Thứ Ba, 6 tháng 6, 2023

 

Ứng dụng dữ liệu lớn trong công tác đào tạo và hướng phát triển tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(LLCT) - Dữ liệu lớn (Big data) là một trong những vấn đề cốt lõi trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Hiện nay, dữ liệu lớn đã và đang được ứng dụng trong mọi mặt của đời sống xã hội. Trong công tác đào tạo, dữ liệu lớn làm thay đổi căn bản từ công tác quản lý, vận hành đến hoạt động giảng dạy, nghiên cứu. Bài viết tổng quan về ứng dụng dữ liệu lớn trong công tác đào tạo trên thế giới và Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm ứng dụng hiệu quả dữ liệu lớn tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Học viện).


Từ khóa: dữ liệu lớn, ứng dụng dữ liệu lớn, giáo dục - đào tạo, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Dữ liệu lớn là thuật ngữ chỉ một tập hợp dữ liệu rất lớn và phức tạp mà những công cụ, ứng dụng xử lý dữ liệu truyền thống không thể đảm nhiệm được. Dữ liệu lớn là cốt lõi để sử dụng, phát triển internet vạn vật (IoT) và trí tuệ nhân tạo (AI). Dữ liệu lớn chứa nhiều thông tin phục vụ cho việc kinh doanh, nghiên cứu khoa học, giáo dục, dự đoán dịch bệnh sắp phát sinh và thậm chí là xác định tình trạng giao thông theo thời gian thực...

Ứng dụng dữ liệu lớn đem đến những lợi thế vượt bậc trong giáo dục như chương trình giảng dạy tùy chỉnh, cải thiện hệ thống đánh giá, định hướng nghề nghiệp cho sinh viên và đề xuất phương pháp học tập phù hợp. Sự phát triển của dữ liệu lớn giúp các cơ sở đào tạo kiểm soát tốt hơn thông tin học viên; đổi mới phương thức học và giảng dạy theo hướng tích cực, hiệu quả hơn.

1. Tổng quan về ứng dụng dữ liệu lớn trong công tác đào tạo trên thế giới và Việt Nam

Trên thế giới, ứng dụng dữ liệu lớn trong hoạt động giáo dục, đào tạo thường tồn tại dưới dạng dữ liệu hành chính và dữ liệu quá trình học tập. Sự xuất hiện của dữ liệu lớn trong giáo dục bắt nguồn từ ít nhất hai xu hướng chính trong kỷ nguyên kỹ thuật số. Thứ nhất, việc ghi chép và lưu trữ dữ liệu trong môi trường truyền thống ngày càng được số hóa, dẫn đến lượng lớn thông tin được chuẩn hóa. Cụ thể, Hệ thống thông tin học sinh (SIS) đã được áp dụng rộng rãi để lưu trữ và sắp xếp thông tin hồ sơ học sinh (thí dụ: nhân khẩu học, nền tảng học vấn) và hồ sơ học tập (thí dụ: ghi danh khóa học và kết quả học tập. SIS giúp quản lý và phân tích các dữ liệu của học viên tại một cơ sở giáo dục trong nhiều thập kỷ trên quy mô lớn. Thứ hai, các hoạt động học tập vốn khó ghi chú trong các lớp học truyền thống (face-to-face) giờ đây có thể được ghi lại một phần thông qua Hệ thống quản lý học tập (LMS). Trong hầu hết các trường hợp, LMS được giảng viên sử dụng để phân phối tài liệu giảng dạy, quản lý bài tập của học viên và giao tiếp với học viên. Từ việc truy cập vào các môđun khóa học đến sửa chữa bài tiểu luận, những thông tin này có thể dễ dàng được lưu trữ tới hàng nghìn mục dữ liệu mỗi học viên. Ngoài SIS và LMS, những đổi mới trong môi trường học tập kỹ thuật số làm phong phú thêm các hình thức sư phạm, đồng thời thu thập “dữ liệu số” của học sinh. Sự đa dạng này dẫn đến dữ liệu được đa phương thức với khối lượng lớn.

Các kỹ thuật khai thác dữ liệu cho dữ liệu lớn trong giáo dục được Baker và Siemens(1) phân loại thành nhiều phương pháp, bao gồm: các phương pháp suy luận mô hình hóa kiến thức; thuật toán khám phá cấu trúc (chú trọng cấu trúc nội dung, kỹ năng giáo dục và cấu trúc mạng xã hội của người học); khai thác mối quan hệ (bao gồm khai thác mẫu tuần tự và khai thác tương quan); hình dung; và khám phá mô hình (bao gồm việc sử dụng mô hình trong các phân tích tiếp theo). Với khối lượng, tốc độ và sự đa dạng, tất cả “dữ liệu lớn” cho thấy thu thập thông tin về hành vi của người học có nhiều giá trị trong lĩnh vực nghiên cứu giáo dục. Các dữ liệu số về hành động của học sinh mang lại thông tin cụ thể và chi tiết hơn về quá trình học tập. Bằng cách kết hợp dữ liệu hành vi với khảo sát hoặc thang đo tâm lý, các nhà nghiên cứu có thể lập bản đồ chuỗi hành động với các đặc điểm nhận thức và kiểm tra xem các dấu vết hành vi quan sát được có phù hợp với các giả định lý thuyết hay không và tinh chỉnh lý thuyết ở cấp độ chi tiết. Những thông tin phong phú này giúp các nhà nghiên cứu hiểu rõ cơ chế tác động của chính sách cụ thể và giải quyết các vấn đề liên quan đến chính sách.

Các dữ liệu lớn trong lĩnh vực giáo dục hiện nay bao gồm: dữ liệu lớn cấp vi mô (thí dụ: dữ liệu luồng nhấp chuột), dữ liệu lớn cấp trung bình (thí dụ: dữ liệu văn bản) và dữ liệu lớn cấp vĩ mô (thí dụ: dữ liệu thể chế).

Dữ liệu lớn cấp vi mô là dữ liệu tương tác “siêu nhỏ” với số giây giữa các hành động có thể thu thập dữ liệu riêng lẻ từ hàng triệu người học tiềm năng. Hầu hết dữ liệu cấp vi mô được thu thập tự động trong quá trình tương tác giữa người học và môi trường học tập tương ứng của họ, bao gồm hệ thống dạy học thông minh, các khóa học trực tuyến lớn (MOOC), các trò chơi mô phỏng.

Dữ liệu lớn cấp trung bình bao gồm các sản phẩm viết của học viên được số hóa và thu thập một cách có hệ thống trong nhiều môi trường học tập khác nhau, từ các bài tập trong khóa học đến tham gia diễn đàn thảo luận trực tuyến, hệ thống dạy học thông minh và các tương tác trên mạng xã hội. Đáng chú ý, dữ liệu cấp trung bình mang lại cơ hội nắm bắt thông tin sơ cấp về sự tiến bộ của người học trong khả năng nhận thức và xã hội, cũng như trạng thái cảm xúc.

Dữ liệu lớn cấp vĩ mô bao gồm dữ liệu được thu thập ở cấp thể chế. Thí dụ, dữ liệu nhân khẩu học và nhập học của học viên, dữ liệu dịch vụ trong khuôn viên trường, lịch học và dữ liệu đăng ký khóa học, cũng như dữ liệu về yêu cầu chính của trường đại học và dữ liệu về các yêu cầu đối với học sinh hoàn thành bằng cấp. Mặc dù dữ liệu lớn cấp vĩ mô thường được thu thập trong khoảng thời gian nhiều năm nhưng không được cập nhật thường xuyên, thường chỉ một hoặc hai lần mỗi kỳ (thí dụ: thông tin về lịch trình khóa học, hồ sơ điểm).

Ở Việt Nam hiện nay, ngành giáo dục đã xác định ứng dụng công nghệ thông tin là 1 trong 9 nhóm nhiệm vụ trọng tâm nhằm triển khai có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI (ngày 4-11-2013) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Tháng 1-2017, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 117/QĐ-TTg phê duyệt đề án Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng giáo giáo dục và đào tạo giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2025. Tháng 6-2020, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, theo đó, giáo dục là 1 trong 8 lĩnh vực trọng điểm cần được ưu. Bên cạnh đó, hàng loạt chính sách thúc đẩy chuyển đổi số giáo dục được ban hành, như: các quy định ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng, quy chế đào tạo từ xa trình độ đại học, quy định quản lý, vận hành sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu toàn ngành, mô hình ứng dụng công nghệ thông tin trường phổ thông, chuẩn dữ liệu kết nối; hướng dẫn nhiệm vụ công nghệ thông tin cho khối đại học, phổ thông hằng năm và nhiều văn bản chỉ đạo điều hành khác. Dữ liệu lớn không chỉ được ứng dụng trong quản lý, điều hành giáo dục mà còn trở thành một ngành học mới ở Việt Nam.

2. Một số giải pháp ứng dụng hiệu quả dữ liệu lớn trong công tác đào tạo tại Học viện

Trong bối cảnh số hóa, với mục tiêu xây dựng hệ thống quản trị Học viện thông minh; “tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào các bài giảng, vào công tác quản lý lớp, quản lý học viên; xây dựng cơ sở vật chất hiện đại, đồng bộ để Học viện xứng đáng là trung tâm quốc gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ khoa học lý luận của hệ thống chính trị”(2) thì việc nghiên cứu và ứng dụng dữ liệu lớn trong giáo dục vào thực tế công tác giảng dạy, đào tạo và nghiên cứu khoa học của Học viện là nhiệm vụ cấp thiết, cần sớm triển khai thực hiện. Với điều kiện thực tế, Học viện cần có phương hướng chung trong xây dựng lộ trình ứng dụng dữ liệu lớn vào các hoạt động đào tạo, nghiên cứu và giảng dạy, cụ thể: Thứ nhất, hình thành hệ thống dữ liệu lớn của Học viện từ hai nguồn: (1) số hóa toàn bộ dữ liệu của hệ thống Học viện (dữ liệu nội sinh) và (2) liên kết, trao đổi, hợp tác trong nước và quốc tế để khai thác, xử lý dữ liệu nhằm xây dựng dữ liệu lớn của Học viện (dữ liệu ngoại sinh). Thứ hai, vận hành và ứng dụng dữ liệu lớn (bao gồm: dữ liệu lớn của Học viện và dữ liệu lớn của quốc gia và quốc tế) trong các hoạt động của Học viện. Thứ ba, nghiên cứu và xây dựng các đề án chi tiết bảo đảm việc hình thành, ứng dụng dữ liệu lớn trong công tác đào tạo, nghiên cứu và giảng dạy tại Học viện.

 Nghiên cứu và xây dựng lộ trình ứng dụng dữ liệu lớn trong hoạt động giáo dục tại Học viện cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức về việc ứng dụng công nghệ thông tin, số hóa và ứng dụng dữ liệu lớn trong hoạt động quản lý đào tạo, nghiên cứu, giảng dạy của Học viện

Công nghệ mang đến những lợi thế vượt bậc trong giáo dục - đào tạo như chương trình giảng dạy tùy chỉnh, cải thiện hệ thống đánh giá, định hướng nghề nghiệp cho học viên và đề xuất phương pháp học phù hợp, hỗ trợ quản lý, giám sát hiệu quả, nâng cao chất lượng giảng dạy... Theo xu hướng hiện nay, việc ứng dụng dữ liệu lớn trong giáo dục - đào tạo chủ yếu trong các khâu lưu trữ, quản lý, phân tích bộ dữ liệu lớn từ hồ sơ học viên với tiêu chí lấy người học làm trung tâm. Dữ liệu lớn có khả năng thay đổi cách thức tổ chức hoạt động, tương tác với học viên cũng như quản lý, vận hành hoạt động của cơ quan/đơn vị. Tại Học viện, việc ứng dụng dữ liệu lớn có thể giúp thay đổi cách thức tổ chức, quản lý đào tạo, chương trình và phương pháp giảng dạy, giải quyết các vấn đề tồn đọng trong hệ thống, nâng cao hiệu quả chương trình học tập. Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện, Ban Giám đốc các Học viện trực thuộc cũng như lãnh đạo Vụ Quản lý đào tạo, các trung tâm, các Ban Quản lý đào tạo cần nâng cao nhận thức về tính cấp thiết của việc ứng dụng công nghệ thông tin, số hóa nói chung và ứng dụng dữ liệu lớn nói riêng trong hoạt động quản lý đào tạo, nghiên cứu, giảng dạy của Học viện. Nâng cao nhận thức về vai trò, lợi ích của dữ liệu lớn và việc ứng dụng trong công việc.

Hai là, thực hiện một số bước trong quy trình chuẩn hóa dữ liệu nhằm hình thành dữ liệu lớn từ nguồn nội sinh của Học viện

Dữ liệu lớn vừa là cách thức tổ chức vừa là một hình thức lưu trữ dữ liệu trong ngành giáo dục và đào tạo. Dữ liệu lớn trong các trường học được hình thành từ nhóm các dữ liệu trong các mảng: trường học, lớp học, học viên, đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất, học liệu, bài thi, điểm thi... Thực chất, đây là quá trình chuyển đổi số các dữ liệu, tức hoạt động số hóa và công cụ xử lý tương ứng. Do đó, Học viện cần số hóa, chuẩn hóa lại dữ liệu để có thể thu thập, tập hợp dữ liệu vào cơ sở dữ liệu chủ - dữ liệu lớn dùng chung để khai thác. Dữ liệu của Học viện có thể thu thập từ tất cả các hoạt động quản lý, phục vụ của các vụ chức năng và hoạt động giảng dạy, nghiên cứu của các viện chuyên ngành cùng cơ sở dữ liệu của thư viện. Dữ liệu lớn của Học viện bao gồm: Dữ liệu lớn cấp vĩ mô bao gồm các dữ liệu về thông tin học viên, chương trình giảng dạy, thời khóa biểu, thông tin về cán bộ, giảng viên, nghiên cứu viên được tổng hợp từ Vụ Quản lý đào tạo, Vụ Tổ chức - Cán bộ, Vụ Quản lý khoa học. Dữ liệu lớn cấp trung bình bao gồm: dữ liệu về các bài luận, tiểu luận, luận văn, luận án, các bài kiểm tra của học viên, đề tài các cấp. Dữ liệu lớn cấp vi mô được thu thập thông qua hoạt động của học viên trên các ứng dụng học trực tuyến, qua việc sử dụng các tài nguyên trong thư viện số và thậm chí qua việc truy cập của học viên vào mạng internet của Học viện. Như vậy, cần chuẩn hóa các quy trình, nghiệp vụ của các đơn vị chức năng cũng như các đơn vị trực thuộc để các dữ liệu thu thập từ các đơn vị được xử lý phù hợp và tích hợp vào cơ sở dữ liệu dùng chung của Học viện.

Công tác nghiên cứu khoa học của Học viện đã hình thành nên một hệ dữ liệu số tương đối lớn từ các công trình nghiên cứu khoa học các cấp do Học viện là cơ quan chủ trì nghiên cứu, các công trình do cán bộ của hệ thống Học viện tham gia hoặc chủ trì nghiên cứu, cũng như lý lịch khoa học của các nhà khoa học trong hệ thống Học viện. Nhóm dữ liệu lớn này sẽ phục vụ thiết thực cho công tác xã hội hóa các công trình nghiên cứu, tăng tính hiệu quả của kết quả nghiên cứu khi trở thành dữ liệu dùng chung, tránh lãng phí tài nguyên thông tin khoa học và góp phần giảm thiểu tình trạng “đạo văn”, trùng lắp vấn đề nghiên cứu.

Việc hình thành dữ liệu nội sinh thông qua chuyển đổi số toàn bộ quy trình hoạt động, dữ liệu các mặt công tác của Học viện vừa mang tính xây dựng, vừa mang tính ứng dụng. Bởi thực chất, trong quá trình số hóa, các dữ liệu đó được bảo mật ở dạng thức số và quay lại phục vụ cho các hoạt động/lĩnh vực công tác khác của chính Học viện.

Ba là, nghiên cứu lựa chọn mô hình dữ liệu lớn và truy xuất dữ liệu lớn phù hợp với đặc điểm về dữ liệu cũng như chức năng, nhiệm vụ của Học viện

 Cần phân tích cụ thể đặc điểm về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Học viện nói chung và các đơn vị trực thuộc để lựa chọn mô hình phù hợp cho lưu trữ dữ liệu giáo dục của Học viện, giúp dễ dàng phân tích, truy xuất các thông tin nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập, nghiên cứu, đồng thời giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị chức năng.

Lựa chọn được mô hình dữ liệu lớn phù hợp sẽ giúp tích hợp đầy đủ các dữ liệu lớn cả cấp vi mô, vĩ mô và trung bình trong quá trình hoạt động của Học viện, tránh lãng phí nguồn lực. Thực tế trên thế giới hiện nay, việc ứng dụng dữ liệu lớn đã mang lại nhiều lợi ích cho cả cơ sở đào tạo, người học cũng như các đơn vị liên quan và rộng hơn là quốc gia, quốc tế. Với đặc điểm liên kết mở, môi trường số năng động và tính năng thu thập, lưu trữ, trích xuất ứng dụng, việc lựa chọn mô hình ứng dụng dữ liệu lớn trong Học viện cần tính tới những yêu cầu về kỹ thuật, công nghệ phù hợp với điều kiện và đặc thù của Học viện.

Đối tượng học viên của Học viện là các cán bộ dự nguồn cấp chiến lược, cán bộ đang giữ chức vụ quản lý và cán bộ thuộc diện quy hoạch. Do đó, lựa chọn mô hình dữ liệu lớn cần chú trọng vấn đề an toàn, bảo mật thông tin, tránh rò rỉ thông tin mật, thông tin cá nhân; cũng như giải quyết tốt sự xung đột giữa yêu cầu về quyền riêng tư và những yêu cầu về sự cởi mở và minh bạch hơn của môi trường mạng internet. Chìa khóa bảo đảm xây dựng thành công và khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu cho Học viện là phải xây dựng được cơ chế để vừa đáp ứng an toàn và bảo mật thông tin cá nhân, vừa cho phép phân tích, khai thác dữ liệu để nâng cao chất lượng dạy và học.

Bốn là, tăng cường quản trị dữ liệu và sử dụng các công cụ để phân tích dữ liệu lớn nhằm mang lại thông tin hữu ích góp phần đổi mới phương pháp đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu

Quản trị dữ liệu là chìa khóa quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu, giảng dạy; nâng cao hiệu suất, hiệu quả học tập của học viên. Việc phân tích dữ liệu lớn cũng đang biến đổi cách thức tương tác giữa cơ sở đào tạo với học viên và giảng viên. Với sự phát triển của khoa học dữ liệu, sự đổi mới trong cách thức thu thập và xử lý thông tin, nhiều đơn vị trong nước và quốc tế đã tận dụng được sức mạnh của Big data trong việc ra các quyết định quan trọng. Đây là con đường tất yếu mà Học viện cần hướng đến để biến các dữ liệu trở thành thông tin hữu dụng, phục vụ cho chính hoạt động của đơn vị. Học viện cần làm chủ hệ thống dữ liệu lớn và sử dụng các công cụ phân tích dữ liệu như là yếu tố hỗ trợ cho việc ra quyết định, nhờ đó tạo ra những tác động tích cực như nâng cao hiệu quả giảng dạy, nghiên cứu của cán bộ giảng viên và hiệu quả học tập của học viên. 

Năm là, tăng cường đầu tư hạ tầng để phục vụ việc chuyển đổi số cũng như ứng dụng dữ liệu lớn trong quản lý, giảng dạy

Trong bối cảnh chuyển đổi số trong ngành giáo dục đang diễn ra mạnh mẽ, cần tăng cường đầu tư về hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại, liên thông thống nhất trong toàn hệ thống Học viện, từ Học viện Trung tâm đến các Học viện trực thuộc và các trường chính trị tỉnh/thành phố, trường đào tạo cán bộ của các bộ/ngành Trung ương; từng bước xây dựng trung tâm tích hợp dữ liệu là đầu mối thu thập, lưu trữ và xử lý dữ liệu lớn. Đặc biệt, cần chú ý đầu tư hạ tầng máy chủ để lưu trữ dữ liệu nhằm bảo đảm tính bảo mật thông tin. Ngoài ra, cần tập trung thực hiện Đề án Xây dựng thư viện điện tử, đầu tư xây dựng các phòng học đa phương tiện. Đầu tư các trang thiết bị công nghệ thông tin phục vụ giáo dục - đào tạo tại Học viện cần có trọng tâm, trọng điểm, tránh lãng phí. Ưu tiên các trang thiết bị có nhu cầu sử dụng cao, phục vụ trực tiếp cho nhiệm vụ giáo dục - đào tạo như máy tính, máy chiếu, bảng thông minh, thiết bị mô phỏng...

Sáu là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để có thể xây dựng dữ liệu lớn của Học viện và tăng cường ứng dụng dữ liệu lớn nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu

Trong thời gian tới, cần chú trọng xây dựng đội ngũ chuyên gia công nghệ thông tin, đặc biệt là các chuyên gia về khoa học dữ liệu - đóng vai trò trụ cột trong việc thiết kế và xây dựng dữ liệu lớn của Học viện. Bên cạnh đó, cần tăng cường bồi dưỡng kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cho cán bộ, giảng viên, nghiên cứu viên của Học viện nhằm thích ứng với việc chuyển đổi số. Đa dạng hóa các hình thức đào tạo, bồi dưỡng bằng các giải pháp cụ thể như: đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn, dài hạn; đào tạo, bồi dưỡng tập trung, không tập trung; mở rộng liên kết, hợp tác đào tạo, bồi dưỡng với các cơ quan khác ở địa phương và Trung ương...

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 3-2021

(1) Baker, R. S., & Siemens, G: Educational data mining and learning analytics, In R. K. Sawyer (Ed.): Cambridge handbook of the learning sciences (2nd ed.), Cambridge University Press, 2014, pp.253-274.

(2) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức Hội nghị trực tuyến tổng kết công tác năm 2020 và triển khai nhiệm vụ năm 2021, https://hcma.vn, ngày 08-01-2021.

Nguồn: ThS Lò Thị Phương Nhung

ThS Nguyễn Mai Phương

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh


 

Giải pháp tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học ở các trường chính trị

(LLCT) - Nghiên cứu khoa học là một nhiệm vụ quan trọng của đội ngũ giảng viên các trường chính trị. Trước yêu cầu nâng cao chất lượng nghiên cứu, giảng dạy đòi hỏi cần có những giải pháp cụ thể, thiết thực tăng cường tính chuyên môn của công tác này. Từ thực trạng công tác nghiên cứu khoa học của Trường Chính trị tỉnh Đồng Tháp, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học, trong đó hoạt động báo cáo chuyên đề có ý nghĩa then chốt.


Từ khóa: nghiên cứu khoa học, báo cáo chuyên đề.

Trong những năm qua, Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường đã ban hành nhiều văn bản quy định cụ thể về thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, nghiên cứu thực tế, tổng kết thực tiễn ở địa phương, cơ sở. Từ năm 2010 đến nay, hoạt động nghiên cứu khoa học về tổng kết thực tiễn địa phương của đội ngũ cán bộ, giảng viên nhà trường đã đạt nhiều kết quả tích cực:

Thực hiện sự lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng ủy, Ban Giám hiệu về thực hiện công tác nghiên cứu khoa học, tất cả đội ngũ cán bộ, giảng viên tích cực thực hiện đề tài khoa học các cấp, tham gia hội thảo khoa học ở phạm vi trong và ngoài tỉnh, tổ chức tọa đàm ở cơ sở... nhằm phục vụ nhiệm vụ chính trị của Trường, của địa phương. Cán bộ, giảng viên nhà trường đã đăng ký, triển khai nghiên cứu và bảo vệ thành công 1 đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh và được hỗ trợ từ ngân sách nghiên cứu khoa học của tỉnh (đề tài: Nghiên cứu biên soạn chuyên khảo về địa phương học Đồng Tháp, 2010), để làm tài liệu cho giảng viên soạn giáo trình giảng dạy trong chương trình Trung cấp chính trị - hành chính và cũng là tài liệu tham khảo cho sinh viên ở các trường đại học, cao đẳng; học sinh trung học phổ thông; nhân dân trong tỉnh và những người quan tâm đến Đồng Tháp. Ngoài ra, Trường đang tiến hành thực hiện Đề tài: Những nhân tố ảnh hưởng đến sự vận động của hệ thống chính trị các cấp ở Tỉnh Đồng Tháp.

Trong thời gian qua, cán bộ và giảng viên các phòng, khoa của Trường đã tích cực triển khai, thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học và đưa vào ứng dụng 4 đề tài khoa học cấp cơ sở.

Hoạt động nghiên cứu thực tế của cán bộ, giảng viên được tổ chức, tiến hành và duy trì thường xuyên. Thông qua nghiên cứu thực tế đã giúp cho cán bộ, giảng viên nắm bắt được tình hình chính trị, kinh tế - xã hội, văn hóa ở địa phương, các kỹ năng xử lý tình huống nảy sinh trong thực tế. Nhiều giảng viên chủ động xây dựng kế hoạch và thực hiện nghiêm túc việc nghiên cứu thực tế ở cơ sở.

Hàng năm, Ban Giám hiệu đã chỉ đạo Phòng Quản lý đào tạo - nghiên cứu khoa học phối hợp với các phòng, khoa nhà trường và các đơn vị, sở, ban, ngành đoàn thể trong tỉnh tổ chức nhiều cuộc hội thảo khoa học. Nội dung, chủ đề của các hội thảo tập trung bám sát chức năng, nhiệm vụ nhà trường, các sự kiện lịch sử của đất nước, thực tiễn đời sống xã hội ở địa phương nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra, cung cấp những luận cứ khoa học, bổ sung kiến thức lý luận, thực tiễn vào bài giảng cho đội ngũ giảng viên.

Viết bài đăng báo và xuất bản Nội san là hoạt động khoa học quan trọng, thường xuyên của cán bộ, giảng viên của nhà trường nhằm công bố kết quả nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, qua đó trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, nâng cao khả năng nghiên cứu tổng hợp, gắn lý luận với thực tiễn. Đảng uỷ, Ban Giám hiệu nhà trường luôn chỉ đạo thực hiện viết bài, biên tập, in và phát hành Nội san nhân dịp kỷ niệm các ngày Lễ, sự kiện chính trị hàng năm. Các bài viết đã phản ánh khá toàn diện kết quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và các hoạt động, lĩnh vực công tác của nhà trường và của địa phương.

Đồng thời, cán bộ, giảng viên của nhà trường thường xuyên viết bài đăng các báo, tạp chí ở Trung ương và địa phương như: Tạp chí Lý luận chính trị, Tạp chí Xây dựng Đảng, Thông tin công tác các trường chính trị, Thông tin khoa học và công nghệ tỉnh Đồng Tháp... Ngoài ra, cán bộ, giảng viên của nhà trường tham gia viết trên 185 bài trên Website Trường...

Tuy nhiên, trong những năm qua, công tác nghiên cứu khoa học của Trường vẫn còn không ít khó khăn, hạn chế như:

Hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn tại Trường chưa đạt được hiệu quả, số lượng công trình nghiên cứu khoa học các cấp chưa nhiều; Năng lực nghiên cứu của một số giảng viên còn hạn chế, như ít tham gia thực hiện đề tài khoa học, viết bài tham luận, bài đăng trên tạp chí và ngại đi nghiên cứu thực tế...

Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế là: Thứ nhất, một số giảng viên chưa nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động nghiên cứu khoa học. Số giảng viên có khả năng và kinh nghiệm nghiên cứu đa phần là lãnh đạo, quản lý đơn vị nên quỹ thời gian dành cho nghiên cứu thường không nhiều; các giảng viên trẻ có tâm huyết, đam mê nghiên cứu nhưng chưa có kinh nghiệm nên phần nào ảnh hưởng đến chất lượng nghiên cứu khoa học; Thứ hai, thiếu tính năng động, chủ động trong việc tìm kiếm các thông tin liên quan đến hoạt động nghiên cứu khoa học; Thứ ba, kinh phí dành cho công tác nghiên cứu khoa học tuy đã được quan tâm đầu tư nhưng chưa tương xứng với chất xám vì tính chất của hoạt động nghiên cứu khoa học.

Từ thực tiễn, để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học về tổng kết thực tiễn của đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường Chính trị, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường phải bám sát sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh về chương trình, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, công tác nghiên cứu khoa học. Để có cơ sở định hướng công tác nghiên cứu khoa học về tổng kết thực tiễn ở địa phương đạt hiệu quả hơn.

Hai là, nhà trường cần tăng cường công tác phối hợp với các sở, ban ngành, các đoàn thể, các huyện, thành phố đối với hoạt động nghiên cứu khoa học. Khuyến khích giảng viên nêu ý tưởng, đề tài nghiên cứu, chủ đề hội thảo khoa học để góp phần phục vụ trực tiếp, hiệu quả cho công tác đào tạo, bồi dưỡng, góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương.

Ba là, để nâng cao chất lượng khoa học của đề tài khoa học các cấp, những bài báo cáo thực tế, tham luận hội thảo, bài báo khoa học, đề xuất mô hình “báo cáo chuyên đề” trong hoạt động nghiên cứu khoa học của nhà trường. Cụ thể: Đầu năm học, trưởng đơn vị (khoa, phòng của trường) xây dựng kế hoạch sinh hoạt chuyên môn, phân công giảng viên báo cáo chuyên đề theo từng tháng - việc phân công cần căn cứ vào lĩnh vực nghiên cứu, chuyên môn của giảng viên hoặc để giảng viên đăng ký chuyên đề báo cáo. Khi họp chuyên môn hàng tháng, giảng viên được phân công có nhiệm vụ:

Bước 1 (B1): Từ ngày 1 - 5 hàng tháng, người được phân công báo cáo gửi chuyên đề đến các thành viên trực thuộc đơn vị để đọc và nghiên cứu. Người được báo cáo chuyên đề cần chuẩn bị kỹ lưỡng và viết chuyên đề báo cáo dưới dạng 1 bài báo khoa học.

Bước 2 (B2): Từ ngày 6 - 14 hàng tháng thực hiện tổ chức góp ý báo cáo chuyên đề. Việc góp ý phải trên tinh thần cùng nhau đạt được mục đích chung là lĩnh hội tri thức và tập trung vào các nội dung cụ thể như: nội dung, phương pháp nghiên cứu; phạm vi, đối tượng nghiên cứu; tính cấp thiết của báo cáo.

Bước 3 (B3): Ngày 15 hàng tháng, người báo cáo thực hiện việc báo cáo chuyên đề, tiếp nhận ý kiến các thành viên trong đơn vị, đồng thời có thể phản biện lại các ý kiến đó. Đóng góp và phản biện phải mang tính khoa học, logic và lý luận.

Bước 4 (B4): Từ ngày 16 - 30 hằng tháng (cuối tháng), người báo cáo có nhiệm vụ chỉnh sửa theo ý kiến đóng góp của các thành viên trong đơn vị (nếu có), viết tóm tắt bằng tiếng Việt và Anh theo một thể thức bài báo khoa học nhằm gửi bài báo đến tạp chí liên quan.

Bước 5 (B5): Sau khi chỉnh sửa, bổ sung hoàn chỉnh, người báo cáo gửi lại chuyên đề cho thư ký đơn vị để lưu giữ và cá nhân tự gửi cho các tạp chí liên quan để công bố hoạt động nghiên cứu khoa học của mình. Thời gian gửi lại báo cáo chuyên đề là đầu tháng sau khi báo cáo (từ tháng 1- tháng 5 sau khi báo cáo).

Hoạt động nghiên cứu khoa học của đơn vị được luân chuyển xoay vòng sang các thành viên trong đơn vị.

Ở một cơ sở giáo dục đại học, trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giảng viên có hai nhiệm vụ trọng tâm không thể tách rời đó là: giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Giảng dạy sẽ giúp cho hoạt động nghiên cứu khoa học được nâng cao hơn bởi vì thông qua hoạt động giảng dạy người thầy sẽ thấy được “vấn đề nghiên cứu”, những khó khăn, vướng mắc, khoảng trống trong bài giảng, từ đó tìm ra hướng nghiên cứu, giải quyết vấn đề để có những bài giảng sinh động, chất lượng cao, giúp học viên hiểu rõ vấn đề hơn. Hoạt động nghiên cứu khoa học sẽ nâng cao được trình độ chuyên môn của giảng viên; nghiên cứu khoa học giảng viên sẽ tìm tòi, phát hiện những tri thức mới. Như vậy, hoạt động giảng dạy và nghiên cứu có mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại và hỗ trợ cho nhau.

Bốn là, nhằm vận dụng những kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên vào công tác giảng dạy, Phòng Nghiên cứu khoa học - Thông tin tư liệu cần thường xuyên sơ kết, tổng kết đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học (hàng năm hoặc 3 năm) của đội ngũ cán bộ, giảng viên nhà trường. Trên cơ sở đó, thông qua hội đồng khoa học nhà trường xét duyệt những công trình khoa học được công bố có giá trị; đồng thời, công nhận những kết quả nghiên cứu, biên soạn và công bố những công trình khoa học có giá trị ứng dụng thực tiễn của đội ngũ cán bộ, giảng viên. Đây chính là nguồn tư liệu phục vụ việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy của học viên, giảng viên.

Năm là, đội ngũ cán bộ, giảng viên nhà trường phải thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, kỹ năng nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn. Đồng thời, mỗi giảng viên cần tích cực, sáng tạo trong quá trình nghiên cứu thực tế, nắm bắt kịp thời tình hình kinh tế - xã hội địa phương. Giảng viên cần lựa chọn những chủ đề phù hợp với chương trình môn học đang đảm nhiệm, tập trung vào chương trình đề án phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh, có cơ sở để khảo sát, đánh giá sát với vấn đề thực tiễn đang diễn ra ở địa phương. Từ đó, đề xuất những giải pháp có tính khả thi, góp phần xử lý có hiệu quả những hạn chế, khó khăn đang diễn ra tại địa phương, đơn vị.

Ngoài ra, giảng viên cần chủ động khai thác thông tin chính thống trên các phương tiện thông tin đại chúng (báo chí, internet,...) để có thông tin đa chiều, rộng lớn đã được chọn lọc, phân tích. Đây là nguồn thông tin quan trọng giúp giảng viên có thêm nguồn dữ liệu bổ sung, phục vụ nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn.

 

Sáu là, nhà trường cần có cơ chế động viên, khích lệ hoạt động nghiên cứu khoa học đầu tư, hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công tác nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn một cách có hiệu quả nhất. Thường xuyên chăm lo bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực khoa học của nhà trường, theo đó các đơn vị khoa, phòng rà soát đội ngũ cán bộ phát hiện các cán bộ, giảng viên có năng lực nghiên cứu để bồi dưỡng, chia sẽ, giúp đỡ, từng bước phát triển đội ngũ cán bộ, giảng viên vững vàng về chuyên môn, có năng lực nghiên cứu khoa học, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Nguồn: TS Lê Minh Hiếu

TS Nguyễn Phước Tài

Trường Chính trị tỉnh Đồng Tháp


NHÌN LẠI NỬA NHIỆM KỲ, CHÚNG TA VỮNG TIN, ĐI TỚI ĐÍCH

  1. Hội nghị Trung ương 7 khóa XIII (Hội nghị giữa nhiệm kỳ) của Đảng có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; là dịp để Đảng ta nhìn lại, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, cụ thể và thực tiễn những kết quả, thành tựu đã đạt được từ đầu nhiệm kỳ đến nay. Qua đó, chỉ ra những hạn chế, yếu kém còn tồn tại; nguyên nhân và bài học kinh nghiệm; dự báo bối cảnh tình hình mới với những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trên cơ sở đó, đề ra những chủ trương, quyết sách lớn để tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu đã đề ra trong nửa cuối nhiệm kỳ khóa XIII. Sau 3 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa XIII của Đảng đã thành công tốt đẹp, hoàn thành Chương trình làm việc toàn khóa của Trung ương; góp phần quan trọng vào việc củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH).
Thế nhưng, những người có quan điểm đối lập với Đảng ta, các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị “đã sôi lên như đỉa phải vôi”, tìm mọi cách xuyên tạc, kết quả, sự thành công của Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa XIII; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Một trong những tiêu điểm họ tập trung chống phá là mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.
Tại sao họ lại chĩa mũi nhọn vào vấn đề này? Tại sao họ lại lu loa rằng, “ở Việt Nam không thể có độc lập dân tộc gắn liền với CNXH”, vì “nó không phù hợp với xu thế phát triển của nhân loại, đi ngược con đường lịch sử”, “Việt Nam phải đi theo con đường khác để tránh lặp lại vết xe đổ của Liên Xô, Đông Âu”? Theo họ, “con đường khác” là gì? Phải chăng là “quỹ đạo tư bản chủ nghĩa”, theo gương các nước G-7.
Lý lẽ của họ là, Hội nghị Trung ương Đảng giữa nhiệm kỳ khóa XIII vừa kết thúc vẫn “không có gì mới”, “Đảng vẫn bảo thủ, trì trệ”, “vì Đảng khư khư bám giữ mục tiêu độc lâp dân tộc gắn liền với CNXH”. Điều đó chứng minh “Đảng hết bài vở”, “tư duy cạn, rơi vào lối mòn”, “rập khuôn, máy móc”. Vì thế, họ ra sức chống Đảng, phủ nhận “mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH”; coi đó là “sai lầm nghiêm trọng” của Việt Nam.
Nhai lại chiêu trò cũ, họ đồng thanh la ó rằng, CNXH hiện thực đã sụp đổ, thế giới ngày nay đã hoàn toàn khác xưa; nhân loại đã bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. Điều đó đòi hỏi Đảng phải nhường ghế cho lực lượng cấp tiến lãnh đạo; Việt Nam phải đi theo mô thức, con đường mà chủ nghĩa tư bản (CNTB) đang đi mới dúng quy luật; Việt Nam phải học CNTB...
Từ luận đề sai lầm này, họ ra yêu sách “phải thay thế bộ máy lãnh đạo của Đảng” thì “Việt Nam mới cất cánh được”. Vào hùa với một số đối tượng quá khích, có người còn cho rằng, “ngày nào ở Việt Nam còn chịu sự thống trị của Đảng Cộng sản Việt Nam thì chừng ấy Việt Nam còn tụt hậu, dân còn khổ cực”. Từ đó, họ đòi từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy ý thức hệ tư sản làm nền tảng để Việt Nam phát triển...
2. Tại sao sau Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ khóa XIII của Đảng, những người có quan điểm đối lập với Đảng ta lại ra công kích, bài xích, phủ nhận những vấn đề lý luận cơ bản về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta? Vì sao họ lại ra sức xuyên tạc, phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn? Thực hư quan điểm này như thế nào?
Bản chất, chiều sâu của vấn đề là họ muốn lái nước ta đi theo con đường TBCN, có lợi cho họ. Muốn thực hiện mục tiêu đó buộc họ phải chống phá Đảng, gây áp lực lên Đảng; cho rẳng, Đảng là nguyên nhân sinh ra tai họa, nỗi khổ, đe dọa cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân ta. Quan điểm sai trái, ngang ngược, hết sức phản động của họ đã và đang tác động tiêu cực đến một một bộ phận người dân nhẹ dạ, cả tin; gây tâm lý bất bình, tâm trạng tiêu cực, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tinh thần - xã hội ta; làm vẩn đục bầu không khí trong lành của xã hội Việt Nam.
Sự thật là, hơn 93 năm qua, trước sau như một, Đảng ta đều nhất quán khẳng định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn, đã trở thành mục tiêu, lẽ sống của nhân dân ta. Hơn ai hết, nhân dân ta ý thức sâu sắc rằng: độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện CNXH và CNXH là cơ sở chắc chắn nhất để bảo đảm cho độc lập dân tộc. Đây là điều căn cốt nhất, bản chất nhất của hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Nó đã ăn sâu vào trí não, tâm hồn của mỗi người dân Việt Nam yêu nước, yêu CNXH, trở thành lẽ sống cao đẹp, nguyên tắc bất di bất dịch và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt con đường cách mạng Việt Nam; đã được kiểm chứng bởi chính lịch sử chống giặc ngoại xâm, nội xâm của nhân dân ta. Bằng xương máu và ý chí quyết tâm, bằng sự đoàn kết và lòng dũng cảm, bằng danh dự và phẩm giá, nhân dân ta đã khẳng định điều ấy.
3. Rõ ràng, lựa chọn mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH của Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế phát triển của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại. Đó là một tất yếu khách quan, không thể đảo ngược. Nó xuất phát từ mơ ước, khát vọng được sống trong hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam. Đó là một giá trị cơ bản, quyết định sự phát triển của quốc gia - dân tộc Việt Nam.
Sự lựa chọn này đã khắc phục được những hạn chế, bất cập của ý thức hệ phong kiến và tư sản trong nhận thức và giải quyết vấn đề độc lập dân tộc. Đây là cơ sở vững chắc nhất để xóa bỏ tình trạng người bóc lột người do chế độ cũ sinh ra như các nhà kinh điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin đã xác định. Vì thế, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH trở thành hệ giá trị phát triển của Việt Nam dưới ngọn cờ bách chiến bách thắng của Đảng. Nhờ đó, nhân dân ta mới giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; mới có cơ ngơi, tiền đồ tốt đẹp và tương lai tươi sáng.
Sự thật ấy bác bỏ mọi quan điểm sai trái, thù địch, phản động; xuyên tạc đường lối đổi mới của Đảng, chê bai, nói xấu Hội nghị Trung ương 7 khóa XIII và các quyết sách mà Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ khóa XIII đã đề ra.
Những người cố tình xuyên tạc bản chất tốt đẹp của CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam vì họ đã rơi vào chủ nghĩa cá nhân, là làm trái với chủ nghĩa nhân đạo hiện thực, là đi ngược lại lợi ích của người dân và dân tộc Việt Nam. Muốn chữa “căn bệnh” này, chỉ có một thứ thuốc đặc hiệu là từ bỏ chủ nghĩa cá nhân, rũ bỏ những thành kiến, những ác cảm bởi những nhận thức sai lầm về chủ nghĩa Mác - Lênin, về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản; về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta; tiếp tục xây dựng, củng cố niềm tin tất thắng của nhân dân vào đường lối xây dựng CNXH ở nước ta.
Đó là lời kêu gọi từ trái tim, mệnh lệnh của cuộc sống. Đó cũng là minh chứng đầy thuyết phục để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đấu tranh, bác bỏ mọi quan điểm sai trái, thù địch về xuyên tạc các quyết sách mà Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ khóa XIII của Đảng đã đề ra./.
Nhân Văn Hà Nội - DƯƠNG PHƯƠNG DUY

NHỚ VỀ 112 NĂM HÀNH TRÌNH TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH (11/6/1911 - 11/6/2023)

 Ngày 5/6/1911, sự kiện Hồ Chí Minh, với tên gọi Văn Ba, rời bến Nhà Rồng tìm đường cứu nước, đã trở thành một dấu mốc và bước ngoặt quan trọng đối với cách mạng và dân tộc Việt Nam. 112 năm đã trôi qua, nhưng hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh vẫn có ý nghĩa lịch sử và giá trị giáo dục to lớn đối với thế hệ người dân Việt Nam.

