Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2022
CHÓ CẮN LẠI CHỦ!
TẠI SAO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN, ĐỔI MỚI VÀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỢP TÁC XÃ LÀ TẤT YẾU KHÁCH QUAN
Tính đến nay, xét về phạm vi trên toàn
thế giới Hợp tác xã (HTX) đã trải
qua quá hình thành và phát triển hơn 200 năm. Theo báo cáo năm 2021 của Liên đoàn HTX quốc
tế (ICA), HTX liên tục phát triển ở các nước phát triển và đang phát triển; đến
nay có hơn 3 triệu HTX, đóng góp hơn 10% GDP và bảo đảm đời sống cho hơn một
nửa dân số thế giới; chẳng hạn: Cộng hòa Liên bang Đức, hầu hết nông dân là
thành viên HTX, sản xuất từ 30% đến 90% sản lượng lương thực, thực phẩm,
chiếm 35% thị phần tín dụng nông thôn; Hà Lan có 25,5 triệu thành viên HTX, gấp
1,5 lần dân số, đóng góp 18% GDP; Nhật Bản, HTX có 65 triệu thành viên, gần 50%
hộ gia đình ở Nhật Bản sử dụng dịch vụ của HTX; Trung Quốc có 30.287 HTX, thu
hút hơn 80% hộ nông dân tham gia thành viên; Thái Lan có 6.626 HTX nông nghiệp
và phi nông nghiệp, đóng góp 13% GDP; Hoa Kỳ có 50.000 HTX, chiếm 25% thị phần
nông sản chế biến và tiêu thụ...
Tại cuộc họp Đại hội đồng Liên hiệp quốc (năm
2003) và Thông điệp gửi phong trào HTX quốc tế. Tổng thư ký Liên hiệp quốc đánh
giá: "HTX là một trào lưu có tổ chức lớn nhất của xã hội văn minh,
đóng góp quan trọng trong việc đáp ứng nguyện vọng, nhu cầu của con người trong
những nỗ lực phát triển kinh tế cân bằng sâu rộng ở các quốc gia nói riêng và
thế giới nói chung", "HTX là đối tác chính trong hệ thống của
Liên hiệp quốc, HTX là mô hình về tự trợ giúp và đoàn kết, đóng góp của HTX rất
đặc biệt và vô giá".
Quá trình phát triển HTX trên thế giới, kể cả
hơn hai năm có đại dịch Covid-19 cho thấy một số vấn đề áp dụng vào thực tiễn Việt Nam:
Hầu hết hộ nông dân tham gia thành viên HTX; các HTX đều thực hiện đúng bản
chất, giá trị và nguyên tắc có tính phổ biến trong hoạt động và quản trị, đó là
tự nguyện, tự lực, tự chịu trách nhiệm, dân chủ, bình đẳng và đoàn kết, mỗi
thành viên là một phiếu bầu, quan tâm đến cộng đồng; vai trò của HTX là chủ thể
quan trọng đóng góp cho mục tiêu phát triển bền vững, xóa đói, giảm nghèo, bình
đẳng giới, tạo việc làm, phát triển kinh tế bao trùm, chuyển đổi kinh tế và lao
động phi chính thức sang chính thức, thích ứng biến đổi khí hậu, chuyển đổi số,
xây dựng xã hội học tập; Chính phủ các nước thường xuyên hoàn thiện khung khổ
pháp luật và áp dụng chính sách hỗ trợ HTX phát triển, cùng với củng cố Liên
minh HTX quốc gia để thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ, chăm lo HTX thành
viên.
TẠI SAO PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ, HỢP TÁC XÃ
LÀ KHÁCH QUAN, PHÙ HỢP VỚI XU HƯỚNG CỦA THẾ
GIỚI
Tính đến nay, xét về phạm vi trên toàn
thế giới Hợp tác xã (HTX) đã trải
qua quá hình thành và phát triển hơn 200 năm. Theo báo cáo năm 2021 của Liên đoàn HTX quốc
tế (ICA), HTX liên tục phát triển ở các nước phát triển và đang phát triển; đến
nay có hơn 3 triệu HTX, đóng góp hơn 10% GDP và bảo đảm đời sống cho hơn một
nửa dân số thế giới; chẳng hạn: Cộng hòa Liên bang Đức, hầu hết nông dân là
thành viên HTX, sản xuất từ 30% đến 90% sản lượng lương thực, thực phẩm,
chiếm 35% thị phần tín dụng nông thôn; Hà Lan có 25,5 triệu thành viên HTX, gấp
1,5 lần dân số, đóng góp 18% GDP; Nhật Bản, HTX có 65 triệu thành viên, gần 50%
hộ gia đình ở Nhật Bản sử dụng dịch vụ của HTX; Trung Quốc có 30.287 HTX, thu
hút hơn 80% hộ nông dân tham gia thành viên; Thái Lan có 6.626 HTX nông nghiệp
và phi nông nghiệp, đóng góp 13% GDP; Hoa Kỳ có 50.000 HTX, chiếm 25% thị phần
nông sản chế biến và tiêu thụ...
