Thứ Tư, 15 tháng 12, 2021

CHUYỂN ĐỔI SỐ NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TỚI

   Mặc dù được đánh giá có những thành công bước đầu trong việc tạo dựng nền tảng cho sự chuyển đổi số một cách toàn diện trong giai đoạn tới, tuy nhiên, Việt Nam vẫn đang đứng trước nhiều thách thức trong tiến trình chuyển đổi số nền kinh tế. Một số thách thức sẽ là trở ngại lớn cho công cuộc số hóa, như mức thanh toán bằng tiền mặt cao trong nền kinh tế, khả năng chậm thích ứng của người dân, quy mô trao đổi trong ngành kỹ thuật số còn hạn chế, chất lượng lao động thấp và việc thiếu liên kết giữa các ngành số hóa… Để vượt qua các thách thức, sáu hành động mang tính trọng tâm là “Liên kết - Lao động - Logistics - Lòng tin - Chính phủ điện tử - Chi trả online”(4L2C) cần được cân nhắc trong thời gian tới.

Chuyển đổi số là một trong những chủ đề được bàn luận nhiều trong suốt thập niên qua do tính tất yếu của chúng cho sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Nhiều học giả cho rằng, trước bối cảnh đầy biến động của nền kinh tế thế giới, trong chuyển đổi số, các chính phủ cần có chiến lược hành động xuyên suốt, nhất quán để phối hợp, hỗ trợ cho khu vực tư nhân, tăng cường đầu tư cơ bản, thậm chí giữ vị trí dẫn dắt, sáng tạo tiên phong trong một số lĩnh vực công nghệ nhất định. Ngân hàng Thế giới cho rằng, phát triển một nền kinh tế số bền vững đòi hỏi vai trò đặc biệt quan trọng của chính phủ trong xây dựng thiết chế pháp lý nhất quán, kế hoạch phát triển dài hạn, liên kết khu vực, các biện pháp bảo vệ trước rủi ro phát sinh trong và ngoài nước (như gian lận, lỗi công nghệ, tấn công của tổ chức bên ngoài) và đặc biệt là hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân chuyển đổi số thông qua minh bạch hóa thông tin, thúc đẩy cạnh tranh và tạo dựng hệ sinh thái kỹ thuật số.

Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có hành động kịp thời trong xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật, định hình chiến lược phát triển trong tiến trình chuyển đổi số nền kinh tế. Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27-9-2019, của Bộ Chính trị, “Về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, nhấn mạnh mục tiêu đến năm 2025, kinh tế số chiếm khoảng 20% GDP và trên 30% GDP vào năm 2030, với năng suất lao động tăng trên 7%/năm. Năm 2045, Việt Nam đặt mục tiêu trở thành một trong những trung tâm sản xuất và dịch vụ thông minh, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo dẫn đầu châu Á.

Việt Nam đang đứng trước các cơ hội và thách thức trong tiến trình chuyển đổi số. Theo đó, một số tiền đề quan trọng cho chuyển đổi số như: 1- Tỷ lệ người sử dụng các nền tảng internet cao; 2- Sự sẵn sàng thích ứng của người dân, doanh nghiệp và chính quyền trong chuyển đổi số; 3- Mức độ cạnh tranh cao về các dịch vụ internet góp phần đa dạng hóa loại hình dịch vụ và hạ thấp giá thành so với các nước trong khu vực; 4- Các dịch vụ liên kết liên ngành và cấu trúc kết cấu hạ tầng ngày càng được cải thiện.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng còn nhiều thách thức để đạt được các mục tiêu đề ra: 1- Tỷ lệ sử dụng tiền mặt cao gây trở ngại đến phát triển một hệ thống giao dịch đồng bộ; 2- Tỷ lệ lao động có kỹ năng cao còn hạn chế (chỉ khoảng 10%), cản trở tiếp cận tới việc phát triển công nghệ; 3- Khả năng chia sẻ nguồn lực liên ngành còn thấp, khả năng liên kết khu vực hạn chế, đặc biệt khả năng ứng phó trước những rủi ro liên khu vực; 4- Chậm trễ trong xây dựng một số thiết chế pháp lý nhằm ứng phó các vấn đề mới trong nền kinh tế số, đặc biệt liên quan đến việc thu thuế trên nền tảng internet.

Hơn nữa, chuyển đổi số nền kinh tế đòi hỏi một tiến trình phát triển tuần tự với nền tảng vững chắc. Theo Ngân hàng Thế giới, một nền kinh tế số được định nghĩa theo ba tầng, trong đó: 1- Tầng thứ nhất bao gồm các chính sách hỗ trợ vĩ mô và môi trường doanh nghiệp tổng thể, như chính sách thuế, các hiệp định thương mại tự do và các chính sách cạnh tranh; 2- Tầng thứ hai bao gồm các nền tảng cốt lõi để vận hành nền kinh tế số, như: (i) Khả năng truy cập, kết nối, (ii) Mức độ nhận thức người sử dụng, (iii) Các nền tảng số cho chi trả online, (iv) Logistics cho nền kinh tế số, (v) Chính sách, chương trình hành động cho chuyển đổi số; 3- Tầng thứ ba hướng đến sự phát triển sâu rộng hơn dựa trên các nền tảng cơ bản, như doanh nghiệp số, thương mại điện tử, công nghệ thông tin - viễn thông (ICT) và chuyển đổi ngành công nghiệp theo hướng số hóa.

Nền kinh tế số và bối cảnh Việt Nam

Nền kinh tế số đề cập đến một loạt các hoạt động kinh tế sử dụng thông tin và tri thức được số hóa làm yếu tố sản xuất trong nền kinh tế. Theo đó, internet, điện toán đám mây, dữ liệu lớn, tài chính số (fintech) và các công nghệ kỹ thuật mới khác được sử dụng để thu thập, lưu trữ, phân tích và chia sẻ thông tin, thực hiện các tương tác xã hội.

Chuyển đổi số nền kinh tế đang trở thành xu hướng tất yếu trên toàn cầu. Trong sản xuất, công nghệ số đóng vai trò ngày càng tăng, như: 1- Tự động hóa quy trình sản xuất, điều phối sản xuất theo quy trình tiêu chuẩn quốc tế; 2- Giảm giá thành và thu thập thông tin liên tục cho các chủ thể nền kinh tế; 3- Cung cấp nền tảng thanh toán số, tại đó, định hình lại phương thức giao dịch theo hướng tiện ích và nhanh chóng hơn, hơn thế, thanh toán số cũng được xem là một nền tảng quan trọng thúc đẩy tài chính bao trùm, góp phần cải thiện tỷ lệ người dân sử dụng các dịch vụ tài chính cơ bản, các chương trình xã hội (giúp đỡ người nghèo) đúng đối tượng; 4- Mô hình kinh doanh mới trong hệ thống doanh nghiệp được hình thành và phát triển kéo theo sự phát triển bền vững nền kinh tế. Ngoài ra, chuyển đổi số cũng góp phần hạn chế rủi ro trong nền kinh tế truyền thống như hạn chế tác động của đại dịch COVID-19 thông qua một số chương trình làm việc trực tuyến. 

Chuyển đổi số nền kinh tế đòi hỏi những nền tảng số quan trọng, bao gồm: Mức độ kết nối và tốc độ trình duyệt; nền tảng thanh toán số; nền tảng logistics; nền tảng giáo dục người sử dụng bao gồm cả giáo dục phổ thông và niềm tin vào quá trình chuyển đổi số; nền tảng số hóa của doanh nghiệp tư nhân; kế hoạch, chiến lược tổng thể quốc gia. Mức độ kết nối, sự quan tâm của người dân tới dịch vụ internet là thông số quan trọng, theo đó, thời gian trung bình với các thiết bị sử dụng internet của người dân Việt Nam là khoảng 3,6 tiếng/ngày, cao gần gấp 2 lần so với Vương quốc Anh (1,8 tiếng/ngày), Mỹ và Nhật Bản (2 tiếng/ngày).

Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ cạnh tranh các tổ chức thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông của Việt Nam cũng cao hơn so với các quốc gia Đông Nam Á, hệ quả là giá dịch vụ internet của Việt Nam thuộc mức cạnh tranh nhất trong khu vực. Quy mô trao đổi các dịch vụ viễn thông, máy tính và sản phẩm công nghệ thông tin của Việt Nam tăng nhanh chứng tỏ xu thế phát triển nhanh chóng của nền kinh tế số trong tương lai. Khả năng kết nối mạng internet của Việt Nam hiện nay cũng đang là một lợi thế lớn cho tiến trình chuyển đổi số với các thông số về người đăng ký băng rộng di động/cố định cao bậc nhất khu vực Đông Nam Á. Ngược lại, về mặt thanh toán số, mức độ sử dụng các hình thức thanh toán số của người dân lại tương đối thấp so với khu vực, với khoảng 22%. Sự quyết tâm chuyển đổi số của Việt Nam đến từ khu vực doanh nghiệp với tỷ lệ sử dụng thanh toán số lên đến 51%. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới cũng nhấn mạnh, Việt Nam có lợi thế trong việc sử dụng các nền tảng 3G/4G, theo đó, mức độ sẵn sàng của người dân chuyển đổi dịch vụ 3G sang 4G của Việt Nam thuộc nhóm cao nhất so với các nước có cùng mức thu nhập. Nói cách khác, đây chính là cơ hội để Việt Nam có thể thích ứng với các công nghệ 4G tiên tiến hơn như hệ thống an ninh nhận diện gương mặt qua camera, ứng dụng du lịch ảo, nông nghiệp thông minh và tổng đài giải đáp video call. Chất lượng đường truyền, tốc độ dải băng di động/cố định tại Việt Nam tương đối đồng đều và cao hơn so với trung bình của khu vực Đông Nam Á (nếu loại trừ Singapore). Hơn thế, Việt Nam cũng được hưởng lợi từ tốc độ kết nối trung bình khu vực gia tăng - phản ánh tiềm năng phát triển và liên kết quốc tế của khu vực.

Sự phát triển nhanh chóng của các nền tảng truyền thông xã hội cũng đang thay đổi đáng kể cách thức tương tác trên thị trường hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam. Các phương tiện truyền thông xã hội ngày càng được chấp nhận, sử dụng rộng rãi, đặc biệt trong việc quảng cáo sản phẩm, bán hàng,... Các nền tảng này cũng dần trở thành một kênh thông tin quan trọng trong quyết định mua hàng, kết nối bạn bè, gia đình và xã hội.

Các nền tảng thương mại điện tử của Việt Nam cũng rất phong phú với sự cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp, như Lazada, Tiki, Shopee,… Tỷ lệ tăng trưởng người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử ở Việt Nam lên đến 63% trong năm 2017(5). Các loại hình dịch vụ của thương mại điện tử cũng phát triển không ngừng, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người tiêu dùng. Tuy nhiên, hệ thống thuế chưa theo kịp với sự thay đổi trong mô hình kinh doanh mới này.

Thêm một lợi điểm cho tiến trình chuyển đổi số của Việt Nam chính là hệ thống logistics đang được cải thiện cả về khối lượng vận chuyển và liên kết các hệ thống, góp phần giảm giá thành và cung cấp các loại hình dịch vụ đa dạng hơn. Theo đó, sự phát triển thương mại điện tử và các giao dịch từ xa đòi hỏi sức chứa của hệ thống logistics cải thiện như nâng cấp hệ thống kho bãi và các hub kết nối. Chỉ trong ba năm từ 2016 - 2018, chỉ số Hiệu suất logistics(LPI)(6) của Việt Nam đã cải thiện từ vị trí 64 lên 39 trong danh sách hơn 160 quốc gia trên thế giới. Chất lượng và năng lực logistics của Việt Nam cũng được đánh giá cao hơn các quốc gia khu vực Đông Nam Á (trừ Singapore) và sắp đuổi kịp Trung Quốc.

Cuối cùng, một trong những nền tảng quan trọng của chuyển đổi số chính là khu vực tư nhân. Tầm ảnh hưởng khu vực tư nhân trong chuyển đổi số dễ nhận thấy thông qua việc hiện diện tại Việt Nam của các tập đoàn tư nhân, như Grab, Traveloka, Go-Viet (GO-JEK), Lazada,... Không chỉ vậy, sự thích ứng nhanh chóng của khu vực tư nhân trong chuyển đổi số chính là chìa khóa quan trọng để bắt kịp với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thế giới. Khu vực tư nhân Việt Nam ứng dụng công nghệ số phục vụ cho hoạt động kinh doanh tương đối tốt. Theo đó, tỷ lệ sử dụng e-mail và sở hữu website riêng của doanh nghiệp tư nhân để tương tác với khách hàng và nhà cung ứng lên đến 90% và 50%, so với 70% và 40% trung bình thế giới.

Những thách thức

Mặc dù có nhiều điểm thuận lợi cho xây dựng và phát triển nền kinh tế số một cách nhanh chóng, nhưng Việt Nam lại có không ít những thách thức, cả khách quan và chủ quan. Trong đó, một thách thức khách quan dễ nhận thấy chính là yếu tố địa lý và phân bố dân cư dàn trải. Điều này dẫn đến chi phí cao trong lắp đặt thêm các kết cấu hạ tầng và nâng cấp nền tảng sẵn có, đặc biệt tại các khu vực miền núi và vùng thường xuyên xảy ra thiên tai. Hệ quả là, một số khu vực có tốc độ đường truyền internet chậm và chất lượng kết nối băng rộng hạn chế. 

Mặc dù người dân Việt Nam thích ứng nhanh chóng trong chuyển đổi số ở một số khía cạnh (như 3G sang 4G), nhưng đánh giá tổng thể theo chỉ số thích ứng chuyển đổi số toàn cầu (DAI)(7), Việt Nam có vị trí tương đối khiêm tốn.

Nhà nước và doanh nghiệp vẫn là hai khu vực thích ứng tốt hơn với chuyển đổi số tại Việt Nam, dẫu vậy, nếu so sánh với khu vực Đông Nam Á, Chính phủ Việt Nam cần quyết tâm hơn nữa trong tiến trình chuyển đổi số và đón đầu làn sóng công nghệ mới trong nâng cao năng suất, tăng trưởng kinh tế bền vững. Chỉ số thích ứng chuyển đổi số của doanh nghiệp tư nhân mặc dù chỉ thua Malaysia và Singapore trong khu vực, nhưng lại tồn tại những yếu điểm lớn: Quy mô doanh nghiệp chủ yếu vừa và nhỏ không thích ứng tốt với các công nghệ tiên tiến có mức đầu tư cao; công nghệ sử dụng chủ yếu ở cấp độ đơn giản (như e-mail, website) chưa thực sự thích ứng tốt với công nghệ có bản quyền nước ngoài.

Quy mô thương mại dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật số của Việt Nam là tương đối hạn chế so với các quốc gia trong khu vực, như IndonesiaMalaysiaPhilippines và Thái Lan. Hơn nữa, kết cấu hạ tầng cho tiến trình chuyển đổi số cũng có nhiều yếu kém, đặc biệt trong việc chia sẻ hạ tầng thụ động giữa các ngành như cáp quang và tháp phát sóng vẫn chưa được thiết lập hoặc quản lý chặt chẽ.

Việt Nam còn phải đối mặt với thách thức lớn trong thanh toán số. Cụ thể, mức độ tin tưởng vào tiền mặt ở Việt Nam vẫn cao nhất trong khu vực và trên thế giới, với khoảng hơn 90% dân số. Trong khi hầu hết các quốc gia đã chuyển sang việc sử dụng các hình thức thanh toán online từ rất sớm. Việc chưa thể chuyển sang các hình thức thanh toán online tạo ra nhiều hệ quả nghiêm trọng, đặc biệt trong việc phát triển các hệ thống tích hợp trong giao dịch nội địa và quốc tế. Mức độ tiền mặt được lưu chuyển trong nền kinh tế cao cũng làm giảm hiệu quả các chính sách tiền tệ của Chính phủ, đặc biệt chính sách nhằm tạo ra các đòn bẩy tăng trưởng cho nền kinh tế. Thay đổi thói quen sử dụng tiền mặt sẽ là một khó khăn lớn tại Việt Nam khi “văn hóa vỉa hè” và hình thức kinh doanh nhỏ lẻ còn rất phổ biến.

Trình độ lực lượng lao động của Việt Nam cũng là một thách thức để chuyển đổi số nền kinh tế. Người lao động Việt Nam chủ yếu thuộc nhóm có kỹ năng thấp với tỷ lệ hơn 40% (cao nhất khu vực Đông Nam Á) và chỉ khoảng 10% lực lượng lao động có kỹ năng cao (so với hơn 20% của MalaysiaPhilippines và hơn 50% của Singapore). Trong khi đó, để thích ứng với các kỹ năng từ cơ bản đến nâng cao của quá trình chuyển đổi số và tự động hóa đòi hỏi số lượng lớn lao động có kỹ năng cao.

Cuối cùng, một thách thức cho chuyển đổi số nền kinh tế Việt Nam là nâng cao độ phủ của các dải băng tần nhằm phù hợp với nhiều hoạt động, nhu cầu của người sử dụng cũng như giảm giá thành dịch vụ. Việc cải thiện độ phủ của các dải băng tần đòi hỏi sự hỗ trợ của Chính phủ.

"Chìa khóa" cho giai đoạn tới

Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới(8), Việt Nam đang ở giai đoạn xây dựng tầng thứ nhất và thứ hai của quá trình chuyển đổi số nền kinh tế; cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, nền kinh tế thị trường và sáu ưu tiên quan trọng của nền kinh tế số (4L2C): “Liên kết - Lao động - Logistics - Lòng tin - Chính phủ điện tử - Chi trả online”:

Thứ nhất, cải thiện tính liên kết người tiêu dùng với internet tốc độ cao và giá cả phải chăng thông qua thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng của hệ thống tư nhân. Tốc độ đường truyền và chất lượng các dải băng di động/cố định của Việt Nam được đánh giá là tương đối ổn định, tuy nhiên, để phát triển ở mức độ cao hơn cần có những hỗ trợ của Chính phủ trong việc nâng cao độ phủ các dải băng tần một cách đa dạng hơn nữa.

Thứ hai, tăng cường giáo dục kỹ thuật số, thúc đẩy đào tạo nguồn lao động chất lượng cao. Giáo dục trong nền kinh tế số không chỉ để thúc đẩy sự nhận thức chung về cơ hội, thách thức của nền kinh tế số mà đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng lực lượng lao động có kỹ năng, sẵn sàng thích ứng và nắm bắt cơ hội.

Thứ ba, tiếp tục cải thiện hệ thống logistics, đặc biệt trong liên kết kết cấu hạ tầng ngành và liên ngành nhằm tăng khả năng đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng. Chỉ số Hiệu suất logistics có thể sẽ là một trong những chỉ báo quan trọng cho mục tiêu này. Theo đó, mặc dù Việt Nam đang có những thành công nhất định, nhưng việc hỗ trợ của Chính phủ trong kết nối, tổ chức, chia sẻ nguồn lực chung và cung cấp thêm một số “hàng hóa công” là chìa khóa then chốt để cải thiện chất lượng chuyển đổi số nền kinh tế.

Thứ tư, củng cố lòng tin của người sử dụng thông qua bảo đảm các vấn đề liên quan đến bảo mật dữ liệu, an ninh mạng và hệ thống luật pháp công khai, minh bạch đối với hệ thống doanh nghiệp.

Thứ năm, đẩy mạnh hình thức chi trả online. Theo đó, thanh toán kỹ thuật số là một phần thiết yếu và ưu tiên hàng đầu của nền kinh tế số. Việt Nam đang gặp thách thức lớn khi lượng sử dụng tiền mặt trên thị trường vẫn chiếm hơn 90%. Để đánh giá chỉ số này, Global Findex có thể là một chỉ báo quan trọng trong thời gian tới.

Thứ sáu, xúc tiến nhanh hơn nữa một chính phủ điện tử. Chính phủ cần đi đầu trong công cuộc chuyển đổi số. Sự tích cực dẫn dắt nền kinh tế chuyển đổi số của Chính phủ sẽ là chìa khóa quan trọng cho sự thành công của công cuộc này.

Trong công cuộc chuyển đổi số nền kinh tế, Việt Nam đã có những thành công bước đầu trên nhiều khía cạnh. Sự thành công trong chuyển đổi số giai đoạn tiếp theo, với nguồn lực có hạn, đòi hỏi Chính phủ cần xác định rõ những chiến lược ưu tiên, đặc biệt phối hợp với khu vực doanh nghiệp trong tiến trình chuyển đổi số. Dù đang đối mặt với nhiều thách thức, nhưng với sự quyết tâm cao độ của người dân và chính quyền, thì việc đạt được mục tiêu chương trình chuyển đổi số của Việt Nam đến năm 2025, định hướng 2030 sẽ sớm thành hiện thực./.

Top of Form

Bottom of Form

 

 

Vấn đề dân tộc

 Trong những thập kỷ gần đây, các thế lực thù địch ra sức chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, lợi dụng những khó khăn ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số để tuyên truyền kính động, gây mất ổn định, tạo dựng lực lượng chính trị đối lập... kêu gọi sự can thiệp, hỗ trợ từ bên ngoài đế chống phá cách mạng Việt Nam.

Trao tặng giải thưởng Lenin cho TBT Nguyễn Phú Trọng

 

Chiều 15/12, tại Trụ sở Trung ương Đảng đã long trọng diễn ra Lễ trao tặng Giải thưởng Lenin của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên bang Nga cho Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Chủ nghĩa cá nhân - “bệnh mẹ” đẻ ra tham nhũng


          Bệnh tham nhũng trong cán bộ, đảng viên được Hồ Chí Minh diễn đạt trong một thuật ngữ chung nhất là tham ô. Người chỉ rõ bản chất của tham ô là hành vi “lấy của công làm của tư. Là gian lận, tham lam”, “tham ô là trộm cướp”. “Của công” chính là tài sản của nhân dân, do nhân dân đóng góp, phục vụ mục đích chung là giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước. Bất cứ hành vi nào lấy “của công” làm “của tư” cũng đều là hành vi tham ô... Trong “Thư gửi UBND các kỳ, tỉnh, huyện và làng, Người đã chỉ ra 6 “lầm lỗi rất nặng nề” của cán bộ cần phải ra sức sửa chữa đó là: Trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, kiêu ngạo. Trong đó, Người đặc biệt cảnh báo và lên án hành vi “lấy của công dùng vào việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức...”.

          Thực tiễn cho thấy, Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, Đảng Cộng sản Việt Nam có vinh dự lớn lao trở thành Đảng cầm quyền. Thắng lợi của của cuộc cách mạng đó là biểu tượng của trí tuệ, bản lĩnh, sức sáng tạo phi thường và “tư cách của một Đảng cách mệnh chân chính”. Tuy nhiên, nước nhà giành được độc lập chưa lâu, chính quyền cách mạng non trẻ lại phải đối mặt với những khó khăn, thách thức to lớn của giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm; tình cảnh đất nước hiểm nghèo “ngàn cân treo sợi tóc”. Bên cạnh tập trung giải quyết những nhiệm vụ cấp bách của chính quyền dân chủ, nhân dân, Đảng ta lại phải đối phó với giặc nội xâm còn nguy hại hơn đó là chủ nghĩa cá nhân. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể, “miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”. Người khẳng định, chủ nghĩa cá nhân là bệnh mẹ đẻ ra trăm thứ bệnh con nguy hiểm; một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm khác. Trong số những căn bệnh do chủ nghĩa cá nhân gây ra, tham nhũng là căn bệnh nguy hiểm nhất, là “hành động xấu xa nhất, tội lỗi, đê tiện nhất”. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trộm cắp tiền bạc của Nhân dân, tổn hại kinh tế của Chính phủ, cũng là mật thám, phản quốc, nếu không phải là tệ hơn nữa”. Người cũng nhắc lại lời cảnh báo của V. I. Lênin: “Không xử bắn lũ ăn của đút lót… đó là một điều xấu hổ cho những đảng viên cộng sản, cho những người cách mạng… Phải lập tức đề nghị một đạo luật để trừng trị những vụ hối lộ (ăn hối lộ, tặng hối lộ, và những cách hối lộ khác)”. Không phải ngẫu nhiên mà người đứng đầu Đảng và Chính phủ lại dám thẳng thắn phê phán gay gắt như thế đối với những khuyết điểm, sai lầm của cán bộ, đảng viên. Hồ Chí Minh hiểu rất rõ rằng, đây là những lỗi lầm đặc biệt nghiêm trọng, có hại cho dân, cho nước cần phải ra sức kiên trì sửa chữa. Đặc biệt, sự phê phán không chỉ bằng văn thư hành chính nội bộ mà còn công khai lên báo chí công luận, như để tự phê bình, tự kiểm điểm trước nhân dân. Việc chỉ ra đích danh tham ô là hành vi “trộm cướp”, “là mật thám, phản quốc” đủ để quần chúng thấy rõ quan điểm, thái độ của Đảng ta không chấp nhận sự tồn tại của những hành vi ấy trong đời sống chính trị của Đảng và toàn dân. Đồng thời. là sự khởi đầu cho việc hình thành một lối sống văn hóa trong Đảng, một tập quán chính trị tiến bộ và là tiêu chí quan trọng của một đảng “là đạo đức, là văn minh” - đã là cán bộ, đảng viên phải trong sạch, phải nói không với tham nhũng.

          Hồ Chí Minh không chỉ dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, chỉ rõ thực trạng tham nhũng bằng thái độ kiên quyết không “giấu giếm khuyết điểm” mà quan trọng hơn Người đặt niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi tất yếu trong cuộc đấu tranh đó. Đó là niềm tin cách mạng và khoa học chứ không phải là “ý niệm tuyệt đối” trong giáo lý tôn giáo; thể hiện ý chí quyết tâm sửa chữa khuyết điểm, sai lầm, chỉ ra con đường và biện pháp diệt trừ tham nhũng. Bởi vì, đó là danh dự, lương tâm của những người cộng sản, nếu không làm được như vậy thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Tuy nhiên, cũng cần bàn thêm ở đây, để đấu tranh diệt trừ tham nhũng mà không gây ra hoang mang cho những cán bộ dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm và thức tỉnh cán bộ đảng viên “cải tả quy chính”, theo Hồ Chí Minh phải hết sức thận trọng, bình tĩnh, tỉnh táo và mưu lược. Nghĩa là, phải có chiến lược phòng chống tham nhũng cụ thể, xác định rõ quyết tâm, kiện toàn tổ chức, bố trí lực lượng, định ra phương pháp, phương tiện đấu tranh, tuyệt nhiên không phải là hành động tự phát, nhất thời. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Ắt phải có chuẩn bị, kế hoạch, tổ chức, ắt phải có lãnh đạo và trung kiên”. Trên cơ sở nhận diện đúng nguyên nhân nảy sinh tham nhũng, Hồ Chí Minh đã chỉ ra đúng “phác đồ điều trị” để phòng, chống tham nhũng.

 

Phát triển văn hóa Việt Nam trong bối cảnh mới

            Văn hóa gắn liền với quá trình sáng tạo của cá nhân và cộng đồng nhằm hướng đến những giá trị tốt đẹp của chân, thiện, mĩ. Để có thể hoàn thành được các mục tiêu đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trở thành nước phát triển, thu nhập cao như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII đề ra, bên cạnh việc tận dụng, tiếp thu nguồn lực ngoại sinh (từ sự giúp đỡ, hỗ trợ, chuyển giao thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ của các nước tiên tiến…) thì việc phát huy nguồn lực nội sinh (tiềm năng văn hóa, sức sáng tạo của con người) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.  Việt Nam có nhiều lợi thế để phát huy mạnh mẽ nguồn vốn văn hóa dân tộc với trữ lượng nguồn tài nguyên văn hóa dồi dào. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, các thế hệ người Việt không ngừng sáng tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần, kí thác và thể hiện sinh động qua hệ thống di sản văn hóa vật thể (biểu hiện qua những công trình kiến trúc độc đáo, mang đậm dấu ấn, phong cách, mỹ thuật phương Đông; qua nghệ thuật chế tác công cụ lao động, qua hệ thống lâu đài, thành quách…) và di sản văn hóa phi vật thể (biểu hiện qua nghệ thuật ẩm thực, trang phục, nghề thủ công truyền thống, nghi lễ, lễ hội, diễn xướng dân gian, các loại hình nghệ thuật, ngôn ngữ…)

        Bên cạnh nhiều di sản văn hóa độc đáo được UNESCO vinh danh, suốt dọc dài đất nước còn có nhiều thắng cảnh đẹp thuộc nhiều loại hình thiên nhiên đồi núi, trung du, đồng bằng, biển đảo, cùng với đó là những nét đặc sắc trong phong tục tập quán của 54 dân tộc anh em. Đây là nguồn tài nguyên văn hóa vô giá, chứa đựng những giá trị tốt đẹp (lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, đức hy sinh, khát vọng hòa bình…), tạo điểm tựa tinh thần, giúp mỗi người vượt qua khó khăn, trở ngại và không ngừng nỗ lực, vươn lên. Trong điều kiện hiện nay khi trữ lượng nguồn tài nguyên, khoáng sản ngày càng cạn kiệt, việc phát huy nguồn lực di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch, dịch vụ đang tạo ra những giá trị kinh tế, gia tăng nguồn thu ngân sách, giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động.

        Mặt khác, người Việt Nam được đánh giá là thông minh, hiếu học, có đức tính cần cù, chịu khó, giàu ý tưởng, có khát vọng vươn lên. Hiện cơ cấu dân số nước ta đang ở giai đoạn “dân số vàng” với sức nghĩ, sức sáng tạo lớn của thế hệ trẻ về mọi lĩnh vực, trong đó có những sáng tạo về văn hóa, nghệ thuật, cộng với sự hỗ trợ của khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm phát triển công nghiệp văn hóa của các nước tiên tiến, hứa hẹn sẽ tạo ra thị trường văn hóa sôi động, lành mạnh với những sản phẩm văn hóa có giá trị, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng văn hóa mọi tầng lớp nhân dân. Đồng thời qua các kênh truyền thông, qua chiến lược phát triển văn hóa đối ngoại, nhiều sản phẩm văn hóa dân tộc có thể xuất khẩu, quảng bá ra thế giới, từ đó gia tăng vị thế, uy tín, hình ảnh của quốc gia, dân tộc với bạn bè năm châu.
         Khai thác, phát huy mạnh mẽ sức mạnh mềm văn hóa đang là xu hướng phát triển, là con đường, lựa chọn của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Việc nhận diện, khai thác có hiệu quả nguồn vốn văn hóa dân tộc kết hợp với khoa học kỹ thuật hiện đại sẽ hình thành ngành công nghiệp văn hóa (hay còn gọi là công nghiệp sáng tạo, công nghiệp bản quyền, trí tuệ, công nghiệp giải trí). Để đẩy nhanh tốc độ phát triển của ngành công nghiệp văn hóa, các cấp các ngành cần nghiên cứu, xây dựng, hình thành thị trường văn hóa đồng bộ, hiện đại, đầy đủ theo hướng lành mạnh, nhân văn, vì sự phát triển của con người và nền văn hóa dân tộc. Việc gia tăng quyền lực mềm văn hóa sẽ góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, đồng thời ngăn chặn những xuất bản phẩm, những hành vi, hiện tượng phản văn hóa, phản giá trị, ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia dân tộc và sự phát triển, hoàn thiện nhân cách con người, nhất là với thế hệ trẻ.Phát triển văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hiện nay đứng trước nhiều vận hội lớn nhưng đồng thời cũng đối diện với không ít nguy cơ, thách thức. Phát huy sức mạnh mềm văn hóa dân tộc cần được nhấn mạnh trong Dự thảo Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 để vừa bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc, sức mạnh con người Việt Nam, đồng thời không ngừng tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, tạo sức mạnh nội sinh để cùng các nguồn lực khác góp phần hiện thực hóa khát vọng xây dựng nước Việt Nam hùng cường.

Điểm nổi bật trong Dự thảo Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam

              Điểm nổi bật trong Dự thảo Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2030 là sự tiếp nối, truyền tải đầy đủ những tư tưởng, quan điểm của Đảng về xây dựng, phát triển văn hóa, đặc biệt là sự kế thừa những quan điểm chỉ đạo được thể hiện trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (1998), Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI về Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước (2014), Kết luận 76-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của BCH Trung ương Đảng khóa XI về Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước (2020), đồng thời tích hợp, lồng ghép tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII (2021) về khát vọng phát triển, tinh thần cống hiến, phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, nguồn lực quan trọng, cùng với các nguồn lực khác xây dựng thành công nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc. Đồng thời trước xu hướng phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Dự thảo Chiến lược cũng đã đề ra các chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp về xây dựng, hình thành văn hóa số, đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa, xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh. Tuy nhiên trong phần III: Nhiệm vụ và giải pháp, Dự thảo Chiến lược chưa phân tách rõ đâu là nhiệm vụ, đâu là giải pháp, riêng nhiệm vụ, giải pháp thứ 12, Dự thảo viết: “Giải pháp tài chính”, so với tên gọi 11 mục trước thì không tương thích. 

Description: http://www.baovanhoa.vn/Portals/0/EasyDNNNews/thumbs/43477/80740Du-kh%C3%A1ch-tham-quan-th%C3%A1c-B%E1%BA%A3n-Gi%E1%BB%91c.jpg

 Du khách tham quan thác Bản Giốc 


Văn hóa là lĩnh vực đặc biệt nhạy cảm, tinh tế, thẩm thấu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

 

       Mặc dù văn hóa có quy luật vận động riêng nhưng luôn chịu sự tác động, chi phối của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội. Vì thế những biến động, đổi thay theo chiều hướng tích cực và tiêu cực của tình hình trong và ngoài nước đều tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự phát triển của văn hóa. Việc Bộ VHTTDL nghiên cứu, xây dựng Dự thảo Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2030 có ý nghĩa quan trọng, thể hiện sự tiếp nối liên tục trong tư duy phát triển văn hóa của Đảng, Nhà nước; kế thừa, phát huy những thành quả đã đạt được, đồng thời đề ra quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ mới với những giải pháp khả thi để văn hóa phát triển đúng hướng, có nhiều đóng góp quan trọng vào quá trình xây dựng, hình thành nhân cách con người mới – con người xã hội chủ nghĩa để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay. 
       Điểm khác biệt trong Dự thảo Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2030 so với Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 thể hiện ở kết cấu và dung lượng có sự giản lược, ngắn gọn, tập trung vào những mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm (với 3 mục lớn: Quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp). Trong khi đó Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 giới hạn ở 4 lĩnh vực trọng tâm của văn hóa, gồm: Tư tưởng, đạo đức, lối sống, đời sống văn hoá; Di sản văn hoá; Văn học, nghệ thuật; Giao lưu văn hoá với thế giới; Thể chế và thiết chế văn hoá. Sau đó Chiến lược đi sâu đánh giá, nhìn nhận về: 1.Thực trạng văn hoá nước ta hiện nay (những thành tựu, những yếu kém và nguyên nhân chủ yếu); 2. Bối cảnh, cơ hội và thách thức đối với sự phát triển văn hoá nước ta (Bối cảnh quốc tế, Bối cảnh trong nước, Cơ hội và thách thức); 3. Quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ phát triển văn hoá đến năm 2020 (Quan điểm xây dựng và phát triển văn hoá, Mục tiêu phát triển văn hoá đến năm 2020, Nhiệm vụ trọng tâm, Định hướng phát triển các chuyên ngành văn hoá, nghệ thuật); 4. Các giải pháp chủ yếu; 5. Tổ chức thực hiện chiến lược. 
        Như vậy so sánh về mặt kết cấu, dung lượng thì Chiến lược ban hành năm 2009 đã phác thảo, nhận diện rõ nét những thành quả và cả những hạn chế, yếu kém trong công tác phát triển văn hóa những năm qua, nhất là từ khi Đảng ban hành Nghị quyết về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII – 1998); dự báo tình hình trong và ngoài nước với những cơ hội, thách thức, từ đó đề ra quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, tổ chức thực hiện. Điều này giúp các cơ quan chức năng và mỗi người dân nhận thức sâu sắc về tình hình phát triển văn hóa và những công việc cần phải làm để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực, nguồn lực nội sinh quan trọng trong quá trình phát triển bền vững đất nước. 

Bản án cho những kẻ chống phá Nhà nước


          Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã tuyên phạt 2 bị cáo: Trịnh Bá Phương, sinh năm 1985 10 năm tù và Nguyễn Thị Tâm, sinh năm 1972 (cả hai cùng trú tại phường Dương Nội, quận Hà Đông, Hà Nội) 6 năm tù về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo quy định tại Điều 117-Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

          Ngoài hình phạt tù, Tòa còn tuyên phạt quản chế bị cáo Phương 5 năm, quản chế bị cáo Tâm 3 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

          Theo cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, vào các ngày 9, 10, 11-1-2020, lực lượng quân đội thực hiện xây dựng tường rào bảo vệ sân bay Miếu Môn và Công an thành phố Hà Nội thực hiện công tác bảo vệ an ninh trật tự tại địa bàn xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.

        Lợi dụng mạng xã hội Facebook, Trịnh Bá Phương, Nguyễn Thị Tâm đã thực hiện việc phát trực tiếp các video, đăng tải các bài viết, trạng thái, chia sẻ trên tài khoản cá nhân “Trịnh Bá Phương”, “Nguyễn Thị Tâm”, “Tâm Dương Nội” các nội dung liên quan đến sự việc ở xã Đồng Tâm.

          Những thông tin và nội dung phát tán, chia sẻ này đã xuyên tạc, bịa đặt tình hình diễn ra tại Đồng Tâm, phỉ báng chính quyền nhân dân, kích động nhân dân chống đối chính quyền, thóa mạ, hạ uy tín lực lượng chức năng, xúc phạm uy tín danh dự của người khác, gây hoang mang trong nhân dân, nhằm mục đích chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

          Các thông tin và nội dung phát tán của Trịnh Bá Phương, Nguyễn Thị Tâm đã thu hút nhiều lượt người xem, tương tác, chia sẻ, bình luận có nội dung tiêu cực, phản đối chính quyền, tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước.

Ngoài ra, Trịnh Bá Phương còn có hành vi tàng trữ 1 tài liệu dạng sách gồm 278 trang, trong đó trang bìa có in các dòng chữ “Phạm Đoan Trang”, “Cẩm nang nuôi tù”, “Luật Khoa tạp chí”.

          Qua giám định đã kết luận tài liệu này có nội dung tuyên truyền thông tin xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; tuyên truyền thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân.

          Hội đồng xét xử nhận định, hành vi của các bị cáo gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân về đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước; đe dọa phá vỡ sự vững mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; gây ảnh hưởng đến uy tín và sự hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức và cá nhân; gây ảnh hưởng đến việc thực hiện các chính sách kinh tế, xã hội, chính trị của Nhà nước và từng địa phương.

          Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Tâm đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo Trịnh Bá Phương không khai nhận hành vi phạm tội, không thành khẩn, chống đối. Ngoài hình phạt chính, căn cứ quy định tại các Điều 43 và Điều 122 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt bổ sung là quản chế các bị cáo một thời gian sau khi chấp hành xong hình phạt tù.

Kiên quyết chống bọn quan tham

Muốn làm một ngọn bút lông. 

Tả lên những tấm lụa hồng đầu xuân. 

Chữ nghĩa hoá phép như

 thần.

Quét bầy sâu mọt hại dân vào lò.

TRẢ GIÁ THÍCH ĐÁNG.

      Trịnh Bá Phương 10 năm tù và Nguyễn Thị Tâm 6 năm tù về cùng tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Ngày 15/12, Tòa án nhân dân TP.Hà Nội đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm 2 bị cáo: Trịnh Bá Phương (SN 1985) và Nguyễn Thị Tâm (SN 1972), cùng trú quận Hà Đông, Hà Nội về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo quy định tại Điều 117-Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Theo cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân TP.Hà Nội, vào các ngày 9, 10, 11/1/2020, lực lượng quân đội thực hiện xây dựng tường rào bảo vệ sân bay Miếu Môn và Công an TP.Hà Nội thực hiện công tác bảo vệ an ninh trật tự tại địa bàn xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.

Lợi dụng mạng xã hội Facebook, Trịnh Bá Phương, Nguyễn Thị Tâm đã thực hiện việc phát trực tiếp các video, đăng tải các bài viết, trạng thái, chia sẻ trên tài khoản cá nhân “Trịnh Bá Phương”, “Nguyễn Thị Tâm”, “Tâm Dương Nội” các nội dung liên quan đến sự việc ở xã Đồng Tâm.

Những thông tin và nội dung phát tán, chia sẻ này đã xuyên tạc, bịa đặt tình hình diễn ra tại Đồng Tâm, phỉ báng chính quyền nhân dân, kích động nhân dân chống đối chính quyền, thóa mạ, hạ uy tín lực lượng chức năng, xúc phạm uy tín danh dự của người khác, gây hoang mang trong nhân dân, nhằm mục đích chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Các thông tin và nội dung phát tán của Trịnh Bá Phương, Nguyễn Thị Tâm đã thu hút nhiều lượt người xem, tương tác, chia sẻ, bình luận có nội dung tiêu cực, phản đối chính quyền, tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước.

Ngoài ra, Trịnh Bá Phương còn có hành vi tàng trữ 1 tài liệu dạng sách gồm 278 trang, trong đó trang bìa có in các dòng chữ “Phạm Đoan Trang”, “Cẩm nang nuôi tù”, “Luật Khoa tạp chí”. Qua giám định đã kết luận tài liệu này có nội dung tuyên truyền thông tin xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; tuyên truyền thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân.

Hội đồng xét xử nhận định, hành vi của các bị cáo gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân về đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước; đe dọa phá vỡ sự vững mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; gây ảnh hưởng đến uy tín và sự hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức và cá nhân; gây ảnh hưởng đến việc thực hiện các chính sách kinh tế, xã hội, chính trị của Nhà nước và từng địa phương.

Các bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội nên cần thiết phải áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 2 lần trở lên” để xử phạt các bị cáo hình phạt tù nghiêm khắc, nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Tâm đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo Trịnh Bá Phương không khai nhận hành vi phạm tội, không thành khẩn, chống đối. Ngoài hình phạt chính, căn cứ quy định tại các Điều 43 và Điều 122 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt bổ sung là quản chế các bị cáo một thời gian sau khi chấp hành xong hình phạt tù.

Trên cơ sở đó, Tòa đã tuyên phạt 2 bị cáo: Trịnh Bá Phương 10 năm tù và Nguyễn Thị Tâm 6 năm tù về cùng tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Ngoài hình phạt tù, Tòa còn tuyên phạt quản chế bị cáo Phương 5 năm, quản chế bị cáo Tâm 3 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù./.

Yêu nước ST.

CHỐNG THAM NHŨNG - MỘT LÒNG THEO DẢNG

Bọn quan tham đục khoét tiền của dân.

Rồi lợi dụng chức quyền, một lũ zòi 

Còn bao nhiêu chưa bị lộ, bị moi

Để Tổ quốc, non sông, để lòng dân nhức nhối

Không tin Đảng, cảm thấy mình có tội 

Nhưng mỗi một tháng ngày lần lượt lũ quan tham.

Không lĩnh vực nào mà chúng chẳng làm.

Lần lượt theo nhau đeo còng số tám. 

Từ thấp đến cao còn bao nhiêu chưa đưa ra ánh sáng.

 "Đầy tớ " nào liêm khiết, vô tư???...

Để dân đen bớt sự nghi ngờ. 

Giữ vững lập trường, một lòng theo Đảng

NHÀ SỬ HỌC HÀ VĂN TẤN NÓI VỀ KẺ CƠ HỘI, TRÁO TRỞ PHAN HUY LÊ!

      Hà Văn Tấn - một trong bộ tứ sử gia đương đại “Lâm-Lê-Tấn-Vượng” viết: 

“Người viết sử trước hết phải là người trung thực chứ không phải là tên cơ hội".

Sự kiện về ngọn “Đuốc sống” Lê Văn Tám tạo nên mối nghi ngờ không đáng có trong dư luận cả nước, nó kéo dài cả chục năm mà không được giải tỏa bởi chính giới sử học đầu têu chuyện này mà các phương tiện truyền thông chính thống để mặc cho những luồng tin rác rưởi lộng hành và các cơ quan có trách nhiệm thì đều im lặng! Dù các chiến sỹ lứa U30-40 thuở ấy ngày một hiếm hoi, nhưng quyết “làm cho ra lẽ”. Sự thật dần sáng ra:

1. Vụ đốt kho xăng Thị Nghè đêm 17 rạng ngày 18/10/1945 là một chiến công vang dội của tinh thần “Thà chết tự do còn hơn sống nô lệ!” của người dân Nam Bộ đi đầu “tay không giết giặc” trong cuộc chiến tranh vệ quốc thần thánh của dân tộc ta.


2. Chiến sỹ cảm tử là thiếu niên tên TÁM, nhà ở khu vực Đa Kao, Sài Gòn, được sự chỉ đạo của tổ chức tại địa phương, tiến hành đơn phương bí mật bất ngờ, và chiến sỹ đã hy sinh anh dũng, để lại niềm cảm phục yêu thương vô hạn trong lòng đồng đội, đồng bào. Trong điều kiện ấy làm sao có thể đòi hỏi sự chính xác của các nguồn thông tin đa dạng?


3. Nói rằng GS Trần Huy Liệu tự viết ra câu chuyện Lê Văn Tám hoàn toàn là sự đặt điều. Cũng không có căn cứ nào để nói Gs.THL là người đặt ra cái tên Lê Văn Tám và cặp từ “Đuốc sống”. Những tư liệu nêu trên đã chứng minh điều đó.


4. LÊ VĂN TÁM không có tên trong danh sách những anh hùng thời kháng chiến chống Pháp. Chuyện đơn giản vậy mà sao các nhà sử học chính danh không tra cứu? Hành động cảm tử đó rất đáng được truy phong anh hùng nhưng vì hồ sơ Lê Văn Tám còn để trống bởi lý do khách quan, tuy nhiên vẫn là nỗi niềm canh cánh bên lòng đồng bào, đồng đội cùng thời. Bà con ta quen gọi “Anh hùng Lê Văn Tám” là sự tôn vinh người thiếu niên nêu tấm gương anh hùng bất tử. Am và miếu thờ là di tích thiêng liêng để các thế hệ đến đây tưởng niệm.

5. Người thiếu niên “vị quốc vong thân” trọn tấm lòng son trung trinh với dân, với nước cùng thế hệ “thành đồng tổ quốc” tồn tại mãi với nước non này. Mọi bằng chứng đưa ra đều chống lại những lời nói “khẩu thiệt vô bằng” vô trách nhiệm hoặc với ý đồ bất minh, hoàn toàn không có giá trị và không tin được".

===

Ảnh:

1. Miếu thờ Lê Văn Tám.

2. Sự tráo trở của Phan Huy Lê: năm 2005, nói trên báo Người Việt ở hải ngoại, hắn nói như đinh đóng cột rằng "Lê Văn Tám hoàn toàn không có thật" mà là do "Trần Huy Liệu tự viết", "tự sáng tác"! Mãi 4 năm sau, bị phản đối nhiều hắn mới chữa lại trên tạp chí Xưa và Nay rằng "không phải Trần Huy Liệu dựng lên nhân vật Lê Văn Tám, mà xuất phát từ sự kiện có thật, nhưng không biết tên người chiến sỹ đó"??!! Ảnh bài báo "Lấy dối trá trùm lên sự thật" của tác giả Nguyễn Văn Thịnh.

Phan Huy Lê là sử gia hay giả sư, khi viết sử mà ăn nói khẩu thiệt vô bằng, trước sau bất nhất với các nhận định, các chi tiết khác nhau như vậy?

Đó là bản chất của lý tráo trở, phản bội!


Yêu nước ST.

Đánh giá nền dân chủ không thể dựa vào một… hội nghị


Những ngày qua, trên nhiều báo chí nước ngoài, diễn đàn mạng xã hội, các trang truyền thông của các tổ chức phản động lưu vong người Việt liên tục có các bài viết nhắc đến Hội nghị thượng định về dân chủ, tổ chức tại Hoa Kỳ. Hội nghị thượng đỉnh về dân chủ (Summit for Democracy) theo sáng kiến của Tổng thống Mỹ Joe Biden diễn ra trong hai ngày 9 và 10/12/2021, theo hình thức trực tuyến. Tham gia hội nghị này có đại diện của hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ.

XUYÊN TẠC PHẨM CHẤT TRUNG THÀNH CỦA QUÂN ĐỘI - TRÒ “BÌNH MỚI, RƯỢU CŨ” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 Như một thông lệ, cứ vào dịp kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị lại ra sức “tấu” những điệp khúc xuyên tạc quen thuộc, hòng chia rẽ, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, thúc đẩy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Bởi vậy, cảnh giác, nhận rõ và chủ động đấu tranh, bác bỏ các luận điệu, chiêu trò đó là vấn đề quan trọng, cấp thiết.

Vẫn luận điệu cũ, họ tiếp tục rêu rao rằng: “Quân đội không cần trung thành với Đảng, chỉ cần trung thành với Tổ quốc và Nhân dân”. Thực chất luận điểm trên của các thế lực thù địch không có gì mới trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Nó vẫn nằm trong mục tiêu hòng “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, phủ nhận phẩm chất trung thành của Quân đội ta, đưa Quân đội vào trung lập hóa, mất phương hướng chính trị, xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, phai nhạt bản chất giai cấp công nhân, dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, mất sức chiến đấu. Cần khẳng định rõ: đây là luận điểm lố bịch về khoa học - trò hề trong trò chơi chính trị của các thế lực thù địch. Do đó, cần vạch rõ tính chất phản khoa học, phản động của luận điểm trên.
Về hình thức ngôn ngữ thì loại luận điểm trên, nếu nghe qua dễ làm cho người ta cảm thấy chưa có vấn đề gì, thậm chí không ít người còn gật gù chấp nhận. Vì, nó cũng bàn đến phẩm chất trung thành của Quân đội, nhất là sự trung thành với Tổ quốc, với Nhân dân. Nhưng suy xét một cách kỹ lưỡng chúng ta thấy, ẩn chứa sau đó là âm mưu chống phá rất thâm độc của các thế lực thù địch trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Bởi, cách họ không bao giờ công khai lập trường, quan điểm phản động, mà dùng lối cắt xén từ ngữ, đánh tráo khái niệm trong thuật ngụy biện để che đậy bản chất chống phá một cách tinh vi. Thuật ngụy biện cũng để ý tới các mặt, những mối liên hệ khác nhau của sự vật, nhưng lại đưa cái không cơ bản thành cái cơ bản, cái không bản chất thành cái bản chất và ngược lại. Trên thực tế, với thủ đoạn tinh vi, họ đã nhiều lần dùng thuật ngụy biện để xuyên tạc bản chất, phủ nhận giá trị khoa học chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối, quan điểm của Đảng. Song, những việc làm đó của họ khó đánh lừa được dư luận và sẽ chịu thất bại.
Trong luận điểm: Quân đội không cần trung thành với Đảng, chỉ cần trung thành với Tổ quốc và Nhân dân thuật ngụy biện đã tái hiện lại sự cắt xén từ ngữ, đánh tráo khái niệm để biến cái không cơ bản thành cái cơ bản, cái không bản chất thành cái bản chất. Về thực chất là họ phủ nhận phẩm chất trung thành của Quân đội ta đã được hình thành, tôi luyện, củng cố ngay từ khi thành lập đến nay. Họ cắt xén nội dung: phẩm chất trung thành tuyệt đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam làm cho nội hàm của khái niệm phẩm chất trung thành bị biến dạng hoàn toàn về bản chất. Tách và bỏ nội dung trung thành tuyệt đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một sự xuyên tạc trắng trợn, nhằm chống phá Quân đội ta. Ở đây, diễn đạt đầy đủ và đúng đắn phải là: Quân đội nhân dân Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trung thành với mục tiêu bảo vệ cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Điều này được hiến định rõ tại Điều 65, Chương IV, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013: Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Nhân dân, với Đảng và Nhà nước, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế. Do đó, việc họ tách và bỏ một nội dung có tính đặc trưng quan trọng nhất là trung thành tuyệt đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam ra khỏi khái niệm phẩm chất “trung thành” của Quân đội là cắt xén nội dung, xuyên tạc bản chất một cách trắng trợn. Đó là biểu hiện của sự tùy tiện, chủ quan, phi lôgíc mà thuật ngụy biện thường dùng. Họ chỉ dùng nội dung phẩm chất trung thành với Tổ quốc, với Nhân dân nhằm hướng nhận thức của mọi người vào cái chung chung “lửng lơ”, mà không đi đến gốc rễ của vấn đề. Mục đích của họ là để dẫn mọi người đến nhầm lẫn, hòa tan giữa Tổ quốc mang bản chất của giai cấp tư sản và Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mang bản chất giai cấp công nhân là một. Và, từ đó sẽ dẫn tới Quân đội ta mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu. Đây là sự xảo trá, hết sức thâm độc của các thế lực thù địch, nhằm tách bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội ta. Vấn đề này đã được C.Mác - Ph. Ăngghen chỉ rõ: dưới chế độ bóc lột “công nhân không có tổ quốc”1. Vì thế, quần chúng nhân dân không việc gì phải hy sinh xương máu cho cái “Tổ quốc” của giai cấp tư sản. Như vậy, nếu cụ thể vào luận điểm, chỉ trung thành với Tổ quốc, với nhân dân “trần trụi” như thế thì rõ ràng đó là một hình thức đánh lừa quần chúng nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta hiện nay.
Về nội dung, điều đặc biệt nguy hiểm là các thế lực thù địch đã tách, bỏ nội dung trung thành tuyệt đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì nội dung này là cái quyết định nhất đến cái tổng thể của khái niệm trung thành. Trung thành với sự lãnh đạo của Đảng là quyết định nhất bản chất chính trị, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta. Nếu không còn nội dung trung thành tuyệt đối với sự lãnh đạo của Đảng thì sẽ dẫn Quân đội ta đi vào trung lập hóa, bị “phi chính trị hóa” và cuối cùng cái trung thành với Tổ quốc, với Nhân dân cũng sẽ không còn. Về bản chất, giữ vững nội dung trung thành tuyệt đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã bao hàm sự trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và mục tiêu bảo vệ cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Việc tách và bỏ nội dung trên là làm cho khái niệm phẩm chất trung thành của Quân đội ta trở lên trống rỗng, đánh mất bản chất chính trị cách mạng, bản chất giai cấp công nhân; xa rời mục tiêu lý tưởng, mục tiêu chiến đấu,… trượt khỏi chế độ xã hội chủ nghĩa để đi vào quỹ đạo chủ nghĩa tư bản.
Cả lý luận và thực tiễn đều chỉ rõ: không có và không thể có bất kỳ một quân đội nào lại không gắn với một đảng cầm quyền. Và quân đội luôn mang bản chất chính trị, bản chất của một giai cấp nhất định, đó là giai cấp, nhà nước tổ chức ra, sử dụng nó. Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam là người tổ chức, lãnh đạo Quân đội, được khẳng định rõ tại Điều 25, Chương VI, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam: “Đảng lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt; sự lãnh đạo của Đảng được tập trung thống nhất vào Ban Chấp hành Trung ương mà trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư; Đảng quyết định những vấn đề cơ bản xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, là lực lượng nòng cốt cùng toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội, tham gia xây dựng đất nước. Nhà nước thống nhất quản lý đối với Quân đội, Công an và sự nghiệp quốc phòng, an ninh theo quy định của Hiến pháp và pháp luật”. Trong đó, chính trị của Quân đội ta tập trung cao nhất ở phẩm chất trung thành tuyệt đối với sự lãnh đạo của Đảng rồi mới đến các phẩm chất trung thành khác. Việc tách và bỏ phẩm chất trung thành tuyệt đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng có nghĩa đưa Quân đội rơi vào “phi chính trị hóa”, mất định hướng chính trị xã hội chủ nghĩa, vu vơ về chính trị, như một thể xác không có linh hồn. Điều này đã được thực tiễn minh chứng rõ từ việc các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô trước đây là khi đất nước, Tổ quốc diễn ra chính biến chính trị thì quân đội tuyên bố trung lập, mất định hướng chính trị xã hội chủ nghĩa dẫn đến sụp đổ cả một chế độ xã hội. Có nhiều nhân tố dẫn đến việc đánh mất nội dung trung thành tuyệt đối với sự lãnh đạo của Đảng; trong đó, trực tiếp là việc để các quan điểm phản động xâm nhập vào đời sống tinh thần xã hội, mà không được khắc phục, ngăn ngừa, đẩy lùi kịp thời, có hiệu quả từ sớm. Quá trình chuyển từ thúc đẩy “diễn biến” đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cũng bắt đầu từ phương pháp dùng thuật ngụy biện, đánh tráo khái niệm, mà cụ thể là luận điểm: quân đội không cần trung thành với Đảng, chỉ cần trung thành với Tổ quốc và Nhân dân. Từ chỗ xem nhẹ loại luận điểm này đến chấp nhận, nhượng bộ, thỏa hiệp, đánh mất phẩm chất trung thành tuyệt đối với sự lãnh đạo của Đảng và cuối cùng là đứng ngoài chính trị, “phi chính trị hóa” Quân đội. Đây là một ngón đòn rất “lợi hại” của các thế lực thù địch.
Với ý nghĩa đó chúng ta khẳng định rằng, không chấp nhận luận điểm: Quân đội không cần trung thành với Đảng, chỉ cần trung thành với Tổ quốc và Nhân dân. Bởi, nó là một chiêu trò đánh lừa dư luận, hòng phủ nhận sự độc tôn lãnh đạo của Đảng với Quân đội nhân dân Việt Nam, nhằm phá vỡ nền tảng chính trị của Quân đội, làm cho Quân đội mất phương hướng, mục tiêu chiến đấu, không còn khả năng làm nòng cốt cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Vì thế, chúng ta cần kiên quyết đấu tranh bác bỏ; tiếp tục quán triệt lời chỉ dẫn của V.I. Lênin: “Thống nhất về mặt tư tưởng bằng truyền bá những tư tưởng nhất định, làm sáng tỏ sự đối chọi giai cấp, sự phân định ranh giới về mặt tư tưởng. Thống nhất về mặt tư tưởng bằng truyền bá những tư tưởng có khả năng đẩy lên phía trước, những tư tưởng của giai cấp tiên phong”2 vào củng cố thái độ dứt khoát: “phẩm chất trung thành của Quân đội là không thể xuyên tạc” hiện nay. Trên cơ sở đó, định hướng cho các khâu, các bước tuyên truyền, giáo dục, nâng cao chất lượng, đổi mới phương pháp vạch trần thuật ngụy biện trong đấu tranh, phản bác các quan điểm phản khoa học, phản động của các thế lực thù địch. Chỉ như vậy chúng ta mới có cơ sở khoa học đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái một cách thuyết phục, làm vô hiệu hóa chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, góp phần xây dựng Quân đội ta thật sự là một cơ thể cường tráng “miễn dịch” với các vi rút độc hại, sự chống phá của các thế lực thù địch.
-------------
PT-TG. st



THU HỒI CUỐN SÁCH "CHIẾC ÁO LEN MẸ ĐAN" CÓ NỘI DUNG CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

 


Ngày 22/11/2021, Cục Xuất bản, In và Phát hành có Văn bản số 1193/CXBIPH-QLI&PHXBP gửi Sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh, thành phố về việc phối hợp kiểm tra xuất bản phẩm phát hành trên thị trường. Theo đó, Cục Xuất bản, In và Phát hành đề nghị các Sở Thông tin và Truyền thông phối hợp thu hồi cuốn sách “Chiếc áo len mẹ đan” mạo danh Nhà Xuất bản Hồng Đức để xuất bản có nội dung chống Đảng, chống Nhà nước.

NGHỀ KIẾM ĂN CỦA MỘT BỘ PHẬN NGHỆ SĨ Ở HẢI NGOẠI PHẢN QUỐC


Thời đại mà con người chỉ mải miết làm giàu, thậm chí có người còn làm giàu bằng mọi giá, kể cả việc bán rẻ lương tâm và trách nhiệm với quê hương, gia đình, nòi giống.

“TẤM GƯƠNG” về sự suy thoái

 


Ông Trần Văn Nam và đồng phạm biết Tổng công ty 3/2 chuyển nhượng đất trái phép nhưng không chỉ đạo hủy hợp đồng. Các bị can phải chịu trách nhiệm do gây thất thoát hơn 302 tỷ.

Sau khi VKSND Tối cao trả hồ sơ, ngày 13/12, Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an đã hoàn tất kết luận bổ sung, tiếp tục đề nghị truy tố ông Trần Văn Nam (cựu Bí thư Tỉnh ủy Bình Dương) và 20 bị can khác về tội Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí.

Từ kết quả điều tra bổ sung, cơ quan điều tra còn đề nghị truy tố thêm 4 bị can khác về tội danh trên. Họ gồm: Hà Văn Thuận (cựu Phó giám đốc Sở Tài chính Bình Dương), 2 cựu cán bộ của sở này là Vũ Thị Lợi và Nguyễn Kim Liên, Hồ Đắc Hiếu (Tổng giám đốc Công ty Đông Nam).

Theo Bộ Công an, khu đất 43 ha tại phường Hòa Phú, TP Thủ Dầu Một, được UBND tỉnh Bình Dương giao cho Tổng công ty 3/2 quản lý và sử dụng để làm dự án. Năm 2010, tổng công ty liên kết với Công ty Bất động sản Âu Lạc thành lập liên doanh mới là Công ty TNHH Đầu tư xây dựng Tân Phú để xây dựng dự án.

Quá trình thực hiện, bị can Nguyễn Văn Minh (cựu Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc Tổng công ty 3/2) cùng con rể Nguyễn Đại Dương và các bị can đã cố ý làm trái nội dung phê duyệt của Tỉnh ủy Bình Dương. Mục đích để chuyển nhượng trái pháp luật khu đất trên cho Công ty Âu Lạc do Nguyễn Đại Dương thành lập, điều hành.

Cơ quan điều tra xác định giá trị quyền sử dụng khu đất tại thời điểm chuyển nhượng là hơn 552 tỷ đồng. Tuy nhiên, các bị can chuyển nhượng với giá trên 250 tỷ. Như vậy, sai phạm của ông Nam và đồng phạm gây thất thoát cho Nhà nước hơn 302 tỷ.

Trong vụ án, cựu Bí thư Trần Văn Nam, Trần Thanh Liêm (cựu Chủ tịch Bình Dương), Phạm Văn Cành (cựu Phó bí thư Thường trực Tỉnh ủy) và Ngô Dũng Phương (cựu cán bộ Văn phòng Tỉnh ủy) biết Tổng công ty 3/2 chuyển nhượng đất trái phép nhưng không chỉ đạo hủy hợp đồng. Hành vi này tạo điều kiện cho ông Minh và đồng phạm hoàn tất chuyển nhượng khu đất là tài sản Nhà nước sang tư nhân.

"Sau đó các bị can chỉ đạo và thực hiện việc lập khống các văn bản để che giấu sai phạm", kết luận điều tra bổ sung nói về hành vi của ông Nam và nhóm cựu lãnh đạo Bình Dương

Cơ quan điều tra cho rằng hành vi của ông Nam và đồng phạm gắn chặt, không tách rời hành vi của bị can Nguyễn Văn Minh và nhóm thuộc cấp. Các bị can phải chịu trách nhiệm về hậu quả gây thất thoát cho Nhà nước hơn 302 tỷ đồng.

Đối với nhóm Hà Văn Thuận và thuộc cấp, kết luận bổ sung nêu các bị can biết khu đất 43 ha được chuyển nhượng trái quy định nhưng vẫn thẩm định đồng ý, phân loại đất vào tài sản chờ thanh lý. Trong đó, bị can Thuận còn ký tờ trình tham mưu cho UBND tỉnh ban hành quyết định phê duyệt giá trị doanh nghiệp trái quy định, gây thất thoát hơn 1.600 tỷ đồng./. NVS