Hồ Chí Minh lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, lúc đi học tên là Nguyễn Tất Thành, khi tham gia cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nơi có truyền thống yêu nước và cách mạng. Hoàn cảnh gia đình, quê hương, đất nước đã ảnh hưởng sâu sắc đến Nguyễn Tất Thành. Thân phụ anh là ông Nguyễn Sinh Sắc, người giỏi Nho học, đỗ Phó bảng, nhưng không chịu hợp tác với Pháp. "Thái độ bất hợp tác, ngầm chống đối thực dân, yêu nước của thân phụ đã ảnh hưởng tốt đến nhân cách của anh". Quãng đời niên thiếu đèn sách, được sự dạy dỗ của thày Vương Thúc Quý, một "sỹ tử Cần Vương" và với tư chất thông minh, Nguyễn Tất Thành được bồi đắp vốn kiến thức Nho học và chịu ảnh hưởng chí hướng yêu nước, thương dân của người cha và thầy dạy. Năm 1904, ở Nghệ Tĩnh, bọn thực dân Pháp bắt phu đắp con đường Cửa Rào đi Trấn Ninh. Do đói khát và làm việc quá nặng nhọc, nhiều người đã phải bỏ xác, gây cảnh tang tóc đau thương. Thảm kịch "Cửa Rào" gây ấn tượng mạnh, khơi dậy niềm thương yêu sâu sắc với đồng bào trong tâm trí Nguyễn Tất Thành. Những năm sau theo cha đi nhiều nơi trong vùng, Nguyễn Tất Thành được chứng kiến cuộc sống khổ cực của người dân, sự áp bức, bóc lột dã man của bọn thực dân, phong kiến, đã hình thành ở anh lòng yêu nước, thương dân, căm thù giặc sâu sắc. "Người thiếu niên ấy đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào. Lúc bấy giờ, anh đã có chí đuổi thực dân, giải phóng đồng bào”. Cái nôi gia đình, quê hương đã hun đúc cho Nguyễn Tất Thành sớm có tinh thần yêu nước, căm thù giặc và ý chí đánh đuổi bọn thực dân.
Năm 1906, Nguyễn Tất Thành theo cha vào Huế, học ở Trường Tiểu học Pháp - Việt Đông Ba, năm sau vào học Trường Quốc học Huế. Tại đây, anh có điều kiện bổ sung vốn kiến thức Nho học, văn hóa phương Đông, tiếp thu văn hóa phương Tây. Vốn văn hóa đó giúp anh có khả năng suy xét và hoạt động có tư duy. Vào những năm này, ở Kinh thành Huế như một dòng nước xoáy, cuốn hút mọi tầng lớp tham gia hưởng ứng các phong trào yêu nước. Năm 1908, ở Huế và Trung Kỳ bùng nổ phong trào kháng thuế rầm rộ. Nguyễn Tất Thành cùng số đông học sinh Trường Quốc học tích cực tham gia phong trào, nhưng phong trào bị thực dân Pháp đàn áp dã man. Thất bại của phong trào chống thuế ở Huế cũng như ở Trung Kỳ cùng các phong trào yêu nước chống Pháp đầu thế kỷ XX, làm cho Nguyễn Tất Thành nhận rõ hơn bản chất dã man của bọn thực dân và cũng làm cho anh sớm thấy được sức mạnh đấu tranh của quần chúng khi được tổ chức.
Việt Nam là cộng đồng quốc gia dân tộc hình thành sớm, quần tụ trên mảnh đất có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn. Trong quá trình dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã xây đắp nên nền văn hiến lâu đời, có truyền thống chống giặc ngoại xâm, đã hun đúc nên những truyền thống tốt đẹp, đặc biệt là truyền thống yêu nước. Vào giữa thế kỷ thứ XIX, đế quốc Pháp đánh chiếm nước ta, biến nước ta từ một nước phong kiến thành một nước thuộc địa, nửa phong kiến. Trước hành động xâm lược của kẻ thù, triều đình phong kiến nhà Nguyễn từng bước dâng nước ta cho Pháp. Mặc dù vậy, các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta liên tiếp nổ ra, từ các cuộc khởi nghĩa Bình Tây ở lục tỉnh Nam Kỳ, đến các phong trào Cần Vương, Văn Thân của các sĩ phu yêu nước, rồi đến phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can, cải cách dân chủ của Phan Châu Trinh cho đến cuộc nổi dậy của Hoàng Hoa Thám và các cuộc khởi nghĩa sau đó nhưng đều bị đàn áp đẫm máu và lần lượt bị thất bại. Đến đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước chống Pháp ở nước ta rơi vào bế tắc, "tình hình đen tối như không có đường ra".
Từ các sự kiện trên, Nguyễn Tất Thành suy nghĩ, cân nhắc chọn cho mình con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Anh khâm phục các cụ Trương Công Định, Nguyễn Hữu Huân, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu…, nhưng không hoàn toàn tán thành phương hướng và cách làm của các cụ. Vì vậy, anh chọn cho mình hướng đi mới, đó là tìm cách ra nước ngoài để tìm hiểu cho rõ. Quyết định này về sau Người có nói: "Nhân dân Việt Nam, trong đó có cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi ai là người sẽ giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Nhật, người khác lại nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thì thấy phải đi ra nước ngoài để xem cho rõ". Như vậy, quyết định ban đầu của Nguyễn Tất Thành là có mục đích và có định hướng. Với ý định đó, sau khi rời Huế vào Phan Thiết dạy học một thời gian, đầu năm 1911, anh vào Sài Gòn chuẩn bị rời Tổ quốc ra đi tìm chân lý cách mạng. Cần nói thêm rằng, trước Nguyễn Tất Thành đã có nhiều sĩ phu xuất dương đến một số nước phương Đông để cầu ngoại viện đánh đuổi thực dân Pháp. Với tư duy sắc sảo, anh sớm nhìn ra hướng đi và cách làm sai lầm ấy của họ. Vì thế, Người chọn cho mình hướng đi về phương Tây, mà trước hết là nước Pháp, nơi có trào lưu tư tưởng "Tự do, Bình đẳng, Bác ái", nhưng cũng là nước đang thống trị dân tộc ta, để tìm ra con đường và phương hướng cứu nước đúng đắn, chứ không phải để cầu ngoại viện. Quyết định này, về sau Người có nói: "Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn dấu đằng sau những chữ ấy… Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài". Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam được Nguyễn Tất Thành hấp thụ từ những năm tháng ở quê hương, đất nước. Khát vọng cứu nước, giải phóng dân tộc thôi thúc anh ra nước ngoài tìm đường cứu dân, cứu nước.
Trong lúc đất nước đang cơn khủng hoảng, thế giới bắt đầu bước vào thời kỳ sôi động, ngày 5/6/1911, Nguyễn Tất Thành, với tên gọi Văn Ba, từ bến cảng Nhà Rồng rời Tổ quốc thân yêu ra đi tìm chân lý cách mạng. Hành trang của Người không có gì ngoài tấm lòng yêu nước, đôi bàn tay lao động và ý chí quyết tâm tìm ra con đường cứu dân, cứu nước. Đây là sự kiện lịch sử quan trọng, là bước mở đầu cho cách mạng Việt Nam chuẩn bị đi vào con đường cách mạng vô sản, nhịp bước với thời đại, kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân một cách hữu cơ từ trong bản chất giai cấp và tinh thần đấu tranh vì lợi ích dân tộc và của toàn nhân loại.
Hoạt động trong phong trào công nhân và nhân dân lao động quốc tế
Xuống tàu vượt trùng dương, Nguyễn Tất Thành chấp nhận cuộc sống của người lao động làm thuê. Đối với anh, đó chỉ là phương tiện nhằm thực hiện mục đích đã đặt ra. Động cơ thúc đẩy Người ra đi là tìm một giải pháp mới cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam, trước hết là nước Pháp, nước có cuộc Cách mạng 1789 và Công xã Pari điển hình, nhưng cũng là nước đẻ ra chế độ thực dân đang thống trị Tổ quốc của anh. Đó là mục tiêu trực tiếp của chặng đầu cuộc hành trình của Nguyễn Tất Thành. Muốn "trở về giúp đồng bào" thì trước hết phải hiểu thật kỹ kẻ thù áp bức dân tộc mình, nhất là trên mảnh đất đã sản sinh ra nó, đồng thời phải tìm ra con đường cứu nước, cứu dân đúng đắn theo đường hướng mới. Sự khác biệt giữa Nguyễn Tất Thành với những người ra nước ngoài hồi ấy là ở chỗ đó.
Trong cuộc hành trình này, Nguyễn Tất Thành có điều kiện ghé qua các châu lục, được tiếp xúc ngay với công nhân, những người lao động ở những nơi đi qua. Đến đâu, Người cũng thấy hai cảnh tượng trái ngược nhau, một bên là cuộc sống khổ cực của người dân, một bên là cuộc sống xa hoa của bọn đế quốc, thực dân. Bước đầu, Người hiểu được đời sống giai cấp công nhân, nhân dân lao động, và xác định chỗ đứng của Người trong giai cấp cần lao.
Đặc biệt, trong cuộc khảo sát có một không hai này, Nguyễn Tất Thành dừng chân lâu ở 3 nước đế quốc lớn nhất thời đó là Mỹ, Anh, Pháp; có điều kiện tìm hiểu, nghiên cứu cuộc Cách mạng Mỹ năm 1776, cuộc Cách mạng Pháp năm 1789 và cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước chống chủ nghĩa thực dân. Từ đó, Người rút ra những nhận xét chính xác, như sau đó không lâu, Người viết trong tác phẩm Đường cách mệnh, rằng Cách mạng Mỹ và Cách mạng Pháp tuy nêu cao khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”, nhưng không đưa lại tự do, bình đẳng, bác ái thật sự, tiếng là cộng hòa, dân chủ, nhưng thực chất là tước đọat quyền lợi của công nông trong nước và bên ngoài thì áp bức các dân tộc thuộc địa. Tuy Người khâm phục ý chí giành độc lập, tư do của nhân dân Mỹ, tinh thần đấu tranh của nhân dân Pháp, nhưng Người cho rằng, đó “đều là cách mệnh tư sản, cách mệnh không đến nơi”. Đồng thời, Người còn cho rằng, việc giải phóng các dân tộc bị áp bức không thể đi theo con đường của cách mạng Mỹ và Pháp, mà phải đi theo con đường khác. Nhận xét đó xuất phát từ tinh thần yêu nước và lập trường giai cấp vô sản.
Thực tiễn khảo sát khắp các châu lục trong thập niên thứ hai của thế kỷ XX, Nguyễn Tất Thành đã đặt mình vào chỗ đứng của giai cấp cần lao chiếm số đông ở khắp trên thế giới, đồng thời cũng thấy rõ bộ mặt thật của số ít bọn người bóc lột tập trung ở các nước đế quốc. Từ đó, Người rút ra những kết luận quan trọng: Ở đâu bọn đế quốc cũng dã man, tàn bạo, ở đâu giai cấp công nhân, những người lao động cũng bị áp bức, bóc lột nặng nề, để vào năm 1924, Người đã viết: "Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản". Cũng từ thực tiễn đó đã bồi đắp quan điểm nhân văn, ý thức về sự cần thiết phải đoàn kết những người bị áp bức trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Đến đây, Người đã xác định rõ ràng được rằng, sự áp bức giai cấp, áp bức dân tộc có chung một nguồn gốc là chủ nghĩa đế quốc, thực dân, các dân tộc bị áp bức phải đoàn kết đứng lên đấu tranh mới có thể giành được thắng lợi trong công cuộc giải phóng.
Nguyễn Tất Thành là người muốn độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Dịp tốt đã đến, tháng 1/1919, Hội nghị "Hòa bình" họp ở Vécxay, Nguyễn Tất Thành theo dõi diễn biến của Hội nghị, đồng thời anh quyết định thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước ở Pháp gửi Bản Yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm đến Hội nghị đòi tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam và ký tên Nguyễn Ái Quốc. Bản Yêu sách đăng trên báo L'Humanité và một số báo khác. Lần đầu tiên, vấn đề tự do, dân chủ của nhân dân Việt Nam được đặt ra với một hội nghị quốc tế. Nhưng Hội nghị Vécxay là nơi bọn đế quốc chia nhau khu vực ảnh hưởng và quyền lợi sau cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất, nên Bản Yêu sách cùng các kiến nghị không được đề cập đến. Được thực tế ấy rèn luyện, Nguyễn Ái Quốc rút ra kết luận: Những lời tuyên bố của bọn đế quốc về quyền tự quyết cho các dân tộc chỉ là trò bịp lớn. Tuy nhiên, Bản Yêu sách và tên tuổi Nguyễn Ái Quốc gây tiếng vang lớn trong nhân dân Việt Nam, nhân dân Pháp và bạn bè quốc tế. Việc làm trên chứng tỏ Nguyễn Ái Quốc thực sự bước vào cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân. Cuộc hành trình từ Á sang Âu, từ Phi qua Mỹ trong gần 10 năm khắp các châu lục đã để lại cho người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc biết bao suy tư, trăn trở, đồng thời cũng giúp Người quan sát, tìm hiểu, rút ra những kết luận cần thiết cho cho công cuộc giải phóng dân tộc và bổ sung những hiểu biết phong phú với tầm nhìn rộng lớn về các dân tộc thuộc địa, về chủ nghĩa thực dân, đế quốc, như Người đã kết luận: “Tất cả bọn đế quốc, thực dân đều tàn bạo”. Đây là những nhận thức có tính chất nền tảng trong việc xác định đối tượng của cách mạng giải phóng dân tộc, để sau đó không lâu Người viết bản luận tội đanh thép Bản án chế độ thực dân Pháp.
Gia nhập đội quân vô sản quốc tế, hòa mình vào cuộc sống của những người lao động thuộc mọi màu da, Nguyễn Ái Quốc đã hiểu biết sâu sắc đời sống, tình cảm, năng lực, phẩm chất của họ và cũng thấy rõ sự bóc lột, thống trị tàn bạo của bọn đế quốc, thực dân; đồng thời cũng đã tạo cho Người gần gũi, yêu thương, đồng cảm với những dân tộc cùng cảnh ngộ với dân tộc Việt Nam. Người đau khổ thấy họ bị bọn đế quốc, thực dân đối xử như những "con vật châu Á" hay những "con vật da màu". Hòa mình vào cuộc sống lao động và đấu tranh của giai cấp cần lao đã làm nảy nở ở Người sự đồng cảm, yêu thương sâu sắc, tình đoàn kết bền chặt với những người bị áp bức. Trên thực tế, Người đã gặp bạn đồng minh. Đó là bước tích lũy về lượng trong nhận thức tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về lập trường giai cấp, về xác định kẻ thù, về bạn đồng minh. Thực tiễn hoạt động trong phong trào công nhân quốc tế là nhân tố quan trọng hình thành con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.
Bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam
Những năm tháng sống ở Thủ đô Pari của nước Pháp, Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt động trong phong trào công nhân và Đảng Xã hội Pháp. Tuy nhiên, như sau này Người nói: “Tôi biết rất ít về các vấn đề chính trị, nhưng tôi muốn Tổ quốc tôi được giải phóng… Vì vậy, tôi tham gia Đảng Xã hội. Tôi biết rất ít về Cách mạng Tháng Mười và về Lênin; về cảm tính tôi thấy mình có mối tình đoàn kết với cuộc Cách mạng Nga và người lãnh đạo cuộc cách mạng ấy”. Khi ở Pari, Người được biết tin cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga đã nổ ra, nhưng do bọn đế quốc bưng bít tin tức, cho nên cũng như những người bạn Pháp, Người chưa biết rõ và cũng chưa hiểu hết được ý nghĩa thời đại của cuộc cách mạng ấy. Tình trạng đó được V.I. Lênin chỉ rõ: "Ở nước ngoài, người ta biết rất ít, ít đến kinh khủng, ít đến nực cười về cuộc cách mạng của chúng ta. Ở đấy, chế độ kiểm duyệt quân sự không cho một tý gì lọt qua cả". Nhưng với sự nhạy bén chính trị và nhiệt tình cách mạng, Nguyễn Ái Quốc biết đó là cuộc cách mạng tiến bộ và Người có ý định đi Nga. Người ủng hộ Cách mạng Tháng Mười bằng việc tham gia cuộc vận động nhân dân Pháp quyên góp giúp đỡ nhân dân Nga vượt qua nạn đói, phân phát lời hiệu triệu của Đảng Xã hội Pháp kêu gọi nhân dân Pháp chống lại cuộc can thiệp vũ trang của các nước đế quốc vào nước Nga Xô viết. Tham gia vào những hoạt động cách mạng, Nguyễn Ái Quốc tìm thấy vũ khí sắc bén để đấu tranh, đó là viết bài đăng báo. Những bài báo đầu tiên của Người đăng trên báo L'Humanité, Le Paria, Le Populaire và một số báo khác, đều tập trung vào việc lên án chủ nghĩa thực dân, thực trạng bị áp bức, bóc lột ở các nước thuộc địa, phụ thuộc. Thông qua những hoạt động thực tiễn ấy mà nhận thức "cảm tính" của Nguyễn Ái Quốc về Cách mạng Tháng Mười, về nước Nga Xô viết và về Lênin ngày càng được củng cố, nâng cao.
Tháng 3/1919, Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản) do Lênin tổ chức, tuyên bố thành lập. Từ sau sự kiện đó, trong Đảng Xã hội Pháp diễn ra cuộc đấu tranh ngày càng gay gắt giữa những người cách mạng ủng hộ đường lối của Quốc tế III và những kẻ bảo vệ Quốc tế II đang bị bọn cơ hội lũng đoạn. Ban lãnh đạo của Đảng Xã hội Pháp chủ yếu nằm trong tay bọn cơ hội, chi phối tư tưởng và thái độ chính trị của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các đảng viên Đảng Xã hội, làm hạn chế ảnh hưởng của Quốc tế III đối với phong trào cách mạng Pháp. Tuy nhiên, xu hướng cộng sản, ủng hộ đường lối của Quốc tế III vẫn hình thành và phát triển. Tháng 4/1919, Đại hội bất thường của Đảng Xã hội Pháp họp ở Pari, những người ủng hộ Quốc tế III đề nghị Đại hội thảo luận và quyết định Đảng chính thức tham gia Quốc tế III. Nhưng đề nghị không được chấp nhận do sự phản ứng quyết liệt của bọn cơ hội trong Đảng. Đến tháng 2/1920, Đại hội lần thứ XVII Đảng Xã hội Pháp họp ở Xtrátxbua, khi bỏ phiếu quyết định rút ra khỏi Quốc tế II, có đa số phiếu thuận, thiểu số phiếu chống. Khi bỏ phiếu tham gia Quốc tế III thì thiểu số phiếu thuận, đa số phiếu chống. Tình hình đó phản ánh sự đấu tranh gay gắt trong Đảng Xã hội Pháp giữa lập trường của Quốc tế III và Quốc tế II, đồng thời lôi cuốn sự chú ý theo dõi của đông đảo nhân dân Pháp.
Diễn biến của các cuộc đấu tranh trên đây tác động đến Nguyễn Ái Quốc. Tuy chưa hiểu hết thực chất các sự kiện trước những sự biến chính trị, Người cũng tham gia vào cuộc đấu tranh theo quan điểm và nhận thức của mình. Hầu hết trong các buổi mít tinh, thảo luận, Người đều phát biểu và khéo lái những vấn đề đang thảo luận sang vấn đề dân tộc và thuộc địa. Vì như Người nói: "Trong các cuộc bàn cãi, người ta rất ít nói đến sự đoàn kết với các dân tộc thuộc địa. Nhưng đó lại là vấn đề mà tôi quan tâm hơn hết". Mặc dù "nhức đầu vì khó hiểu", nhưng trong các buổi sinh hoạt Đảng Xã hội, Người đều nêu câu hỏi: "Ai khẳng định rõ ràng là mình đoàn kết với các dân tộc bị chủ nghĩa thực dân áp bức? thì người ta trả lời: Quốc tế III". Điều băn khoăn, trăn trở và quan tâm hơn cả bấy lâu nay của Người đã được giải đáp, đó là "phải đoàn kết với các dân tộc thuộc địa”. Sau khi được biết Quốc tế III ủng hộ và đoàn kết với các dân tộc thuộc địa và nhất là được đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đăng trên báo L'Humanité ngày 16 và ngày 17/7/1920, lần đầu tiên, Nguyễn Ái Quốc nhận biết một tổ chức quốc tế ủng hộ sự nghiệp đấu tranh giải phóng các dân tộc bị chủ nghĩa thực dân áp bức và tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn. Bởi vì, Luận cương của Lênin đã giải quyết trọn vẹn một vấn đề rất cơ bản mà Nguyễn Ái Quốc đặc biệt quan tâm là vấn đề dân tộc và thuộc địa được đặt trong mối quan hệ quốc tế, chỉ ra con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa. Luận cương tạo ra bước chuyển biến căn bản trong nhận thức tư tưởng về vấn đề bạn đồng minh, về xác định kẻ thù, giúp Người đi đến khẳng định: “Muốn cứu nước giải phóng dân tộc không có con đường nào khác, con đường cách mạng vô sản”.
Sự kiện chính trị quan trọng thu hút sự quan tâm chú ý của Nguyễn Ái Quốc là Đại hội lần thứ II của Quốc tế III. Theo dõi các văn kiện của Đại hội, Người tâm đắc với 21 điều kiện kết nạp vào Quốc tế III, đặc biệt là điều thứ 8, rằng: "Vấn đề thuộc địa và dân tộc bị áp bức, thì các đảng trong các nước mà giai cấp tư sản có thuộc địa và áp bức các dân tộc khác phải có một đường lối đặc biệt rõ ràng, minh bạch. Đảng nào muốn gia nhập Quốc tế III đều buộc phải thẳng tay vạch mặt những thủ đoạn xảo trá của bọn đế quốc nước mình trong các thuộc địa, ủng hộ trên thực tế, chứ không phải bằng lời nói mọi phong trào giải phóng ở thuộc địa". Điều đó tạo niềm tin của Nguyễn Ái Quốc vào Lênin, vào Quốc tế III, và biểu thị thái độ chính trị và quan hệ xã hội đúng đắn trong cuộc đấu tranh cách mạng hoá Đảng Xã hội Pháp.
Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp họp ở Tua tháng 12/1920, Nguyễn Ái Quốc đại diện của Đông Dương, đồng thời là đại biểu duy nhất phát biểu về vấn đề thuộc địa. Phát biểu tại Đại hội, với những lời xúc động sâu sắc, sau khi lên án chế độ thống trị tàn bạo của thực dân Pháp ở Đông Dương, Người yêu cầu Đảng phải đoàn kết, ủng hộ cách mạng thuộc địa, rằng: "Tôi đến đây là để cùng với các đồng chí góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới... Đảng phải tuyên truyền chủ nghĩa xã hội trong tất cả các nước thuộc địa". Lời phát biểu ngắn gọn của Người đã quán triệt tư tưởng chiến lược của Lênin về quan hệ giữa cách mạng chính quốc và cách mạng thuộc địa trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân. Khi Đại hội biểu quyết, Người bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế III và tham gia quá trình thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Quyết định sáng suốt đó của Nguyễn Ái Quốc phù hợp với trào lưu phát triển của lịch sử nhân loại, là sự kiện có ý nghĩa to lớn. Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới hiện đại, một đại biểu của dân tộc Việt Nam tham gia sáng lập đội tiền phong của giai cấp công nhân ở một nước đế quốc lớn đang áp bức dân tộc mình. Bằng việc làm đó, Nguyễn Ái Quốc nêu cao ngọn cờ đoàn kết quốc tế và ngọn cờ giải phóng dân tộc.
Được Luận cương của V.I. Lênin và đường lối của Quốc tế III soi sáng, Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt động trong phong trào công nhân và Đảng Cộng sản Pháp, sau đó, công tác tại Quốc tế III trên đất nước Liên Xô. Đến đây, ở Người, về cơ bản hình thành hệ thống luận điểm có tính lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc đi theo con đường cách mạng vô sản; về chủ nghĩa thực dân, đế quốc; về mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng chính quốc; về khả năng thắng lợi trước của cách mạng thuộc địa; về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản; về vị trí, vai trò của giai cấp công nhân trong cách mạng; về chủ nghĩa xã hội, v.v.. Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và Quốc tế III, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam đi vào quỹ đạo của cách mạng xã hội chủ nghĩa và có ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại.
Đảng cộng sản Việt Nam