Tại cuộc họp Đại hội đồng Liên hiệp quốc (năm
2003) và Thông điệp gửi phong trào HTX quốc tế. Tổng thư ký Liên hiệp quốc đánh
giá: "HTX là một trào lưu có tổ chức lớn nhất của xã hội văn minh,
đóng góp quan trọng trong việc đáp ứng nguyện vọng, nhu cầu của con người trong
những nỗ lực phát triển kinh tế cân bằng sâu rộng ở các quốc gia nói riêng và
thế giới nói chung", "HTX là đối tác chính trong hệ thống của
Liên hiệp quốc, HTX là mô hình về tự trợ giúp và đoàn kết, đóng góp của HTX rất
đặc biệt và vô giá".
BẠN CẦN BIẾT VỀ “ DOANH NGHIỆP CỦA HỢP TÁC XÔ
Giá trị hiện thực trong bài học tận dụng “thời cơ” – nhân tố quan trọng góp phần đem lại thành công của Cách mạng Tháng Tám 1945
(TG)
- Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã trải qua biết bao
cuộc kháng chiến chống xâm lược với những kẻ thù lớn mạnh hơn mình gấp nhiều
lần và giành được những thắng lợi vẻ vang. Những thắng lợi đó là do nhiều yếu
tố khách quan và chủ quan trong đó có thành công của nghệ thuật tận dụng, chớp
“thời cơ”.
Tận
dụng “thời cơ” nhân
tố quan trọng góp phần đem lại thành công của cách mạng Tháng Tám 1945
Thời
cơ là tình thế xuất hiện trong thời điểm nhất định có lợi nhất cho việc
chủ động phát huy mọi sức mạnh để giành thắng lợi; là sự kết hợp hàng loạt nhân
tố chủ quan và khách quan khi điều kiện đã chín muồi. Thời cơ có thể do thực
lực cách mạng trong nước tạo ra, cũng có thể do hoàn cảnh bên ngoài đưa đến.
Nếu không có thực lực cách mạng đến mức đủ mạnh thì không thể tạo ra được thời
cơ và khi thời cơ đến sẽ không kịp thời tận dụng hiệu quả.
Theo lý
luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, thời cơ nổi dậy của quần chúng giành chính quyền
về tay mình là lúc xảy ra khủng hoảng của giai cấp thống trị về kinh tế, chính
trị, xã hội; quần chúng nhân dân và đội tiền phong sẵn sàng hành động; các lực
lượng trung gian đã ngả hẳn về phía cách mạng. Cách mạng vô sản Pháp và cách
mạng tháng Mười Nga 1917 đã nổ ra và thắng lợi trong thời cơ đó.
Vận
dụng lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện Việt Nam, bên cạnh việc
chuẩn bị chu đáo mọi mặt cả về vật chất lẫn tinh thần cho phong trào cách mạng
Hồ Chí Minh và Đảng ta còn rất coi trọng vấn đề thời cơ. Hồ Chí Minh khẳng
định: “làm cách mệnh phải biết dựa vào thời cơ và phải nhìn chung phong trào
mọi nơi, mọi chốn mới chắc thắng”.
Khi
chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ (tháng 9-1939), nhận rõ thời cơ cách
mạng đang đến gần, Đảng đã tiến hành Hội nghị Trung ương 6 (11-1939) thay đổi
chiến lược cách mạng, giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, chuẩn bị tiến tới
khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.
Thời
điểm giữa năm 1940, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đang ở Trung Quốc, nghe tin Pháp bại
trận, trong Hội nghị Ban cán sự Đảng ở ngoài nước, Người đã nhận định: “Việc
Pháp bại trận là một cơ hội thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi
cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách
mạng”.
Tháng
9-1940, Phát xít Nhật nhảy vào chiếm đóng Đông Dương. Nhân dân ta phải chịu
cảnh một cổ hai tròng, dưới ách thống trị của cả thực dân pháp lẫn phát xít
Nhật. Trong bối cảnh đó, Đảng đã tiến hành Hội nghị Trung ương 7 (11/1940). Hội
nghị nhận định “Một cao trào cách mạng sẽ nổi dậy. Đảng phải chuẩn bị để giành
lấy cái sứ mệnh thiêng liêng, lãnh đạo các dân tộc bị áp bức Đông Dương võ
trang bạo động giành lấy quyền tự do độc lập”.
Sau gần
ba mươi năm hoạt động và lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước từ
nước ngoài, ngày 28-1-1941 Nguyễn Ái Quốc trở về nước. Người cùng Trung ương
Đảng trực tiếp lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc. Tháng 5-1941, Nguyễn Ái
Quốc - Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị Trung ương 8 tại Pắc
Bó, Cao Bằng. Hội nghị là sự tiếp tục và hoàn chỉnh chuyển hướng chỉ đạo chiến
lược cách mạng được nêu ra từ Hội nghị Trung ương 6, thực hiện chiến lược giải
phóng dân tộc, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết, trước hết. Hội
nghị đã nhận định: Nếu cuộc chiến tranh thế giới lần trước đẻ ra Liên Xô, một
nước xã hội chủ nghĩa, thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước
xã hội chủ nghĩa, do đó mà cách mạng nhiều nước thành công. Đồng thời khẳng
định: “Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh
tử, tồn vong của quốc gia, dân tộc. Trong lúc này, nếu không giải quyết được
vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc,
thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền
lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được.”
Thực
hiện chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, sau Hội nghị Trung ương 8,
Đảng đã bắt tay vào việc triển khai thực hiện nghị quyết, đẩy mạnh xây dựng
phát triển các lực lượng cách mạng, xây dựng căn cứ địa, xây dựng lực lượng vũ
trang, xây dựng và củng cố cơ sở Đảng, tổ chức quần chúng, cơ sở cách mạng,…gấp
rút chuẩn bị mọi điều kiện tạo lực, lập thế cho cách mạng chuẩn bị mọi điều
kiện sẵn sàng nổi dậy Tổng khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến.
Trong
khí thế đang lên của phong trào cách mạng, tháng 5-1944, Tổng bộ Việt Minh ra
chỉ thị: “Về sửa soạn khởi nghĩa”. Tháng 10-1944, Trung ương Đảng lại ra lời
kêu gọi: “Sắm vũ khí đuổi thù chung”. Các địa phương ra sức củng cố xây dựng
lực lượng vũ trang, tìm kiếm vũ khí, chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền.
Phong trào chuẩn bị khởi nghĩa sôi nổi lan rộng.
Tuy
nhiên, Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ những bước phát triển của lực lượng vũ trang và
việc chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa phải phù hợp với sự phát triển của tình thế
cách mạng. Vấn đề quan trọng đặt ra là phải có đường lối chiến lược và sách
lược đúng đắn; phải chuẩn bị lực lượng đầy đủ, tạo thời cơ và nắm vững thời cơ,
để khi thời cơ đến có thể nhanh chóng huy động lực lượng, chớp thời cơ giành
thắng lợi.
Tháng
10-1944, vừa từ Trung Quốc trở về, Hồ Chí Minh đã kịp thời hoãn cuộc khởi nghĩa
do liên tỉnh uỷ Cao-Bắc-Lạng chuẩn bị phát động vào cuối năm 1944 do thời cơ
chưa đến, kẻ thù vẫn còn mạnh. Việc kịp thời hoãn cuộc “khởi nghĩa non” đó đã
tránh được cho cách mạng nhiều tổn thất.
Đầu năm
1945, chiến tranh Thế giới II bước vào giai đoạn cuối, tình hình thế giới có
những điều kiện mới, nhân tố mới cho phong trào cách mạng giải phóng dân tộc
Việt Nam phát triển thành cao trào.
Dự kiến
đúng chiều hướng phát triển của tình hình, chủ động trước thời cuộc, đêm
9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp, ngay sau đó ngày 12-3-1945 Đảng đã ra chỉ thị “Nhật-Pháp
bắn nhau và hành động của chúng ta”. Chỉ thị là một văn kiện lịch sử có ý
nghĩa chỉ đạo hành động, chuẩn bị mọi lực lượng để đón thời cơ khởi nghĩa một
cách chủ động. Thời kỳ “đêm trước” của tổng khởi nghĩa đã diễn ra, Trung ương
Đảng đã kêu gọi thực hiện khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền ở các địa
phương trước khi Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.
Thực
hiện theo Chỉ thị của Trung ương Đảng, một cao trào kháng Nhật nổ ra mạnh mẽ
trong cả nước, khởi nghĩa từng phần diễn ra ở nhiều nơi.
Trước
khi có thời cơ tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, khởi nghĩa từng
phần có tác dụng to lớn, vừa giành chính quyền ở địa phương, tạo điều kiện xây
dựng mau chóng lực lượng, vừa mở rộng phạm vi ảnh hưởng của cách mạng, đẩy địch
vào thế bị động lúng túng. Những cuộc khởi nghĩa từng phần là sự chuẩn bị tích
cực và có hiệu quả nhất, góp phần thúc đẩy điều kiện khởi nghĩa trong cả nước
mau chóng chín muồi. Đây chính là bước tạo nên thế và lực mới để sẵn sàng đón
bắt thời cơ.
Ngày
14-8-1945, Nhật đầu hàng đồng minh. Chính phủ Trần Trọng Kim rệu rã. Trong khi
đó các thế lực đế quốc Mỹ, Tưởng, Pháp, Anh đều có những mưu đồ riêng đối với
Đông Dương. Bọn Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Nam cách mạng đồng minh hội theo
chân quân đội Tưởng kéo về nước, mưu toan cướp chính quyền. Lợi dụng thời cơ,
bọn phản động trong nước cũng ráo riết hành động, chống phá cách mạng. Trong
khi đó lực lượng phát xít Nhật ở Đông Dương vẫn còn nguyên vẹn.
Cách
mạng đứng trước tình thế phải một mình đối phó với nhiều lực lượng trong và
ngoài nước. Khí thế cách mạng của quần chúng càng dâng cao chưa từng thấy. Khắp
nơi nổ ra những cuộc mít tinh, biểu tình, thị uy có tới hàng nghìn người tham
gia. Hàng triệu quần chúng sẵn sàng đứng lên khởi nghĩa, ủng hộ Việt minh,
giành chính quyền. Các lực lượng trung gian đã ngả hẳn về phía cách mạng.
Được
tin Nhật đầu hàng đồng minh, ngay đêm 13-8-1945, Đảng đã kịp thời thành lập Uỷ
ban khởi nghĩa và ra quân lệnh số 1 khẳng định: “Giờ tổng khởi nghĩa đã đánh!
Cơ hội có một cho quân dân Việt Nam vùng dậy giành lấy quyền độc lập của nước
nhà!.. Chúng ta phải hành động cho nhanh với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô
cùng thận trọng!.. Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta!”. Hồ Chí Minh
cũng khẳng định “Lúc này, thời cơ thắng lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải
đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Cùng
ngày 13-8, Hội nghị toàn quốc của Đảng khai mạc tại Tân Trào. Hội nghị quyết
định Đảng phải kịp thời phát động và lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa, đề ra những
nhiệm vụ cần thiết, cấp bách trong công tác đối nội, đối ngoại sẽ thi hành sau
khi giành chính quyền.
Tiếp
sau đó, Quốc dân Đại hội họp tại Tân Trào, tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa
của Đảng, thông qua 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh, thành lập Uỷ ban Giải
phóng dân tộc Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.
Các sự
kiện trọng đại đã diễn ra trong khí thế khẩn trương, bừng bừng của tổng khởi
nghĩa, càng chứng tỏ sự vận dụng nghệ thuật chớp thời cơ hết sức tài tình của
Đảng ta mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thời cơ của cách mạng tháng Tám
chỉ tồn tại trong một thời gian rắt ngắn – từ sau khi Nhật đầu hàng đồng minh
đến trước khi quân đồng minh vào Đông Dương. Đảng ta đã biết đẩy lùi nguy cơ để
tạo ra thời cơ thuận lợi. Nếu khởi nghĩa sớm hơn, khi Nhật chưa đầu hàng, ta sẽ
gặp sự kháng cự quyết liệt, có thể tổn thất lớn và khó giành thắng lợi, chính
quyền cách mạng chưa thể thành lập trong toàn quốc. Nếu để muộn hơn, khi Đồng
minh đã vào Đông Dương thì sẽ tình hình sẽ trở nên “vô cùng nguy hiểm”.
Nhờ
chọn đúng thời cơ khởi nghĩa, ngày 19-8-1945 Tổng khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội
và chỉ trong vòng 15 ngày, Tổng khởi nghĩa đã diễn ra và thành công trong cả
nước. Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam châu Á.
Giá trị
hiện thực của bài học chớp thời cơ trong tiến trình cách mạng Việt Nam, đặc
biệt trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Bài học
tân dụng thời cơ của cách mạng Tháng Tám năm 1945 được Đảng Cộng sản Việt Nam
tiếp tục vận dụng và phát triển sáng tạo trong hai cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp, đế quốc Mỹ sau đó, làm nên những thắng lợi to lớn, đánh bại “hai đế
quốc to”, đất nước hoàn toàn độc lập, giang sơn thu về một mối, đưa cả nước
bước vào một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong công
cuộc đổi mới đất nước, bài học tận dụng thời cơ và nội lực thúc đẩy đưa đất
nước vượt qua khó khăn, thử thách và ngày càng vững bước đi lên tiếp tục được
Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng và phát triển trong thời kỳ mới.
Hiện
nay, Việt Nam đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với mục
tiêu đến năm 2025, đất nước trở thành nước đang phát triển có công
nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm
2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập
trung bình cao và trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Thời kỳ
này tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có nhiều thay đổi
rất nhanh, phức tạp, khó lường. Hoà bình, hợp
tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song cũng đứng
trước nhiều trở ngại, khó khăn, thách thức. Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế
tiếp tục tiến triển, nhưng cũng đang bị đe doạ bởi sự trỗi dậy của chủ nghĩa
dân tộc cực đoan, cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh
thương mại diễn ra gay gắt. Do tác động của đại dịch Covid-19, thế giới
rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng nhiều mặt. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ
tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến cả
thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Các nước điều chỉnh chiến lược và
phương thức phát triển nhằm thích ứng với tình hình mới. Khu vực Châu Á -
Thái Bình Dương tiếp tục có vị trí chiến lược ngày càng
quan trọng. Tại Đông Nam Á, môi trường an ninh, tranh chấp chủ quyền trên Biển
Đông còn diễn biến phức tạp. Biến đổi khí hậu, thiên tai,
dịch bệnh và các vấn đề an ninh phi truyền thống khác, nhất là an ninh
mạng, ngày càng tác động mạnh,
nhiều mặt, đe doạ nghiêm trọng đến sự phát triển ổn định, bền
vững của thế giới, khu vực và đất nước ta.
Trong
khi đó, ở trong nước, Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất quan
trọng, đáng tự hào trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
và đời sống người dân. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, uy tín
và vị thế như trong giai đoạn hiện nay. Mặt khác, bên cạnh những thuận lợi, đất
nước ta cũng đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức và hạn
chế đan xen. Tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng; Công
tác lãnh đạo, quản lý, bảo đảm an ninh con người, trật tự, an toàn xã
hội; sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường còn nhiều bất cập, gây bức xúc
xã hội. Các thế lực thù địch chống phá ngày càng quyết liệt. Đấu
tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ còn nhiều thách thức. Giá
trị lịch sử, truyền thống văn hoá của dân tộc và con người Việt Nam chưa được
phát huy đầy đủ. Năng lực tổ chức thực hiện còn hạn chế; chất lượng
luật pháp, chính sách trong một số lĩnh vực còn thấp. Năng lực
lãnh đạo, sức chiến đấu của nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn chưa ngang
tầm nhiệm vụ. Cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng, Nhà nước
chưa thật đầy đủ, đồng bộ; hiệu lực, hiệu quả chưa cao. Việc thể chế
hoá, cụ thể hoá một số nghị quyết của Đảng còn chậm; tổ chức thực hiện vẫn là
khâu yếu. Những khó khăn, thách thức, khuyết điểm và hạn chế trên đòi
hỏi chúng ta phải có quyết tâm cao, nỗ lực lớn và hành động
quyết liệt hơn nữa để khắc phục cho bằng được.
Để
tranh thủ tận dụng, chớp thời cơ, vượt qua thách thức nhằm đạt mục tiêu mà Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã nêu ra bên tranh, hơn lúc nào chúng ta
cần có những nhìn nhận đúng đắn từ lịch sử để có định hướng phát triển trong
tương lai.
Bài học
thành công của cách mạng Tháng Tám cũng đã chỉ ra rằng, có thời cơ mà không
biết chớp thời cơ để nó trôi qua sẽ không đưa cách mạng đến thành công, mặt
khác thời cơ đến nhưng nếu không huy động được nội lực thì cũng không giành
được thắng lợi. Chính vì thế, đòi hỏi đặt ra đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân
ta lúc này cần phải chuẩn bị tốt mọi điều kiện, phát huy sức mạnh nội lực của toàn
dân tộc, tranh thủ thời cơ hội nhập và phát triển, đẩy lùi những nguy cơ, thử
thách có thể bị thua ngay trên sân nhà, đưa đất nước ngày càng phát triển, vững
bước đi lên. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đang tạo thêm sức mạnh mới cho
dân tộc, tạo mọi điều kiện thông thoáng về chính sách vĩ mô cũng như điều hành
kinh tế nhằm lành mạnh hoá môi trường kinh doanh, kích cầu sản xuất, thu hút
vốn đầu tư nước ngoài... Đây là những chủ trương đúng đắn bắt nguồn từ bài học
“chớp thời cơ” của cách mạng tháng Tám.
TS Trần
Thị Huyền
‘Quỹ độc lập’ – ‘Tuần lễ VÀNG’: Bài học về phát huy sức mạnh lòng dân
Gần
80 năm trôi qua, nhưng bài học về phát huy sức mạnh lòng dân từ thành công 'Quỹ
độc lập' - 'Tuần lễ VÀNG' tháng 9 năm 1945 vẫn còn nguyên giá trị lý luận, thực
tiễn và tính thời sự sâu sắc đối với phát huy 'thế trận lòng dân' (TTLD) thực
hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc hiện nay.
NHỮNG BÀI
HỌC QUÝ BÁU
Sau khi
giành độc lập, chính quyền cách mạng non trẻ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
gặp muôn vàn khó khăn, thử thách đe dọa nghiêm trọng đến nền tự do, độc lập,
đặt vận mệnh đất nước như thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Trước tình thế đó, Đảng,
Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bình tĩnh, phân tích, dự báo đúng tình
hình, đề ra các giải pháp cấp bách để tháo gỡ; trong đó, có giải pháp dựa vào
sự tự nguyện đóng góp của nhân dân nhằm khắc phục tình trạng thiếu hụt nghiêm
trọng về nguồn lực tài chính quốc gia. Ngày 4/9/1945, đồng chí Võ Nguyên Giáp,
Bộ trưởng Bộ Nội vụ thay mặt Chính phủ lâm thời ký ban hành Sắc lệnh số 4-SL về
thành lập “Quỹ độc lập”. Sau đó, Chính phủ ra Chỉ thị về triển khai tổ chức
“Tuần lễ VÀNG” (từ 17/9 - 24/9/1945) trong cả nước để thu nhận các món tiền và
đồ vật của nhân dân sẵn lòng quyên giúp Chính phủ, ủng hộ nền độc lập quốc gia.
Từ kết quả
thành công của “Quỹ độc lập” – “Tuần lễ VÀNG", có thể rút ra được những
bài học quý báu như sau:
Một là, sự
lãnh đạo, điều hành nhạy bén, kịp thời, sáng tạo của Đảng và Chính phủ lâm
thời, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhân tố quyết định phát huy sức mạnh
lòng dân, bảo đảm thành công của “Quỹ độc lập” - “Tuần lễ VÀNG”. Nhân ngày
khai mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi toàn quốc đồng bào, nói rõ sự
cần thiết và mục đích, ý nghĩa to lớn của việc tổ chức “Tuần lễ VÀNG” đối với
nhiệm vụ bảo vệ nền tự do, độc lập của nước nhà vừa mới giành được và kêu gọi
nhân dân tích cực hưởng ứng, tham gia, làm tròn nghĩa vụ đối với đất nước. Sắc
lệnh của Chính phủ và bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành lời hiệu
triệu, đoàn kết toàn dân tộc thành khối thống nhất ý chí và hành động, tự giác
ủng hộ vàng, tiền, bảo vật… với giá trị quy đổi là 20 triệu đồng và 370 kg vàng,
giúp Chính phủ có đủ nguồn lực giải quyết khó khăn bức thiết về tài chính, thực
hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ thành quả cách mạng và khát vọng tự do, độc lập
của dân tộc, tạo cơ sở vững chắc cho công cuộc kháng chiến, kiến quốc sau này.
Hai là,đẩy
mạnh công tác tuyên truyền, vận động, khơi dậy khát vọng tự do, độc lập của dân
tộc, đưa “Tuần lễ VÀNG” thành phong trào có sức lan tỏa rộng khắp, quy tụ mọi
tầng lớp nhân dân tham gia.Mặt trận Việt Minh, Chính phủ, các tổ chức đoàn thể đã
chú trọng truyên truyền, vận động mọi tầng lớp nhân dân, nhất là giới công -
thương và những nhà giàu hiểu rõ về mục đích, ý nghĩa “Quỹ độc lập” - “Tuần lễ
VÀNG”. Khơi dậy, phát huy cao độ tinh thần đoàn kết, yêu nước, ý chí, quyết
tâm: “Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh
và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập”. Đồng bào cả nước coi việc tham
gia ủng hộ chính quyền cách mạng là trách nhiệm, nghĩa vụ thiêng liêng, cao cả
của công dân đối với vận mệnh nước nhà; không phân biệt giới tính, tuổi tác,
tầng lớp, giai cấp, dân tộc, tôn giáo; tự nguyện, tự giác ủng hộ vàng, tiền,
vật dụng, kể cả những tài sản quý giá nhất của bản thân, gia đình, dòng họ… cho
chính quyền, với mong muốn được góp phần nhỏ bé của mình vào công cuộc bảo vệ,
giữ vững nền tự do, độc lập của dân tộc, xứng đáng với “sức hy sinh phấn đấu
của các chiến sĩ ái quốc trên các mặt trận”.
Phát huy
vai trò gương mẫu, đi đầu của các nhà giàu và người có uy tín trong xã hội tiến
hành công tác tuyên truyền, vận động đồng bào hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ
tịch Hồ Chí Minh: “Muốn củng cố nền tự do độc lập ấy, chúng ta cần sức hy sinh
phấn đấu của toàn quốc đồng bào; nhưng chúng ta cũng rất cần sức quyên giúp của
nhân dân, nhất là những nhà giàu có”. Chính phủ đã cử ông Đỗ Đình Thiện - nhà
tư sản yêu nước, phụ trách quỹ ở Trung ương, cựu Hoàng hậu Nam Phương được mời
làm chủ tọa “Tuần lễ VÀNG” tại Huế; phát huy vai trò gương mẫu của các gia
đình, cá nhân tiêu biểu, như: Trịnh Văn Bô - Hoàng Thị Minh Hồ, Nguyễn Sơn Hà -
Nguyễn Thị Ngọc Mùi, Nguyễn Hữu Nhâm - Nguyễn Thị Lãm, doanh nhân Vương Thị
Lai, Vua Mèo Vương Chí Sình, Bà Thềm (Công chúa Chăm)… để giác ngộ tinh thần tự
giác, tích cực, nhiệt tình hưởng ứng của toàn quốc đồng bào, đưa hoạt động ủng
hộ “Quỹ độc lập” - “Tuần lễ VÀNG” trở thành phong trào có sức lan tỏa rộng lớn,
quy tụ mọi tầng lớp nhân dân tham gia.
Ba là, vận
dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, truyền thống dân tộc về phát
huy vai trò, sức mạnh quần chúng nhân dân. Đó là quá
trình giác ngộ, hiệu triệu lòng dân, đoàn kết toàn dân, huy động, phát huy sức
mạnh lòng dân, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, tạo thành sức mạnh tổng hợp, thực
hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng. Đây là chân lý, giá trị, định
hướng chiến lược, nhân tố quyết định đưa sự nghiệp cách mạng đến thành công,
đúng như Lênin đã khẳng định: “Không có sự đồng tình ủng hộ của đại đa số nhân
dân lao động đối với đội tiền phong của mình tức là đối với giai cấp vô sản,
thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được…”.
GIÁ TRỊ LÝ
LUẬN VÀ THỰC TIỄN SÂU SẮC
Hiện nay,
thành tựu công cuộc đổi mới đã tạo cho đất nước thế, lực và sức mạnh tổng hợp
lớn hơn nhiều so với trước, nhưng khó khăn, thách thức từ tình hình thế giới,
khu vực, trong nước, diễn biến phức tạp, khó dự báo, tác động trực tiếp đến sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đặt ra yêu cầu đối với tổ chức đảng, chính
quyền, Mặt trận Tổ quốc các cấp cần tiếp tục quán triệt, vận dụng sáng tạo bài
học thành công từ “Quỹ độc lập” - “Tuần lễ VÀNG” để thực hiện khát vọng phát
triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, cụ thể:
Thứ
nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, trực tiếp là cấp ủy,
chính quyền cơ sở đối với phát huy “thế trận lòng dân”. Tiếp tục hoàn thiện, cụ
thể hóa, thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm
chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát,
dân thụ hưởng”. Tổ chức, khơi dậy, quy tụ, phát huy sức mạnh lòng dân, huy động
sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, tạo nền tảng vững chắc, cội nguồn sức mạnh
thực hiện thành công khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc của dân
tộc, nhất là trước những thời điểm, sự kiện có tính bước ngoặc, trọng đại của
đất nước. Tổ chức đảng, chính quyền cơ sở phải không ngừng củng cố, nâng cao
năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành; thực
sự là hạt nhân chính trị, trung tâm đoàn kết, cầu nối giữa nhân dân với Đảng,
Nhà nước và chủ thể tích cực phát huy sức mạnh TTLD xây dựng địa phương giàu
đẹp. Đồng thời, phát huy tốt vai trò của Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể xã hội
trong tuyên truyền vận động nhân dân tham gia thực hiện chủ trương, đường lối
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội,
củng cố quốc phòng, an ninh và các mục tiêu, chương trình, dự án, kế hoạch trọng
điểm, cấp thiết. Trước những tác động tiêu cực của thiên tai, dịch bệnh, tình
hình thế giới, khu vực và những thách thức, khó khăn nội tại; Đảng, Chính phủ
đã kịp thời ban hành các văn bản chỉ đạo và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà
nước, Mặt trận Tổ quốc ra lời kêu gọi toàn dân đoàn kết, phát huy sức mạnh
TTLD, thực hiện các giải pháp phòng, chống, khắc phục, xử lý đạt hiệu quả cao;
góp phần ổn định tình hình, củng cố niềm tin của nhân dân và bạn bè quốc tế với
Đảng, Nhà nước, chế độ chính trị, tạo môi trường thuận lợi để phát triển đất
nước.
Thứ
hai, không ngừng đổi mới nội dung, phương thức tiến hành công tác vận động quần
chúng, khơi dậy khát vọng vươn lên làm giàu chính đáng của nhân dân. Tiếp
tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, vận động đông đảo nhân dân tham
gia các phong trào thi đua yêu nước, “khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý
chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát
triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” tạo thành động lực và nguồn lực phát triển
quan trọng của đất nước. Tích cực đổi mới, nội dung phương thức triển khai
chính sách, công tác dân tộc, tôn giáo, nhất là ở các địa bàn trọng yếu, trên
không gian mạng, trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Nâng cao nhận
thức, củng cố lòng tin và khơi dậy lòng yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, tinh
thần đoàn kết, trách nhiệm, ý thức tự lực, tự cường của nhân dân, kiều bào
trong tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước.
Kết hợp
chặt chẽ cải cách thủ tục hành chính, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách
với nâng cao chất lượng, hiệu quả đầu tư công, cổ phần hóa, cơ cấu lại, đổi mới
doanh nghiệp nhà nước… để mở rộng hành lang pháp lý và dư địa phát triển cho
các thành phần kinh tế khác. Chú trọng phát triển các công ty, tập đoàn kinh tế
tư nhân lớn, tiềm lực mạnh, có khả năng cạnh tranh khu vực, quốc tế. Phát huy
vai trò tiền phong, trách nhiệm cộng đồng của doanh nghiệp, đội ngũ doanh nhân,
thế hệ trẻ tích cực tham gia khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, vươn lên làm giàu
chính đáng, trở thành phong trào rộng khắp, thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ
trọng tâm, các đột phá chiến lược do Đại hội XIII xác định và các chương trình,
đề án trọng điểm quốc gia. Sự ủng hộ, đóng góp to lớn về nhân lực, tài lực của
nhân dân, người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là các công ty, tập đoàn kinh tế,
cộng đồng doanh nhân trở thành động lực quan trọng trong triển khai các mục
tiêu, chương trình, chính sách của Đảng, Nhà nước và các phong trào thi đua
trọng điểm của Chính phủ phát động, góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng kinh
tế, bổ sung nguồn lực thực hiện chính sách an sinh xã hội, giảm thiểu tác động
của thiên tai, dịch bệnh… từng bước hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước
của dân tộc.
Thứ
ba, phát huy tốt vai trò chủ thể của nhân dân trong thực hiện khát vọng phát
triển đất nước và chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn phá hoại của
thế lực thù địch, phản động.Chú trọng củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết
toàn tân tộc; luôn quán triệt bài học lấy “dân làm gốc”, “thực hiện hiện tốt
công tác vận động quần chúng, tạo nền tảng xây dựng "thế trận lòng
dân"… vững chắc”. Khơi dậy niềm tin, thái độ, tình cảm, trách nhiệm, ý
chí, quyết tâm của nhân dân để huy động sức mạnh, nguồn lực to lớn từ nhân dân,
thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và khát vọng phát triển
đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Thực hiện thực chất, hiệu quả dân chủ trực tiếp,
dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở, lấy hạnh phúc, ấm no và sự hài
lòng của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Tích cực vận động nhân dân tham gia
công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng
phí, tiêu cực nhằm xây dựng tổ chức đảng vững mạnh về “chính trị, tư tưởng, tổ
chức, đạo đức và cán bộ”, xây dựng chính quyền tinh gọn, hoạt động hiệu lực,
hiệu quả. Phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu, tự soi, tự sửa của cán bộ,
đảng viên trước nhân dân, nhất là người đứng đầu, cán bộ chủ trì, đúng với sự
chỉ đạo: “Làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược
lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”. Đồng thời,
chủ động đấu tranh vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề “dân
tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền” và những hạn chế, sơ hở của ta để
xuyên tạc, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, TTLD, mục tiêu phát triển đất
nước… của các thế lực thù địch, phản động. Tuyên truyền vận động nhân dân không
nghe, không tin, không làm theo kẻ xấu kích động, gây rối trật tự, an toàn xã hội,
phá hoại sản xuất, kinh doanh, v.v.. Qua đó, không ngừng củng cố niềm tin, thắt
chặt mối quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, trước hết là đối
với tổ chức đảng và chính quyền cơ sở. Sự tích cực, tự giác hưởng ứng, ủng hộ,
hiến tặng tiền, vật chất, đất đai, ngày công… của nhân dân, kiều bào và các tổ
chức thời gian qua đã giúp nước ta thực hiện thắng lợi, về đích sớm các mục
tiêu thiên niên kỷ của Liên Hợp quốc, Chương trình mục tiêu quốc gia và các
phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Cả nước chung
tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau”, “Doanh nghiệp Việt Nam
hội nhập và phát triển”, v.v.. Cùng với đó, “Những kết quả, thành tích đặc biệt
đạt được của Việt Nam trong bối cảnh đại dịch COVID-19 và suy thoái toàn cầu
bắt đầu từ đầu năm 2020 được nhân dân và bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao”,
thể hiện sự thống nhất cao giữa ý Đảng hợp với lòng dân, đưa đất nước vượt qua
khó khăn, thử thách, vững bước tiến lên hoàn thành các mục tiêu phát triển đến
năm 2025, 2030, 2045 mà Đại hội XIII đã xác định./.
st



