CHUYỂN ĐỔI SỐ NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TỚI
Mặc dù được đánh giá có những thành công bước đầu trong việc tạo dựng nền
tảng cho sự chuyển đổi số một cách toàn diện trong giai đoạn tới, tuy
nhiên, Việt Nam vẫn
đang đứng trước nhiều thách thức trong tiến trình chuyển đổi số nền kinh
tế. Một số thách
thức sẽ là trở ngại lớn cho công cuộc số hóa, như mức thanh toán bằng tiền mặt
cao trong nền kinh tế, khả năng chậm thích ứng của người dân, quy mô trao đổi
trong ngành kỹ thuật số còn hạn chế, chất lượng lao động thấp và việc thiếu
liên kết giữa các ngành số hóa… Để vượt qua các thách thức, sáu hành động mang
tính trọng tâm là “Liên kết - Lao động - Logistics - Lòng
tin - Chính phủ điện tử - Chi trả online”(4L2C) cần được cân nhắc trong thời
gian tới.
Chuyển đổi số là một trong những chủ đề
được bàn luận nhiều trong suốt thập niên qua do tính tất yếu của chúng cho sự
phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Nhiều học giả cho rằng, trước bối cảnh
đầy biến động của nền kinh tế thế giới, trong chuyển đổi số, các chính phủ cần
có chiến lược hành động xuyên suốt, nhất quán để phối hợp, hỗ trợ cho khu vực
tư nhân, tăng cường đầu tư cơ bản, thậm chí giữ vị trí dẫn dắt, sáng tạo tiên
phong trong một số lĩnh vực công nghệ nhất định. Ngân hàng Thế giới cho
rằng, phát triển một nền kinh tế số bền vững đòi hỏi vai trò đặc biệt quan
trọng của chính phủ trong xây dựng thiết chế pháp lý nhất quán, kế hoạch phát
triển dài hạn, liên kết khu vực, các biện pháp bảo vệ trước rủi ro phát sinh
trong và ngoài nước (như gian lận, lỗi công nghệ, tấn công của tổ chức bên
ngoài) và đặc biệt là hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân chuyển đổi số thông qua minh
bạch hóa thông tin, thúc đẩy cạnh tranh và tạo dựng hệ sinh thái kỹ
thuật số.
Việt Nam được đánh giá là một trong
những quốc gia có hành động kịp thời trong xây dựng và hoàn thiện các quy định
pháp luật, định hình chiến lược phát triển trong tiến trình chuyển đổi số nền
kinh tế. Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày
27-9-2019, của Bộ Chính trị, “Về một số chủ trương, chính
sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, nhấn mạnh
mục tiêu đến năm 2025, kinh tế số chiếm khoảng 20% GDP và trên 30% GDP vào năm
2030, với năng suất lao động tăng trên 7%/năm. Năm 2045, Việt Nam đặt mục tiêu
trở thành một trong những trung tâm sản xuất và dịch vụ thông minh, khởi
nghiệp, đổi mới sáng tạo dẫn đầu châu Á.
Việt Nam đang đứng trước
các cơ hội và thách thức trong tiến trình chuyển đổi số. Theo đó, một số tiền
đề quan trọng cho chuyển đổi số như: 1- Tỷ lệ người sử dụng các nền tảng
internet cao; 2- Sự sẵn sàng thích ứng của người dân, doanh nghiệp và chính
quyền trong chuyển đổi số; 3- Mức độ cạnh tranh cao về các dịch vụ internet góp
phần đa dạng hóa loại hình dịch vụ và hạ thấp giá thành so với các nước trong
khu vực; 4- Các dịch vụ liên kết liên ngành và cấu trúc kết cấu hạ tầng ngày
càng được cải thiện.
Bên cạnh đó, Việt Nam
cũng còn nhiều thách thức để đạt được các mục tiêu đề ra: 1- Tỷ lệ sử dụng tiền
mặt cao gây trở ngại đến phát triển một hệ thống giao dịch đồng bộ; 2- Tỷ lệ
lao động có kỹ năng cao còn hạn chế (chỉ khoảng 10%), cản trở tiếp cận tới việc
phát triển công nghệ; 3- Khả năng chia sẻ nguồn lực liên ngành còn thấp, khả
năng liên kết khu vực hạn chế, đặc biệt khả năng ứng phó trước những rủi ro
liên khu vực; 4- Chậm trễ trong xây dựng một số thiết chế pháp lý nhằm ứng phó
các vấn đề mới trong nền kinh tế số, đặc biệt liên quan đến việc thu thuế trên
nền tảng internet.
