Thứ Năm, 4 tháng 5, 2023
Tránh nhẹ dạ, vô tình bị lợi dụng
Âm mưu xuyên tạc đen tối
Trong thời kỳ mở cửa, hội nhập quốc tế, Việt Nam đã thiết lập được nhiều mối quan hệ kinh tế quốc tế. Một trong những mối quan hệ kinh tế này là việc hợp tác đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Đây là vấn đề không chỉ riêng ở Việt Nam mà còn là xu thế chung của các quốc gia đang phát triển.
Thế nhưng, thời gian gần đây, một số thế lực thù địch, cơ hội chính trị cố tình rêu rao, xuyên tạc, đơm đặt những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc tổ chức phối hợp đào tạo, đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch hướng đến mục đích gây ra sự phân tâm, lo lắng, hoài nghi về nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật của Việt Nam đối với người lao động; làm giảm sự nhiệt huyết của người lao động có dự định ra nước ngoài làm việc và công dân Việt Nam đang lao động ở nước ngoài; phủ nhận mọi nỗ lực, kết quả của cơ quan chức năng Việt Nam trong công tác quản lý di cư, bảo hộ công dân và mưu đồ đen tối hơn là nhằm hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
TT
Chớ có bốc đồng
Vừa dắt xe ra khỏi nhà thì điện thoại của Cảnh đổ chuông. Người gọi là Hương, cô bạn gái mà anh đang định đón đi chơi.
- Anh ơi, lúc ăn cơm, bố em nói anh cũng hiểu biết, quan tâm chuyện chính trị, xã hội, nhưng bốc đồng, đã thế còn hay “chém gió”, nói bừa.
- Sao bố lại nói anh vậy?
- Bố nhắc vụ hôm trước đến gặp cả mấy cô bạn em, anh ngồi “chém gió” rồi khẳng định chắc chắn vụ mấy cô tiếp viên hàng không xách ma túy sẽ bị chìm xuồng vì có người chống lưng. Giờ cơ quan chức năng vừa thông báo đã khởi tố 22 vụ án, 65 bị can, còn xử lý vi phạm hành chính 12 đối tượng...
- Có mỗi vậy thôi à?
- Bố còn nhắc lần trước anh đến nói với mẹ em là Nhà nước cấm các nghệ sĩ hải ngoại trước đây từng có tư tưởng chống phá về nước biểu diễn.
- Thì đúng thế còn gì?
- Đúng gì mà đúng. Bố lấy dẫn chứng một loạt ca sĩ ngày xưa có tư tưởng chống đối, cực đoan mà giờ vẫn về nước biểu diễn, đi lại thoải mái giữa Thủ đô, miễn là họ không có tư tưởng, hành vi chống đối Đảng, Nhà nước, biểu diễn phù hợp với văn hóa, thuần phong mỹ tục. Thôi, tạm thời anh đừng đến nữa. Bố đang xem xét anh có phải thành phần “tự diễn biến” không đấy!
Nghe bạn gái nói, Cảnh giật mình. Suy nghĩ một lát, Cảnh quả quyết:
- Anh sẽ đến nói chuyện để bác hiểu anh hơn.
Lát sau Cảnh đến nhà Hương. Bước vào bàn nước, Cảnh nghiêm ngắn:
- Hôm nay cháu đến muốn được xin lỗi bác, mong bác thông cảm cho cháu về những lời nói hàm hồ, nông nổi ạ. Lỗi là do cháu chưa kiểm chứng nguồn tin, chứ hoàn toàn không phải cố ý tuyên truyền chống phá hay xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước đâu ạ!
Thấy Cảnh nghiêm túc, chân thành, ông Hùng nhẹ nhàng:
- Cháu ngồi xuống đi! Tuổi trẻ, ai chẳng có lúc bồng bột. Quan trọng là cháu đã nhận ra sai sót để khắc phục, sửa chữa.
Nghe giọng ông Hùng cởi mở, Cảnh “lấn tới”:
- Cháu tưởng bác là doanh nhân nên không để ý chuyện cháu nói. Giá mấy lần đó bác “quạt” luôn thì cháu đã tỉnh ngộ sớm hơn.
- Cháu ạ, doanh nhân chân chính lại càng quan tâm, mong muốn đất nước ổn định, phát triển để thuận lợi cho làm ăn, buôn bán và luôn ghét những kẻ cố tình chống phá, làm rối ren tình hình. Mấy lần đó bác không “quạt” trực tiếp vì muốn giữ thể diện cho cháu, với lại muốn quan sát xem cháu sẽ tiếp tục bộc lộ những gì.
Nghe ông Hùng phân tích, Cảnh như tỉnh ngộ, cúi mặt vì xấu hổ, nói líu ríu:
- Cháu cảm ơn bác! Cháu xin ghi nhớ lời bác, không bao giờ lặp lại khuyết điểm này ạ!
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng.
Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững.
1- Nói đến nguồn nhân lực là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia lao động của một quốc gia, bao gồm thể lực, trí lực và tài lực. Đối với Việt Nam, để thực hiện chiến lược phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế sâu rộng thì phải chú trọng phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao.
Nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm chỉ người lao động có sức khỏe thể chất, tinh thần tốt; có trình độ tay nghề cao, khả năng lao động giỏi và kỹ năng chuyên môn tốt trong nghề; có những phẩm chất xã hội tốt đẹp, như tinh thần nhân văn, tập thể, hòa nhập, thích nghi làm việc trong môi trường đa văn hóa... Nguồn nhân lực chất lượng cao có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong bối cảnh hiện nay khi đất nước mở cửa, hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới. Điều này thể hiện ở chỗ, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) rút ngắn; rút ngắn khoảng cách tụt hậu đồng thời duy trì tăng trưởng nhanh, bền vững; là yếu tố quyết định đẩy mạnh nghiên cứu, triển khai ứng dụng khoa học - công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng; là động lực chủ yếu tiếp cận và phát triển nền kinh tế tri thức; là điều kiện quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Nhận thức rõ vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao đối với sự phát triển đất nước, Đảng ta sớm có chủ trương đúng đắn về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là từ Đại hội XI trở lại đây.

Tại Đại hội XI (năm 2011), Đảng ta nhấn mạnh: “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững”(1). Quan điểm này đánh dấu bước phát triển trong nhận thức của Đảng về vai trò của nhân tố con người trong chiến lược phát triển nhanh và bền vững đất nước. Đảng ta coi phát triển nguồn nhân chất lượng cao là một trong ba khâu đột phá của chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
Đại hội XII (năm 2016) của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của nguồn nhân lực chất lượng cao, thông qua quan điểm: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn tới là tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức, lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu”(2). Trên cơ sở đó, Đại hội XII đề ra phương hướng, nhiệm vụ: “Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho đất nước, cho từng ngành, từng lĩnh vực, với những giải pháp đồng bộ, trong đó tập trung cho giải pháp đào tạo, đào tạo lại nguồn nhân lực trong nhà trường cũng như trong quá trình sản xuất kinh doanh, chú trọng nâng cao tính chuyên nghiệp và kỹ năng thực hành”(3).
Kế thừa tinh thần các đại hội trước, Đại hội XIII (năm 2021) của Đảng tiếp tục xác định “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục và đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao ứng dụng và phát triển mạnh khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo”(4) là một trong ba đột phá chiến lược. Đại hội cũng đặt ra yêu cầu phải “Đào tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế (công dân toàn cầu)”(5). Đây là chủ trương hết sức đúng đắn, thể hiện tư duy, tầm nhìn mới của Đảng ta về phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong thời kỳ mới.
2- Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong thời gian qua, việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đạt được những kết quả nhất định. Việt Nam đã xây dựng các chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, các chuyên gia, lao động có trình độ chuyên môn cao bằng các chính sách tiền lương, thưởng, phúc lợi hấp dẫn... Công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao đã được quan tâm. Các tầng lớp doanh nhân giỏi, lao động có trình độ kỹ thuật cao xuất hiện ngày càng nhiều trong xã hội, đóng góp đáng kể cho sự phát triển đất nước. Nhờ đó, trong giai đoạn 2016 - 2020, dù còn nhiều khó khăn, nhưng tốc độ tăng trưởng GDP bình quân vẫn đạt khoảng 6%năm. Chất lượng tăng trưởng được cải thiện, năng suất lao động tăng từ 4,3%/năm giai đoạn 2011 - 2015 lên khoảng 6%/năm giai đoạn 2016 - 2020(6). Tuy nhiên, bên cạnh đó, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao còn có hạn chế nhất định. Chúng ta còn thiếu những nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực quản lý, khoa học - công nghệ; việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội. Một số sinh viên, kỹ thuật viên ra trường còn phải đào tạo lại mới đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng. Thể lực người lao động còn có bất cập, theo đó, từ năm 1993 đến năm 2020, chiều cao trung bình của thanh niên Việt Nam chỉ tăng thêm 3cm, thấp hơn chuẩn quốc tế khoảng 10cm và thấp hơn chiều cao trung bình của đa số các nước trong khu vực châu Á(7)... Đại hội XIII của Đảng đã đánh giá: “Chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; còn nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành, chưa quan tâm đúng mức đến kỹ năng xã hội, kỹ năng sống và khả năng tự học, kỹ năng sáng tạo”(8). Chính vì vậy, trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030, Đại hội XIII của Đảng đã đề ra định hướng tạo đột phá “phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài”. Để thực hiện được điều này, theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng, trong thời gian tới, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
Thứ nhất, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có sức khỏe, năng lực, trình độ, có ý thức, trách nhiệm cao đối với bản thân, gia đình và Tổ quốc; đồng thời, phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành; chú trọng đội ngũ nhân lực kỹ thuật, nhân lực số, nhân lực quản trị công nghệ, nhân lực quản lý, quản trị doanh nghiệp; nhân lực quản lý xã hội và tổ chức cuộc sống, chăm sóc con người(9). Bởi chỉ trên cơ sở xây dựng được con người Việt Nam phát triển toàn diện, có sức khỏe, năng lực, trình độ, có ý thức trách nhiệm cao đối với bản thân, gia đình và Tổ quốc, chúng ta mới từng bước phát triển được nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Để thực hiện được giải pháp này, Đại hội XIII của Đảng yêu cầu: Một là, đổi mới chế độ tuyển dụng, trọng dụng nhân tài trong quản lý, quản trị nhà nước, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Hai là, đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt; bảo đảm thống nhất với chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo. Ba là, chú trọng đào tạo lại, đào tạo thường xuyên lực lượng lao động, kết hợp chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động, nhất là ở nông thôn; giảm tỷ lệ lao động ở khu vực phi chính thức; hình thành đội ngũ lao động lành nghề, gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và sử dụng(10). Bốn là, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đưa người lao động Việt Nam đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng, ưu tiên đưa lao động kỹ thuật có tay nghề đi làm việc ở những thị trường có thu nhập cao, an toàn và tiếp tục phát huy nguồn lực này sau khi về nước trên cơ sở bảo đảm cơ cấu, chất lượng nguồn nhân lực trong nước(11). Năm là, xây dựng và thực thi có hiệu quả chính sách dân số và phát triển, tận dụng, phát huy lợi thế thời kỳ dân số vàng gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Chú trọng nâng cao phúc lợi xã hội, an sinh xã hội, bảo đảm những nhu cầu thiết yếu của nhân dân về nhà ở, giáo dục, y tế, việc làm,... Nâng cao chất lượng các chính sách về dinh dưỡng, bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe và tầm vóc người Việt Nam. Thực hiện tốt “Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011 - 2030”.
Thứ hai, tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo. Bởi lẽ, chỉ trên cơ sở chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo thì chúng ta mới đào tạo được nguồn nhân lực có sức khỏe, có trình độ chuyên môn, nghề nghiệp cao, có phẩm chất xã hội phù hợp. Để thực hiện được giải pháp này, Đại hội XIII của Đảng yêu cầu thực hiện các biện pháp cụ thể: Một là, nghiên cứu hoàn thiện hệ thống sách giáo khoa và chế độ thi cử ở các cấp học cho phù hợp yêu cầu thực tiễn. Hai là, chú trọng đào tạo, đào tạo lại đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo. Ba là, chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; đa dạng hóa các hình thức học tập, như học trực tuyến, qua internet, truyền hình, các hoạt động xã hội, nghiên cứu khoa học; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội(12). Bốn là, phổ cập giáo dục mầm non và giáo dục tiểu học bắt buộc. Đưa nội dung kỹ năng số, ngoại ngữ tối thiểu vào chương trình giáo dục phổ thông; chú trọng giáo dục kỹ năng nhận thức và hành vi cho học sinh phổ thông. Đẩy mạnh phân luồng sau trung học cơ sở; định hướng nghề nghiệp ở trung học phổ thông. Giảm tỷ lệ mù chữ ở vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Năm là, sắp xếp lại hệ thống trường học; phát triển hài hòa giữa giáo dục công lập và giáo dục ngoài công lập, giữa các vùng, miền, ưu tiên các vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo và các đối tượng chính sách(13). Sáu là, tăng cường đầu tư cho giáo dục, đào tạo bằng nhiều nguồn khác nhau, trong đó đầu tư từ ngân sách nhà nước cần tăng lên, đồng thời huy động nhiều hơn, tốt hơn sức dân thông qua đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, xây dựng xã hội học tập. Bảy là, đa dạng hóa các loại hình đào tạo, hoàn thiện chính sách phát triển các cơ sở đào tạo ngoài công lập, thực hiện cơ chế tự chủ đối với đào tạo bậc đại học phù hợp với xu thế chung của thế giới; hình thành mô hình hợp tác công - tư trong đào tạo đại học. Sắp xếp, quy hoạch lại các trường đại học, cao đẳng(14).

Thứ ba, phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Để thực hiện tốt giải pháp này, Đại hội XIII của Đảng yêu cầu thực hiện tốt bốn biện pháp cụ thể: Một là, chú trọng phát triển đồng bộ khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị(15); đồng thời, “Tiếp tục thực hiện nhất quán chủ trương khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”(16). Hai là, cùng với rà soát, sắp xếp lại hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ gắn với đổi mới toàn diện chính sách nhân lực khoa học và công nghệ, thực hiện tốt chính sách về đào tạo, bồi dưỡng, thu hút, trọng dụng và đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ, nhất là chuyên gia đầu ngành, nhân tài trong lĩnh vực khoa học và công nghệ. Tăng cường đầu tư phát triển khoa học và công nghệ theo cơ chế thị trường trên cơ sở huy động hợp lý nguồn lực từ Nhà nước, doanh nghiệp và các cá nhân. Hỗ trợ, khuyến khích các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu phát triển, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ(17). Ba là, đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ, nhất là cơ chế tài chính, nhằm giải phóng năng lực sáng tạo của nhà khoa học, đưa nhanh tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, đời sống. Tăng cường liên kết giữa các tổ chức khoa học và công nghệ với doanh nghiệp. Bốn là, tăng cường hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ, nhất là khoa học và công nghệ cao trong điều kiện hội nhập quốc tế. Đa dạng hóa đối tác, lựa chọn đối tác chiến lược là các quốc gia có nền khoa học và công nghệ tiên tiến; gắn hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ với mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội(18). Đồng thời, phát triển mạng lưới kết nối nhân tài người Việt Nam, thu hút sự tham gia đóng góp của cộng đồng các nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài.
Thứ tư, xác lập các nguyên tắc sử dụng và quản lý lao động phù hợp với sự phát triển của thị trường, xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ. Cải cách chính sách tiền lương theo hướng gắn với sự thay đổi của giá cả sức lao động trên thị trường, tương xứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ tăng năng suất lao động, bảo đảm nguyên tắc phân phối theo lao động. Có chính sách lương, thưởng phù hợp, đặc biệt là đối với nhân tài, các chuyên gia đầu ngành, các kỹ thuật viên có tay nghề cao... Nghiên cứu thành lập và sử dụng có hiệu quả các quỹ để khuyến khích nhân tài, chuyên gia đầu ngành, các kỹ thuật viên có tay nghề cao... phát triển, cống hiến, sáng tạo, gắn bó, đồng hành cùng Tổ quốc. Với giai cấp công nhân, cần xây dựng giai cấp này ngày càng lớn mạnh, hiện đại, nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư(19). Với giai cấp nông dân, gắn xây dựng giai cấp nông dân với phát triển nông nghiệp và quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nông thôn. Có chính sách hợp lý để chuyển lao động nông thôn sang các ngành phi nông nghiệp. Thực hiện mô hình nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh. Với trí thức, xây dựng đội ngũ này ngày càng lớn mạnh, có chất lượng cao. Có cơ chế phát huy dân chủ, tự do sáng tạo và đề cao đạo đức, trách nhiệm trong nghiên cứu khoa học. Trọng dụng, đãi ngộ thỏa đáng đối với nhân tài, các nhà khoa học và công nghệ Việt Nam có trình độ chuyên môn cao ở trong nước và nước ngoài(20). Đồng thời, nâng cao ý thức trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội của nhân tài, đội ngũ trí thức vì sự nghiệp chung. Trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực, đòi hỏi phải đổi mới trên nhiều phương diện, phải hình thành môi trường trọng công bằng, kỷ cương, đạo đức, thượng tôn pháp luật có văn hóa để dẫn dắt sự phát triển nguồn nhân lực. Với tầng lớp doanh nhân, phát triển đội ngũ này lớn mạnh về số lượng và chất lượng, có tinh thần cống hiến cho dân tộc, có chuẩn mực văn hóa, đạo đức tiến bộ và trình độ quản trị, kinh doanh giỏi. Tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho doanh nhân khởi nghiệp sáng tạo, kinh doanh lành mạnh, cống hiến tài năng(21)./.
--------------------------
(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 130
(2), (3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 90, 116
(4), (5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 203 - 204, 232 - 233
(6) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 60 – 61
(7) Xem: T. Huyền: “Nâng cao thể lực, tầm vóc cho thế hệ tương lai”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 11-12-2020, https://dangcongsan.vn/y-te/nang-cao-the-luc-tam-voc-cho-the-he-tuong-lai-569772.html
(8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 70
(9), (10), (11) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 231, 232, 149 – 150
(12), (13), (14), (15) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 232, 233, 233, 140
(16) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 140
(17), (18), (19), (20), (21) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 141 - 142, 142, 166, 167, 167 - 168
Đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài: Những dấu ấn và vấn đề đặt ra trong tình hình mới.
Trong quá trình hội nhập quốc tế, cùng với đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, tạo việc làm cho người lao động trong nước, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận. Để chủ trương này tiếp tục phát huy hiệu quả, cần chú trọng triển khai đồng bộ nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Chú trọng hoàn thiện thể chế, bảo hộ người lao động Việt Nam ở nước ngoài
Đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là hoạt động kinh tế đối ngoại quan trọng đối với mỗi quốc gia, nhất là ở các nước đang phát triển. Vào những năm 80 của thế kỷ XX, Việt Nam đã chủ động hội nhập với thế giới, tận dụng nguồn lực quốc tế để phát triển kinh tế - xã hội, trong đó, hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là biện pháp thực hiện chủ trương giải quyết vấn đề an sinh xã hội, giảm tỷ lệ thất nghiệp, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao trình độ lao động, tác phong làm việc... Thực hiện chủ trương này, Việt Nam đã đưa hàng chục vạn người lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài (chủ yếu các nước xã hội chủ nghĩa, một số nước ở Trung Đông và châu Phi) dưới hình thức hợp tác lao động và chuyên gia, với mục tiêu bảo đảm hài hòa lợi ích giữa hai bên. Đối với nước ta, việc “xuất khẩu lao động và chuyên gia là một chiến lược quan trọng, lâu dài, góp phần xây dựng đội ngũ lao động cho công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá; là một bộ phận của hợp tác quốc tế, góp phần củng cố quan hệ hữu nghị, hợp tác lâu dài với các nước”(1); còn đối với các quốc gia nhận lao động sẽ thu được những lợi ích đáng kể, bù đắp nguồn nhân lực vào những ngành bị thiếu hụt để phát triển kinh tế - xã hội; mở rộng quan hệ và nâng cao uy tín với các nước cung cấp lao động.

Sau gần 15 năm, trên cơ sở tổng kết, đánh giá kết quả đạt được, đồng thời chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện Chỉ thị số 41-CT-TW, ngày 22-9-1998, của Bộ Chính trị “Về xuất khẩu lao động và chuyên gia”, ngày 8-5-2012, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 16-CT/TW “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đưa người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài”, trong đó xác định: “Việc đưa người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài nhằm giải quyết việc làm, tạo thu nhập, phân công lại lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng nguồn thu ngoại tệ và góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”. Từ những mục tiêu thiết thực đó, việc đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm, chỉ đạo sát sao ngay từ ban đầu, được xem là định hướng phát triển lâu dài của đất nước. Điều đáng ghi nhận, Chỉ thị số 16-CT/TW ra đời đã kịp thời khắc phục những bất cập, hạn chế phát sinh, từng bước phát huy tiềm năng, lợi thế về nguồn nhân lực, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đưa người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Nhằm thể chế hoá quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động Việt Nam ở nước ngoài, năm 2006, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, là dấu mốc quan trọng của việc hoàn thiện thể chế, hành lang pháp lý về nội dung có liên quan. Để tháo gỡ những bất cập và các vấn đề nảy sinh trước yêu cầu phát triển mới, ngày 13-11-2020, Quốc hội khóa XIV ban hành Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trên cơ sở điều chỉnh phù hợp với những thỏa thuận, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên để thay thế Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006. Cùng với đó, trên cơ sở tổng kết 10 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 16-CT/TW, ngày 12-12-2022, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 20-CT/TW “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trong tình hình mới”, yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.
Những dấu ấn đáng ghi nhận
Khi nền kinh tế Việt Nam phát triển và hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế thế giới, việc khai thác, phát triển thị trường lao động ở nước ngoài là yêu cầu tất yếu; tuy nhiên, hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài chỉ thành công khi chất lượng nguồn nhân lực và ý thức của người lao động được nâng cao. Bởi lẽ, chất lượng lao động và kỷ luật lao động có mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau: Trong quan hệ lao động, ý thức kỷ luật lao động góp phần bảo đảm chất lượng lao động, ngược lại, khi bảo đảm chất lượng lao động thì ý thức kỷ luật của người lao động được gia tăng. Khi người lao động thực hiện ý thức kỷ luật lao động là thể hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của mình; còn đối với người sử dụng lao động, kỷ luật lao động là phương tiện để thực hiện công tác quản lý lao động. Từ đó, Đảng ta yêu cầu: “Phát triển và khuyến khích đào tạo nghề gắn với nhu cầu của thị trường lao động, đào tạo ngoại ngữ, giáo dục ý thức pháp luật, làm rõ quyền lợi, nghĩa vụ của doanh nghiệp và người lao động về thực hiện hợp đồng, tôn trọng phong tục tập quán, văn hoá, hoà nhập thị trường lao động quốc tế”(2).
Thực hiện chủ trương của Đảng, nhất là từ khi có Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006, số lượng doanh nghiệp hoạt động dịch vụ và lực lượng lao động Việt Nam hằng năm đi làm việc ở nước ngoài đều tăng trưởng ổn định. Theo Cục Quản lý lao động ngoài nước, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài chủ yếu thuộc các lĩnh vực sản xuất chế tạo (cơ khí, dệt may, giày da, lắp ráp điện tử...), xây dựng, nông nghiệp, thủy sản, dịch vụ (chăm sóc người già, người bệnh, giúp việc gia đình). Người sử dụng lao động tại các thị trường tiếp nhận đã đánh giá người lao động Việt Nam khéo tay, chăm chỉ, khả năng nắm bắt công việc nhanh, ham học hỏi, làm việc năng suất, chất lượng. Do vậy, tính từ khi ban hành Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006, có khoảng 150 doanh nghiệp được cấp phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; đến nay, cả nước đã có trên 500 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này. Năm 2022, tổng số người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là 142.779 lao động, đạt 158,64% kế hoạch năm 2022; quý I-2023, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là 37.923 lao động, đạt 34.48% kế hoạch năm 2023. Điều đáng ghi nhận, thị trường lao động không ngừng được mở rộng, nhất là các thị trường có mức thu nhập cao và điều kiện lao động tốt. Tính đến nay, đã có hơn 40 thị trường tiếp nhận người lao động Việt Nam; những thị trường mới đều là những quốc gia có thu nhập cao, có điều kiện làm việc tốt, như Đức, Ba Lan, Séc... Còn những thị trường truyền thống, như Đài Loan (Trung Quốc), Hàn Quốc, Nhật Bản..., số lượng người lao động đi làm việc tại đây đều gia tăng hằng năm.

Có được kết quả trên là do chúng ta đã ban hành những chủ trương, cơ chế, chính sách kịp thời, giúp người lao động tiếp cận nguồn vốn để chi trả chi phí đi làm việc ở nước ngoài. Cùng với việc chú trọng phát triển, mở rộng thị trường lao động ở các nước, các bộ, ngành liên quan luôn chủ động phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng nước sở tại, các hội đoàn người Việt Nam để thường xuyên nắm số lượng, tình hình người lao động nhằm hỗ trợ, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động trong trường hợp cần thiết. Bên cạnh đó, nhiều địa phương trong nước phối hợp, hỗ trợ các doanh nghiệp tuyển chọn, tạo nguồn lao động đi làm việc ở nước ngoài; hỗ trợ pháp lý cho người lao động làm thủ tục, hồ sơ khi đi, xử lý các vụ, việc phát sinh và giải quyết các vấn đề cho người lao động khi về nước theo quy định của pháp luật.
Cùng với số lượng người lao động đi làm việc ở nước ngoài gia tăng hằng năm, thì trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, các chủ thể tham gia, bao gồm cả các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ ngày càng lớn. Theo đó, “các giải pháp phát triển thị trường lao động được chú trọng thực hiện; công tác nghiên cứu, dự báo, khớp nối cung - cầu lao động và cập nhật hệ thống thông tin thị trường lao động được tăng cường”(3). Đồng thời, luôn quan tâm, bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động trong suốt thời gian làm việc ở nước ngoài, nhất là trong các tình huống khẩn cấp khi có sự cố xảy ra. Điển hình, năm 2011 là cuộc sơ tán khẩn cấp đưa hơn 10.000 lao động về nước khi xảy ra cuộc nội chiến tại Lybia. Khi sự cố nhà máy điện hạt nhân tại Nhật Bản xảy ra, Chính phủ nước ta đã sẵn sàng ứng phó, kịp thời bảo vệ quyền lợi, sức khỏe người lao động Việt Nam. Khi đại dịch COVID-19 bùng phát, diễn biến hết sức phức tạp, Chính phủ nước ta đã chỉ đạo đơn vị chức năng, ban quản lý lao động Việt Nam tại các nước (Hàn Quốc, Saudi Arabia, UAE,…) và các doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc tại khu vực Trung Đông, châu Phi phối hợp các cơ quan chức năng nước sở tại để đôn đốc giải quyết các tranh chấp hợp đồng; đăng ký về nước cho lao động giải quyết xong tranh chấp và hỗ trợ các thủ tục cần thiết khi có chuyến bay đưa công dân hồi hương… Chỉ trong hai năm (2020 - 2021), Chính phủ đã đưa về nước 1.008 lao động từ Saudi Arabia, 340 lao động từ UAE, 400 lao động từ Algeria, 216 lao động từ Guinea xích đạo và 226 lao động từ Uzbekistan…
Những kết quả đạt được đã khẳng định chủ trương đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài của Đảng và Nhà nước ta là đúng đắn, đem lại nhiều lợi ích thiết thực. Người lao động đã góp phần quảng bá hình ảnh, giá trị tốt đẹp của đất nước, văn hoá, con người Việt Nam đến cộng đồng quốc tế; nhiều người khi về nước tiếp tục tham gia có hiệu quả vào thị trường lao động trong nước với tinh thần, ý thức trách nhiệm và năng lực, trình độ, kỹ năng tay nghề cao, phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đem lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước (hằng năm, số lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài gửi về nước khoảng từ 2,5 đến 3 tỷ USD). Người lao động không chỉ thoát nghèo, mà còn có khả năng hỗ trợ, tạo điều kiện cho người thân đầu tư sản xuất, kinh doanh; đặc biệt tại những địa phương có nhiều người lao động đi làm việc ở nước ngoài, diện mạo quê hương có nhiều thay đổi với nhà cửa khang trang, hiện đại, an sinh xã hội ngày càng được bảo đảm.
Nhận diện những thách thức, khó khăn
Hậu quả của đại dịch COVID-19 gây ra sự suy thoái, khủng hoảng kinh tế toàn cầu làm thay đổi sâu sắc trật tự, cấu trúc, cách thức hoạt động kinh tế, tác động trực tiếp đến xu hướng lao động, việc làm của nhiều quốc gia. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư dẫn đến sự thay thế sức lao động bằng máy móc, trí tuệ nhân tạo, công nghệ tự động hóa, tác động trực tiếp cung - cầu trên thị trường lao động trên toàn thế giới. Già hóa dân số đang là hiện tượng toàn cầu, nhưng xảy ra nhanh hơn ở các quốc gia đang phát triển, bao gồm cả những quốc gia hiện có đông dân số trẻ. Đối với các nước phát triển, già hóa dân số đặt ra thách thức lớn về bảo đảm nguồn cung lao động, nhất là lao động có kỹ năng, kỹ thuật cao, công nhân lành nghề và một số nghề cần phải có lao động trực tiếp của con người, nên nhu cầu lao động bù đắp cho lực lượng lao động già sẽ tăng lên, trong đó có nhu cầu tiếp nhận lao động từ các quốc gia khác. Sự xung đột giữa một số nước trên thế giới tác động không nhỏ tới nền kinh tế và vấn đề cung - cầu lao động của nhiều quốc gia.
Đối với Việt Nam, hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng; việc ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới đã hình thành các thể chế hỗ trợ quan hệ lao động, thúc đẩy các công cụ đối thoại và thương lượng trên thị trường lao động, bảo đảm cho người lao động tự do di chuyển, tìm kiếm việc làm, tham gia tổ chức đại diện của mình. Tốc độ già hóa dân số của nước ta đang rất nhanh, dự báo đến năm 2036 sẽ bước vào thời kỳ dân số già, dẫn đến tình trạng thiếu lao động trong tương lai. Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta vẫn còn chậm phát triển, kỹ năng lao động của người dân vẫn thấp so với mặt bằng chung trên thế giới; nhu cầu lao động làm việc ở nước ngoài để học tập nâng cao trình độ, kỹ năng, tay nghề và tìm kiếm thu nhập cao hơn trong nước còn nhiều, áp lực giải quyết việc làm hằng năm cho lực lượng lao động dôi dư và mới gia nhập thị trường lao động vẫn còn lớn.
Ngoài sự tác động từ bối cảnh thế giới và trong nước, việc đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng còn gặp những khó khăn, thách thức khác là:
Thứ nhất, sau thời gian người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đã tích lũy được đáng kể của cải vật chất, kinh nghiệm, tác phong làm việc. Tuy nhiên, việc hỗ trợ, khai thác, phát huy nguồn lực lao động này sau khi về nước vẫn chưa thực sự hiệu quả, đã, đang là bài toán đặt ra đối với các bộ, ngành và địa phương.
Thứ hai, việc tập trung nhiều lao động Việt Nam tại một thị trường dễ xảy ra rủi ro khi quốc gia đó gặp suy thoái kinh tế, bất ổn chính trị hoặc các sự cố do biến đổi khí hậu gây ra. Trong khi, cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển thị trường lao động chưa đủ mạnh để khuyến khích tổ chức, doanh nghiệp tích cực tham gia vào xúc tiến mở rộng thị trường tiếp nhận lao động, đa dạng hóa điểm đến cho lao động Việt Nam; việc xây dựng, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài thiếu sự cập nhật thường xuyên, chưa đáp ứng được nhu cầu thông tin của lao động, doanh nghiệp và của các cơ quan, tổ chức.
Thứ ba, tình trạng người lao động đi làm việc ở nước ngoài trái phép, vi phạm pháp luật của nước sở tại, bỏ hợp đồng hoặc khi hết hạn hợp đồng không về nước vẫn xảy ra, chậm được khắc phục. Năng lực của một số tổ chức doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu, cạnh tranh không lành mạnh, thiếu tính chuyên nghiệp.
Thứ tư, công tác đào tạo nghề, bồi dưỡng ngoại ngữ, giáo dục định hướng cho người lao động thiếu chặt chẽ, chưa có sự gắn kết giữa hệ thống các cơ sở đào tạo nghề với tạo nguồn đi làm việc ở nước ngoài, dẫn đến tỷ lệ lao động có tay nghề cao còn thấp, làm giảm năng lực cạnh tranh cũng như ảnh hưởng đến vị thế của người lao động Việt Nam.

Giải pháp nâng cao chất lượng công tác đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trong tình hình mới, cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:
Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên, người lao động và toàn xã hội về vai trò, tầm quan trọng, chính sách, pháp luật của công tác đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, nhất là thực hiện tốt Chỉ thị số 20-CT/TW. Đồng thời, khắc phục tình trạng thiếu thông tin trong lĩnh vực đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài bằng việc tăng cường thông tin của các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp đưa người đi làm việc ở nước ngoài, công ty môi giới, đơn vị tiếp nhận lao động.
Hai là, để thực hiện chủ trương đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, bảo đảm đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, đòi hỏi các bộ, ngành và địa phương cần chú trọng “phát triển thị trường lao động, hướng đến việc làm bền vững. Xác lập các nguyên tắc sử dụng và quản lý lao động phù hợp với sự phát triển của thị trường, xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ”(4). “Tiếp tục đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, trọng tâm là hiện đại hóa giáo dục, nâng cao chất lượng đào tạo để đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế sâu rộng”(5). Đồng thời, “ưu tiên đưa lao động kỹ thuật có tay nghề đi làm việc ở những thị trường có thu nhập cao, an toàn và tiếp tục phát huy nguồn lực này sau khi về nước trên cơ sở bảo đảm cơ cấu, chất lượng nguồn nhân lực trong nước”(6).
Ba là, để hỗ trợ các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, Nhà nước sớm chỉ đạo các bộ, ngành liên quan ban hành văn bản quy định chi tiết để hướng dẫn việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề, ngoại ngữ cho người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Bởi tại Điều 64 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020 quy định: “Nhà nước có chính sách hỗ trợ đầu tư cho cơ sở giáo dục nghề nghiệp tham gia vào việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề, ngoại ngữ cho người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng để đáp ứng yêu cầu của bên nước ngoài tiếp nhận lao động và phù hợp với quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp”, nhưng đến nay chưa có văn bản pháp quy hướng dẫn chi tiết vấn đề này.
Bốn là, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sớm xây dựng cơ sở dữ liệu để chia sẻ cho các doanh nghiệp, tổ chức liên quan cập nhật, theo dõi danh sách những cá nhân vi phạm hợp đồng, vi phạm pháp luật, bỏ trốn. Gắn đào tạo nghề nghiệp với văn hóa, phong tục, tập quán của các nước mà người lao động Việt Nam đến làm việc nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu của nước tiếp nhận. Xây dựng chiến lược sử dụng nguồn lao động đi làm việc ở nước ngoài sau khi trở về nước.
Năm là, đẩy mạnh hơn nữa vai trò của các ban quản lý lao động Việt Nam ở nước ngoài để hỗ trợ doanh nghiệp được nhiều hơn trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến người lao động ở các nước sở tại. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của các sở lao động - thương binh và xã hội trong việc quản lý hoạt động đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài đối với các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ này trên địa bàn, từ khâu tư vấn, tuyển chọn lao động, đến việc phối hợp quản lý khi lao động ở nước ngoài và sử dụng lao động sau khi trở về nước.
Sáu là, tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý nghiêm các loại tội phạm liên quan đến hoạt động người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Thường xuyên thanh tra, kiểm tra, giám sát người lao động làm việc ở nước ngoài, kịp thời phát hiện và xử lý các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân vi phạm pháp luật./.
-------------------------
(1), (2) Chỉ thị số 41-CT-TW, ngày 22-9-1998, của Bộ Chính trị “Về xuất khẩu lao động và chuyên gia”
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. 2, tr. 33
(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 149
(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 127 - 128
(6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 149 - 150