Thứ Tư, 15 tháng 12, 2021

Văn hóa là lĩnh vực đặc biệt nhạy cảm, tinh tế, thẩm thấu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

 

       Mặc dù văn hóa có quy luật vận động riêng nhưng luôn chịu sự tác động, chi phối của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội. Vì thế những biến động, đổi thay theo chiều hướng tích cực và tiêu cực của tình hình trong và ngoài nước đều tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự phát triển của văn hóa. Việc Bộ VHTTDL nghiên cứu, xây dựng Dự thảo Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2030 có ý nghĩa quan trọng, thể hiện sự tiếp nối liên tục trong tư duy phát triển văn hóa của Đảng, Nhà nước; kế thừa, phát huy những thành quả đã đạt được, đồng thời đề ra quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ mới với những giải pháp khả thi để văn hóa phát triển đúng hướng, có nhiều đóng góp quan trọng vào quá trình xây dựng, hình thành nhân cách con người mới – con người xã hội chủ nghĩa để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay. 
       Điểm khác biệt trong Dự thảo Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2030 so với Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 thể hiện ở kết cấu và dung lượng có sự giản lược, ngắn gọn, tập trung vào những mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm (với 3 mục lớn: Quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp). Trong khi đó Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 giới hạn ở 4 lĩnh vực trọng tâm của văn hóa, gồm: Tư tưởng, đạo đức, lối sống, đời sống văn hoá; Di sản văn hoá; Văn học, nghệ thuật; Giao lưu văn hoá với thế giới; Thể chế và thiết chế văn hoá. Sau đó Chiến lược đi sâu đánh giá, nhìn nhận về: 1.Thực trạng văn hoá nước ta hiện nay (những thành tựu, những yếu kém và nguyên nhân chủ yếu); 2. Bối cảnh, cơ hội và thách thức đối với sự phát triển văn hoá nước ta (Bối cảnh quốc tế, Bối cảnh trong nước, Cơ hội và thách thức); 3. Quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ phát triển văn hoá đến năm 2020 (Quan điểm xây dựng và phát triển văn hoá, Mục tiêu phát triển văn hoá đến năm 2020, Nhiệm vụ trọng tâm, Định hướng phát triển các chuyên ngành văn hoá, nghệ thuật); 4. Các giải pháp chủ yếu; 5. Tổ chức thực hiện chiến lược. 
        Như vậy so sánh về mặt kết cấu, dung lượng thì Chiến lược ban hành năm 2009 đã phác thảo, nhận diện rõ nét những thành quả và cả những hạn chế, yếu kém trong công tác phát triển văn hóa những năm qua, nhất là từ khi Đảng ban hành Nghị quyết về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII – 1998); dự báo tình hình trong và ngoài nước với những cơ hội, thách thức, từ đó đề ra quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, tổ chức thực hiện. Điều này giúp các cơ quan chức năng và mỗi người dân nhận thức sâu sắc về tình hình phát triển văn hóa và những công việc cần phải làm để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực, nguồn lực nội sinh quan trọng trong quá trình phát triển bền vững đất nước. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét