Thứ Năm, 30 tháng 6, 2022

“ANH HÙNG MÔI TRƯỜNG”, “NHÀ LÃNH ĐẠO XÃ HỘI DÂN SỰ” - NGỤY THỊ KHANH LÀ AI?

Đối với những kẻ hoạt động vi phạm pháp luật và nhận được sự quan tâm của các nghị sĩ, chính khách các quốc gia phương Tây thì sau Phạm Thị Đoan Trang có lẽ Ngụy Thị Khanh là người được đề cập đến nhiều nhất trong những năm gần đây. Cũng giống như Phạm Thị Đoan Trang, ngay sau khi thông tin Ngụy Thị Khanh bị Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội tuyên phạt 02 năm tù về tội “Trốn thuế” được quy định tại Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 trên diễn đàn của các cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam như RFA, Voa Tiếng Việt, “Việt Tân” đã đăng tải thông tin về việcBộ Ngoại giao Mỹ, Tổng lãnh sự quán Canada tại thành phố Hồ Chí Minh, Đại sứ quán Anh tại Việt Nam, Bà Tasneem Essop, Giám đốc Điều hành của Mạng lưới hành động khí hậu (CAN)... thực hiện màn “lên đồng” để “tẩy tội”, yêu cầu chính quyền Việt Nam trả tự do ngay lập tức cho Ngụy Thị Khanh.
Các cá nhân, tổ chức trên đãgắn cho người vi phạm pháp luật như Ngụy Thị Khanh với những mỹ từ như “anh hùng môi trường”, “nhà lãnh đạo xã hội dân sự’ hay “nhà hoạt động môi trường từng đoạt giải thưởng môi trường danh giá của thế giới” và từ đó cho rằng việc Ngụy Thị Khánh bị tuyên phạt 02 năm tù giam có thể sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu về biến đổi khí hậu và môi trường của Việt Nam và thậm chí họ còn cho rằng Ngụy Thị Khanh bị xử lý hình sự vì những hoạt động và ý kiến liên quan đến biến đổi khí hậu.
Vậy Ngụy Thị Khanh là ai? Việc bắt, điều tra, xét xử được thực hiện như thế nào?
Ngụy Thị Khanh là Giám đốc Trung tâm Phát triển sáng tạo xanh GreenID, được biết đến là một tổ chức khoa học và công nghệ, gắn nhãn là “tổ chức xã hội dân sự”, được thành lập vào năm 2011 để nghiên cứu, cung cấp các giải pháp năng lượng bền vũng cho cộng đồng; tham gia tư vấn, góp ý về các lĩnh vực quy hoạch năng lượng, năng lượng tái tạo, biến đổi khí hậu, giảm sử dụng năng lượng hóa thạch hay cung cấp nước sạch và điển hình trong số đó là tư vấn cho việc cắt giảm năng lượng điện than và tăng cường năng lượng điện gió, điện mặt trời ở Việt Nam.
Là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, mang hình hài của một tổ chức "xã hội dân sự" mà bị khởi tố vụ án, bắt tạm giam và tuyên phạt về hành vi Trốn thuế như Ngụy Thị Khanh vốn dĩ rất bình thường đặc biệt là lĩnh vực an ninh phi truyền thống như năng lượng điện than, điện gió, điện mặt trời. Nguy Thị Khanh cũng đã từng được Quỹ môi trường Goldman ở San Francisco (Mỹ) trao giải thưởng môi trường Goldman năm 2018 – một giải thưởng được cho là lớn nhất thế giới dành cho các nhà hoạt động môi trường cơ sở khi họ đánh giá Trung tâm của Ngụy Thị Khanh đã sử dụng các nghiên cứu khoa học và thúc đẩy các cơ quan nhà nước Việt Nam tham gia vào vận động cho các dự án năng lượng dài hạn bền vững, giảm sự lệ thuộc nguồn than, loại bỏ khí thải carbon dioxide.
Với các hoạt động vi phạm pháp luật của mình, ngày 09/02/2022, Công an thành phố Hà Nội đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện lệnh bắt tạm giam đối với Ngụy Thị Khanh, 46 tuổi, trú tại quận Nam Từ Liêm, Hà Nội về tội “Trốn thuế” được quy định tại Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ngày 17/6/2022 vừa qua, sau hơn 4 tháng tạm giam, Ngụy Thị Khanh đã được Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội tuyên phạt 24 tháng tù giam.
Quá trình điều tra, xét xử đối với Ngụy Thị Khanh được tiến hành đúng quy định của pháp luật; phiên tòa được diễn ra công khai, bị cáo Ngụy Thị Khanh được bảo đảm đầy đủ các quyền theo quy định của pháp luật và nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình. Như người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng đã phát biểu tại cuộc họp báo vào ngày 23/6/2022, Việt Nam khẳng định cam kết của Việt Nam trong bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, phát triển xanh và bền vững như tuyên bố của Việt Nam tại hội nghị COP26. Như vâỵ, việc bản án 24 tháng tù giam đối với Ngụy Thị Khanh là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật, là bản án thích đáng với những hành vi vi phạm pháp luật mà y đã gây ra. Việc các cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí đăng tải các thông tin xuyên tạc, vu cáo về bản án đối với Ngụy Thị Khanh là hành vi can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. “Quốc có quốc pháp, gia có gia quy”, kẻ nào vi phạm pháp luật sẽ phải trả giá, không có "vùng cấm", "không có ngoại lệ"!

CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LÀM NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG VÀ KIM CHỈ NAM CHO HÀNH ĐỘNG CÁCH MẠNG

Để chống phá cách mạng Việt Nam, một trong những thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch là ra sức xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng dẫu tìm mọi cách, lúc trắng trợn, lúc tinh vi, chúng nhất định không lừa dối được nhân dân Việt Nam và những người có lương tri trên toàn thế giới. Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam và cách mạng Việt Nam.


Chủ động ứng phó với cơn bão số 1

 


Áp thấp nhiệt đới trên khu vực Bắc Biển Đông đã mạnh lên thành bão (cơn bão số 1); sức gió mạnh nhất vùng trung tâm bão mạnh cấp 8, giật cấp 10. Dự báo trong 24 giờ tới, bão di chuyển theo hướng Tây Tây Bắc và khả năng mạnh thêm.

THÀNH TỰU HƠN 35 NĂM ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC LÀ THỰC TIỄN SINH ĐỘNG BÁC BỎ NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 Sự lựa chọn đúng đắn và sáng suốt của Đảng, nhà nước ta đã được nhân dân ta, dân tộc ta và cán bộ, đảng viên chấp nhận sự lựa chọn đó ngay từ đầu và kiên trì phấn đấu thực hiện gần một thế kỷ qua, đã hoàn thành mục tiêu độc lập dân tộc và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thế nhưng, thời gian qua và hiện nay, với âm mưu chống phá nhằm kìm hãm không muốn nước ta phát triển… các thế hệ thù địch, các phần tử cơ hội chính trị không ngừng chống phá với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, như: Xuyên tạc cho rằng đi lên chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn sai lầm lịch sử, nên tụt hậu, đói nghèo, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thành tựu của sự nghiệp đổi mới,… nhưng cũng có không ít người do chủ nghĩa cá nhân, do thiếu bản lĩnh chính trị, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống đã a dua, phụ hoạ theo những luận điệu chống phá đó của các thế lực thù địch, hành vi đó cần đấu tranh phê phán, loại trừ.

Chúng ta khẳng định rằng, mục tiêu, lý tưởng, con đường độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội mà Bác Hồ, Đảng Cộng sản và nhân dân ta lựa chọn từ năm 1930 và kiên trì phấn đấu thực hiện gần một thế kỷ qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tiên phong - Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện, lãnh đạo đã quy tụ, tập hợp sự đoàn kết toàn dân tộc tiến hành sự nghiệp cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đã lập nên những chiến công vĩ đại trong thế kỷ XX và tiến hành sự nghiệp đổi mới đạt những thành tựu to lớn, toàn diện, đời sống nhân dân không ngừng cải thiện, nâng cao là không thể phủ nhận. Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta vượt qua mọi gian khổ, hy sinh tiến hành các cuộc chiến tranh cách mạng giành thắng lợi. Từ trong đêm dài nô lệ dưới ách thống trị của thực dân, phong kiến, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, qua các cao trào cách mạng đã làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, ghi lại tên Việt Nam trên bản đồ thế giới; mở ra một kỷ nguyên mới - độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. Thắng lợi của cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp, giành thắng lợi bằng chiến dịch Điện Biên Phủ, giải phóng miền Bắc; tiếp tục tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên 20 năm giành thắng lợi bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, hoàn thành mục tiêu độc lập dân tộc đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Hơn 45 năm qua, kể từ sau 30-4-1975, Đảng ta, nhân dân ta tiếp tục kiên trì thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đạt nhiều thành tựu to lớn và toàn diện. Còn nhớ, những năm sau giải phóng do hậu quả chiến tranh để lại, sự cấm vận của Mỹ, chúng ta phải tiến hành các cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc; đất nước ta đứng trước nhiều khó khăn, thử thách, khủng hoảng kinh tế trầm trọng kéo dài đến đầu những năm tám mươi của thế kỷ trước, nhưng với bản lĩnh chính trị vững vàng, kinh nghiệm trong lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đoàn kết, thống nhất hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, tiến hành sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước từng bước vượt qua khó khăn, vươn lên về mọi mặt, hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới. Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo 35 năm qua, đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử.

Tăng trưởng kinh tế trung bình của nước ta 35 năm qua khoảng 7% mỗi năm. Quy mô nền kinh tế không ngừng mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỷ đô la Mỹ, vượt qua nước nghèo, kém phát triển trở thành nước đang phát triển, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trong ASEAN, thuộc nhóm 16 nền kinh tế mới nổi. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, đạt 3.512 USD năm 2020, vượt ra khỏi nhóm nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Từ nước thiếu lương thực, trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Giảm hộ nghèo từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 và dưới 3% năm 2020; kết cấu hạ tầng giao thông, giáo dục, y tế, viễn thông phát triển mạnh mẽ phủ khắp đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội.

Đó là nói ở bình diện quốc gia, thực tiễn tỉnh ta cũng đã chứng minh một cách sinh động thành tựu mà sự nghiệp đổi mới đem lại. Sau giải phóng, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tỉnh ta không có gì đáng kể, giao thông cách trở, chủ yếu đường đất; trường học, trạm xá; điện, cơ sở kinh tế, công trình văn hoá… hầu như tất cả chúng ta phải xây dựng lại từ đầu, 60% hộ nghèo, thiếu đói triền miên những năm 1977-1979. Sau 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, thành tựu mà Bến Tre đạt được là vô cùng quan trọng: Hệ thống giao thông nông thôn phát triển vượt bậc; cầu Rạch Miễu, cầu Hàm Luông, cầu Cổ Chiên, các cầu tạm trên quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ đều xây dựng lại bằng bê-tông cốt thép, đã phá thế biệt lập với các tỉnh, hệ thống giao thông nông thôn phát triển mạnh, tất cả các xã đều có đường ô tô đến trung tâm và vùng nông thôn, vùng kháng chiến; điện đảm bảo phục vụ cho sản xuất, 99% hộ sử dụng điện; bệnh viện, trường học, trạm y tế được đầu tư xây dựng phủ khắp địa bàn đảm bảo cho chăm sóc sức khoẻ và việc học của nhân dân. Kinh tế không ngừng phát triển, nhiều cơ sở hiện đại như khu công nghiệp, cụm công nghiệp, phát triển hàng ngàn doanh nghiệp tư nhân, hàng chục ngàn hộ kinh doanh; nông nghiệp sản xuất, phát triển theo chuỗi giá trị; vườn cây ăn trái, nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thủy hải sản, được ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại; 1 huyện nông thôn mới, trên 50 xã là xã nông thôn mới; thu nhập bình quân đầu người không ngừng tăng lên, năm 2020 đạt 43,6 triệu đồng, tăng 15 lần so với năm 1986; hộ giàu, khá tăng lên, giảm hộ nghèo dưới 5%…

Điều đó chứng minh rằng sự lựa chọn và kiên định mục tiêu độc lập dân tộc, gắn liền với chủ nghĩa xã hội và thực hiện đường lối đổi mới chúng ta đã có bước phát triển liên tục trong thời gian qua. Khẳng định thành tựu 35 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo và 30 năm thực hiện Cương lĩnh chính trị xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta có thể khẳng định rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Những thành tựu đạt được từ sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam 35 năm qua là thực tiễn sinh động bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, xảo quyệt của các thế lực phản động và các phần tử cơ hội chính trị về mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và thành tựu của sự nghiệp đổi mới đất nước ta. Đó là cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc tiếp tục khẳng định mục tiêu độc lập dân tộc và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đã chọn từ năm 1930 là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, thực tiễn phát triển của nước ta và xu thế phát triển của lịch sử và thời đại. Khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta.

Trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, hơn ai hết mỗi cán bộ, đảng viên cần nêu cao tinh thần cảnh giác, vững vàng về lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị; tin tưởng tuyệt đối vào đường lối đổi mới và sự lãnh đạo của Đảng, phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao; tích cực đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, góp phần làm thất bại âm mưu “Diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hoá của các thế lực thù địch; kiên trì thực hiện đường lối đổi mới và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

CẢNH GIÁC TRƯỚC SỰ XÂM THỰC CỦA CÁCH MẠNG TRẮNG TRONG XÃ HỘI

 Ở nước ta những năm qua, trong các kỳ bầu cử ĐBQH và HĐND các cấp, nhiều người thực sự có tâm huyết, bản lĩnh, trình độ đã ra tự ứng cử. Khi được nhân dân từ khu dân cư tín nhiệm giới thiệu và khi trúng cử họ đã thể hiện tốt vai trò, trách nhiệm đại biểu của mình trước Nhà nước và Nhân dân. Tuy nhiên, trên mạng xã hội cũng có hiện tượng một số người lớn tiếng tuyên bố “tự ứng cử đại biểu Quốc hội” và dùng mọi thủ đoạn để lôi kéo người khác cùng tham gia ứng cử ĐBQH nhiệm kỳ XIV và nhiệm kỳ XV. Đa số họ thuộc các nhóm “xã hội dân sự” các “nhà đấu tranh dân chủ”, “dân oan”, “No U”… Phong trào “tự ứng cử” kia thực ra là những hoạt động nhằm phục vụ ý đồ “thâm nhập và phá rối” do ảnh hưởng của thuyết “Cách mạng màu”, “Cách mạng trắng” đã âm thầm xâm nhập vào Việt Nam từ hàng chục năm qua và được truyền bá tràn lan trên khắp mạng xã hội. Đó là:“Khuyến khích các nhà đấu tranh dân chủ trong nước, thay vì tẩy chay, hãy mạnh dạn nhập cuộc vào trong Quốc hội để từ đó, thay đổi cơ chế chính trị… Các nhà đấu tranh dân chủ cầm ngọn đuốc sáng trong lòng thì hãy mang ngọn đuốc rọi vào đêm tối của Quốc hội Cộng sản Việt Nam bây giờ”.

Trên thực tế, việc người tự ứng cử có tên trong danh sách bầu cử hay không căn cứ vào kết quả của các hội nghị hiệp thương. Quá trình hiệp thương được thực hiện một cách công khai, minh bạch từ cơ sở, khu dân cư với sự tham gia của các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, dưới sự chủ trì của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và sự giám sát chặt chẽ của nhân dân. Khi người tự ứng cử không được nhân dân nơi cư trú và cử tri tín nhiệm giới thiệu, qua các vòng hiệp thương bị loại thì các đài VOA, RFA, RFI, BBC cũng như một số trang mạng của các tổ chức Việt Tân, Nhân dân hành động, Triều đại Việt, “Tiếng dân”, “KTV, “Tivi tuần san”, N10TV, CCCĐ... lại được dịp kêu gào, xuyên tạc rằng Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương gây khó khăn, cản trở, hay phối hợp để loại bỏ “những người tự ứng cử”. Xuyên tạc việc tổ chức bầu cử dưới chế độ XHCN đơn đảng là “Đảng cử, dân bầu”. Hội đồng bầu cử các cấp làm theo ý Đảng, độc đảng là độc quyền, mất dân chủ, tiêu cực, không khách quan... Việc đông đảo nhân dân ta đi bầu cử dù trong tình hình đại dịch Covid-19 hoành hành và kết quả cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội nhiệm kỳ XV là bằng chứng hùng hồn làm thất bại thủ đoạn xuyên tạc của thế lực thù địch.

Trong thời gian qua, trên các kênh thông tấn, báo chí cũng như các trang mạng xã hội đã có nhiều người dân trong và ngoài nước thuộc mọi thành phần, giai cấp, tầng lớp, nghề nghiệp, lứa tuổi đã lên tiếng phản bác, chống lại các luận điệu phản động, xuyên tạc lịch sử, xét lại lịch sử, kích động hận thù một cách tự phát và tự giác. Điều đó khẳng định lòng yêu nước và trách nhiệm công dân của đại đa số quần chúng nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước. Dù vậy, vẫn rất cần sự vào cuộc và định hướng dư luận một cách nhanh chóng, đầy đủ và kịp thời của các cơ quan chức năng, các cơ quan thông tấn báo chí từ Trung ương đến địa phương để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phát huy tốt nhất hiệu quả đấu tranh của nhân dân chống lại các luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc./.

ĐẬP TAN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CÔNG KÍCH VIỆT NAM

 Thời gian qua, lợi dụng những diễn biến phức tạp của thế giới và khu vực, nhất là vấn đề chủ quyền của nước ta ở Biển Đông, các thế lực thù địch và một số phần tử chống đối, cơ hội đã tung nhiều thông tin sai lệch bóp méo, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng, Nhà nước và nguyện vọng nhân dân... Hiện nay, các thế lực thù địch ra sức công kích, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Lợi dụng những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, nhất là quan hệ của Việt Nam với một số nước lớn và vấn đề chủ quyền của nước ta ở Biển Đông, trên các phương tiện thông tin, đặc biệt là mạng xã hội, các thế lực thù địch bên ngoài và một số phần tử chống đối, cơ hội bên trong đã tung nhiều thông tin sai lệch bóp méo, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước. 

Không ít cá nhân, nhóm cá nhân cố ra vẻ là “người yêu nước”, “tâm huyết” với “vận mệnh quốc gia dân tộc” viết bài phát tán trên internet, mạng xã hội với những giọng điệu xuyên tạc. Chúng lập luận rằng, thế giới hiện nay đang là thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, các quốc gia dân tộc có mối quan hệ ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau. Vì thế, theo chúng chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ đã “lạc hậu, lỗi thời”, “không còn phù hợp”, nếu vẫn theo đuổi là “bảo thủ”, “tự mình cô lập mình”, là “tự tách ra khỏi dòng chảy” của thế giới; và trở thành “lực cản” đối với sự phát triển đất nước! Chúng cho rằng, Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “ba không” (không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia) là “tự trói tay mình”, đó là chính sách “không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi”, nếu không thì không bảo vệ được độc lập, chủ quyền, nhất là chủ quyền ở Biển Đông… Cốt lõi của những luận điệu này là dã tâm chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch.

Đúng là thế giới hiện nay đang là thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, các quốc gia dân tộc có mối quan hệ ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau. Nhưng không phải vì thế mà chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ đã trở nên “lạc hậu”, phải “từ bỏ”. Việt Nam thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ không phải là biệt lập, cô lập với thế giới bên ngoài, đứng ngoài lề hội nhập quốc tế, “tự mình cô lập mình” như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch, mà đó chính là chúng ta thể hiện chủ quyền, quyền tự lựa chọn, quyền tự quyết định con đường, mô hình phát triển của quốc gia - dân tộc.

Không thể nói rằng, thực hiện chính sách quốc phòng “ba không” là “tự trói tay mình”, “cần phải thay đổi”, nếu không thì không thể bảo vệ được độc lập, chủ quyền đất nước. Đây thực sự là dã tâm thâm độc của các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội chính trị trong mưu đồ “hướng lái” chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta; thực chất là nhằm “kích động” chúng ta phải liên minh với một nước lớn nhất định nào đó, để “bảo vệ độc lập, chủ quyền”! Đó là sự “hướng lái” nhằm đẩy nước ta rơi vào sự lệ thuộc, phụ thuộc mới.