HẢI DƯƠNG: KHẮC GHI NHỮNG LẦN BÁC HỒ VỀ THĂM

 Sinh thời, Bác Hồ đã 5 lần về thăm và làm việc với Hải Dương. Đối với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hải Dương, Người có sự quan tâm đặc biệt.

Với cương vị là người đứng đầu Đảng, Nhà nước, tuy bận trăm công, nghìn việc nhưng Người vẫn dành sự quan tâm đặc biệt tới Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hải Dương. Hải Dương vinh dự được đón Bác Hồ về thăm 5 lần vào các năm 1946, 1957, 1959, 1962 và 1965. Mỗi lần Người về thăm đều để lại những kỷ niệm sâu đậm không bao giờ quên đối với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Hải Dương.
Ngày 21/10/1946, lần đầu tiên Bác Hồ về thăm Hải Dương. Sau chuyến thăm nước Pháp, từ Hải Phòng về Hà Nội bằng tàu hoả, Bác Hồ đã dừng chân vẫy chào công nhân ở ga Lai Khê (huyện Kim Thành), ga Tiền Trung (huyện Nam Sách) đang tập trung đón Bác, rồi Bác về ga Hải Dương. Tại đây Bác nói chuyện với nhân dân về tình hình và kết quả đàm phán tại Pháp, về âm mưu của giặc và những khó khăn của đất nước, cũng như quyết tâm của Chính phủ và kêu gọi toàn thể đồng bào phải nêu cao tinh thần cảnh giác, đoàn kết, chuẩn bị tinh thần, lực lượng và vũ khí, sẵn sàng chiến đấu nếu kẻ thù bội ước, để giữ bằng được độc lập, tự do cho dân tộc… Cuộc nói chuyện của Bác Hồ ngay trên sân ga tuy ngắn ngủi, nhưng đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người dân Hải Dương. Ai nấy đều phấn khời, quyết tâm sẽ chiến đấu đến cùng để bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ quê hương.
Ngày 31/5/1957, trên đường công tác từ Hải Phòng về Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm tỉnh Hải Dương lần 2. Bác về xã Ái Quốc, huyện Nam Sách, thăm một số gia đình, trong đó có gia đình cụ Vũ Văn Trung ở xóm Vũ Thượng có 3 con đi bộ đội. Tại Hội trường Tỉnh ủy, sau là trường Nguyễn Ái Quốc, nay là Bảo tàng tỉnh, Bác nói chuyện với trên 400 đại biểu là cán bộ khu, cán bộ tỉnh, bộ đội và các tầng lớp nhân dân. Người căn dặn cán bộ, bộ đội và nhân dân phải nâng cao ý chí phấn đấu với tinh thần đồng cam cộng khổ, luôn đoàn kết chặt chẽ, ra sức phấn đấu hoàn thành tốt công tác sửa sai trong cải cách ruộng đất và khôi phục kinh tế để củng cố miền Bắc, làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.
Ngày 01/4/1959, sau khi đi thăm tỉnh Hồng Quảng (nay là tỉnh Quảng Ninh) và thành phố Hải Phòng, Chủ tịch Hồ Chí Minh ghé thăm tỉnh Hải Dương lần 3. Tại trụ sở làm việc của Tỉnh uỷ (thị xã Hải Dương), nay là nhà khách Bạch Đằng, Bác nói chuyện với các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Uỷ ban Hành chính tỉnh cùng cán bộ các ban, ngành của tỉnh. Trong buổi gặp mặt thân mật này, Bác khen ngợi những thành tích đã đạt được của nhân dân và cán bộ tỉnh Hải Dương, nhất là phong trào sản xuất nông nghiệp, Bác nhắc nhở một số công việc sản xuất trong vụ Đông như cần bón thêm phân và ra sức chống hạn.
Tiếp đó là ngày 26/7/1962, Người về thăm Hải Dương. Buổi sáng Bác nói chuyện với nhân dân thị xã Hải Dương tại sân Vọng Cung (nay là Nhà hát Nhân dân). Sau đó, Người đã đến thăm xã Ứng Hòe và xã Hiệp Lực (Ninh Giang) là hai xã rất gương mẫu trong lao động sản xuất lúa gạo và có thành tích chống úng lụt khá nhất tỉnh. Tại xã Hiệp Lực, Người tham gia guồng nước chống úng cùng với bà con nông dân, căn dặn mọi người phải tích cực chống úng thắng lợi qua 2 câu lẩy Kiều: "Trăm năm trong cõi người ta. Chống úng thắng lợi mới là người ngoan". Sau khi thăm cán bộ và nhân dân xã Hiệp Lực, Người về hội trường Nhà máy Xay Ninh Giang, nói chuyện với cán bộ, công nhân và nhân dân huyện Ninh Giang. Buổi chiều, Bác về thăm Nhà máy Sứ Hải Dương (nay là Công ty Sứ). Bác thăm các phân xưởng sản xuất, tới phân xưởng vẽ hoa trên sứ, Bác nói "Sứ Việt Nam cần vẽ hoa Việt Nam", rồi cầm bút viết 5 chữ: "Phải cố gắng tiến bộ" trên một lọ hoa, dưới ký tên.
Và ngày 15/2/1965, lần thứ năm Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Hải Dương. Buổi sáng, Bác về xã Hồng Thái (Ninh Giang) - lá cờ đầu của phong trào làm thuỷ lợi toàn miền Bắc, nơi đã được nhận cờ luân lưu của Bác. Tại đây Bác đã nói chuyện với cán bộ, đảng viên và nhân dân địa phương. Bác nhắn nhở: "Đồng bào và cán bộ Hồng Thái chớ nên tự mãn với thành tích bước đầu, mà cần phải cố gắng hơn nữa". Trưa ngày 15/2/1965, Bác tới thăm xã Nam Chính (Nam Sách) - nơi có phong trào vệ sinh khá nhất tỉnh. Bác thăm hỏi đời sống nhân dân, xem các công trình vệ sinh như giếng nước, nhà tắm… của bà con và căn dặn: "Cái gì đã khá thì phải cố gắng để giỏi hơn nữa, cái gì còn kém thì phải cố gắng để tiến lên khá...". Bác mong Hải Dương có nhiều xã như Nam Chính.
Cũng trong lần về thăm này, Bác đã tới thăm Côn Sơn (Chí Linh), đọc bia chùa Côn Sơn, viết vào sổ lưu niệm, căn dặn cán bộ, nhân dân Hải Dương và các sư trụ trì chùa phải tích cực trồng cây phủ xanh di tích, làm cho di tích lịch sử văn hoá trở thành thắng cảnh du lịch của địa phương, "phải biến nơi đây thành tùng lâm đẹp đẽ".
Có thể nói, trong những lần về thăm Hải Dương, Bác đã nói chuyện, tặng huy hiệu, tặng quà biểu dương, khích lệ cán bộ, chiến sỹ và nhân dân. Bác khen ngợi những thành tích của nhân dân và cán bộ Hải Dương, đặc biệt là về sản xuất nông nghiệp và phong trào đổi công hợp tác xã. Đó là món quà tinh thần vô giá góp phần cổ vũ cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh quyết tâm vươn lên, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. 5 lần vinh dự được đón Bác về thăm, đã để lại những kỷ niệm sâu sắc trong tâm trí, tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân tỉnh Hải Dương, làm tăng thêm niềm tin tưởng, phấn khởi. Những lời dạy bảo ân cần, mộc mạc của Bác là những định hướng lớn cho Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hải Dương trong suốt quá trình xây dựng, phát triển đi lên từ một tỉnh thuần nông.
Khắc ghi lời Bác, nhiều năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hải Dương không ngừng vận dụng sáng tạo lời dạy, lời căn dặn của Người, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn khác nhau. Hải Dương hôm nay đang lỗ lực không ngừng để vươn lên hòa nhịp cùng sự đổi thay từng ngày, từng giờ của đất nước, phát huy truyền thống của một vùng đất giàu đẹp, văn hiến và anh hùng; sớm đưa Hải Dương trở thành tỉnh công nghiệp, tỉnh kiểu mẫu.
Hải Dương

