế. Trên lĩnh vực quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, hiện nay, Việt Nam có 812 cơ quan báo chí in, 67 đài phát thanh, truyền hình; Đài Tiếng nói Việt Nam phủ sóng 99,5% diện tích lãnh thổ, qua vệ tinh tới nhiều nước trên thế giới; hơn 90% hộ gia đình đã sử dụng sóng của Ðài Truyền hình Việt Nam.


    Về mục tiêu bình đẳng giới, Việt Nam là một trong 5 nước đang phát triển ở châu Á có tỷ lệ đại biểu nữ tham gia Quốc hội cao nhất. Về sức khỏe phụ nữ và trẻ em, tạo công ăn việc làm, chính sách xã hội... Việt Nam đã có những nỗ lực to lớn, được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Theo báo cáo của Thủ tướng Chính phủ tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII: Số người được trợ cấp ưu đãi thường xuyên trên 1,5 triệu người và hoàn thành việc xây mới, sửa chữa khoảng 48 nghìn căn "Nhà tình nghĩa" cho người có công. Những thành tựu trên đây là hiện thực sống động, bác bỏ mọi luận điệu cho rằng, ở Việt Nam, QCN, QCD bị Nhà nước vi phạm!

Để thể hiện tính kiên quyết trong phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thì trong quá trình thực hiện phải nắm vững nguyên tắc kỷ luật tự giác, nghiêm minh của Đảng, chống phải đi đôi với xây và phải lấy xây làm chính. Cần phải tiến hành đồng bộ, toàn diện đối với mọi tổ chức, cá nhân, gắn kết chặt chẽ giữa đấu tranh, phê bình với các biện pháp hành chính, pháp luật và kinh tế.

Việc tạo ra phong trào và hành động cụ thể, thiết thực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân khi đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là rất cần thiết. Có một số vấn đề cần tập trung, đó là: Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý cao cấp, vấn đề này đã được Đảng ta chú trọng thực hiện trong thời gian qua và đã thu được những kết quả nhất định; kiên quyết sử dụng nhiều biện pháp để đấu tranh phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; kiên quyết thực hiện phê bình, tự phê bình. Khi có dấu hiệu vi phạm thì dù cán bộ ở cương vị nào cũng cần phải được kiểm điểm, phê bình, xử lý kịp thời, mạnh mẽ, không "dĩ hòa vi quý", không nể nang, rơi vào chủ nghĩa cá nhân, không có vùng cấm, không loại trừ cán bộ chủ chốt, cán bộ cấp cao tự coi mình là "bề trên", đứng ngoài tổ chức. Những biểu hiện, những đối tượng như thế càng phải kiên quyết trong đấu tranh, khắc phục, loại trừ, bởi đó thực sự là "mầm họa" của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", là nguyên nhân sâu xa nhưng trực tiếp dẫn tới làm ảnh hưởng đến uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng.


HOÀNG MINH ĐẠO - NGƯỜI ANH HÙNG, LIỆT SĨ TÌNH BÁO DUY NHẤT ĐƯỢC TRUY TẶNG HUÂN CHƯƠNG HỒ CHÍ MINH

 Hoàng Minh Đạo, tên thật Đào Phúc Lộc, (1923 - 1969) là một trong những nhà tình báo nổi tiếng nhất của Việt Nam.

Tên tuổi và sự nghiệp của Hoàng Minh Đạo gắn liền với sự ra đời của ngành Tình báo quân sự Việt Nam. Ông được coi là người đầu tiên xây dựng nền móng cho sự thành lập của ngành tình báo Việt Nam ngay từ khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công. Ông cũng là một trong những nhân vật quan trọng sáng lập ra Ban địch tình Xứ ủy Nam Kỳ và ngành Binh vận vào thời điểm 1954 – 1955) của Cách mạng miền Nam.

Hoàng Minh Đạo sinh ra trong một gia đình viên chức có truyền thống yêu nước ở Móng Cái (Quảng Ninh). Tên khai sinh của ông là Đào Phúc Lộc. Ông tham gia cách mạng khi còn ở tuổi thiếu niên và hi sinh khi còn khá trẻ.

Hoàng Minh Đạo tham gia phong trào thanh niên, học sinh yêu nước ở Hải Phòng và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1939. Từ một liên lạc viên ông trở thành Trưởng phòng tình báo đầu tiên của Quân uỷ hội, ông lần lượt nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng như: Trưởng ban quân báo Nam Bộ, Phó Ban binh vận Trung ương cục Miền Nam, Uỷ viên thường vụ Khu uỷ Sài Gòn – Gia Định, Bí thư Khu 5 - Bí thư phân khu I Sài Gòn - Gia Định, Chính uỷ lực lượng Biệt động Sài Gòn. Ông còn có các bí danh khác như: Năm Thu, Năm Đời,...

Đêm ngày 24 rạng ngày 25 tháng 12 năm 1969, đoàn công tác của ông trên đường về họp tại trung ương Cục đã sa vào ổ phục kích của đối phương, ông cùng đồng đội của mình đã hi sinh trên sông Vàm Cỏ Đông.

Hiện hài cốt của ông được an táng tại nghĩa trang liệt sĩ thành phố Hồ Chí Minh.

Cuộc đời hoạt động của Hoàng Minh Đạo đã được dựng thành phim nhiều tập "Con đường sáng" vào năm 2006. Ông đã được Nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1998, truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh năm 1999. (Cho đến nay, ông vẫn là anh hùng liệt sĩ duy nhất ở nước ta được truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh cao quý này). Hiện ở Quảng Ninh, ở TP. Hồ Chí Minh đã có nhiều trường học và đường phố mang tên người anh hùng Đào Phúc Lộc - Hoàng Minh Đạo.

Nguồn sưu tầm

Bị cáo tuyên truyền chống Nhà nước Việt Nam nhận án 9 năm tù


          Ngày 14/12, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đưa ra xét xử sơ thẩm đối với bị cáo Phạm Thị Đoan Trang (trú tại phường Cát Linh, quận Đống Đa, Hà Nội) về tội 'Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam'.

Bị cáo Trang tại phiên xét xử.

          Theo cáo trạng truy tố, trong khoảng thời gian từ ngày 16/11/2017 - 5/12/2018, bị cáo Phạm Thị Đoan Trang có hành vi làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, bài viết có nội dung nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

          Cũng theo tài liệu truy tố, ngày 9/8/2018, Phạm Thị Đoan Trang trả lời phỏng vấn BBC News Tiếng Việt và có phát ngôn các nội dung tuyên truyền luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin, bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân.

Tiếp đến, ngày 5/12/2018, bị cáo Trang có hành vi trả lời phỏng vấn trên Đài Á Châu tự do (RFA), trong đó có những phát ngôn, tuyên truyền các nội dung thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phỉ báng chính quyền nhân dân thông qua trả lời phỏng vấn tại bài “Phạm Thị Đoan Trang: Tầng lớp trung lưu tại Việt Nam không có khát khao dân chủ và tự do”.

          Cơ quan tố tụng xác định, bị cáo Phạm Thị Đoan Trang phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nhiều lần thực hiện các hành vi làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu có nội dung nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

          Sau khi xem xét toàn diện nội dung vụ án, Hội đồng xét xử sơ thẩm Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định tuyên phạt Phạm Thị Đoan Trang 9 năm tù, theo đúng tội danh bị truy tố.


“Giải thưởng nhân quyền”, nhận diện bản chất phản động, chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch

 


Thêm một lần nữa, tổ chức “Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam” có trụ sở ở bang California, Mỹ lại công bố kết quả bầu chọn “Giải thưởng Nhân quyền Việt Nam 2021”. Đây thực chất là sự "vinh danh nhà hoạt động nhân quyền” như rêu rao hay chính là sự cổ xúy cho những kẻ vi phạm pháp luật Việt Nam?

Sự thật về các “nhà hoạt động nhân quyền” được “vinh danh”

Ngày 23/11, trang mạng của VOA tiếng Việt đưa tin, ngày 20/11 tổ chức “Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam” đã công bố danh sách những người được tổ chức này lựa chọn để “vinh danh” ở “Giải thưởng Nhân quyền Việt Nam 2021”. Đó là Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư (cùng một gia đình), Đinh Thị Thu Thủy và Nguyễn Văn Túc

Ngày 5/5/2021, TAND tỉnh Hòa Bình đã mở phiên tòa hình sự sơ thẩm xét xử các bị cáo Cấn Thị Thêu (sinh năm 1962) và con trai là Trịnh Bá Tư (sinh năm 1989), cùng trú tại xã Ngọc Lương, huyện Yên Thủy, về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”, theo Điều 117 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Theo hồ sơ vụ án, do có tư tưởng tiêu cực, bất mãn nên trong khoảng thời gian từ ngày 9 - 14/1/2020, Trịnh Bá Tư và Cấn Thị Thêu đã sử dụng tài khoản Facebook cá nhân phát trực tiếp 8 video có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Theo đó, Trịnh Bá Tư là người sử dụng điện thoại di động, sử dụng tài khoản Facebook cá nhân của mình trực tiếp nói, phát 1 video; sử dụng tài khoản Facebook của mẹ là Cấn Thị Thêu trực tiếp nói và phát 5 video. Ngoài ra, còn có 2 video do Trịnh Bá Tư dùng điện thoại để quay, mớm lời cho Cấn Thị Thêu nói. Các video trên đều có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân và bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân.

Căn cứ vào những tài liệu chứng cứ và các tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử TAND tỉnh Hòa Bình đã tuyên phạt bị cáo Cấn Thị Thêu và Trịnh Bá Tư mỗi người 8 năm tù giam cùng về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” và 03 năm quản chế tại địa phương sau khi chấp hành xong hình phạt tù.

Điều đáng nói hơn, trước khi bị TAND tỉnh Hòa Bình tuyên phạt 8 năm tù, Cấn Thị Thêu đã có 2 tiền án. Cụ thể, ngày 25/4/2014, Cấn Thị Thêu bị TAND thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” và ngày 30/11/2016, tiếp tục bị TAND thành phố Hà Nội xử phạt 1 năm 8 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, đến nay chưa được xóa án tích. Ngoài ra, Cấn Thị Thêu còn có 1 tiền sự về hành vi gây rối trật tự công cộng.

Đối với Trịnh Bá Phương (cũng là con trai của Cấn Thị Thêu), ngày 23/6/2020, Cơ quan An ninh điều tra Công an thành phố Hà Nội đã tiến hành khởi tố bị can thi hành Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Trịnh Bá Phương (sinh năm 1985, trú tại phường Dương Nội, quận Hà Đông) về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” theo Điều 117 Bộ luật Hình sự năm 2015. Kết quả điều tra ban đầu cho thấy, Trịnh Bá Phương có hành vi soạn thảo, đăng tải, phát tán các video clip, bài viết có nội dung bịa đặt, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân nhằm mục đích chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Hiện Trịnh Bá Phương đang bị tạm giam và chuẩn bị được TAND thành phố Hà Nội xét xử (trước đó, phiên tòa sơ thẩm xét xử Trịnh Bá Phương được TAND thành phố Hà Nội dự kiến tổ chức vào ngày 3/11 nhưng đã bị hoãn vì lý do khách quan).

Ngày 20/1/2021, TAND tỉnh Hậu Giang đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm và tuyên phạt Đinh Thị Thu Thủy (sinh năm 1982, trú tại tỉnh Hậu Giang) 7 năm tù giam về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” theo Khoản 1, Điều 117 Bộ luật Hình sự năm 2015. Hiện Đinh Thị Thu Thủy đang chấp hành bản án của Tòa án.

Nguyễn Văn Túc (sinh năm 1964, tại Thái Bình), tháng 9/2008 bị Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an khởi tố bị can, bắt tạm giam về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”, sau đó đã bị Tòa phúc thẩm TAND cấp cao tại Hà Nội xử phạt 4 năm tù giam và 3 năm quản chế về cùng tội danh. Tháng 9/2017, Nguyễn Văn Túc tiếp tục bị Công an tỉnh Thái Bình khởi tố bị can, bắt tạm giam về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” và đến tháng 9/2018, Nguyễn Văn Túc bị TAND cấp cao tại Hà Nội bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm của TAND tỉnh Thái Bình, tuyên phạt 13 năm tù và 5 năm quản chế về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo Khoản 1, Điều 79 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Với một bảng “thành tích” trong quá khứ như thế này của Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư, Đinh Thị Thu Thủy và Nguyễn Văn Túc thì rõ ràng chúng ta đã biết được bản chất của cái gọi là “Giải thưởng Nhân quyền 2021” mà  tổ chức “Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam” rêu rao là gì. “Giải thưởng” này thực chất đang được tổ chức “Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam” trao cho những kẻ vi phạm pháp luật, những kẻ chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam chứ hoàn toàn không có chuyện được trao cho những “nhà hoạt động nhân quyền” như tổ chức này rêu rao.

 “Giải thưởng Nhân quyền Việt Nam” không phải điều gì đó quá xa lạ và mới mẻ. Hàng năm, tổ chức “Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam” đều lựa chọn một số đối tượng trong giới “hoạt động nhân quyền” ở Việt Nam, thực chất là những đối tượng có hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước để “vinh danh”.

“Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam” là tổ chức do một số người Việt lập ra ở Litte Sài gòn (Mỹ) vào năm 2002 với mục đích “khuyến khích, ủng hộ và đấu tranh dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam”. Tính từ năm 2002 đến nay, tổ chức này đã trao giải thưởng cho hơn 50 cá nhân và 4 tổ chức.

 “Giải thưởng Nhân quyền Việt Nam 2021”  chỉ là một màn kịch vụng về của tổ chức “Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam” khi cổ xúy cho những đối tượng chống Đảng, Nhà nước Việt Nam. (Ảnh: TL)

Trong số các cá nhân đã được “Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam” trao thưởng có thể kể đến những người như: Nguyễn Văn Hải (blogger Điếu cày), Nguyễn Chính Kết, Trần Khải Thanh Thủy, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Cù Huy Hà Vũ, Tạ Phong Tần, Phạm Thị Đoan Trang… Những người này, đa phần đều đã bị tòa án tuyên các bản án khác nhau về hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam.

Năm 2020, “Giải thưởng Nhân quyền Việt Nam” được tổ chức “Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam” trao cho Nguyễn Năng Tĩnh và Nguyễn Văn Hóa. Đây cũng là hai đối tượng thường xuyên có các hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam. Nguyễn Năng Tĩnh bị TAND cấp cao xét xử phúc thẩm, tuyên y án 11 năm tù giam về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” vào tháng 4/2020. Trong khi đó, Nguyễn Văn Hóa bị TAND tỉnh Hà Tĩnh tuyên phạt 7 năm tù giam về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” và cấm đi khỏi nơi cư trú 3 năm vào tháng 11/2017.

Núp bóng tổ chức “nhân quyền” để trao giải thưởng “nhân quyền” cho các đối tượng có hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, vậy mưu đồ thực chất của tổ chức “Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam” là gì?

Không khó để nhận ra mưu đồ của tổ chức “Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam”, đó là thông qua cái gọi là “Giải thưởng Nhân quyền” để tự đánh bóng tên tuổi của tổ chức; đánh bóng tên tuổi, cổ xúy cho các đối tượng chống đối, đối tượng có hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam dưới danh nghĩa “nhà hoạt động nhân quyền”, từ đó cổ xúy tư tưởng, kích động hoạt động chống phá cho các đối tượng này. Hơn nữa, thông qua việc trao “giải thưởng” này, tổ chức “Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam” còn muốn lừa bịp những người nhẹ dạ, cả tin, lôi kéo họ vào các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam dưới các vỏ bọc khác nhau như: “nhà báo tự do”, “nhà hoạt động nhân quyền”, “nhà hoạt động xã hội”…

Đặc biệt, thông qua “vinh danh” các “nhà hoạt động nhân quyền” - thực chất là những đối tượng đã và đang bị bắt, xử lý, tổ chức “Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam” còn muốn kêu gọi các tổ chức quốc tế, tổ chức nhân quyền, dân biểu một số nước lên tiếng gây sức ép với Việt Nam về “dân chủ”, “nhân quyền”, vu cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền”, hạ uy tín của Việt Nam, từ đó can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta. Đây rõ ràng là những âm mưu, thủ đoạn nguy hiểm và hết sức xấu xa.

Có thể thấy rằng, thực chất của cái gọi là “Giải thưởng Nhân quyền Việt Nam 2021” chỉ là một màn kịch vụng về, “vở cũ soạn lại” của tổ chức “Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam”. Đây rõ ràng là một màn kịch được núp bóng “giải thưởng nhân quyền” để “vinh danh”, cổ xúy cho các đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam của tổ chức “Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam”./.  NVS                      

 

VÌ SAO GỌI LÀ CHIẾN THẮNG "HÀ NỘI - ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG"?

Cách dây 49 năm, đế quốc Mỹ đã mở cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B.52 oanh tạc, hủy diệt vào Thủ đô Hà Nội, TP. Hải Phòng, Thái Nguyên với dã tâm biến miền Bắc Việt Nam thành "Thời kỳ đồ đá", nhưng đã thất bại thảm hại. Trận chiến này được coi là chiến thắng Điện Biên Phủ thứ 2 của quân dân Việt Nam.

Năm 1954, với thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ đã làm sụp đổ chế độ thực dân kiểu cũ, buộc thực dân Pháp phải ngồi vào đàm phán với Việt Nam, ký Hiệp định Giơ-ne-vơ (tháng 7/1954), chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam và rút hết quân đội về nước.

Còn chiến thắng 12 ngày đêm cuối năm 1972 đã khởi nguồn cho sự sụp đổ chế độ thực dân kiểu mới, buộc đế quốc Mỹ phải ngồi lại đàm phán với ta ở Hội nghị Pa-ri và ký "Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam" (ngày 27/01/1973).

Hai sự kiện giống nhau về tầm vóc và ý nghĩa, đều giành thắng lợi và buộc kẻ thù phải ngồi đàm phán, ký kết hiệp định công nhận độc lập chủ quyền của dân tộc ta; đều là đỉnh cao của khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Chiến thắng 12 ngày đêm cuối năm 1972 của quân dân miền Bắc và Thủ đô Hà Nội có giá trị lịch sử, ý nghĩa sâu sắc trên nhiều lĩnh vực quân sự, chính trị, ngoại giao,… như trận toàn thắng trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 đã "Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" nên gọi đó là chiến thắng "HÀ NỘI – ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG".

TIA CHỚP 

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH - NHÀ TIÊN TRI VĨ ĐẠI NHẤT THẾ KỶ XX

 Việt Nam làm được những điều mà thế giới chịu thua trong suốt hơn nửa thế kỷ. 

Ra đời năm 1952, với chiều dài 49m, chiều cao 12,5m, sải cánh rộng 56m, sử dụng 8 động cơ phản lực, tầm bay cao tối đa 17km, trọng lượng cất cánh tối đa 221,35 tấn và mang theo 30 tấn bom. Máy bay ném bom chiến lược tầm xa B52 của Mỹ là loại vũ khí hội tụ những thành tựu khoa học tối tân nhất thế giới của ngành công nghiệp hàng không thời điểm hiện tại. Nó nằm trong bộ ba vũ khí chiến lược của Mỹ gồm tên lửa đạn đạo + máy bay ném bom và tàu ngầm hạt nhân. 

B52 đưa ra thông điệp thách thức với phần còn lại của thế giới, người Mỹ tự hào gắn cho nó biệt danh "pháo đài bay bất khả xâm phạm ". Nó hủy diệt mọi mục tiêu quân sự và làm cho đối phương khiếp đảm về ý chí và tinh thần. Một đợt không kích của B52 gồm ba chiếc rải thảm thì một vùng rộng 2km2 sau đó hoàn toàn không tồn tại sự sống. 

-   Năm 1965 Chủ tịch Hồ Chí Minh nói : Dù đế Quốc Mỹ có lắm súng nhiều tiền, dù chúng có B57 - B52 hay "Bê" gì đi chăng  nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh mà đã đánh là nhất định thắng. 

-    Năm 1967 Bác nói tiếp : Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua mới chịu thua. Ở Việt Nam,  Mỹ nhất định sẽ thua nhưng chúng chỉ chịu thua khi thua trên bầu trời Hà Nội. 

Lời tiên đoán của Bác đã trở thành niềm động viên, ý chí quyết thắng để Quân dân miền bắc  chuẩn bị lưới lửa phòng không mạnh gấp hàng chục lần hệ thống phòng không Flash của phát xít Đức bảo vệ Berlin trong chiến tranh thế giới thứ hai sẵn sàng biến B52 thành dàn hỏa thiêu ngay trên bầu trời Hà Nội.

-   Năm 1972 khi hội nghị Paris bàn về hòa bình cho Việt Nam lâm vào bế tắc, đế quốc Mỹ lật lọng với dã tâm chia cắt nước ta thêm một lần nữa. Tổng thống Mỹ,  Richard Nixon tuyên bố với thế giới sẽ đưa Hà Nội về thời kì đồ đá. Với ảo tưởng dùng sức mạnh quân sự buộc chúng ta phải đầu hàng và kí những điều khoản có lợi cho chúng. 

Và chiến dịch Linebacker2 chính thức bắt đầu.

Để tham gia chiến dịch ném bom hủy diệt quy mô lớn,  Mỹ đã điều động 207 máy bay B52, 1071 máy bay chiến thuật, 6 tàu sân bay. 

Chỉ trong 12 ngày đêm 18/12--30/12/ 1972 chúng đã ném 36000 tấn bom (180.000 quả)  xuống Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên... Làm 1318 người dân thiệt mạng và 1260 người bị thương. 

Trước sự tàn bạo của đế Quốc Mỹ, nhân dân Hà Nội đã chiến đấu kiên cường, chưa đầy hai tuần chúng ta đã bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay chiến lược B52.

 Việc B52 bị bắn hạ ở Việt Nam đã làm sốc cả thế giới, cục tình báo trung ương Mỹ CIA cay đắng thừa nhận nếu không chấm dứt ngay việc ném bom thì chỉ cần ba tháng nữa B52 sẽ tuyệt chủng ngay trên bầu trời Hà Nội. 

Và chiến thắng Hà Nội 12 ngày đêm đã mang lại ý nghĩa chính trị và lịch sử to lớn. Đế quốc Mỹ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán, kí hiếp ước Paris và rút toàn bộ quân về nước. 

Đoạn kết hào hùng sau đó thì ai cũng biết, Mỹ cút, ngụy nhào. Ba năm sau, xe Tăng của Quân giải phóng húc đổ cánh cửa dinh độc lập trưa ngày 30/4/1975 thành lũy cuối cùng của chế độ ngụy quyền bị xóa sổ. Đất nước chúng ta hoàn toàn độc lập, Nam Bắc sum họp một nhà và cùng nhau hát vang " như có Bác trong ngày vui đại thắng ".

TIA CHỚP 

NHÓM 72 LÀ GÌ?

NHỮNG KẺ PHẢN ĐẢNG, PHẢN QUỐC, ĐÒI ĐA NGUYÊN ĐA ĐẢNG.!

      Đó là biệt danh không phải chỉ có cộng đồng mạng, mà của cả những người thân, đồng môn, đồng liêu và bạn hữu một thời đặt cho “Nhóm kiến nghị 72”. Trong nhóm này, có ông Nguyễn Đình Lộc (sinh năm 1935), ở huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An và từng là Bộ trưởng thứ hai của Bộ Tư pháp, giai đoạn 1992-2002. Thuộc thành phần cơ bản thời ấy và lại thông minh, ham học nên ông ta đã được cử đi đào tạo tại Liên Xô và có bằng phó tiến sĩ luật học. Sau khi về nước, ông ta được trọng dụng vào các vị trí quan trọng ở nhiều cơ quan khác nhau và là đại biểu Quốc hội các khóa VII (1981-1987), IX (1992-1997), X (1997-2002), XI (2002-2007). Và cũng như Nguyễn Đình Lộc, tất thảy những người trong nhóm này đều từng là cán bộ cấp cao hoặc trí thức có danh tiếng một thời ở các bộ, ngành của Trung ương và các trường đại học tại Hà Nội. Thế nhưng không bao lâu sau khi nghỉ hưu, cả Nguyễn Đình Lộc và những người trong nhóm này vì các lý do khác nhau đã nảy sinh bất mãn, cơ hội chính trị rồi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thành kẻ tự phản lại chính mình.

Vào ngày 4-2-2013, Nguyễn Đình Lộc với vai trò là người cầm đầu “nhóm kiến nghị 72”, gọi là “nhóm nhân sĩ, trí thức”, đã trao kiến nghị sửa Hiến pháp tại Văn phòng Ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Đây thực sự là nhóm chống Đảng, chống Nhà nước, gồm những cái tên cộm cán nhưng bất hảo như: Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ; Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội; giáo sư Hoàng Xuân Phú; nhà văn Nguyên Ngọc; giáo sư Tương Lai; Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội; Phan Hồng Giang, tiến sĩ khoa học, nhà nghiên cứu văn hóa, Hà Nội; Lê Công Giàu, nguyên Phó bí thư Thường trực Thành đoàn thành phố Hồ Chí Minh; Phạm Duy Hiển, giáo sư, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội; Huỳnh Tấn Mẫm, bác sĩ, đại biểu Quốc hội khóa VI, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước năm 1975...

Nhóm người này đã tự xưng trong bản kiến nghị, rằng: “…chúng tôi, những người Việt Nam ký tên dưới đây… nói lên ý kiến để nhân dân ta có một Hiến pháp bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ và sự phát triển bền vững của đất nước, mang lại tự do hạnh phúc cho các thế hệ hiện tại và tương lai…”. Tất nhiên là nhóm người này không quên gửi kèm bản “Dự thảo Hiến pháp 2013” - gọi là tài liệu để tham khảo, thảo luận. Điều muốn nói ở đây là trong nội dung của bản kiến nghị này, có nhiều quan điểm sai trái mà lâu nay một số người thuộc nhóm bất mãn chế độ, cơ hội chính trị, phản động ở cả trong và ngoài nước được sự “tiếp sức” của các thế lực cực đoan, thù địch sử dụng như là một chiêu bài hòng chống phá Đảng và Nhà nước ta. Theo đó, những nội dung chính của kiến nghị chống Đảng này là:


Thứ nhất, họ đưa ra yêu cầu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Điều 4 của Hiến pháp, với lý lẽ vừa hết sức ngụy biện vừa suy diễn một cách tùy tiện, vừa công kích nói xấu Đảng ta. Trong khi đó, thực tế lịch sử cách mạng Việt Nam từ ngày có Đảng lãnh đạo đã chứng minh rằng, chỉ có tổ chức tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam mới mang lại độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân. Hơn nữa, trong toàn bộ quá trình thực thi các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và Hiến pháp năm 1992, đều gắn liền với những thắng lợi vĩ đại do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Đây là sự thật lịch sử hoàn toàn không thể phủ nhận. Do vậy, việc đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Hiến pháp nếu xét về mặt đạo lý thuần túy thì đó là hành động vô ơn, bội nghĩa.


Thứ hai, họ đòi phân chia sự lãnh đạo duy nhất của Đảng, bằng cách yêu cầu thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, với lập luận “ru ngủ”, thậm chí là “mập mờ đánh lận con đen”, như: “Việc Đảng cầm quyền chấp nhận cạnh tranh chính trị là phù hợp với xu thế lịch sử, là điều kiện cho sự phát triển của đất nước, đáp ứng đòi hỏi của nhân dân, kể cả các đảng viên trung thực của Đảng Cộng sản Việt Nam trước bối cảnh hiện nay của đất nước”. Đúng là giọng điệu nói láo, bởi vì chẳng có nhân dân hay đảng viên nào chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, ngoài những kẻ hèn nhát và phản động như chúng. Vì thế, nếu những ai bản lĩnh chính trị không vững vàng, lại nhẹ dạ cả tin và mất cảnh giác thì rất dễ dàng sa vào cái bẫy của họ. Thực tế đã có một số cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, có tài sản không nhỏ đã bị mắc lừa và cuối cùng là thân bại, danh liệt. Chưa hết, có người chỉ vì ham cái “bánh vẽ” của bọn xấu để rồi phải ngồi tù vì tội phản dân, hại nước.

Thứ ba, nhóm này đòi phi chính trị đối với lực lượng vũ trang. Họ đưa ra lập luận hết sức đơn điệu và lạc lõng rằng: “Lực lượng vũ trang phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức nào như quy định tại Điều 70 của Dự thảo Hiến pháp năm 2013”. Từ chỗ lập luận điên rồ này, họ đã đi đến chỗ ngông cuồng bằng việc đưa ra tuyên bố: “Chúng tôi yêu cầu bỏ quy định lực lượng vũ trang phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam”. Đây quả là một đòi hỏi phi lý và vô cùng lố bịch. Vì, nếu không có lực lượng vũ trang tuyệt đối trung thành thì liệu đất nước Việt Nam có được như ngày nay không? Và bài học về tình hình đảo chính ở Myanmar hiện nay là bài học cho những ai còn mơ hồ về vai trò lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng đối với lực lượng vũ trang, cũng như sự trung thành tuyệt đối của lực lượng vũ trang đối với Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đa nguyên chính trị, đa đảng lãnh đạo ắt sẽ xảy ra tranh giành quyền lãnh đạo và cuộc đảo chính ở Myanmar hiện nay, cũng như ở một số quốc gia trên thế giới thời gian qua vừa là bằng chứng vừa là bài học để nhân dân Việt Nam không chấp nhận đa đảng. Vì vậy, “nhóm kiến nghị 72” không đủ tư cách đại diện cho hơn 90 triệu người Việt Nam, mà chỉ là đại diện cho chính họ. Đó là những kẻ bất mãn với chế độ và cơ hội chính trị, rồi lại được các thế lực thù địch, phản động bơm thổi, dụ dỗ, kích động, lôi kéo, cổ xúy để thực hiện chiêu bài “diễn biến hòa bình”, “chiến tranh không tiếng súng” nhằm chống phá Đảng và Nhà nước ta, chống lại khát vọng xây dựng một nước Việt Nam độc lập, hòa bình, thịnh vượng của nhân dân ta.

Xin nhắc lại để mọi người đừng bao giờ quên rằng, những kẻ trở cờ, phỉ báng lịch sử, phản bội lý tưởng và dân tộc..., không bao giờ có kết cục tốt đẹp dù có chui xuống mồ. Luật đời là thế, đối với những kẻ như Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống ngày xưa và thời nay là Hoàng Văn Hoan, Trần Xuân Bách, Nguyễn Hà Phan, Trần Độ, Bùi Tín, Hoàng Minh Chính, Lê Hiếu Đằng, Nguyễn Trọng Vĩnh… thì nỗi nhục phản quốc cùng với tiếng nhơ muôn đời không bao giờ gột rửa được!

Môi Trường ST.

ĐỀ NGHỊ CƠ QUAN CHỨC NĂNG PHẢI XỬ LÝ NGHIÊM BIỂU HIỆN, HÀNH VI CHỐNG NHÀ NƯỚC CỦA ÔNG NGUYỄN VIỆN!

 Nhà Văn, nhà báo Nguyễn Viện đã làm thơ ca ngợi nhà hoạt động xã hội Phạm Đoan Trang nhân dịp nàng ra tòa vì tội "tuyên truyền chống phá nhằm lật đổ nhà nước Việt Nam" .

 Nguyễn Viện, tên khai sinh Nguyễn Văn Viện, sinh ngày 1/2/1949 tại Đồng Xá, Hải Dương, là một nhà báo, nhà văn, tự xuất bản các tác phẩm của mình, nổi bật về các đề tài dục tính và chính trị, được RFA liệt vào Văn học phản kháng.

Được biết nhà thơ, nhà báo Nguyễn Viện cũng từng được cơ quan an ninh mời uống trà nhiều lần vì có những bài viết và phát ngôn được cho là đối nghịch lại đường lối chủ trương của nhà nước. Cũng như Thái Bá Tân, Trần Đăng Khoa, Nguyên Ngọc hay Mạc Văn Trang cùng nhiều vị "học giả" khác, họ hàng ngày vẫn ăn cơm từ đồng tiền lương của Cộng Sản nhưng lại có những phát ngôn bất mãn hoặc cổ súy cho các nhà dân chủ cuội như Phạm Đoan Trang.

Theo cái nhìn văn minh xứ Âu- Mỹ thì họ coi là tự do ngôn luận, tư tưởng đối nghịch với nhà cầm quyền.. vv ... còn theo như chúng ta hiểu nôm na thì gọi là "ăn cơm gạo cộng sản thờ ma ngoại bang - mả cha ko khóc đi khóc tổ mối ".

Thôi thì ai muốn hiểu theo cách nào thì hiểu tùy thuộc vào nhận thức và sự hiểu biết cũng như tư tưởng của từng người. 

Mời cả nhà đọc mấy câu ổng ca ngợi Phạm Đoan Trang dưới đây nhân dịp nàng ra tòa vì tội Tuyên truyền chống phá nhằm lật đổ nhà nước Việt Nam:

"Một người tên Đoan Trang nhưng dũng cảm, kiên cường.

một người con gái nhưng mạnh mẽ, sắc sảo hơn búa liềm.

một công dân bình thường nhưng đủ phi thường cho cường quyền e ngại.

và người ấy bị xét xử vì biết nghĩ đến người khác."

Yêu nước ST.