Cần khẳng định cho họ rõ, từ trước đến nay trong lịch sử cũng như thời hiện đại, nhân dân Việt Nam bảo vệ độc lập, chủ quyền, bảo vệ Tổ quốc là luôn dựa trên tinh thần yêu nước, ý chí độc lập, tự chủ, tinh thần tự lực cánh sinh, phát huy sức mạnh tổng hợp, kết hợp sức mạnh bên trong với sức mạnh bên ngoài, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Đó là đường lối độc lập, tự chủ.

Đặc biệt trước những âm mưu thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch hòng lợi dụng những chính sách ưu việt của Đảng, Nhà nước ta hòng kích động và “thổi lửa” vào những nhận thức sai lệch trong nhận thức về chủ quyền biển đảo, để hòng gây rối... Nhưng chúng đã nhầm không có gì quý hơn độc lập tự do, cuộc sống ấm no hạnh phúc của chính nhân dân, Đảng, Nhà nước ta đã làm tất cả vì Hạnh phúc của nhân dân, vì sự trường tồn của dân tộc Việt Nam. Chúng ta sớm biết và kiên quyết đập tan những âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch để Việt Nam ta mãi mãi phát triển và thịnh vượng, đó là những mong ước của Đảng và nhân dân ta với tinh thần chính nghĩa, đập tan mọi âm mưu của các thế lực thù địch...

Chính sách quốc phòng “ba không” là biểu hiện đặc thù của đường lối, chính sách độc lập, tự chủ trên lĩnh vực quốc phòng trong bối cảnh lịch sử mới, là hoàn toàn đúng đắn... Thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, chính sách quốc phòng “ba không”, chúng ta mới có thể kết hợp và phát huy tốt nhất các nguồn sức mạnh để bảo vệ độc lập, chủ quyền. Nghiêng về bên này hay ngả về bên kia, tức là phụ thuộc vào một nước nào đó, thì cũng có nghĩa là chúng ta bị mất độc lập, tự chủ. Bị phụ thuộc, mất độc lập, tự chủ thì vấn đề bảo vệ độc lập, chủ quyền cũng không còn ý nghĩa. Luận điệu xuyên tạc chính sách đối ngoại độc lập tự chủ của Đảng và Nhà nước Việt Nam không đánh lừa được ai... Với tinh thần ấy, nhân dân ta mãi mãi Theo Đảng và tất cả vì một Việt Nam phát triển, sánh vai cùng bạn bè năm châu, xây dựng một đất nước Việt Nam hoà bình, thịnh vượng ./.

XUYÊN TẠC SỰ KIỆN “TUẦN LỄ VÀNG” DO CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH PHÁT ĐỘNG NĂM 1945 CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 Từ sau chúng ta giành được chính quyền từ tay Phát xít Nhật, ngân khố quốc gia trống rỗng, kinh tế kiệt quệ, chính quyền mới chưa thu được thuế, Ngân hàng Đông Dương còn nằm trong tay tư bản Pháp, ngân quỹ Chính phủ chỉ vẻn vẹn có 1,25 triệu đồng Đông Dương, trong đó có 580.000 đồng rách nát chờ tiêu hủy, các khoản nợ của chính phủ bù nhìn, tay sai để lại lên đến 564 triệu đồng. Trước tình hình đó, chỉ hai ngày sau khi nước nhà độc lập, ngày 4/9/1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh - Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ký ban hành Sắc lệnh số 04-SL về việc lập “Quỹ Độc lập”, định rõ: Lập tại Hà Nội và các tỉnh trong nước một quỹ thu nhận các món tiền, đồ vật mà nhân dân sẵn lòng quyên giúp Chính phủ và ủng hộ nền độc lập của quốc gia. Quỹ này gọi là Quỹ Độc lập. Cùng thời gian này, Tuần lễ vàng do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động khuyến khích người dân đóng góp ngân sách quốc gia nhằm tháo gỡ sự khó khăn về mặt tài chính của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ mới ra đời cũng được người dân cả nước nhiệt tình hưởng ứng. Trong thư gửi đồng bào cả nước, Người nêu rõ: ”Muốn củng cố nền tự do độc lập, chúng ta cần sức hy sinh phấn đấu của toàn quốc đồng bào, nhưng chúng ta cũng rất cần sức quyên góp của nhân dân, nhất là những nhà giàu có. Ý nghĩa của Tuần lễ vàng là ở đó... Tuần lễ vàng sẽ tỏ cho toàn quốc đồng bào và cho toàn thế giới biết rằng trong lúc chiến sĩ Việt Minh trên các mặt trận quyết hy sinh giọt máu cuối cùng để giữ vững nền tự do độc lập của nước nhà, thì đồng bào ở hậu phương, nhất là những nhà giàu có, cũng có thể hy sinh được chút vàng để phụng sự Tổ quốcˮ. Kết quả: ”chỉ trong một thời gian ngắn, nhân dân cả nước đã quyên góp được 20 triệu tiền đồng và 370 kilôgam vàng”.

Sự thật lịch sử ấy người dân trong nước, ngay các em học sinh phổ thông cũng biết rõ. Thế mà ngày 16/4/2020 trên YouTube một luật sư tự xưng người yêu nước đã bịa đặt rằng: ”Sau khi quần chúng cướp được chính quyền tại Hà Nội ngày 19/8, thì ông cụ Nguyễn Hải Thần lúc đó ở Trung Quốc, ông thấy rằng, chết rồi, ông không về tranh giành quyền lực là không được, và ông phải nhờ hai tướng của Trung Quốc là Lư Hán và Tiêu Văn giúp cho ông 20 vạn quân của Trung Hoa quốc dân đảng tiến vào Việt Nam về Hà Nội… Khi về đến Hà Nội rồi đó, thì ông cụ Nguyễn Hải Thần yêu cầu thành lập chính phủ liên hiệp. Đứng trước sự áp lực của ngoại bang 200 ngàn quân, ông Hồ Chí Minh đã phát động một cái phong trào gọi là tuần lễ vàng, ông Hồ Chí Minh đã dùng số tiền vàng đó để đấm vào mõm hai tướng Lư Hán và Tiêu Văn để hai ông tướng đó không có quậy đất nước Việt Nam mình, không làm cho người dân Việt Nam mình phải khổ sở thêm, để hai ông đó phải rút quân về nước”.

Chỉ với một sự kiện lịch sử nêu trên, kẻ luôn vỗ ngực là người yêu nước đã 3 lần xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo lịch sử.

Thứ nhất: Sự kiện 20 vạn quân Tưởng vào miền Bắc Việt Nam là dựa vào nghị quyết hội nghị Pốtxđam (17/7-2/8/1945) để giải giáp vũ khí quân Nhật mà Nguyễn Hải Thần đã núp quân Tưởng theo vào chứ không phải do Nguyễn Hải Thần nhờ Lư Hán và Tiêu Văn giúp cho 20 vạn quân Tưởng hộ tống Nguyễn Hải Thần vào Bắc Việt Nam.

Thứ hai: Mục đích của “Quỹ Độc lập” và “Tuần lễ vàng” nhằm giải quyết khó khăn về mặt tài chính, duy trì hoạt động của chính quyền nhân dân, mua sắm vũ khí, trang bị để bảo vệ độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ mới ra đời chứ không phải để đấm vào mõm hai tướng Lư Hán và Tiêu Văn.

Thứ ba: Việc 20 vạn quân Tưởng rút khỏi Việt Nam theo Hiệp ước Trùng Khánh giữa Pháp và Tưởng (28/2/1946), theo đó: Pháp đồng ý trả lại cho quân Tưởng các tô giới ở Thượng Hải, Thiên Tân, Hán Khẩu, Quảng Đông; trả lại đất mướn Quảng Châu Loan và bán lại cho Tưởng đường sắt ở Vân Nam. Pháp cho Tưởng quyền tự do vận chuyển hàng hóa được miễn thuế từ Hoa Nam qua miền Bắc Việt Nam đến cảng Hải Phòng và ngược lại. Đổi lại Tưởng Giới Thạch đồng ý cho quân Pháp thay thế quân đội Tưởng tại miền Bắc Đông Dương, việc thay quân sẽ được thực hiện trong tháng 3/1946. Như vậy, việc 20 vạn quân Tưởng rút khỏi Việt Nam không phải do Lư Hán và Tiêu Văn được đấm mõm như luận điệu xuyên tạc, bịa đặt nêu trên.

Chúng ta đều biết, trước tình thế mà Hiệp ước Pháp – Hoa (Tưởng) đặt ra, Đảng và Chính phủ ta đã thực hiện sách lược hòa với Pháp. Theo đó, Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng nằm trong khối Liên hiệp Pháp; Chính phủ Việt Nam thỏa thuận cho 15.000 quân Pháp ra miền Bắc thay quân Tưởng làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật, số quân này sẽ rút dần trong thời hạn 5 năm. Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 đã đập tan âm mưu câu kết giữa Pháp và Tưởng, loại bỏ được một kẻ thù nguy hiểm; tránh được một cuộc chiến tranh chống nhiều kẻ thù một lúc khi lực lượng của ta còn yếu; tranh thủ thời gian hòa hoãn để chuẩn bị lực lượng cho cuộc chiến đấu sau này. Đó là cuộc đấu tranh hết sức thông minh, sáng suốt, bình tĩnh, khôn khéo của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tình thế đất nước “ngàn cân treo sợi tóc”.

Ỷ THẾ LÀM LIỀU CỦA MỘT SỐ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 Kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ đạo xử lý nhiều vụ án quan trọng có liên quan đến các cán bộ, đảng viên. Đã cách chức, giáng chức, giáng cấp, khai trừ, kỷ luật hàng nghìn cán bộ, đảng viên có vi phạm. Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ cao cấp của Đảng, sĩ quan cao cấp trong LLVT đã bị truy tố do vi phạm pháp luật. Trong số các vụ án nói trên có không ít vụ là do các đối tượng đã lợi dụng danh nghĩa, danh tiếng của cá nhân, tổ chức để làm liều. Điển hình là các vụ án như vụ Phan Văn Sào Nam, lợi dụng, cấu kết với một số cán bộ để tổ chức đánh bạc và rửa tiền; vụ Phan Văn Anh Vũ lợi dụng chức vụ, quyền hạn, núp bóng cấp trên, lôi kéo, tha hóa cán bộ và đã phạm nhiều tội nghiêm trọng như: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ; Cố ý làm lộ bí mật Nhà nước; Lạm dụng chức vụ chiếm đoạt tài sản. Hoặc như phạm nhân Trịnh Xuân Thanh (bị tòa án xét xử năm 2018), trước khi bị khởi tố đã có một quá trình vi phạm pháp luật, tham nhũng, nhưng lợi dụng các mối quen biết, tiếp tục “luồn lách” “chui sâu, leo cao” và được bổ nhiệm giữ chức Phó chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang. Sở dĩ Thanh tham nhũng, vi phạm pháp luật trong thời gian dài có một nguyên nhân rất quan trọng đó là dựa bóng cấp trên, dựa vào sự bao che của cấp trên để phóng tay làm liều, biết sai mà vẫn làm. Việc Thanh bị báo chí phanh phui từ hành vi sử dụng chiếc xe ô tô tư nhân đắt tiền, nhưng lại gắn biển xe công vụ thực chất chỉ là giọt nước tràn ly và cũng là xuất phát từ thói huênh hoang, khoe mẽ, “coi trời bằng vungˮ của một cán bộ đã nhiễm thói hư, tật xấu từ lâu...

Trên đây chỉ là một số vụ án lớn, điển hình về sự tha hóa của cán bộ có nguyên nhân khởi nguồn từ thói dựa hơi, dựa tiếng cấp trên, thậm chí tha hóa cán bộ cấp trên để tạo tấm bình phong cho mình làm liều, làm bậy, vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Trong thực tế cuộc sống, cũng còn nhiều cán bộ, đảng viên mới có một chút chức quyền trong tay nhưng đã bộc lộ thói huênh hoang, làm liều, như: Dọa nạt, hành hung cán bộ, nhân viên khi họ đang thi hành công vụ; mạt sát, coi thường, sách nhiễu nhân dân khi người dân có việc cần đến cơ quan công quyền; nịnh trên, nạt dưới, vi phạm dân chủ ở cơ quan, đơn vị... Thậm chí có cả những người có học hàm, học vị, giữ chức vụ quan trọng ở một nhà trường, nhưng lại nói năng lỗ mãng, hống hách, ứng xử thiếu văn hóa với khách đến tìm hiểu về cơ quan, đơn vị mình. Những hiện tượng này đang xảy ra khá phổ biến và đã được các cơ quan báo chí đăng tải, phê phán, nhưng xem ra việc khắc phục, sửa chữa chuyển biến tiến bộ còn rất chậm. Mới đây, phát biểu trong Hội nghị Văn hóa toàn quốc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra một số thói hư, tật xấu, thiếu văn hóa... của một số cán bộ, đảng viên và thói học đòi, tiếp thu thiếu chọn lọc văn hóa nước ngoài. Sự ý nhị của Tổng Bí thư khi đọc bài thơ “Chân quêˮ của Nguyễn Bính, trong đó nhấn mạnh mấy câu cuối của bài thơ này: “Hoa chanh nở giữa vườn chanh/Thầy u mình với chúng mình chân quê/Hôm qua em đi tỉnh về/Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” là lời nhắc nhở sâu sắc cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong việc rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, xây dựng và duy trì lối sống trong sáng, lành mạnh, có văn hóa...

Khắc phục những thói hư, tật xấu, thói khoe mẽ, huênh hoang của cán bộ, đảng viên là việc cấp thiết và phải tiến hành thường xuyên, liên tục. Bởi trong một đảng cầm quyền thì mỗi đảng viên phải là một hạt nhân đoàn kết, phải có phẩm chất đạo đức tốt, có liêm sỉ, có cách ứng xử văn hóa trước quần chúng nhân dân, như thế mới tập hợp, thu hút được quần chúng, mới giúp Đảng hoàn thành trọng trách lãnh đạo xã hội. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII vừa ban hành Quy định số 37-QĐ/TW quy định về những điều đảng viên không được làm, mục đích cũng là để làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng ngày càng thấm nhuần đạo đức cách mạng, tự rèn luyện, tu dưỡng để xứng đáng với vai trò tiền phong. Vì vậy tinh thần, nội dung của Quy định 37-QĐ/TW cần phải nhanh chóng được lan tỏa tới các chi bộ và từng đảng viên. Đảng viên và tổ chức đảng các cấp trong sinh hoạt cần nêu cao tính tự phê bình và phê bình, nghiêm túc quán triệt, học tập thực hiện các điều trong quy định và phải kiên quyết xử lý các đảng viên vi phạm quy định. Phải tăng cường công tác kiểm tra Đảng, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh các đảng viên khi có biểu hiện, dấu hiệu vi phạm. Thời gian qua, chính vì chưa chú trọng nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, hoặc khi đấu tranh, phê bình còn e dè, nể nang, nên thói chuyên quyền, độc đoán, huênh hoang có cơ hội tồn tại và phát tác trong một số cán bộ, đảng viên. Còn đối với mỗi cán bộ, đảng viên muốn chữa được bệnh huênh hoang, khoe mẽ thì cần luôn ghi nhớ và học cách khiêm tốn, cần biết nói những gì, nói ở đâu và nói vào lúc nào, cần phải biết lắng nghe phê bình, tiếp thu phê bình một cách thành thật, rồi tích cực sửa chữa sai lầm theo đúng tinh thần của người cộng sản. Người xưa đã nói đại ý: Khiêm tốn bao nhiêu cũng chưa đủ, tự kiêu một chút hóa ra thừa. Câu nói này có lẽ đến nay vẫn đúng và vẫn còn giá trị./.  

KHOE MẼ, KHOÁC LÁC THỜI 4.0

 Tật khoe mẽ, khoác lác của cán bộ không phải bỗng nhiên mà có. Nó được hình thành từ trong quá trình công tác, từ quá trình tiếp xúc, quan hệ với các cá nhân, cơ quan, tổ chức. Do yêu cầu thực hiện nhiệm vụ, các cán bộ có thể nắm được một số thông tin. Nếu với những người được rèn luyện nghiêm túc, có bản lĩnh vững vàng, nhận thức đúng đắn thì họ sẽ biết cách xử lý, phổ biến các thông tin ấy một cách phù hợp với từng đối tượng nên sẽ có tác dụng định hướng tư tưởng, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức cho người tiếp nhận thông tin và làm cho nhiệm vụ, công việc được hoàn thành đúng ý định. Còn đối với những người nhận thức non nớt, tính cách huênh hoang, bồng bột thì lại coi những thông tin mình nắm được như một phương tiện để tự tâng bốc mình, đưa mình trở thành nhân vật quan trọng trước những người được truyền đạt thông tin.

Nếu là những thường dân nói khoác, kể những câu chuyện có tính chất phóng đại cho vui thì có thể vô hại mà lại có ích là giải tỏa những căng thẳng trong cuộc sống như kiểu chuyện “bác Ba Phi”, chuyện “Trạng Quỳnh”... Thế nhưng sự khoe mẽ, khoác lác của những người làm quan xưa kia, những cán bộ ngày nay thì lại có hại vô cùng. Bởi sự khoác lác ấy sẽ đánh lừa quần chúng, làm cho họ lẫn lộn thật giả, dẫn đến nhận thức lệch lạc, tiêu cực. Tính khoe mẽ, khoác lác giống như một mầm bệnh, lâu ngày sẽ biến các cán bộ thành kẻ ảo tưởng, huyễn hoặc về bản thân, nói nhiều, làm ít, nói hay, làm dở, hoặc chỉ nói mà không làm, tệ hơn là làm thoái hóa, biến chất cán bộ, đảng viên...

Thực tế có anh cán bộ chỉ là một thư ký giúp việc cho một cán bộ cao cấp, nhưng lúc nào anh cũng tỏ ra mình là người quan trọng, mình mới là người có thể... quyết định việc này, việc kia. Khi có cơ quan đến đề xuất nội dung công việc với thủ trưởng thì anh bẻ hành, bẻ tỏi, yêu cầu phải làm thế này, làm thế kia và thay đổi, đảo lộn gần như hoàn toàn nội dung, kế hoạch của cơ quan đề xuất. Anh không biết, hoặc cố tình không biết rằng chính những phần việc ấy đã được các chuyên gia và cơ quan tham mưu xem xét, bàn thảo, cân nhắc kỹ càng trước khi đề xuất. Hành vi ấy biểu hiện rằng, anh đã tự cho mình cái quyền đứng trên cơ quan tham mưu, vượt qua giới hạn trách nhiệm và bổn phận của một thư ký giúp việc.

Cũng có người, do yêu cầu công việc nên được tiếp xúc với thủ trưởng cấp trên thường xuyên. Lẽ ra anh nên lấy đó làm cơ hội để học hỏi, tích lũy thêm kiến thức, nâng cao trình độ, phương pháp, tác phong công tác. Nhưng tiếc thay, anh lại coi những cuộc tiếp xúc đó là thế mạnh, là “năng lực” của mình trước đồng nghiệp. Anh hay kể rằng, mình quen thủ trưởng này, biết thủ trưởng kia, có thể đến chỗ này, vào chỗ khác, có thể giải quyết được nhiều công việc, thậm chí cả những việc đặc biệt quan trọng như sắp xếp, điều động, bổ nhiệm cán bộ... Những người biết anh thì chỉ cười mỉm, họ biết rằng đó chỉ là sự ảo tưởng, bởi thực chất, anh cũng chỉ là một trợ lý bình thường như bao trợ lý khác trong cơ quan. Có chăng những người khác họ không khoe mẽ, không ra vẻ như anh, mà họ biết trách nhiệm và biết giữ đúng bổn phận của người cán bộ, không bao giờ vượt quá giới hạn đã được tổ chức xác định. Nhưng có người không biết, lần đầu tiếp xúc với anh thì lại tưởng anh có quyền năng thật, nên lân la nhờ vả, đề nghị hỗ trợ, giúp đỡ, thậm chí có cả phần “chè nước” để đưa đẩy, nhằm bảo đảm cho sự việc hanh thông. Nhưng cuối cùng, vì không có quyền năng thực sự nên sự việc không được tổ chức thông qua, không được thủ trưởng chấp thuận. Khỏi phải nói sau sự việc như thế hình ảnh của anh trong mắt đồng nghiệp như thế nào.