NƯỚC NON VẠN DẶM

  "Nước non vạn dặm" là bộ tiểu thuyết lịch sử dự định gồm 4 tập của tác giả Nguyễn Thế Kỷ khắc họa hình tượng Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh cùng những trang sử bi hùng của dân tộc từ cuối thế kỷ 19 và hơn nửa đầu thế kỷ 20. Hai tập đầu của bộ tiểu thuyết đã ra mắt độc giả cả nước.

Tập 1 có tên gọi "Nợ nước non" khắc họa hình tượng Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Tất Thành và những người thân yêu từ mái tranh nghèo xứ Nghệ vào kinh đô Huế, tiếp đó là Bình Định, Phan Thiết, Sài Gòn.
Tập 2 có tên gọi "Lênh đênh bốn biển" khắc họa hình tượng Nguyễn Tất Thành, trong tên mới Nguyễn Văn Ba, rời thương cảng Sài Gòn ngày 5/6/1911 trên tàu Amiral Latouche Tréville vượt trùng khơi tìm đường cứu nước, đi trọn 30 năm từ Đông sang Tây, qua bốn biển năm châu để có chuyến trở về Tổ quốc ngày 28/1/1941.
Cả tập sách là những đoạn hội thoại để người đọc có thể nhìn rõ hơn phẩm chất vĩ đại qua những điều bình dị, thân thương của Nguyễn Tất Thành-Văn Ba-Nguyễn Ái Quốc.
Anh đã chủ đích tìm đến quê hương của những kẻ xâm lược và nô dịch đất nước mình để hiểu hơn về kẻ thù của dân tộc, tìm con đường cứu nước cứu dân.
Với các chương không quá dài và sự sáng tạo văn học đặc biệt, tập 2 bộ tiểu thuyết cho người đọc hình dung một cách sống động, chi tiết, hấp dẫn, chân thực về hành trình 30 năm của Nguyễn Ái Quốc qua biết bao quốc gia, trải biết bao công việc, gặp gỡ biết bao con người từ bình dị đến vĩ đại, những hoạt động chính trị sôi nổi của Người. Trọn vẹn trong tập 2 là hành trình của Người từ khi rời Việt Nam cho tới mùa Xuân 1941, Người trở về đất mẹ.
Tác giả Nguyễn Thế Kỷ đã biến những thông tin lịch sử khô khan thành những câu chuyện sống động gắn với cuộc đời một con người mà ngay sinh thời đã trở thành huyền thoại - Hồ Chí Minh.
Cuộc đời một con người vừa mộc mạc, bình dị, vừa vĩ đại, cao quý và thấm sâu trong đó là khát vọng, ý chí, quyết tâm tìm ra cho dân tộc một lối thoát, giành độc lập, tự do đã được khắc họa sinh động qua "Lênh đênh bốn biển".
Đọc tập 2 bộ tiểu thuyết để thấy hành trình gian lao, vất vả, trải qua bao cực nhọc nhưng cũng thấm đẫm niềm vui, hạnh phúc và những dư vị ngọt ngào của tình người, tình đời trong 30 năm "Lênh đênh bốn biển" của Nguyễn Ái Quốc.
Từ đó chúng ta trân trọng hơn những đóng góp của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh cho đất nước và dân tộc Việt Nam, thấu hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh.
Có thể nói, sau khi hoàn thành, đây sẽ là bộ tiểu thuyết đồ sộ về toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp cách mạng vĩ đại của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Bộ tiểu thuyết không chỉ là một sản phẩm văn học đơn thuần mà hơn thế nữa, đây còn là một bộ tiểu thuyết lịch sử có giá trị cho việc tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của vị lãnh tụ yêu kính của bao thế hệ người Việt Nam - Bác Hồ.
---
PGS.TS. Trần Thị Thu Hoài

Cảnh giác thủ đoạn xuyên tạc, bôi nhọ chính sách ngoại giao của Việt Nam

 Chính sách ngoại giao của Việt Nam được khẳng định trong các văn kiện của Đảng cũng như các chủ trương, đường lối liên quan, trong đó có những khái niệm được mô tả dễ hiểu, phù hợp đặc trưng của văn hoá Việt Nam như “chính sách ngoại giao cây tre”, “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy với các nước”… Trong quan hệ với các nước, Việt Nam luôn đề cao luật pháp quốc tế, sự tin cậy chính trị, đảm bảo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ.

Thành quả nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Tiếng trống lệnh” và sức mạnh hiệu triệu

 

Trong cuộc chiến phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTNTC), người đứng đầu có vai trò đặc biệt quan trọng suốt quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện và nêu gương sáng để khởi phát, dẫn dắt cao trào cách mạng. Thực tế đó được minh chứng rõ nét, thuyết phục từ quá trình vận hành đánh “giặc nội xâm” ở Việt Nam thời gian qua.

NHẬN DIỆN, ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN INTERNET, MẠNG XÃ HỘI TRONG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

 


Hiện nay, các thế lực thù địch lợi dụng internet, mạng xã hội để phát tán nhiều loại thông tin sai trái, thù địch, độc hại nhằm chống phá cách mạng nước ta, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tác động tiêu cực đến tình hình tư tưởng, làm giảm lòng tin của cán bộ, chiến sĩ vào sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, tăng cường nhận diện, đấu tranh ngăn chặn làm thất bại âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá Quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng trong tình hình hiện nay là hết sức cần thiết.

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 


Không gian mạng đang phát triển mạnh mẽ, tạo ra nhiều lợi ích đối với các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới. Mạng xã hội từng bước khẳng định vai trò thiết yếu trong đời sống xã hội, đã trở thành môi trường cung cấp, chia sẻ, trao đổi, khai thác sử dụng thông tin thâm nhập vào cuộc sống của con người; trực tiếp làm thay đổi nhận thức, hành vi của mỗi người, tác động đến sự phát triển của toàn xã hội. Bên cạnh những ưu thế của mạng xã hội đem lại cũng bộc lộ những mặt trái tác động rất lớn đến sự phát triển của toàn xã hội. Việt Nam đứng trong nhóm 20 quốc gia có số người sử dụng internet, đặc biệt là các trang mạng xã hội như: Facebook, TikTok, Zalo,… lớn nhất thế giới. Vì vậy, các thế lực thù địch và các tổ chức, cá nhân chống đối có nhiều cơ hội để lợi dụng internet, không gian mạng công khai chống đối Đảng, Nhà nước ta. Đấu tranh tư tưởng trên không gian mạng hiện nay là, nhiệm vụ trọng yếu, đòi hỏi mọi người phải luôn nhận thức đầy đủ những thách thức và yêu cầu của nhiệm vụ, xây dựng bản lĩnh, trách nhiệm và quyết tâm cao, góp phần giữ vững nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng.

CẢNH GIÁC KẺO BỊ MẤT TIỀN VỚI BỌN LỪA ĐẢO KHÁCH HÀNG


Gần đây, trên mạng xã hội facebook có nhiều lời than rằng đã bị các đối tượng xấu lừa mất tiền qua việc mua hàng tại các shop bằng các trò tinh vi, khiến cả những người thành thạo môi trường mạng xã hội cũng khó mà tránh được. Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết, đây thực sự là những chiêu lừa đảo rất tinh vi, có tổ chức và đã có nhiều người “dính bẫy” của chúng nhưng chúng vẫn ngang nhiên tồn tại, hoạt động. Hàng ngày, số lượt người bị lừa đảo vẫn không ngừng tăng lên.

Quân đội lực lượng nòng cốt đấu tranh làm thất bại âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực phản động

 


 

          “Diễn biến hòa bình” là chiến lược của các nước đế quốc và thế lực phản động quốc tế, sử dụng như một phương tiện, công cụ để tấn công các nước xã hội chủ nghĩa và những quốc gia tiến bộ nhằm thay đổi thể chế chính trị, xã hội từ bên trong theo hướng có lợi cho họ, bằng biện pháp phi quân sự là chủ yếu, thực hiện chiến thắng chủ nghĩa xã hội không cần chiến tranh, chiến lược diễn biến hòa bình” là một trong 4 nguy cơ ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ.