Luật Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam đã qua nhiều lần sửa đổi, tuy nhiên vẫn còn có những bất cập liên quan đến quyền lợi về nhà ở đối với sỹ quan có quân hàm và chức vụ thấp.
Thứ Hai, 5 tháng 6, 2023
NHỮNG ĐIỀU BẤT CẬP VỀ QUYỀN LỢI NHÀ Ở TRONG THỰC HIỆN LUẬT SỸ QUAN
Văn hóa cá nhân và văn hóa cộng đồng
Trong cấu trúc tổng thể một nền văn
hóa, người ta còn phân chia thành hai lĩnh vực văn hóa cá nhân và văn hóa cộng
đồng. Văn hóa cá nhân là các giá trị văn hóa được tích hợp và tái tạo trong một
cá nhân con người. Văn hóa cộng đồng là hệ giá trị văn hóa của một cộng đồng
người được thừa nhận và vận thông trong toàn xã hội. Xét về phương diện cấu trúc, văn hóa là hoạt động tinh thần của con người hướng
tới sáng tạo các giá trị chân, thiện
mỹ. Tổng thể các hoạt động văn hóa tạo nên “thiên nhiên thứ
hai” nuôi dưỡng con người.
Văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể
Gần đây, để thuận lợi hơn trong việc nhận dạng và bảo tồn,
phát huy các giá trị văn hóa, người ta lại chia văn hóa thành hai lĩnh vực: văn
hóa vật thể và văn hóa phi vật thể. Văn hóa vật thể là các hiện tượng văn hóa tồn
tại một cách cụ thể, hữu hình mà con người có thể tiếp xúc trực tiếp, cảm tính thông qua các
giác quan. Đó là các công trình kiến trúc, các di tích lịch sử, văn hóa, các cổ
vật và bảo vật... Văn hóa phi vật thể là hệ giá trị tinh thần nhân loại được
lưu giữ trong ký ức cộng đồng, lưu truyền từ đời này qua đời khác, nhờ “bộ nhớ”
của các nghệ nhân dân gian, các nhà văn hóa, các nghệ sĩ, trí thức, các “báu vật
nhân văn sống”.
Tuy nhiên, sự phân chia giữa văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể
cũng chỉ có ý nghĩa tương đối. Văn hóa vật chất hay văn hóa vật thể thực ra đều
là quá trình hiện thực hóa các giá trị tinh thần thành các sản phẩm có thể tri
giác nhận biết cụ thể. Bất cứ sản phẩm văn hóa nào (văn
hóa vật thể
hay văn hóa phi vật thể) đều tiềm
ẩn bên trong nó một hàm lượng tinh thần, trí tuệ, tri thức, quan niệm, cảm xúc của con người - tức
là các giá trị văn hóa.
Văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần
Về cấu trúc của một nền văn hóa, thông thường, người ta
chia thành hai lĩnh vực: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Văn hóa vật chất
là các giá trị văn hóa hướng tới đáp ứng nhu cầu vật chất của con người (nhu cầu
ăn, mặc, ở, đi lại...). Văn hóa tinh thần là các giá trị văn hóa hướng tới đáp ứng
nhu cầu tinh thần của con người (hệ tư tưởng, văn hóa chính trị, văn hóa đạo đức,
văn hóa thẩm mỹ, văn hóa khoa học, giáo dục lối sống, tín ngưỡng, tôn giáo, nghệ thuật...). Tuy nhiên, việc chia cơ cấu văn hóa thành hai bộ phận như trên chỉ
có ý nghĩa tương đối, bởi vì không có hiện tượng văn hóa nào không dựa vào các
yếu tố vật chất mà có thể tồn tại và phát triển được. Trong đời sống xã hội,
không có gì thuần túy chỉ là vật chất hoặc thuần túy chỉ là tinh thần.
Hai bộ phận “văn hóa vật chất” và “văn hóa tinh thần”
luôn tác động lẫn nhau, thâm nhập vào nhau và làm tiền đề cho nhau. Do vậy, để
phát triển một nền văn hóa, người ta phải tác động vào cả hai yếu tố, hai bộ phận
của nó. Đây chính là ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu cơ cấu của văn hóa.
Cấu trúc của văn hóa
Văn hóa là một hiện tượng xã hội mang tính hệ thống, bao
gồm rất nhiều yếu tố có quan hệ hữu cơ gắn kết với nhau tạo nên một chỉnh thể.
Nghĩa là văn hóa có cấu trúc nội tại của nó. Tùy vào góc độ
tiếp cận, xem xét và mục đích nghiên cứu, người ta phân chia văn hóa thành: Văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần;
Văn hóa vật thể và văn hóa phi vật
thể;
Văn hóa cá nhân và văn hóa cộng đồng…
Xét về phương diện cấu trúc, văn hóa là hoạt động tinh thần
của con người hướng tới sáng tạo các giá trị chân, thiện mỹ. Nghiên cứu cấu trúc của văn hóa giúp nhận thức về văn hóa
đầy đủ hơn với tất cả các thành tố của nó và các mối quan hệ giữa các thành tố ấy.
Từ đó, người ta có thể mô tả văn hóa chính xác hơn và khi cần
thúc đẩy sự phát triển của văn hóa, người ta biết tác động vào những yếu tố
nào, bộ phận nào.
Bản chất của văn hóa
Khái niệm văn hóa thường dễ bị đồng
nhất với khái niệm học vấn và khái niệm văn minh. Trong Báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn
hóa Việt Nam đọc tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ hai (7-1948), đồng chí Trường Chinh nêu rõ: Trong lịch sử loài người, nhiều dân tộc
chưa có văn minh, song đã có văn hóa. Văn hóa và văn minh là những khái niệm gần
gũi nhưng không đồng nhất.
Về bản chất, có thể hiểu văn minh là khái niệm dùng để chỉ trạng thái
phát triển của xã hội khi đã đạt đến trình độ văn hóa nhất định được đánh dấu bằng
sự ra đời của chữ viết, sự hình thành tổ chức nhà nước, có một trình độ kỹ thuật
phát triển cao phục vụ sản xuất và các nhu cầu của đời sống tinh thần theo xu
hướng nhân bản hóa. Văn minh là trình độ của một nền văn hóa, là nấc
thang của một nền văn hóa trong tiến trình phát triển. Thông thường, khái niệm văn minh cũng
được dùng để chỉ trình độ phát triển
của nhân loại đạt tới trong một thời điểm lịch sử nào đó. Chẳng hạn, người ta hay nói đến văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp, văn
minh hậu công nghiệp v.v..
Trình độ học vấn có thể là chìa khóa để mở mang trí tuệ
và tâm hồn, có nghĩa là để vươn tới trình độ văn hóa. Nhưng, đó cũng chỉ là điều kiện, là khả năng. Trong thực tế vẫn
tồn tại hiện tượng: có người đạt trình độ học vấn cao nhưng trong lối sống,
cách xử thế vẫn bị coi là thiếu văn hóa nếu thiếu tình người, thiếu lòng vị
tha, thiếu khát vọng vươn tới chân, thiện, mỹ. Cũng như mọi sinh thể khác trong
vũ trụ, con người là một bộ phận của tự nhiên, chịu sự quy định chặt chẽ của đại
tự nhiên. Nhưng khác với các sinh vật khác, con người còn có một “không gian
riêng”, một “thiên nhiên thứ hai” do con người tạo ra bằng lao động và tri thức.
“Thiên nhiên thứ hai” đó chính là văn hóa. Nếu tự nhiên là cái nôi đầu tiên
nuôi sống con người thì văn hóa là cái nôi thứ hai, ở đó toàn bộ đời sống tinh
thần của con người được hình thành, nuôi dưỡng và phát triển. Con người không
thể tồn tại nếu tách rời đại tự nhiên, cũng như con người không thể trở thành
con người nếu tách rời môi trường văn hóa. Văn hóa chính là sự phát huy các
năng lực bản chất người của con người, là sự thể hiện đầy đủ nhất trình độ người,
cho nên văn hóa có mặt trong bất cứ hoạt động nào của con người, dù đó là hoạt
động trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội hay cách cư xử, giao tiếp, thậm
chí đến cả những suy tư thầm kín nhất.
Quan niệm về văn hóa hiện nay
Năm 1943, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm về văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng
như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ,
chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những
công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn
bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi
phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm
thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.
Cuối thế kỷ
XX, Federico Mayor - Tổng Thư ký của UNESCO đưa ra định nghĩa: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động
sáng tạo (của các cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và trong hiện tại.
Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị,
các truyền thống và các thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của từng
dân tộc”.
Quan niệm về văn hóa trên đây của
UNESCO đã nhấn mạnh tới truyền thống, thị hiếu và bản sắc văn hóa riêng của mỗi
dân tộc trong quá trình giao lưu và hội nhập hiện nay. Tuy nhiên, nhận thức lý luận về văn hóa của nhân loại vẫn tiếp tục phát triển. Bước sang thế kỷ XXI, năm 2002,
UNESCO lại bổ sung định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến
như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm
của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học
và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền
thống và đức tin…”.
Văn hóa là kết quả phát triển, tiến hóa của nhân loại
Trong khoảng thời gian từ thế kỷ XVIII-XIX, cùng
với sự phát triển kinh tế tư bản chủ
nghĩa, khoa học kỹ thuật phát triển theo và đặc biệt do yêu cầu của chủ nghĩa
tư bản đi tìm kiếm thuộc địa, thống trị các dân tộc khác, vấn đề nghiên cứu văn
hóa được đặt ra. Văn hóa trở thành đối tượng nghiên cứu của một số ngành khoa học
xã hội và nhân văn. Từ đây, khái niệm “văn hóa” trở thành thuật ngữ khoa học, chẳng hạn trong tác phẩm Khoa học chung về văn hóa của Klem (người Đức) xuất bản năm 1855 hay trong tác phẩm Văn hóa nguyên thủy của Tylor ra đời năm 1871. Sau đó, thuật ngữ “văn hóa” (culture) từ châu Âu lan sang châu Á. Tại Nhật Bản,
người ta đã dùng từ văn hóa của Trung Hoa để chuyển dịch thuật ngữ “culture” sang tiếng Nhật (đọc là Bunka). Từ Nhật Bản, thuật ngữ “văn hóa” truyền vào Trung Quốc và đến Việt
Nam đầu thế kỷ XIX. Các nhà nghiên cứu Việt Nam đã tiếp thu và giới thiệu trong
sách báo khái niệm văn hóa, từ đó khái niệm
này được dùng ở
nước ta.
Trước đây, khi nghiên cứu về nhân loại
và lịch sử loài người, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định văn hóa là kết quả phát triển, tiến hóa của
nhân loại; coi văn hóa là tất cả mọi sản phẩm “nhân hóa tự nhiên” của
loài người trong lịch sử; văn hóa được hình thành và phát triển trong các mối
quan hệ tương tác giữa con người với tự nhiên, giữa con người với con người, giữa
con người với xã hội; văn hóa là toàn bộ những sản phẩm do loài người sáng tạo
ra trong quá trình tiến hóa. Con người là chủ thể sáng tạo ra các giá trị văn hóa,
đồng thời vừa là sản phẩm của môi trường văn hóa. Văn hóa là sự sáng tạo của “các lực lượng bản chất người của con người”
tham gia vào cải biến tự nhiên nhằm mục đích sinh tồn. Nhưng mặt khác, chính hoạt động sáng tạo và các giá trị đã tạo ra môi trường
nhân văn để con người hoàn thiện nhân cách. Văn hóa phản ánh trình độ phát
triển của con người và xã hội được biểu hiện trong các hình thức tổ chức đời sống
và hành động của con người, cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần do con
người tạo ra. C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng
định: “Căn cứ vào
mức độ tự nhiên được con người biến thành bản chất người, tức là mức độ tự
nhiên được con người khai thác, cải tạo thì có thể xem xét được trình độ văn
hóa của con người”.
Văn hóa dân tộc được lưu truyền hết sức tự nhiên thông
qua ngôn ngữ và các hành vi xã hội của con người từ thế hệ này sang thế hệ khác
theo dòng chảy thời gian. Khi văn hóa xuất hiện với tư cách một hệ giá trị thì chính văn hóa lại tham gia
sáng tạo nên phần người của con người, đồng thời duy trì trật tự xã hội cũng
như kiến tạo sự phát triển. Về cơ bản, văn hóa là tổng thể nói chung những giá
trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử, thể
hiện trình độ của cộng đồng xã hội trong phát triển.
Văn hóa là hiện tượng xã hội gắn liền với sự tồn tại và
phát triển của loài người. Văn hóa là dấu hiệu phân biệt giữa người và động vật. Văn
hóa được xem là tổng thể toàn bộ ý thức xã hội của con người. Đó là trí tuệ, hiểu biết của nhân loại được
sáng tạo và hình thành trong lao động và hoạt động thực
tiễn ở một hoàn cảnh cụ thể (với không gian và thời gian xác định
trong dòng chảy lịch sử, cộng đồng xã hội) nhằm hướng tới
mục đích sinh sống, tồn tại và phát triển. Do đó, con người ở những điều kiện tự
nhiên khác nhau sẽ có cách ứng xử riêng bằng hiểu biết của họ với vùng tự nhiên
đó, tạo ra văn hóa vùng miền. Từ trí tuệ, hiểu biết nảy sinh ra quan niệm về các quy ước cộng đồng
lặp đi, lặp lại theo thời gian, hình thành tập quán, phong tục có tác dụng điều
chỉnh hành vi xã hội, thói quen hàng ngày của con người.
Văn hóa là nét riêng đặc thù, là bản
sắc của một cộng đồng người phù hợp với điều kiện tự nhiên và xã hội nơi cộng đồng
ấy cư trú. Bởi vậy, trên thực tế, văn hóa xứ nóng sẽ khác với văn hóa xứ lạnh, văn hóa miền sông nước khác với văn hóa
đồng bằng, văn hóa biển đảo hay văn hóa miền cao nguyên, văn hóa miền núi…
Tựu trung lại, nghĩa rộng nhất của văn hóa là toàn bộ tri
thức, hiểu biết, quan niệm của nhân loại về thế giới khách quan (bao gồm tự
nhiên, xã hội, con người). Theo nghĩa hẹp nhất, văn hóa là phong tục, hành vi,
thói quen sinh hoạt của cá nhân con người và cộng đồng. Văn hóa là bản sắc, “mẫu
gen” gốc của dân tộc, là tiêu chí đặc thù phân biệt dân tộc này với các dân tộc
khác. Có văn hóa tiên tiến, hiện đại và cũng có cả văn hóa truyền
thống, xa xưa. Trên thực tế, các yếu
tố văn hóa này có thể đan xen tồn tại trong cùng không gian và thời gian của một
cộng đồng xã hội.
Những điểm chung trong những quan niệm về văn hóa
Tuy văn hóa là khái niệm đa nghĩa nhưng vẫn có những điểm
chung được đa số giới chuyên môn thừa nhận: Về phương diện loài, văn hóa là sản
phẩm đặc hữu chỉ có ở loài người, nó là cái dùng để phân biệt giữa con người và
động vật;
Về phương diện cá nhân, văn hóa
là sức mạnh bản chất của con người, thể hiện trong hoạt động sống và phương thức
sống của con người, thể hiện trong bản thân con người và tầm vóc phát triển của
con người; Về
phương diện đời sống, văn hóa là phương thức tồn tại độc đáo của xã hội người,
khác về cơ bản với tổ chức đời sống của quần thể động vật;
Về phương diện biểu hiện, văn hóa thông qua hệ thống biểu
tượng mà truyền đạt trong xã hội, được con người bắt chước, học tập, làm theo
chứ không phải di truyền theo con đường sinh học.
Nội hàm “văn hóa” ngày càng rộng mở và phong phú
Thuật ngữ “văn hóa” liên tục được bổ
sung ý nghĩa nội hàm ngày càng rộng mở và phong phú với nhiều định nghĩa khác
nhau. Hiện nay, văn hóa vẫn là một trong những khái niệm đa dạng, phức tạp
và tiếp
tục được cắt nghĩa. Vì sao lại
có nhiều cách hiểu khác nhau về văn hóa như vậy? Bởi lẽ có hai yếu tố liên quan đến sự nhận
thức về văn hóa là đối tượng nhận thức (tức là văn hóa và nền văn hóa) và chủ
thể nhận thức văn hóa (tức là con người)… vô cùng phong phú và phức tạp. Cho đến
nay, số định nghĩa về văn hóa chưa dừng lại, mà ngày một tăng thêm. Điều đó chứng
tỏ văn hóa là khái niệm rất khó xác định. Không phải ngẫu nhiên mà nhà nghiên cứu
người Pháp Jacques
Derrida trong bài viết Ban
đầu và cuối cùng là văn hóa, Tạp chí Người đưa
tin UNESCO, số 10-1993, đã bình luận: “Văn hóa chính là cái tên mà chúng ta đặt cho điều bí
hiểm không cùng với những ai ngày nay đang cố tìm cách suy nghĩ về nó”.
Theo thống kê chưa đầy đủ, cho đến nay
đã có hàng ngàn định nghĩa văn hóa trong tài liệu phổ thông, hàn lâm đến môi
trường truyền thông báo chí, Internet. Và nhân loại vẫn tiếp tục bổ sung, làm
rõ nội hàm khái niệm văn hóa. Chẳng hạn như: Văn hóa là “tri quyển” (tức không gian trí tuệ của nhân loại vừa hữu
hình lại vừa vô hình) cùng song trùng tồn tại với không gian sống của đại tự nhiên (là sinh quyển bao gồm thạch quyển,
khí quyển và thủy quyển); Văn hóa là cái còn lại sau khi người ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn thiếu
khi người ta đã học tất cả; Văn hóa là toàn bộ những gì phi tự nhiên, là sự “nhân
hóa” tự nhiên của con người; Văn hóa là thiên nhiên thứ hai do loài người sáng tạo
ra.
Thuật ngữ “văn hóa” đã xuất hiện rất sớm
Trong lịch sử loài người,
thuật ngữ “văn
hóa” đã xuất hiện rất sớm.
Tại phương Tây, chữ văn hóa (culture - tiếng Anh, tiếng Pháp đều viết
giống nhau) có nguồn gốc từ chữ Latinh cultus
với nghĩa gốc khởi nguyên là “gieo trồng”, “vun xới” trong trồng trọt cây
lương thực (nghĩa là chăm sóc cây cối từ gieo hạt, nảy mầm, lên cây, đơm hoa, kết trái). Sau này, chữ culture (văn hóa) được mở rộng nghĩa dùng trong đời sống xã hội, chỉ sự “gieo
trồng trí tuệ” cho con người, giáo dục
- đào tạo con người, hình thành phát triển con người
và cộng đồng dân tộc.
Trong
lịch sử phương Đông, quan niệm văn hóa được nói đến nhiều ở Trung Quốc cổ xưa,
thể hiện qua cách chiết tự chữ nghĩa. Văn hóa là “nhân văn giáo hóa”, “văn trị
giáo hóa”. Trước hết, theo cách hiểu thứ nhất, văn hóa là “nhân văn giáo hóa”.
Trong sách Chu Dịch thế kỷ VI-V tr.CN, ở Quẻ Bí có câu: “Quan hồ nhân văn dĩ
hóa thành thiên hạ” (xem dáng vẻ của con người mà cải biến thành thiên hạ). Ở
đây xuất hiện hai chữ “văn” và “hóa”. Văn là vẻ đẹp của con người, do con người
sáng tạo ra (nhân văn khác với thiên văn - văn của trời, khác với địa văn - văn
của đất). Hóa là đem cái “văn” mà cải hóa, giáo hóa cho con người, làm cho con
người hóa ra có văn (trở nên tốt đẹp). Văn hóa là “nhân văn giáo hóa” hay “văn
minh giáo hóa”, tức là tác động đến cá nhân, biến sinh thể người thành con người
xã hội. Như vậy, văn hóa có nghĩa là đem “cái đẹp của con người”- tức là các
giá trị nhân văn làm chuẩn mực để thay đổi con người thoát khỏi tình trạng
hoang dã, lạc hậu, kém hiểu biết. Nói cách khác, văn hóa là làm cho người ta trở
nên đẹp đẽ - cái đẹp chỉ có ở người. Theo cách hiểu thứ hai, văn hóa là “văn trị
giáo hóa”. Trong sách Thuyết uyển chi vũ của
Lưu Hướng thời Tây Hán (năm 206 tr.CN đến năm 25 SCN), có câu: “Thánh nhân cai
trị thiên hạ trước hết dùng văn đức, sau mới dùng vũ lực”. Dùng vũ lực chỉ để đối
phó với kẻ bất phục tùng. Dùng văn đức không thay đổi được thì sẽ chinh phạt.
Như vậy, văn trị là lấy văn đức để giáo hóa, đưa con người
vào trật tự, kỷ cương, phép tắc, lễ nghĩa mà tổ chức, quản lý, cai trị họ, lấy “văn
trị” đối lập với “vũ trị”. Từ Hồng Hưng cho rằng: “Văn hóa (thời
xưa) là văn trị giáo hóa, lễ nhạc, điển chương, chế độ. Cách giải thích này vẫn
được bảo trì ở Trung Quốc đến ngày nay, đương nhiên nó không hoàn toàn giống
nghĩa cultura của phương Tây”. Nếu như theo cách hiểu thứ nhất, văn hóa là “nhân
văn giáo hóa”, đem văn hóa tác động vào cá nhân, thì theo cách hiểu thứ hai “văn
trị giáo hóa” là đem văn hóa tác động vào cộng đồng để tổ chức cộng đồng, tổ chức
xã hội. Trong lịch sử phong kiến, các bậc hoàng đế chân chính, các bậc thánh
nhân trị thiên hạ, trước dùng văn đức rồi sau mới dùng vũ lực. Cho nên, các đấng
minh quân (vua sáng) thường dùng Thi, Thư, Lễ, Nhạc, điển chương, văn sách để
giáo hóa thần dân (đối lập với việc dùng uy lực, vũ lực, uy thế để cưỡng chế,
bình định, chinh phục), tức là quan điểm dùng văn trị, đức trị, nhân trị để vỗ
về, cảm hóa con người theo các giá trị chuẩn mực chân, thiện, mỹ. Vào thế kỷ
XV, Nguyễn Trãi đã bày tỏ quan niệm về văn hóa trong áng “thiên cổ hùng văn” Đại cáo bình Ngô, coi văn hóa là văn hiến, là phong tục, là việc nhân nghĩa
ở đời: “Trọn hay: Đem đại nghĩa để thắng
hung tàn /Lấy chí nhân để thay cường bạo…”.
Văn hóa là khái niệm đa nghĩa
Trong
đời sống giao tiếp xã hội và học thuật của nhân loại, văn hóa là khái niệm được
dùng rất phổ biến, gắn với các hoạt động của con người. Trong khoa học xã hội
và nhân văn, văn hóa là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khác nhau. Mỗi
ngành khoa học xã hội, nhân văn lại có cách tiếp cận văn hóa riêng, vì thế văn
hóa trở thành khái niệm vô cùng đa nghĩa.
Trên
thực tế, văn hóa có thể được dùng với nghĩa thông thường để chỉ trình độ học vấn,
mức độ ứng xử lịch sự của con người, hoặc dùng chỉ tập quán, thói quen của một
nhóm người, một cộng đồng. Văn hóa cũng có thể được dùng với nghĩa chuyên biệt để
chỉ trình độ văn minh của một giai đoạn lịch sử của dân tộc hay của cả nhân loại.
Văn hóa còn được dùng để chỉ sự khác biệt về tộc loại giữa con người và động vật
(văn hóa là thuộc tính đặc hữu của con người). Văn hóa còn dùng để chỉ sự khác
nhau về tinh thần giữa các cộng đồng người (các nền, các kiểu văn hóa và lối sống
của các tộc người). Văn hóa cũng có thể được dùng để chỉ sự đánh giá phẩm chất
người của những cá nhân và cộng đồng (có văn hóa, thiếu văn hóa…).
THỰC HIỆN NGHIÊM TÚC NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ TRONG ĐẢNG
Để các thế lực thù địch, phản động và đối tượng cơ hội chính trị không có cớ để lợi dụng xuyên tạc, trong Đảng cần thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ.
Các cấp ủy, tổ chức đảng các
cấp cần nhận thức đầy đủ về mở rộng, phát huy dân chủ và tăng cường kỷ cương xã
hội là vấn đề có tính nguyên tắc; dân chủ và kỷ cương trong Đảng là hạt nhân,
có ý nghĩa quyết định thực hiện dân chủ và kỷ cương trong hệ thống chính trị và
toàn xã hội. Mỗi cán bộ, đảng viên cần phát huy dân chủ, gương mẫu, tự giác
chấp hành nghiêm minh kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật và các
quy định của cơ quan, đơn vị.
Thực hiện nghiêm tập thể lãnh
đạo, cá nhân phụ trách trong cơ quan lãnh đạo của Đảng. Tập thể lãnh đạo, cá
nhân phụ trách là một nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ. Vì vậy, thực
hiện tốt chế độ này có ý nghĩa rất quan trọng, là điều kiện để bảo đảm chất
lượng, hiệu quả của công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị
của các cơ quan lãnh đạo đảng. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần quán triệt và
thực hiện tốt các quy chế, quy định, nhất là quy chế làm việc của cấp ủy, cơ
chế kiểm soát quyền lực, xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của người đứng đầu;
giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa tập thể lãnh đạo với người đứng đầu; chế
độ bảo lưu ý kiến của thiểu số, từng bước xác định rõ hơn thẩm quyền, trách
nhiệm của tập thể và cá nhân, bảo đảm sự lãnh đạo của tập thể và đề cao trách
nhiệm cá nhân, hạn chế các sai phạm. Các cán bộ lãnh đạo đảng cần tự giác thực
hiện tốt các các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất
là đối với cán bộ chủ chốt và người đứng đầu các cấp; nghiêm túc tự phê bình và
phê bình, giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ, chấp hành nghiêm kỷ
luật của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, kỷ luật và quy định của cơ
quan, đơn vị.
Tăng cường công tác kiểm tra,
giám sát; xử lý nghiêm minh, kịp thời những tổ chức đảng, đảng viên vi phạm
nguyên tắc tập trung dân chủ; kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái,
thù địch. Đại hội XIII của Đảng đã xác định: nâng cao hiệu lực, hiệu quả công
tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và kiểm soát chặt chẽ quyền lực; đẩy mạnh
đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Do đó, cấp ủy và
ủy ban kiểm tra của cấp ủy các cấp và người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng phải
nắm vững quan điểm, quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của
Đảng. Xây dựng và tổ chức thực hiện có chất lượng, hiệu quả chương trình, kế
hoạch kiểm tra, giám sát trong nhiệm kỳ và hằng năm; coi trọng khâu nắm tình
hình, giám sát hoạt động của tổ chức đảng, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt,
người đứng đầu; chủ động ngăn ngừa, phát hiện, kiểm tra tổ chức đảng và đảng
viên khi có dấu hiệu vi phạm. Xử lý nghiêm minh tổ chức đảng và đảng viên vi
phạm nguyên tắc Tập trung dân chủ và
những hành vi dung túng, bao che khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng, đảng
viên.
NÂNG CAO NHẬN THỨC CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN NHỮNG VẤN ĐỀ CỐT LÕI VỀ NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ CỦA ĐẢNG
Nguyên tắc tập trung dân chủ chỉ có thể được bảo vệ và giữ vững khi nhận thức của cán bộ, đảng viên về nguyên tắc tập trung dân chủ được nhận thức đúng đắn, quán triệt sâu sắc. Thực tiễn các vụ việc vi phạm bị xử lý vừa qua đã cho thấy, bất kỳ tập thể, cá nhân nào, dù là ai, ở cương vị nào, nếu cố tình nhận thức không đúng, hành động không chuẩn mực, chấp hành không nghiêm, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ thì đều phải “trả giá” đắt cho những sai phạm của tập thể hoặc của cá nhân đó. Hơn nữa, nguyên tắc tập trung dân chủ có nội dung và phạm vi rất rộng. Áp dụng nguyên tắc này trong thực tế nếu không nắm chắc, hiểu sâu sẽ rất dễ dẫn đến vi phạm, tạo cơ sở để các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị xuyên tạc, kích động mâu thuẫn, làm biến dạng nguyên tắc. Vì vậy, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò, tầm quan trọng của nguyên tắc tập trung dân chủ: Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng, nguyên tắc này chỉ đạo mọi hoạt động xây dựng tổ chức, sinh hoạt và lãnh đạo của Đảng, đồng thời cũng chi phối các nguyên tắc tổ chức và hoạt động khác của Đảng.
Cấp ủy, tổ chức đảng cần
tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của
Bộ Chính trị “về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản
bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” nhằm bảo vệ vững chắc
nền tảng tư tưởng của Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính
trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong
nội bộ; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn và hoạt động chống phá của các thế
lực thù địch, phản động trong tình hình mới.
Tổ chức cho cán bộ, đảng viên
học tập nắm vững các quy định, hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương về thực
hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; nghiên cứu làm rõ nội dung, yêu cầu của
nguyên tắc Tập trung dân chủ trong tình
hình mới, làm cho mọi cán bộ, đảng viên hiểu đúng, nắm chắc bản chất Tập trung
dân chủ .
GIỮ VỮNG NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ CỦA ĐẢNG
Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng; là tiêu chí để phân biệt chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, đảng cách mạng chân chính với các đảng khác. Đảng ta đã khẳng định: “Sự chặt chẽ về nguyên tắc là vấn đề sống còn của Đảng và bảo đảm quan trọng nhất cho sức sống, sự trong sạch và vững mạnh của Đảng”. Thực hiện tốt nguyên tắc Tập trung dân chủ là vấn đề thuộc về bản chất của Đảng Cộng sản. Vì thế, không thể phủ nhận nguyên tắc Tập trung dân chủ.
Dù nghiên cứu ở góc độ nào,
nhìn nhận ở bình diện nào, cả trên phương diện lý luận và thực tiễn đều cho
thấy, Tập trung dân chủ là một nguyên tắc thống nhất, không thể tách rời, càng
không thể đối lập giữa tập trung và dân chủ. Tập trung trên cơ sở dân chủ,
nhưng dân chủ phải hướng tới tập trung, thống nhất, có sự lãnh đạo để bảo đảm
tập trung. Dân chủ là điều kiện, tiền đề của tập trung, tập trung là cơ sở bảo
đảm cho dân chủ được thực hiện và phát huy.
Nguyên tắc Tập trung dân chủ
thuộc bản chất xuyên suốt của Đảng. Vì vậy, không thể phân biệt nguyên tắc này
phù hợp hay không phù hợp trong giai đoạn chiến tranh hay hòa bình. Bất luận
trong điều kiện, hoàn cảnh nào, Tập trung dân chủ luôn là nguyên tắc rường cột
của Đảng. Nguyên tắc này không ngừng được bổ sung, phát triển phù hợp với sự
vận động, phát triển của tình hình cách mạng. Trong điều kiện hòa bình hiện nay
cũng không thể lấy sai phạm cá biệt của một số tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên,
nhất là trong thực hiện nguyên tắc Tập trung dân chủ để phủ nhận bản chất của
Đảng, giá trị của nguyên tắc Tập trung dân chủ. Ai đó, kẻ nào đó còn cho rằng
tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong nội bộ Đảng và đội ngũ cán bộ,
đảng viên đều bắt nguồn từ việc Tập trung dân chủ không còn phù hợp với thời bình thì người đó,
kẻ đó đang cố tình xuyên tạc, bôi đen, suy diễn sai trái nguyên tắc Tập trung
dân chủ.
Ngay từ khi mới ra đời, trung
thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định:
Đảng phải “tổ chức theo lối dân chủ tập trung”. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam
xác định: “Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập
trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản”. Nhờ được tổ chức theo nguyên tắc
Tập trung dân chủ, Đảng ta đã có đủ sức mạnh và uy tín để lãnh đạo cách mạng
Việt Nam giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Sau hơn 35 năm thực hiện công
cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu
to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đời sống nhân dân được nâng cao hơn; hệ thống chính
trị được xây dựng, củng cố vững mạnh, bảo đảm sự ổn định chính trị của đất
nước; quốc phòng, an ninh được tăng cường, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo của Tổ quốc; đối ngoại, hội nhập quốc
tế không ngừng mở rộng, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được
nâng cao. Đại hội XIII của Đảng đã đánh giá khái quát: “Đất nước ta chưa bao
giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Việt Nam
trở thành “điểm sáng”, niềm tin của cộng đồng quốc tế. Như vậy, hà cớ gì Đảng
phải từ bỏ nguyên tắc Tập trung dân chủ.
Lịch sử thế giới cũng đã chứng
minh, nếu đảng cộng sản nào từ bỏ nguyên tắc Tập trung dân chủ thì đảng đó sẽ tự tan rã. Thực tiễn ở Liên Xô
và các nước XHCN ở Đông Âu cuối những năm 90 của thế kỷ trước cho thấy, dưới sự
tác động của các thế lực thù địch bên ngoài, cơ hội chính trị trong nước và sai
lầm của Đảng Cộng sản Liên Xô và các đảng cộng sản và công nhân khác, nguyên
tắc Tập trung dân chủ đã bị từ bỏ, bản chất của Đảng bị biến dạng và biến chất,
đã mất quyền lãnh đạo và tan rã. Thực tiễn sự sụp đổ ở Liên Xô và các nước XHCN
ở Đông Âu cuối những năm 90 của thế kỷ XX cũng đã chứng minh khẳng định: bất
luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào cũng không được từ bỏ nguyên tắc Tập trung
dân chủ; phải kiên quyết bảo vệ nguyên tắc Tập trung dân chủ ; mọi mưu toan xa
rời, phủ nhận nguyên tắc Tập trung dân chủ của Đảng phải kịch liệt phê phán, kịp thời
ngăn chặn.
NHẬN DIỆN CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI PHỦ NHẬN NGUYÊN TẮC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
Nhiều năm qua, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị luôn dùng mọi thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hòng phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng, phá vỡ sự đoàn kết, thống nhất, chặt chẽ về mặt tổ chức và hoạt động của Đảng, làm cho Đảng tan rã cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ hòng thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng.
Để thực hiện âm mưu này, các
thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị đã lợi dụng tự do ngôn
luận, tự do báo chí, núp bóng dân chủ, đội lốt nhân quyền rêu rao cho rằng: tập
trung và dân chủ là hai mặt không thể thống nhất, đã tập trung thì không thể có
dân chủ, đã dân chủ thì không thể tập trung, tập trung với dân chủ như lửa với
nước, nên hoặc chỉ có tập trung, hoặc chỉ có dân chủ .
Thực chất các luận điệu này là
muốn tách rời, đối lập tập trung và dân chủ nhằm phủ nhận một mặt nào đó để
Đảng dẫn tới dân chủ vô chính phủ, khi đó sự chặt chẽ, thống nhất trong tổ chức
và hoạt động của Đảng bị phá vỡ, Đảng mất sức chiến đấu, uy tín của Đảng bị
giảm sút, không còn đủ sức lãnh đạo cách mạng, Đảng sẽ mất vai trò lãnh đạo.
Trong bối cảnh đất nước ta
thực hiện công cuộc đổi mới, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội
chính trị cho rằng: nguyên tắc tắc tập trung dân chủ chỉ phù hợp khi Đảng còn
hoạt động bí mật hoặc trong điều kiện chiến tranh, nay thời bình, nguyên tắc đó
là lỗi thời, không còn phù hợp, là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn tới trì
trệ, tiêu cực. Điều nguy hiểm hơn, họ lợi dụng những khuyết điểm, sai phạm
trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những vụ việc tham nhũng, lãng phí,
tiêu cực để đổ lỗi cho những khuyết điểm, hạn chế đó đều do nguyên tắc tắc tập
trung dân chủ không còn phù hợp.
Lợi dụng những hạn chế, khuyết
điểm, nhất là khi Đảng ta đẩy mạnh thực hiện xây dựng, chỉnh đốn Đảng, với quan
điểm “không có vùng cấm”, “không có trường hợp ngoại lệ” đã xử lý nghiêm nhiều
cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng sai phạm, làm trong sạch Đảng, các thế lực thù
địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị đã xuyên tạc, bóp méo sự thật, quy
chụp, đánh đồng hiện tượng thành bản chất. Họ cho rằng, tham nhũng là bản chất
của Đảng, là hệ quả của thực hiện nguyên tắc tắc tập trung dân chủ, là lợi ích
nhóm, lợi ích của cán bộ, đảng viên. Họ cho rằng: chống tham nhũng là để thanh
trừng phe cánh chứ không phải là để làm cho Đảng sạch hơn, mạnh hơn.
ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI - SỰ LỰA CHỌN ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG VÀ NHÂN DÂN TA
Tiếp thu và vận dụng lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn Việt Nam, quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn bám sát và thể hiện rõ tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trong những văn kiện đầu tiên Đảng ta đã thống nhất tính chất cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng vô sản, gắn giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, giải phóng nhân dân lao động, với toàn thể dân tộc bị nô lệ. Trong Chánh cương vắn tắt năm 1930 của Đảng cũng xác định nhiệm vụ, mục tiêu của cách mạng Việt Nam “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”, tức là đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước ta được hoàn toàn độc lập. Đường lối ấy của cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam là tất yếu đi tới cách mạng XHCN, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.
Trong bản Tuyên ngôn độc lập khai
sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa công bố ngày 2/9/1945, Hồ Chí Minh khẳng
định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một
nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và
lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Và Người
khẳng định: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.
Với một đường lối đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển lịch
sử dân tộc và xu thế của thời đại, Đảng ta đã dương cao ngọn cờ độc lập và
CNXH, tập hợp và lãnh đạo dân tộc Việt Nam, vững vàng chèo lái đưa con thuyền
cách mạng Việt Nam vượt bao thác ghềnh, hy sinh trong hai cuộc kháng chiến
trường kỳ chống lại bọn đế quốc thực dân xâm lược để đi đến bến bờ thắng lợi
bằng chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (07/5/1954) và chiến dịch Hồ Chí Minh
(30/4/1975), đưa cả nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do,
thống nhất và CNXH.
Ngày nay, qua hơn 35 năm đổi mới, chúng ta đã đạt được những
thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ
quốc XHCN. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.
Những thành tựu to lớn đó tiếp tục khẳng định bản chất cách mạng, khoa học của
tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với CNXH mà Đảng ta đã kiên
định; khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo. Những thành
quả ấy là tiền đề quan trọng, tạo nguồn động lực mạnh mẽ để chúng ta tiếp tục
đổi mới, đưa đất nước phát triển.