Có một điều rất đáng suy ngẫm là hiện tượng khoe mẽ, huênh hoang của cán bộ, lúc sinh thời đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhiều lần trong các bài nói, bài viết. Điển hình là trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”. Trong tác phẩm này, Bác chỉ rõ bệnh kiêu ngạo của người cán bộ, đảng viên, đó là: “Tự cao, tự đại, ham địa vị, hay lên mặt. Ưa người ta tâng bốc mình, khen ngợi mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình... Việc gì cũng muốn làm thầy người khác”. Đến tháng 11-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết hẳn một bài báo tựa đề “Bệnh tự ái, tự kiêu” đăng trên Báo Sự thật số 102, ra ngày 15-11-1948. Trong bài báo, Bác chỉ rõ: “Tự kiêu tức là cho mình việc gì cũng thạo, cũng làm được. Việc gì mình cũng giỏi hơn mọi người. Mình là thần thánh, không cần học ai, hỏi ai”. Những năm gần đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng thường nhắc đến hành vi khoe mẽ, tự kiêu, tự đại, nịnh trên, nạt dưới của một số cán bộ. Thế nhưng những cảnh báo đó dường như chưa thấm, chưa ngấm vào một bộ phận cán bộ, đảng viên. Vì thế trong thực tế vẫn còn nhiều cán bộ, đảng viên mắc phải thói hư này. Đây là căn nguyên sinh ra bệnh cá nhân chủ nghĩa có hại cho Đảng và có hại cho chính bản thân cán bộ, đảng viên.    

ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ CÔNG TÁC ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 Thời gian gần đây, trước tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là tình trạng tham nhũng vẫn còn khá nghiêm trọng, nhiều vụ đại án tham nhũng được Đảng ta xử lý nghiêm minh; thế nhưng, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị vẫn dùng mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá bằng cách ra sức tung ra các luận điệu sai trái, xuyên tạc về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Các thế lực thù địch cho rằng tình trạng tham nhũng ở Việt Nam là một “quốc nạn không có thuốc chữa”, là “căn bệnh nan y, kinh niên của chế độ độc đảng cầm quyền”. Do đó, “Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái thành công vì Đảng cũng suy thoái, tham nhũng”. Từ đó, các thế lực thù địch ra sức bài xích chế độ một đảng của Việt Nam, lên tiếng kêu gọi Việt Nam phải đi theo con đường đa đảng, tam quyền phân lập vì “Chỉ có thể chống tham nhũng khi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập” để kiểm soát quyền lực”. Thực chất của luận điểm này một mặt là để hạ thấp, phủ nhận vai trò của Đảng ta trong việc lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng; mặt khác là nhằm kêu gọi nhân dân ta cổ xúy cho chế độ “đa đảng”, “tam quyền phân lập”. Đây tiếp tục là trò “rượu cũ bình mới” mà các thế lực thù địch tìm mọi cách tấn công vào Đảng, vào chế độ ta.

Vừa qua, nhiều vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, được dư luận xã hội quan tâm đã được xử lý nghiêm minh, đúng quy định của pháp luật, vừa có tác dụng cảnh báo, răn đe; vừa siết chặt kỷ luật, kỷ cương của Đảng, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ; được dư luận quốc tế đánh giá cao. Điển hình như các vụ án: “Tham ô tài sản, lợi dụng chức vụ quyền hạn khi thi hành công vụ và vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra ở Học viện Quân y; vụ án “Tham ô tài sản, lợi dụng chức vụ quyền hạn khi thi hành công vụ” xảy ra tại Bộ tư lệnh Cảnh sát biển; vụ án “Đưa hối lộ, nhận hối lộ” tại Cục lãnh sự Bộ Ngoại giao… các thế lực thù địch, cơ hội chính trị trong và ngoài nước đã quy chụp, cường điệu hóa, suy diễn một cách vô căn cứ, đồng nhất toàn bộ Đảng Cộng sản Việt Nam với một số đảng viên, cán bộ tham nhũng, thoái hóa, biến chất. Các phần tử cơ hội chính trị đã chỉ trích Đảng đã “dung túng”, “bao che” cho cán bộ, đảng viên dẫn đến tình trạng cán bộ thoái hóa, biến chất, tham nhũng.

Cố tình xuyên tạc, phủ nhận những nỗ lực của Đảng trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng thời gian qua. Những luận điệu sai trái, thù địch trên được tung ra khắp nơi, đặc biệt là trên các trang mạng xã hội. Đây là âm mưu của các phần tử cơ hội chính trị nhằm phủ nhận quyết tâm của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng nói riêng và trong đấu tranh chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên nói chung. Những luận điệu đó còn nhằm gieo rắc tâm lý hoài nghi, dao động, mất niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng; gây mất đoàn kết nội bộ, kích động xu hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của một bộ phận cán bộ, đảng viên có lập trường tư tưởng không vững vàng, có tâm lý bất mãn. Do đó, cần tỉnh táo nhận diện những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch qua các luận điệu đó; đồng thời có luận cứ xác thực, có tính thuyết phục để đấu tranh phản bác.

Nhận thức sâu sắc về sự phức tạp và vô cùng khó khăn của công tác phòng, chống tham nhũng nên Đảng đã chỉ đạo: Trong phòng chống tham nhũng phải kiên quyết, kiên trì và sử dụng tổng hợp nhiều phương thức, biện pháp mới mang lại hiệu quả. Quan điểm này được thể hiện rất rõ trong Văn kiện Đại hội XIII: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn”, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”. Điều đó cho thấy quyết tâm rất lớn của Đảng, Nhà nước ta trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng; đồng thời cũng chứng tỏ năng lực, bản lĩnh của Đảng, Nhà nước trong việc phát hiện, xử lý tình trạng tham nhũng của cán bộ, đảng viên, kể cả những người đã và đang giữ chức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo của Đảng, Nhà nước nói riêng và cả hệ thống chính trị nói chung.

Vì thế, những luận điệu phủ nhận năng lực của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng hay cố tình xuyên tạc công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng của Việt Nam là kiểu “giật gấu vá vai”, “che mắt thế gian”, “thanh trừng bè phái”... đều bắt nguồn từ những dã tâm thâm độc của những kẻ phản động, cơ hội chính trị. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định “Chúng ta càng cần phải kiên quyết đấu tranh phản bác luận điệu của các thế lực thù địch, chống đối cho rằng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên sai phạm là “đấu đá nội bộ”, “phe cánh”. Hơn nữa, việc tăng cường đấu tranh phòng, chống tham nhũng cũng là cách để mỗi cán bộ, đảng viên thêm vững tin vào Đảng, vào chế độ - một đảng sinh ra không phải để làm quan phát tài, một chế độ luôn lấy sự phồn vinh của dân tộc, hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu.

Trên cơ sở nhận diện những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân cần chủ động đấu tranh phản bác âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động; tin tưởng vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nhất là cuộc đấu tranh chống tham nhũng mà Đảng ta đã và đang quyết tâm thực hiện./.

NHẬN DIỆN, ĐẤU TRANH VỚI THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG NGHỆ ĐỂ CHỐNG PHÁ

 Cùng với mặt tích cực của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạng công nghiệp 4.0) đối với phát triển kinh tế - xã hội, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội, chống đối chính trị cũng lợi dụng cuộc cách mạng này để chống phá cách mạng nước ta, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Vì vậy, nhận diện, đấu tranh có hiệu quả với các thủ đoạn đó là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ mang tính đột phá, như: Trí tuệ nhân tạo, internet của vạn vật, máy tính lượng tử, điện toán đám mây, hệ thống dữ liệu cực lớn và nhanh,... đã làm không gian mạng thay đổi sâu sắc cả về chất và lượng. Dựa trên thế mạnh của không gian mạng, hoạt động truyền thông được các thế lực thù địch tận dụng triệt để, tạo nên sự hỗn loạn, nhiễu loạn thông tin trong xã hội với mưu toan làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta dao động về tư tưởng, mất phương hướng về chính trị để “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Chúng tận dụng tối đa các phương tiện thông tin đại chúng, công nghệ kỹ thuật số, các phương tiện trực tuyến, các diễn đàn, hội nghị quốc tế, các sự kiện chính trị, xã hội trong nước,... để xuyên tạc và tuyên truyền các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch.

Các thế lực thù địch lợi dụng hệ thống thông tin mạng toàn cầu với lượng thông tin lớn, có thể tán phát cả trong và ngoài nước, tốc độ truyền tin nhanh, truy cập dễ dàng, thỏa mãn nhu cầu nghe - nhìn,… để xây dựng hàng loạt các trang thông tin, blog có nội dung lôi kéo, kích động, chống phá, phủ nhận nền tảng tư tưởng, đường lối, quan điểm và vai trò lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta. Các trang tin này được thiết kế sử dụng tiếng Việt với nhiều hình thức thông tin hấp dẫn, nhằm thu hút, lôi kéo người truy cập, lợi dụng vào đó để cài các thông tin có tính chất phản động, chống đối để gieo rắc sự hoài nghi trong xã hội, nhất là trước các vấn đề có tính nhạy cảm, làm cho mỗi người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ dễ có cái nhìn lệch lạc về lịch sử, xã hội và chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; từ đó, bị lung lạc niềm tin và có những hành động đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc.

Một trong những thủ đoạn mà các thế lực thù địch đang “ưa chuộng” là làm giả các website, blog mạo danh các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lão thành cách mạng, v.v... Đáng chú ý là, để tạo lòng tin cho người đọc và thu hút nhiều người truy cập, quản trị các website này đã cung cấp nhanh và đúng những thông tin mà báo chí chính thống tại Việt Nam đã đăng, sau khi thu hút được số lượng lớn người truy cập, chúng cài dần các thông tin xấu độc, theo tỷ lệ tăng dần cả về số lượng và mức độ bịa đặt, bóp méo sự thật. Từ các trang mạng này, nhiều người truy cập sẽ mắc mưu và bị động, lúng túng khi tiếp nhận thông tin, dẫn đến những suy nghĩ lệch lạc và hành vi sai trái. Chúng thường triệt để sử dụng mạng xã hội, như: Facebook, Twitter, Yahoo,... để nhanh chóng kết nối các thành viên, truyền bá tư tưởng phản động, tung tin bịa đặt, gây tâm lý hoang mang, dao động trong xã hội.

Trong lĩnh vực quân sự, tận dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, các loại vũ khí thế hệ mới được tạo ra, như: Vũ khí năng lượng, gen sinh học, rô bốt tác chiến,... với những tính năng vượt trội, có sự nhảy vọt về chất sẽ làm cho các hình thái, tính chất, quy mô, phương thức và thủ đoạn tác chiến của các cuộc chiến tranh trong tương lai trở nên tinh vi, nguy hiểm, mức độ sát thương lớn gấp nhiều lần so với các cuộc chiến tranh trước đây.

Thực tế này, làm cho người dân, cũng như mỗi quân nhân có trạng thái tâm lý căng thẳng, bất an, lo lắng. Và nó trở thành một trong những “cái cớ” mà các thế lực thù địch lợi dụng để tuyên truyền cho quan điểm “vũ khí luận”, nhằm tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí hiện đại, khuếch trương sức mạnh khoa học và quân sự của chủ nghĩa tư bản, xuyên tạc bản chất mối quan hệ giữa con người và vũ khí, v.v. Thực trạng trên, đặt ra nhiều vấn đề phức tạp và những khó khăn trong đấu tranh với thủ đoạn lợi dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay./.

GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO CHIA RẼ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC CÁC TỈNH VÙNG TÂY BẮC

  Các tỉnh vùng Tây Bắc nước ta có đông đồng bào dân tộc thiểu số và đồng bào có đạo. Trong điều kiện thường xuyên có sự chống phá của các thế lực thù địch, lợi dụng các vấn đề về dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ, cần phải chủ động phòng ngừa, sớm triệt tiêu các nhân tố bất lợi có thể gây mất ổn định chính trị - xã hội. Do vậy, nếu làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là về công tác dân tộc, tôn giáo cho nhân dân các dân tộc trên địa bàn sẽ phòng, chống hiệu quả những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước ta, từ đó góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội trên địa bàn. Để đấu tranh, ngăn ngừa, từng bước vô hiệu hóa âm mưu, thủ đoạn chống phá của chúng, cần thực hiện đồng bộ các chủ trương, giải pháp, trong đó chú trọng thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho đồng bào các dân tộc ở Tây Bắc về âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Thực tiễn cho thấy, nhận thức của đồng bào các dân tộc ở Tây Bắc về sự chống phá của các thế lực thù địch nói chung, âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” nói riêng còn hạn chế. Do đó, tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của đồng bào các dân tộc về vấn đề này là một yêu cầu cấp thiết hiện nay. Để thực hiện tốt, trước hết cần làm chuyển biến nhận thức trong các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể địa phương và các đơn vị lực lượng vũ trang đóng quân trên địa bàn về âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, đặc biệt là thủ đoạn mới của chúng. Từ đó, các cơ quan, đơn vị, chính quyền, đội ngũ cán bộ các cấp xác định rõ trách nhiệm, tích cực học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ mọi mặt, nhất là việc bồi dưỡng, học tiếng nói, phong tục, tập quán của đồng bào các dân tộc là một trong những yêu cầu bắt buộc, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền.

Cùng với đó, đẩy mạnh tuyên truyền để đồng bào hiểu, thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nói chung, chính sách về dân tộc, tôn giáo, về đại đoàn kết toàn dân tộc, phát triển kinh tế, an sinh xã hội, sự ưu tiên đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa nói riêng. Trong tuyên truyền, cần có phương pháp phù hợp, gần gũi, chia sẻ, “cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng dân tộc”, kiên trì, nói đi đôi với làm để đồng bào hiểu, tin và ủng hộ; tuyệt đối tôn trọng phong tục, tập quán của từng dân tộc, tránh sơ hở, sai sót để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá. Đồng thời, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, chú trọng xây dựng lực lượng nòng cốt để tuyên truyền, vận động, nắm bắt tình hình tư tưởng, nguyện vọng của các dân tộc thiểu số, nhất là các vùng trọng điểm về an ninh, quốc phòng.

Hai là, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc ở Tây Bắc, chú trọng địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số.

Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định trong đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, sự chống phá của các thế lực thù địch trên địa bàn. Bởi vậy, cấp ủy, chính quyền các cấp cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp để thúc đẩy kinh tế vùng Tây Bắc phát triển nhanh, bền vững. Trong đó, quan tâm xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội; cải cách cơ chế, chính sách, đẩy mạnh xúc tiến đầu tư, phát huy tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương, tạo mọi điều kiện thu hút các nguồn lực, doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư phát triển công nghiệp, một số sản phẩm nông nghiệp có chất lượng cao, khai thác tiềm năng du lịch. Đồng thời, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, chính sách đối với người có công với cách mạng; quan tâm đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động vùng đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt chính sách tôn giáo, tín ngưỡng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng của đồng bào; đẩy mạnh tuyên truyền xây dựng đời sống văn hóa tại các làng, bản, đấu tranh chống các biểu hiện mê tín dị đoan, hoạt động tôn giáo trái pháp luật. Phát huy vai trò của các đoàn kinh tế - quốc phòng trên địa bàn tham gia xây dựng công trình dân sinh phục vụ sản xuất và đời sống; nghiên cứu, hướng dẫn, chuyển giao công nghệ sản xuất cây trồng, vật nuôi, bao tiêu sản phẩm cho đồng bào các dân tộc để từng bước ổn định và nâng cao đời sống của đồng bào, không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá.

Ba là, phối hợp chặt chẽ giữa Mặt trận Tổ quốc với Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng và các tổ chức đoàn thể trong công tác tuyên truyền, vận động thực hiện phong trào toàn dân bảo vệ chủ quyền quốc gia, lãnh thổ.

Phối hợp thực hiện tốt công tác dân vận, xóa đói giảm nghèo, cứu hộ, cứu nạn; tuyên truyền nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho đồng bào các dân tộc. Tiếp tục phát huy vai trò của các tổ, đội công tác, cử cán bộ Bộ đội Biên phòng giữ chức vụ trong cấp ủy, chính quyền địa phương biên giới, tích cực tham gia, xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội ở cơ sở. Chú trọng xây dựng, phát huy đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số trên địa bàn, bồi dưỡng, rèn luyện cho họ có phong cách, tác phong công tác phù hợp, cùng ăn, cùng ở, cùng làm, có sự am hiểu sâu sắc về phong tục, tập quán của đồng bào để “nghe được đồng bào nói, nói đồng bào nghe”./.

CẦN BẢO VỆ TÍNH CHÍNH NGHĨA CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ CỨU NƯỚC

 Các thế lực thù địch, phản động, chống cộng cực đoan luôn bịa đặt, xuyên tạc, lập lờ “đánh lận con đen”, xóa nhòa ý nghĩa của chiến tranh vệ quốc chính nghĩa chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta với chiến tranh xâm lược phi nghĩa của Đế quốc Mỹ ở Việt Nam. Chúng gọi ngày 30/4/1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc là “Ngày quốc hận”, “Ngày mất nước”, “Tháng Tư đen”, chúng gọi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là “miền Bắc xâm lược miền Nam”. Cựu Phó Tổng thống, Thủ tướng Việt Nam cộng hòa Nguyễn Cao Kỳ đã từng phê phán về việc gọi ngày 30/4 là “quốc hận” và đòi “phục quốc” như sau: “Thống nhất xứ sở là nhiệm vụ lịch sử của mỗi một người con Việt Nam nhưng chúng tôi đã không làm được. Những người anh em phía bên kia đã làm được, phải chấp nhận đó là lịch sử và đất nước đã được thống nhất rồi. Vậy mà còn quay ra nói phục quốc? Nước Việt Nam có mất cho Tây, cho Tàu đâu mà đòi phục quốc?”.

Ngày 26/8/2019, một chủ kênh Youtube tự xưng “người yêu nước” đã tuyên bố: “… Từ năm 1954, Việt Nam có hai quốc gia, một quốc gia là Bắc Việt là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và quốc gia phía Nam, Nam Việt là Việt Nam Cộng hòa. Hai quốc gia dầu cùng chung tiếng nói cùng chung lịch sử trong quá khứ, nhưng giai đoạn đó từ năm 1954 đến năm 1975, 21 năm trời là hai quốc gia khác nhau, hai thủ đô khác nhau, một thủ đô phía Nam là Sài Gòn, một thủ đô phía Bắc là Hà Nội giống y như nước Triều Tiên”.

Gần đây trong tháng 4 và tháng 5/2022, y nhiều lần tuyên bố trên kênh Youtube: “Trong giai đoạn 1954 đến 1975, Việt Nam có hai quốc gia. Những ai nói Việt Nam chỉ có một quốc gia là ngu dốt, là kẻ tội đồ của dân tộc, là kẻ phản quốc... Lời cụ Hồ nói “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn núi có thể mòn song chân lý đó không bao giờ thay đổi” chỉ là lời nói cảm tính của cụ Hồ và người Việt Nam”. Tuy nhiên y lại quên rằng trước đó đúng 1 năm, trong một bài viết nhận tội, sám hối với cụ Hồ trên báo mạng vào lúc 2 giờ 23 phút thứ Ba ngày 18/5/2021, y viết: ”Sau khi tìm hiểu kỹ lại, tôi biết Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 lấy vĩ tuyến 17 là giới tuyến quân sự tạm thời chia Việt Nam làm hai vùng tập kết quân sự tạm thời, năm 1956 sẽ tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất đất nước. Nhưng Mỹ và chính quyền Ngô Ðình Diệm từ chối không tổ chức tổng tuyển cử. Trong khi đó, Cụ Hồ luôn chủ trương: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn núi có thể mòn song chân lý đó không bao giờ thay đổi”. Như thế một lần nữa y lại xúc phạm lãnh tụ dân tộc, các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước cũng như mấy chục triệu người dân Việt từ Nam chí Bắc với niềm tin sắt đá luôn khẳng định và tin theo chân lý “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn núi có thể mòn song chân lý đó không bao giờ thay đổi” cũng như hiệp định quốc tế Giơ-ne-vơ công nhận chỉ có một nước Việt Nam độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ...

Với âm mưu bịa đặt xuyên tạc lịch sử, xét lại lịch sử trong thời gian qua trên các đài VOA, RFA, RFI, BBC và các trang mạng xã hội của các thế lực thù địch, chống cộng cực đoan, dân chủ cuội được dịp hùa theo tung hô, ủng hộ luận điểm “…Từ năm 1954 đến 1975 Việt Nam có hai quốc gia, một quốc gia là Bắc Việt là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và quốc gia phía Nam là Việt Nam Cộng hòa”. Từ đó, chúng tiếp tục xuyên tạc rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là “Quốc gia miền Bắc xâm lược quốc gia miền Nam”, là “Nội chiến huynh đệ tương tàn”. Như thế cuộc chiến tranh vệ quốc chính nghĩa chống Mỹ cứu nước suốt 20 năm của nhân dân ta để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước trở thành cuộc chiến tranh phi nghĩa. Sự hy sinh tính mạng, xương máu của hàng triệu đồng bào, chiến sĩ trong cả nước trở nên vô nghĩa. Nguy hiểm hơn là có một số chủ kênh Youtube, Facebook trong nước và một số người có học hàm, học vị, chức vụ trong bộ máy nhà nước, trong đó có cả cán bộ, quân nhân nghỉ hưu cũng “tự diễn biến, tự chuyển hóa” tung hô và ủng hộ luận điểm ”từ năm 1954 đến 1975 Việt Nam có hai quốc gia” sai trái này.

Chúng ta đều biết: ngày 20/7/1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương được ký kết. Ba hiệp định đình chỉ chiến sự ở ba nước và tuyên bố cuối cùng của Hội nghị tạo thành khung pháp lý của Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 về Đông Dương. Các nước tham gia Hội nghị tuyên bố tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Campuchia. Hiệp định Geneve được ký kết với các thỏa thuận: Hòa bình được lập lại, chấm dứt sự hiện diện của quân đội và chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương. Theo Hiệp định: Nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền qua vĩ tuyến 17, song các bên tham dự Hội nghị nhấn mạnh rằng: dù bất cứ trường hợp nào, không thể coi đó là biên giới chính trị hay lãnh thổ quốc gia. Sự chia cắt đó chỉ là tạm thời. Hai miền phải thống nhất trước tháng 7/1956 bằng tổng tuyển cử “tự do và dân chủ”. Quân Pháp phải rút quân khỏi miền Bắc và Việt Minh rút khỏi miền Nam trong thời hạn 300 ngày; người dân có quyền lựa chọn ở miền Bắc hay miền Nam, trong thời gian đó, họ được tự do đi lại. Nghiêm cấm quân đội nước ngoài xâm nhập lãnh thổ Việt Nam. Một Ủy ban Giám sát quốc tế gồm có các nước Ba Lan, Ấn Độ và Canada sẽ giám sát việc thi hành các điều khoản của Hiệp định. Như thế luận điệu “từ năm 1954 đến 1975 Việt Nam có hai quốc gia”… là xuyên tạc, bịa đặt, xét lại lịch sử với ý đồ rất hiểm độc, xấu xa cần vạch trần và lên án./.

NHẬN THỨC THÊM VỀ CN MÁC-LÊNIN VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA!

         Giá trị thời đại trong chủ nghĩa Mác chính là những giá trị tốt đẹp của CNXH. CNXH là chủ nghĩa cộng đồng, tư tưởng cộng đồng không dễ gì bác bỏ, tiêu vong được. Nhân loại đã đi qua rất nhiều chặng đường và lịch sử của CNXH cũng đã trải qua những bước thăng trầm tất yếu với 4 lần khủng hoảng, điều đó cho thấy sức sống của một lý tưởng không hề bằng phẳng.
     Các thế lực thù địch công kích CNXH đã đành, nội tại bản thân CNXH cũng phải đấu tranh để tồn tại và phát triển. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “CNCS không phải là một lý tưởng hay một khuôn mẫu để chạy theo. Đối với chúng tôi CNCS là sự vận động của đời sống hiện thực”. Con đường đi lên CNXH sẽ không bằng phẳng mà còn rất nhiều gập ghềnh, thử thách, thậm chí phải trả giá bởi những thất bại tạm thời, bởi đó không phải con đường có sẵn, mà muốn đi lên phải tìm tòi, thử nghiệm, điều chỉnh, sửa chữa, đúc kết, hoàn thiện… Để có một chế độ xã hội tốt đẹp phải trải qua quá trình xây dựng. Đó là con đường tất yếu mà xã hội nào cũng phải trải qua.
     CNXH mà Hồ Chí Minh quan niệm là độc lập, tự do, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Một nước XHCH tức là một nước có cuộc đời ấm no, bình đẳng, tự do và độc lập. Ba mục tiêu mà chúng ta hướng tới đó là độc lập, tự do và hạnh phúc. Đó là mục tiêu sống còn, là đích đến cuối cùng mà chúng ta xây dựng. Lựa chọn con đường nào để đi đến chân trời tươi sáng là quyền của mỗi quốc gia, dân tộc. Người ta có thể nghi ngờ, nhưng rõ ràng ở Việt Nam hiện nay phát triển theo CNXH là con đường duy nhất đúng.
     CNXH ở Việt Nam trên cơ sở của sự sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin để rồi CNXH ở Việt Nam tiến lên một bước mới: Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh./.


Yêu nước ST.

GIỮ VỮNG MẶT TRẬN VĂN HÓA TƯ TƯỞNG TRONG THỜI ĐẠI MỚI

 


Một đất nước phải có bản sắc văn hóa dân tộc, đó là những nét đẹp được tôn vinh, được toàn thể các các dân tộc trên Thế giới biết đến, là điều kiện không thể thiếu đối với một quốc gia, dân tộc trong mọi thời đại.

Văn hóa của người Việt bắt nguồn từ văn minh nông nghiệp lúa nước. Do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã phân chia thời gian trong một năm thành 24 tiết khác nhau và ứng với mỗi tiết này có một thời khắc giao thời, trong đó tiết quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, tức là Tiết Nguyên đán sau này được biết đến là Tết Nguyên đán. Tết Nguyên đán được khởi đầu từ ngày 23 tháng Chạp (23 Tết), kéo dài đến mùng bảy Tết, trong đó 3 ngày đầu tiên của tháng đầu tiên thuộc về năm mới được coi là Nguyên đán - Tết đầu năm mới.

Chuẩn bị bước sang năm mới, tuần cuối cùng của năm cũ. Nhà cửa được trang trí đẹp đẽ không gian để đón Tết, thú vui sắm sửa tranh Tết, câu đối và các loại hoa tươi đã trở thành nếp sinh hoạt văn hóa không thể nào thiếu trong những ngày Tết. Cùng với đó là tục gói bánh chưng ngày Tết cũng đã trở thành nét văn hóa truyền thống của người Việt được lưu truyền từ xa xưa. Tất niên là bữa cơm cuối cùng khép lại một năm cũ. Sau một năm làm lụng vất vả, mưu sinh, những người con xa quê lại trở về quây quần quanh mâm cơm tất niên, kể cho nhau nghe chuyện đời, chuyện nghề, chuyện mưu sinh khó nhọc. Sau bữa cơm tất niên, giao thừa là thời khắc thiêng liêng nhất giữa năm cũ và năm mới, là sự giao hòa của đất trời vạn vật. Mặc dù mỗi miền quê có văn hóa nghi lễ cúng giao thừa khác nhau, song đều có cái chung là sắm mâm cơm thịnh soạn, đặt lên bàn thờ tổ tiên, con cháu quây quần bên nhau, hướng lên bàn thờ thành tâm nguyện cầu cho một năm mới sức khỏe, an lành, hạnh phúc.

Vậy mà, như một căn bệnh mãn tính, các thế lực thù địch luôn nhằm những ngày

trọng đại của đất nước, ngày lễ lớn của quốc gia và những gì thiêng liêng của dân tộc để không ngừng bôi xấu. Bằng những luận điệu như: Bỏ tết ta để chỉ ăn một tế tây; nghỉ tết là làm cho đất nước nghèo đi; là không lạc hậu với xu thế phát triển của thế giới và nhiều hơn nữa. Nhưng thử hỏi rằng nếu một đất nước không giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc, tất cả đều bị lai căng thì tất cả xẽ đi về đâu.

Mặc dù ngày nay, cuộc sống bận rộn, Tết với phần lớn các gia đình cũng thay đổi, mang một dư vị khác. Các gia đình bận rộn. Khoa học công nghệ phát triển, dẫn đến một số phong tục xưa bị giảm bớt như: gói bánh chưng ngày tết; đốt pháo hoa giao thừa...vv

Nhưng phải nhìn nhận một cách khách quan rằng đất nước đổi mới, những nghi lễ tập tục cũng được cắt giảm để phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, song những giá trị cốt lõi vẫn là nét đẹp trường tồn mãi mãi trong Tết cổ truyền của người Việt. Và nó là giá trị bất biến vĩnh hằng in đậm trong mỗi trái tim người dân Việt Nam, cần giữ vững và phát triển để làm phong phú hơn.

 

QUY TẮC ỨNG XỬ TRÊN MÔI TRƯỜNG KHÔNG GIAN MẠNG

 


Thắng lợi của một cuộc đấu tranh luôn phụ thuộc bởi nhiều yếu tố, trong đó biết vận dụng linh hoạt công cụ và kết hợp nhiều biện pháp là vấn đề cơ bản tạo nên ưu thế và là nguyên nhân thắng lợi của mọi cuộc đấu tranh.

Từ hành động điên cuồng chống phá của thế lực phản đang ra sức đầu độc người Việt Nam bằng “văn hoá” xấu độc. thông qua nhiều phương thức, thủ đoạn. đặc biệt trong giai đoạn hiện nay chúng thường lợi dụng không gian mạng, nhất là trên internet và mạng xã hội như: sử dụng các trang web, blog, các tài khoản mạng xã hội Facebook, YouTube, Twitter, Zalo, các diễn đàn, báo điện tử, đài phát thanh để, cổ xúy các sản phẩm văn hóa xấu độc, ngoại lai, cùng những hành vi phản nhân văn, phi tiến bộ để tác động vào tâm lý, sở thích, kích thích những ham muốn vật chất tầm thường của mỗi người  với mục tiêu không thay đổi chúng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa, đưa Việt Nam phát triển theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa.

 Đến tính chất lâu dài của sự nghiệp xây dựng và đấu tranh. Trước thực tế không thể coi nhẹ, xem thường đó làvấn đề cấp bách hiện nay là chúng ta phải thường xuyên, tích cực bồi dưỡng, vun đắp, nâng cao sức đề kháng văn hóa cho các cấp, các ngành và toàn xã hội. Sức đề kháng văn hóa chính là tăng cường khả năng phòng ngừa, bảo vệ, chống lại các sản phẩm văn hóa, thông tin độc hại từ bên ngoài xâm nhập vào nước ta. Lịch sử đã minh chứng rằng, sức đề kháng văn hóa có vai trò cực kỳ quan trọng đối với việc giữ gìn, bảo vệ và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nếu sức đề kháng văn hóa non nớt, nhu nhược, yếu kém sẽ là mảnh đất màu mỡ cho các “vi rút văn hóa” độc hại có cơ hội nảy sinh, lây lan, làm xói mòn tâm hồn, cốt cách văn hóa dân tộc. Ngược lại, nếu sức đề kháng văn hóa mạnh mẽ, cường tráng sẽ góp phần làm cho văn hóa Việt Nam không những giữ gìn được gốc gác, cội nguồn, bản sắc của mình, mà còn có thể đẩy lùi, tiêu trừ, loại bỏ được các tạp chất gây hại cho môi trường văn hóa dân tộc.

            * Bộ quy tắc ứng xử trên mạng xã hội, được Bộ thông tin và truyền thông ban hành  Ngày 17 tháng 6 năm 2021.

Mục đích: Tạo điều kiện phát triển lành mạnh mạng xã hội tại Việt Nam, đảm bảo quyền tự do cá nhân, quyền tự do kinh doanh, không phân biệt đối xử nhà cung cấp dịch vụ trong và ngoài nước, phù hợp với chuẩn mực, thông lệ và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia; Xây dựng chuẩn mực đạo đức về hành vi, ứng xử trên mạng xã hội, giáo dục ý thức, tạo thói quen tích cực trong các hành vi ứng xử của người dùng trên mạng xã hội, góp phần xây dựng môi trường mạng an toàn, lành mạnh tại Việt Nam.

Nội dung:  Bộ quy tắc ứng xử đã đề cập một cách sâu, rộng và toàn diện gồm các vấn đề như: Quy tắc Tôn trọng, tuân thủ pháp luật; Quy tắc Lành mạnh; Quy tắc An toàn, bảo mật thông tin; Quy tắc Trách nhiệm. Quy tắc ứng xử cho tổ chức, cá nhân; Quy tắc ứng xử cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan nhà nước Quy tắc ứng xử cho các cơ quan nhà nước; Quy tắc ứng xử cho các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội.

Ý nghĩa: Bộ quy tắc ứng xử mang tính vận động, tuy nhiên đây lại là căn cứ để ta xác định những hành vi vi phạm, của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, là cơ sở để áp dụng các biện pháp, phòng ngừa, đấu tranh, răn đe, thậm trí có quyền khởi tố trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Vận dụng bộ quy tắc ứng xử trong việc nâng cao hiệu quả đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng trên môi trường không gian mạng:

-         Tuyên truyền sâu rộng, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nâng cao nhận

thức về tính pháp lí của bộ quy tắc ứng xử trên môi trường không gian mạng đối với người dùng; đồng thời tích cực vận động, tạo nên lực lượng đấu tranh hùng hậu của đông đảo người tham gia trong môi trường không gian mạng;

-         Tích cực phát hiện các nội dung thông tin xấu độc, vi phạm pháp luật,

nhanh chóng phối hợp với các cơ quan chức năng để kịp thời thông báo với nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội để xử lý, ngăn chặn theo quy định của pháp luật. Là giải pháp trọng yếu, xuyên suốt và mang tính răn đe kịp thời, hiệu quả trong giai đoạn hiện nay; khác với trước đây chúng ta chưa có quy tắc cụ thể, chưa có biện pháp mạnh tay; thì nay dựa trên bộ quy tắc ứng xử tuy mang tính vận động nhưng khác với những quy tắc vận động thông thường là khi phát hiện thấy vi phạm, chúng ta có quyền liên hệ với cơ quan chức năng để làm rõ, xử lí theo quy định của pháp luật; khi chúng ta nắm vững vấn đề này đi đôi với tích cực hành động mạnh tay hơn sẽ tạo nên những hiệu quả tích cực trong đấu tranh ngăn chặn.

 Hướng dẫn người sử dụng mạng xã hội hiểu biết về quy định, hỗ trợ và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của “người yếu thế” trong xã hội (người nghèo, người dân tộc thiểu số, trẻ em, trẻ vị thành niên, người khuyết tật…) sử dụng mạng xã hội an toàn, lành mạnh nhằm tránh bị khai thác, lạm dụng, bạo lực về tinh thần trên mạng xã hội; có biện pháp để bảo đảm sự an toàn và phát triển lành mạnh của trẻ em, trẻ vị thành niên trên mạng xã hội theo quy định của pháp luật Việt Nam.

-          

 

 

PHÁT HUY SỨC MẠNH TOÀN DÂN TOÀN DIỆN

 


Đại đoàn kết (ĐĐK) toàn dân tộc chính là tư tưởng cơ bản, nhất quán và xuyên suốt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo Người, đoàn kết là lực lượng vô địch để khắc phục mọi khó khăn, giành lấy thắng lợi trước mọi kẻ thù. Sức mạnh đại đoàn kết giống như bức tường đồng bao quanh Tổ quốc, dù kẻ thù có hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, khi đụng đầu nhằm vào bức tường đó sẽ đều thất bại. Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta xác định vấn đề ĐĐK dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, phải được quán triệt trong các lĩnh vực, từ đường lối, chủ trương, chính sách đến thực tiễn.

Trong công cuộc đổi mới đất nước, đường lối, chủ trương của Ðảng, Nhà nước về ĐĐK toàn dân tộc ngày càng được hoàn thiện và thể chế hóa bằng các chính sách, pháp luật. Các tầng lớp nhân dân đã nỗ lực chung sức, chung lòng cùng Ðảng, Nhà nước vượt qua khó khăn, thử thách, giữ vững sự ổn định chính trị, phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và tiếp tục nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đề ra các chủ trương và giải pháp chủ yếu để xây dựng khối ĐĐK toàn dân tộc. Đó là thực hiện tốt chính sách xã hội, tạo điều kiện cho mọi giai cấp, tầng lớp xã hội phát triển vững mạnh. Cùng với phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, việc tăng cường đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí cũng được Đảng ta xác định là cơ sở để tạo sự đồng thuận xã hội, đồng thuận giữa nhà nước và nhân dân, qua đó tăng cường khối ĐĐK toàn dân tộc. Thực tế trong công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm chăm lo, bảo đảm lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân, thực hiện tốt chính sách xã hội, thể hiện sự ưu việt của chế độ xã hội nước ta.

Để phát huy tốt vai trò lãnh đạo của Đảng, Nghị quyết Đại hội XIII xác định cần phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị trong xây dựng khối ĐĐK toàn dân tộc. Sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng là điều kiện tiên quyết để Đảng ta thực sự xứng đáng là hạt nhân đoàn kết của toàn xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng chính là ngọn cờ tập hợp, quy tụ sức mạnh của khối ĐĐK toàn dân tộc. Để thực hiện mục tiêu: "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", Đảng ta xác định, cần giải quyết tốt các mối quan hệ, thu hẹp những khác biệt giữa các bộ phận xã hội trong xây dựng khối ĐĐK toàn dân tộc. Giải quyết tốt vấn đề này không chỉ trực tiếp góp phần củng cố sức mạnh của khối ĐĐK toàn dân tộc mà còn là cơ sở để đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch hòng chống phá khối ĐĐK dân tộc ở nước ta... 

Tuy nhiên, trong quá trình đổi mới, đất nước ta đang đứng trước những khó khăn, thách thức, ảnh hưởng tới sức mạnh ĐĐK toàn dân tộc. Đó là sự phân hóa giàu nghèo; tệ nạn quan liêu, tham nhũng, xa rời quần chúng nhân dân; một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống... Lợi dụng tình trạng này, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị ra sức xuyên tạc, hòng phá hoại khối ĐĐK toàn dân tộc, làm xói mòn lòng tin của nhân dân với Đảng, chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.

Để tiếp tục phát huy sức mạnh ĐĐK toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, cần phải tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện nhất quán quan điểm: Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; ĐĐK toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các tầng lớp, giai cấp và các thành phần trong xã hội, trong đó đặc biệt chú trọng việc không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Đồng thời Cấp ủy, chính quyền, mặt trận các cấp cần tiếp tục thực hiện tốt các chính sách phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc, miền núi và vùng đồng bào có đạo, đồng thời phát huy tốt vai trò của người có uy tín trong đồng bào dân tộc, chức sắc tôn giáo trong việc thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo; quan tâm chăm lo từng hộ dân, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vận động và giúp nhân dân xóa đói, giảm nghèo, xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc. Và phát huy truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa, khoan dung của dân tộc, cùng nhau hợp sức xây dựng một xã hội đồng thuận cao trên tinh thần cởi mở, độ lượng, tin cậy lẫn nhau vì sự ổn định và phát triển toàn diện, bền vững của đất nước.