Hơn nữa, chuyển đổi số
nền kinh tế đòi hỏi một tiến trình phát triển tuần tự với nền tảng vững chắc.
Theo Ngân hàng Thế giới, một nền kinh tế số
được định nghĩa theo ba tầng, trong đó: 1- Tầng thứ nhất bao gồm các chính sách
hỗ trợ vĩ mô và môi trường doanh nghiệp tổng thể, như chính sách thuế, các hiệp
định thương mại tự do và các chính sách cạnh tranh; 2- Tầng thứ hai bao gồm các
nền tảng cốt lõi để vận hành nền kinh tế số, như: (i) Khả năng truy cập, kết
nối, (ii) Mức độ nhận thức người sử dụng, (iii) Các nền tảng số cho chi trả online,
(iv) Logistics cho nền kinh tế số, (v) Chính sách, chương trình hành động cho chuyển
đổi số; 3- Tầng thứ ba hướng đến sự phát triển sâu rộng hơn dựa trên các nền
tảng cơ bản, như doanh nghiệp số, thương mại điện tử, công nghệ thông tin -
viễn thông (ICT) và chuyển đổi ngành công nghiệp theo hướng số hóa.
Nền kinh tế
số và bối cảnh Việt Nam
Nền kinh tế số đề cập đến một loạt các
hoạt động kinh tế sử dụng thông tin và tri thức được số hóa làm yếu tố sản xuất
trong nền kinh tế. Theo đó, internet, điện toán đám mây, dữ liệu lớn, tài
chính số (fintech) và các công nghệ kỹ thuật mới khác được sử dụng để thu thập,
lưu trữ, phân tích và chia sẻ thông tin, thực hiện các tương tác xã hội.
Chuyển đổi số nền kinh tế đang trở thành
xu hướng tất yếu trên toàn cầu. Trong sản xuất, công nghệ số đóng vai trò ngày
càng tăng, như: 1- Tự động hóa quy trình sản xuất, điều phối sản xuất theo quy
trình tiêu chuẩn quốc tế; 2- Giảm giá thành và thu thập thông tin liên tục cho
các chủ thể nền kinh tế; 3- Cung cấp nền tảng thanh toán số, tại đó, định hình
lại phương thức giao dịch theo hướng tiện ích và nhanh chóng hơn, hơn thế,
thanh toán số cũng được xem là một nền tảng quan trọng thúc đẩy tài chính bao
trùm, góp phần cải thiện tỷ lệ người dân sử dụng các dịch vụ tài chính cơ bản,
các chương trình xã hội (giúp đỡ người nghèo) đúng đối tượng; 4- Mô hình kinh
doanh mới trong hệ thống doanh nghiệp được hình thành và phát triển kéo theo sự
phát triển bền vững nền kinh tế. Ngoài ra, chuyển đổi số cũng góp phần hạn chế
rủi ro trong nền kinh tế truyền thống như hạn chế tác động của đại dịch
COVID-19 thông qua một số chương trình làm việc trực tuyến.
Chuyển đổi số nền kinh tế đòi hỏi những
nền tảng số quan trọng, bao gồm: Mức độ kết nối và tốc độ trình duyệt; nền tảng
thanh toán số; nền tảng logistics; nền tảng giáo dục người sử dụng bao gồm cả giáo dục phổ thông và niềm tin
vào quá trình chuyển đổi số; nền tảng số hóa của doanh nghiệp tư nhân; kế
hoạch, chiến lược tổng thể quốc gia. Mức độ kết nối, sự quan tâm của người dân
tới dịch vụ internet là thông số quan trọng, theo đó, thời gian trung bình với
các thiết bị sử dụng internet của người dân Việt Nam là khoảng 3,6 tiếng/ngày,
cao gần gấp 2 lần so với Vương quốc Anh (1,8 tiếng/ngày), Mỹ và Nhật Bản (2
tiếng/ngày).
Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ cạnh
tranh các tổ chức thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông của Việt Nam
cũng cao hơn so với các quốc gia Đông Nam Á, hệ quả là giá dịch vụ internet của
Việt Nam thuộc mức cạnh tranh nhất trong khu vực. Quy mô trao đổi các dịch vụ
viễn thông, máy tính và sản phẩm công nghệ thông tin của Việt Nam tăng nhanh
chứng tỏ xu thế phát triển nhanh chóng của nền kinh tế số trong tương lai. Khả
năng kết nối mạng internet của Việt Nam hiện nay cũng đang là một lợi thế lớn
cho tiến trình chuyển đổi số với các thông số về người đăng ký băng rộng di
động/cố định cao bậc nhất khu vực Đông Nam Á. Ngược lại, về mặt thanh toán số,
mức độ sử dụng các hình thức thanh toán số của người dân lại tương đối thấp so
với khu vực, với khoảng 22%. Sự quyết tâm chuyển đổi số của Việt Nam đến từ khu
vực doanh nghiệp với tỷ lệ sử dụng thanh toán số lên đến 51%. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới cũng nhấn
mạnh, Việt Nam có lợi thế trong việc sử dụng các nền tảng 3G/4G, theo đó, mức
độ sẵn sàng của người dân chuyển đổi dịch vụ 3G sang 4G của Việt Nam thuộc nhóm
cao nhất so với các nước có cùng mức thu nhập. Nói cách khác, đây chính là cơ
hội để Việt Nam có thể thích ứng với các công nghệ 4G tiên tiến hơn như hệ
thống an ninh nhận diện gương mặt qua camera, ứng dụng du lịch ảo, nông nghiệp
thông minh và tổng đài giải đáp video call. Chất lượng đường truyền, tốc độ dải
băng di động/cố định tại Việt Nam tương đối đồng đều và cao hơn so với trung
bình của khu vực Đông Nam Á (nếu loại trừ Singapore). Hơn thế, Việt Nam cũng được hưởng lợi
từ tốc độ kết nối trung bình khu vực gia tăng - phản ánh tiềm năng phát triển
và liên kết quốc tế của khu vực.
Sự phát triển nhanh chóng của các nền
tảng truyền thông xã hội cũng đang thay đổi đáng kể cách thức tương tác trên
thị trường hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam. Các phương tiện truyền thông xã
hội ngày càng được chấp nhận, sử dụng rộng rãi, đặc biệt trong việc quảng cáo
sản phẩm, bán hàng,... Các nền tảng này cũng dần trở thành một kênh thông tin
quan trọng trong quyết định mua hàng, kết nối bạn bè, gia đình và xã hội.
Các nền tảng thương mại điện tử của Việt
Nam cũng rất phong phú với sự cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp, như
Lazada, Tiki, Shopee,… Tỷ lệ tăng trưởng người tiêu dùng trên các nền tảng
thương mại điện tử ở Việt Nam lên đến 63% trong năm 2017(5). Các loại hình dịch
vụ của thương mại điện tử cũng phát triển không ngừng, đáp ứng nhu cầu ngày
càng đa dạng của người tiêu dùng. Tuy nhiên, hệ thống thuế chưa theo kịp với sự
thay đổi trong mô hình kinh doanh mới này.
Thêm một lợi điểm cho tiến trình chuyển
đổi số của Việt Nam chính là hệ thống logistics đang được cải thiện cả về khối
lượng vận chuyển và liên kết các hệ thống, góp phần giảm giá thành và cung cấp
các loại hình dịch vụ đa dạng hơn. Theo đó, sự phát triển thương mại điện tử và
các giao dịch từ xa đòi hỏi sức chứa của hệ thống logistics cải thiện như nâng cấp hệ thống
kho bãi và các hub kết nối. Chỉ trong ba năm từ 2016 - 2018, chỉ số Hiệu
suất logistics(LPI)(6) của
Việt Nam đã cải thiện từ vị trí 64 lên 39 trong danh sách hơn 160 quốc gia trên
thế giới. Chất lượng và năng lực logistics của Việt Nam cũng được đánh giá
cao hơn các quốc gia khu vực Đông Nam Á (trừ Singapore) và sắp đuổi kịp Trung
Quốc.
Cuối cùng, một trong những nền tảng quan
trọng của chuyển đổi số chính là khu vực tư nhân. Tầm ảnh hưởng khu vực tư nhân
trong chuyển đổi số dễ nhận thấy thông qua việc hiện diện tại Việt Nam của các
tập đoàn tư nhân, như Grab, Traveloka, Go-Viet (GO-JEK), Lazada,... Không chỉ
vậy, sự thích ứng nhanh chóng của khu vực tư nhân trong chuyển đổi số chính là
chìa khóa quan trọng để bắt kịp với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thế
giới. Khu vực tư nhân Việt Nam ứng dụng công nghệ số phục vụ cho hoạt động kinh
doanh tương đối tốt. Theo đó, tỷ lệ sử dụng e-mail và sở hữu website riêng của
doanh nghiệp tư nhân để tương tác với khách hàng và nhà cung ứng lên đến 90% và
50%, so với 70% và 40% trung bình thế giới.
Những thách
thức
Mặc dù có nhiều điểm thuận lợi cho xây
dựng và phát triển nền kinh tế số một cách nhanh chóng, nhưng Việt Nam lại có
không ít những thách thức, cả khách quan và chủ quan. Trong đó, một thách thức
khách quan dễ nhận thấy chính là yếu tố địa lý và phân bố dân cư dàn trải. Điều
này dẫn đến chi phí cao trong lắp đặt thêm các kết cấu hạ tầng và nâng cấp nền
tảng sẵn có, đặc biệt tại các khu vực miền núi và vùng thường xuyên xảy ra
thiên tai. Hệ quả là, một số khu vực có tốc độ đường truyền internet chậm và
chất lượng kết nối băng rộng hạn chế.
Mặc dù người dân Việt Nam thích ứng
nhanh chóng trong chuyển đổi số ở một số khía cạnh (như 3G sang 4G), nhưng đánh
giá tổng thể theo chỉ số thích ứng chuyển đổi số toàn cầu (DAI)(7), Việt Nam có
vị trí tương đối khiêm tốn.
Nhà nước và doanh nghiệp vẫn là hai khu
vực thích ứng tốt hơn với chuyển đổi số tại Việt Nam, dẫu vậy, nếu so sánh với
khu vực Đông Nam Á, Chính phủ Việt Nam cần quyết tâm hơn nữa trong tiến trình
chuyển đổi số và đón đầu làn sóng công nghệ mới trong nâng cao năng suất, tăng
trưởng kinh tế bền vững. Chỉ số thích ứng chuyển đổi số của doanh nghiệp tư
nhân mặc dù chỉ thua Malaysia và Singapore trong khu vực, nhưng lại tồn tại những yếu điểm lớn: Quy
mô doanh nghiệp chủ yếu vừa và nhỏ không thích ứng tốt với các công nghệ tiên
tiến có mức đầu tư cao; công nghệ sử dụng chủ yếu ở cấp độ đơn giản (như
e-mail, website) chưa thực sự thích ứng tốt với công nghệ có bản quyền nước
ngoài.
Quy mô thương mại dịch vụ hỗ trợ kỹ
thuật số của Việt Nam là tương đối hạn chế so với các quốc gia trong khu vực,
như Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái
Lan. Hơn nữa, kết cấu hạ tầng cho tiến trình chuyển đổi số cũng có nhiều yếu
kém, đặc biệt trong việc chia sẻ hạ tầng thụ động giữa các ngành như cáp quang
và tháp phát sóng vẫn chưa được thiết lập hoặc quản lý chặt chẽ.
Việt Nam còn phải đối mặt với thách thức
lớn trong thanh toán số. Cụ thể, mức độ tin tưởng vào tiền mặt ở Việt Nam vẫn
cao nhất trong khu vực và trên thế giới, với khoảng hơn 90% dân số. Trong khi
hầu hết các quốc gia đã chuyển sang việc sử dụng các hình thức thanh toán
online từ rất sớm. Việc chưa thể chuyển sang các hình thức thanh toán online
tạo ra nhiều hệ quả nghiêm trọng, đặc biệt trong việc phát triển các hệ thống
tích hợp trong giao dịch nội địa và quốc tế. Mức độ tiền mặt được lưu chuyển
trong nền kinh tế cao cũng làm giảm hiệu quả các chính sách tiền tệ của Chính
phủ, đặc biệt chính sách nhằm tạo ra các đòn bẩy tăng trưởng cho nền kinh tế.
Thay đổi thói quen sử dụng tiền mặt sẽ là một khó khăn lớn tại Việt Nam khi
“văn hóa vỉa hè” và hình thức kinh doanh nhỏ lẻ còn rất phổ biến.
Trình độ lực lượng lao động của Việt Nam
cũng là một thách thức để chuyển đổi số nền kinh tế. Người lao động Việt Nam
chủ yếu thuộc nhóm có kỹ năng thấp với tỷ lệ hơn 40% (cao nhất khu vực Đông Nam
Á) và chỉ khoảng 10% lực lượng lao động có kỹ năng cao (so với hơn 20%
của Malaysia, Philippines và hơn 50% của Singapore). Trong khi đó, để thích ứng với các kỹ năng
từ cơ bản đến nâng cao của quá trình chuyển đổi số và tự động hóa đòi hỏi số
lượng lớn lao động có kỹ năng cao.
Cuối cùng, một thách thức cho chuyển đổi
số nền kinh tế Việt Nam là nâng cao độ phủ của các dải băng tần nhằm phù hợp
với nhiều hoạt động, nhu cầu của người sử dụng cũng như giảm giá thành dịch vụ.
Việc cải thiện độ phủ của các dải băng tần đòi hỏi sự hỗ trợ của Chính phủ.
"Chìa
khóa" cho giai đoạn tới
Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới(8), Việt Nam đang ở giai đoạn xây dựng
tầng thứ nhất và thứ hai của quá trình chuyển đổi số nền kinh tế; cần tiếp tục
xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, nền kinh tế thị trường và sáu ưu
tiên quan trọng của nền kinh tế số (4L2C): “Liên kết - Lao động - Logistics - Lòng tin - Chính phủ điện tử -
Chi trả online”:
Thứ nhất, cải thiện tính liên kết người tiêu dùng với internet tốc độ cao và
giá cả phải chăng thông qua thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng của hệ thống tư nhân.
Tốc độ đường truyền và chất lượng các dải băng di động/cố định của Việt Nam
được đánh giá là tương đối ổn định, tuy nhiên, để phát triển ở mức độ cao hơn
cần có những hỗ trợ của Chính phủ trong việc nâng cao độ phủ các dải băng tần
một cách đa dạng hơn nữa.
Thứ hai, tăng cường giáo dục kỹ thuật số, thúc đẩy đào tạo nguồn lao động chất
lượng cao. Giáo dục trong nền kinh tế số không chỉ để thúc đẩy sự nhận thức
chung về cơ hội, thách thức của nền kinh tế số mà đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng
lực lượng lao động có kỹ năng, sẵn sàng thích ứng và nắm bắt cơ hội.
Thứ ba, tiếp tục cải thiện hệ thống logistics, đặc biệt trong liên kết kết cấu hạ
tầng ngành và liên ngành nhằm tăng khả năng đáp ứng nhu cầu đa dạng của người
tiêu dùng. Chỉ số Hiệu suất logistics có thể sẽ là một trong những chỉ
báo quan trọng cho mục tiêu này. Theo đó, mặc dù Việt Nam đang có những thành
công nhất định, nhưng việc hỗ trợ của Chính phủ trong kết nối, tổ chức, chia sẻ
nguồn lực chung và cung cấp thêm một số “hàng hóa công” là chìa khóa then chốt
để cải thiện chất lượng chuyển đổi số nền kinh tế.
Thứ tư, củng cố lòng tin của người sử dụng thông qua bảo đảm các vấn đề liên
quan đến bảo mật dữ liệu, an ninh mạng và hệ thống luật pháp công khai, minh
bạch đối với hệ thống doanh nghiệp.
Thứ năm, đẩy mạnh hình thức chi trả online. Theo đó, thanh toán kỹ thuật số là
một phần thiết yếu và ưu tiên hàng đầu của nền kinh tế số. Việt Nam đang gặp
thách thức lớn khi lượng sử dụng tiền mặt trên thị trường vẫn chiếm hơn 90%. Để
đánh giá chỉ số này, Global Findex có thể là một chỉ báo quan trọng trong thời
gian tới.
Thứ sáu, xúc tiến nhanh hơn nữa một chính phủ điện tử. Chính phủ cần đi đầu
trong công cuộc chuyển đổi số. Sự tích cực dẫn dắt nền kinh tế chuyển đổi số
của Chính phủ sẽ là chìa khóa quan trọng cho sự thành công của công cuộc này.
Trong công cuộc chuyển đổi số nền kinh
tế, Việt Nam đã có những thành công bước đầu trên nhiều khía cạnh. Sự thành
công trong chuyển đổi số giai đoạn tiếp theo, với nguồn lực có hạn, đòi hỏi
Chính phủ cần xác định rõ những chiến lược ưu tiên, đặc biệt phối hợp với khu
vực doanh nghiệp trong tiến trình chuyển đổi số. Dù đang đối mặt với nhiều
thách thức, nhưng với sự quyết tâm cao độ của người dân và chính quyền, thì
việc đạt được mục tiêu chương trình chuyển
đổi số của Việt Nam đến năm 2025, định hướng 2030 sẽ sớm thành hiện thực./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét