Mặc dù văn hóa có quy
luật vận động riêng nhưng luôn chịu sự tác động, chi phối của tình hình kinh
tế, chính trị, xã hội. Vì thế những biến động, đổi thay theo chiều hướng tích
cực và tiêu cực của tình hình trong và ngoài nước đều tác động trực tiếp và
gián tiếp đến sự phát triển của văn hóa. Việc Bộ VHTTDL nghiên cứu, xây dựng Dự
thảo Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2030 có ý nghĩa quan trọng,
thể hiện sự tiếp nối liên tục trong tư duy phát triển văn hóa của Đảng, Nhà
nước; kế thừa, phát huy những thành quả đã đạt được, đồng thời đề ra quan điểm,
mục tiêu, nhiệm vụ mới với những giải pháp khả thi để văn hóa phát triển đúng
hướng, có nhiều đóng góp quan trọng vào quá trình xây dựng, hình thành nhân
cách con người mới – con người xã hội chủ nghĩa để xây dựng thành công chủ
nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.
Điểm khác biệt trong
Dự thảo Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2030 so với Chiến lược
phát triển văn hóa đến năm 2020 thể hiện ở kết cấu và dung lượng có sự giản
lược, ngắn gọn, tập trung vào những mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm (với 3 mục
lớn: Quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp). Trong khi đó Chiến lược phát
triển văn hóa đến năm 2020 giới hạn ở 4 lĩnh vực trọng tâm của văn hóa, gồm: Tư
tưởng, đạo đức, lối sống, đời sống văn hoá; Di sản văn hoá; Văn học, nghệ
thuật; Giao lưu văn hoá với thế giới; Thể chế và thiết chế văn hoá. Sau đó
Chiến lược đi sâu đánh giá, nhìn nhận về: 1.Thực trạng văn hoá nước ta hiện nay
(những thành tựu, những yếu kém và nguyên nhân chủ yếu); 2. Bối cảnh, cơ hội và
thách thức đối với sự phát triển văn hoá nước ta (Bối cảnh quốc tế, Bối cảnh trong
nước, Cơ hội và thách thức); 3. Quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ phát triển văn
hoá đến năm 2020 (Quan điểm xây dựng và phát triển văn hoá, Mục tiêu phát triển
văn hoá đến năm 2020, Nhiệm vụ trọng tâm, Định hướng phát triển các chuyên
ngành văn hoá, nghệ thuật); 4. Các giải pháp chủ yếu; 5. Tổ chức thực hiện
chiến lược.
Như vậy so sánh về mặt
kết cấu, dung lượng thì Chiến lược ban hành năm 2009 đã phác thảo, nhận diện rõ
nét những thành quả và cả những hạn chế, yếu kém trong công tác phát triển văn
hóa những năm qua, nhất là từ khi Đảng ban hành Nghị quyết về Xây dựng và phát
triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (Nghị quyết Trung
ương 5 khóa VIII – 1998); dự báo tình hình trong và ngoài nước với những cơ
hội, thách thức, từ đó đề ra quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, tổ chức
thực hiện. Điều này giúp các cơ quan chức năng và mỗi người dân nhận thức sâu
sắc về tình hình phát triển văn hóa và những công việc cần phải làm để văn hóa
thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực, nguồn
lực nội sinh quan trọng trong quá trình phát triển bền vững đất nước.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét