Thứ Ba, 6 tháng 6, 2023

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: NỖI KHIẾP SỢ CỦA KẺ THÙ VÀ ĐỈNH CAO CỦA NGHỆ THUẬT CHIẾN TRANH DU KÍCH MANG TÊN "MADE IN VIỆT NAM"!

         Đúng lúc đang đón Giao thừa chuẩn bị bước sang năm mới, Xuân Kỷ Dậu 1969, Thượng sĩ Hoàng Kim Nông, Tổ trưởng tổ chiến đấu thuộc Đại đội 1, Đoàn Đặc công 126 Hải quân (sau này là Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân) và chiến sĩ Nguyễn Văn Nhượng được cấp trên giao nhiệm vụ tiêu diệt tàu vận tải quân sự tại Cửa Việt, Quảng Trị. Thời điểm ấy, Cửa Việt có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, vì là nơi tiếp nhận, chứa trữ vũ khí, trang bị địch chuyển từ biển vào.

Theo tin trinh sát, Nông được biết, trên bờ, địch bố trí hơn 1.000 lính để tuần tra, bố phòng, canh gác; xung quanh chúng còn rào 3 hàng thép gai điện tử. Dưới sông, chúng dùng tàu tuần tiễu liên tục lùng sục, ném lựu đạn, bắn xả, ngăn không cho chiến sĩ người nhái của ta tiếp cận, đánh phá tàu. Nếu thoát được ba vòng thép gai điện tử thì cũng rất dễ dính phải lựu đạn thả rông dưới biển của địch. Mặc dù biết nhiệm vụ đặc biệt nguy hiểm, nhưng cả hai không hề run sợ. 

Đêm 20-2-1969, biển Cửa Việt tối đen như mực, trời rét căm căm, Nông và đồng đội bí mật ngụy trang, dễ dàng luồn qua ổ phục kích của địch và 3 lớp hàng rào, áp sát bờ sông Thạch Hãn. Mặc dù trời đêm, nhưng các chiến sĩ quan sát rõ tàu địch. Quanh tàu, địch liên tục ném lựu đạn xuống nước để ngăn chặn người nhái bám vào. 

Sau một thời gian quan sát thấy địch chỉ ném lựu đạn mạn tàu phía ngoài, còn mạn tàu phía trong cảng chúng không để ý, Nông đưa ra một quyết định táo bạo, đầy bất ngờ đó là bơi đường vòng vào trong cảng rồi sau đó lại bơi ra tiếp cận mục tiêu. Đúng lúc cả hai bí mật bơi ra giữa sông thì một làn đạn từ tàu địch bắn xối xả. Chiến sĩ đi cùng bị thương vào chân không thể tiếp tục bơi được nữa, Nông phải dùng dây buộc đồng đội vào người cùng với 4 quả mìn rồi rướn mình bơi tiếp. 

Vào gầm cảng, anh mới cởi dây ra, để Nhượng bám lấy trụ cầu, rồi tiếp tục bí mật bơi ra một đoạn để xác định vị trí đặt mìn vào hai chiếc tàu to nhất. Sau khi lấy hơi, Nông lặn sâu xuống nước áp sát mạn tàu địch, rồi cài mìn hẹn giờ mỗi tàu hai quả. Xong xuôi, Nông bơi ngược ra gầm cảng, buộc Nhượng vào người rồi lại tiếp tục bơi về vùng an toàn.

Sáng hôm sau, đơn vị được cơ sở báo: Một chiếc tàu trọng tải 5.000 tấn, một chiếc tàu trọng tải 4.800 tấn của địch đã bị nổ tung và chìm xuống biển. Cách đánh này sau đó đã được rút kinh nghiệm, nhân rộng, khiến địch không chống đỡ nổi. Sau chiến công này, Thượng sĩ Hoàng Kim Nông vinh dự được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất./.
Môi trường ST.

THỦ TƯỚNG ÚC ANTHONY ALBANESE: "CHẲNG CÓ NƠI NÀO BÌNH ĐẲNG NHƯ VIỆT NAM "!

     "Ở Úc bạn có thể nói Việt Nam vi phạm nhân quyền, nhưng điều bạn không thể phủ nhận khi sang Việt Nam là chẳng có nơi nào quyền được bình yên như Việt Nam"!

Đó là một góc giá trị nhân quyền thực mà Thủ tướng Úc Anthony Albanese sau khi đến Hà Nội xơi liền mấy cốc bia Trúc Bạch và bún chả Hà Nội đã thốt lên.

Đến Hà Nội không vội được đâu! Đến cả các vị Obama, António Guterres, Olaf Scholz hay Ngoại trưởng Hoa Kỳ Anthony Blinken đến Việt Nam còn tấm tắc khen nhân quyền Việt Nam thì đám phản động Việt tân tư cách gì chê bai nhân quyền Việt Nam thế chai thế lọ nhỉ.

Tôi nói thật, bình yên, đoàn kết, độc lập, tự chủ, tôn vinh giá trị gốc của người Việt cũng là một giá trị nhân quyền mà nhiều quốc gia khác vì mất gốc, mất cội nguồn không có được, còn phải nằm mơ. Ví đâu xa, nhiều kẻ cho rằng Mỹ là thiên đường của nhân quyền nhưng đố các bạn tìm được giá trị gốc của người da đỏ trên đất nước Mỹ đấy! Chỉ có Bún chả Việt Nam mới là thiên đường của thế giới, chả phải là vị nguyên thủ quốc gia nào cũng muốn thưởng thức đó sao?

Chỉ là anh chị em Việt tân mất gốc không thấy được điều này chuyên dõ m.õm về bỉ bôi đất nước./.

Yêu nước ST.

Sức sống trường tồn, giá trị vững bền của phong trào thi đua yêu nước trong xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa ngày nay

75 năm sau khi ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948-11/6/2023), tư tưởng Hồ Chí Minh về mục đích, nội dung, phương pháp và cách thức tổ chức các phong trào thi đua yêu nước thiết thực, hiệu quả phù hợp với nhiệm vụ của từng giai đoạn dưới sự lãnh đạo của Đảng vẫn vẹn nguyên giá trị thời sự. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng: Mục đích của thi đua là để “Diệt giặc đói, Diệt giặc dốt, Diệt giặc ngoại xâm”nhằm thực hiện “Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc". Từ đó các phong trào thi đua yêu nước trở thành phong trào cách mạng của quần chúng, phát triển rộng rãi, sôi nổi, ăn sâu, lan rộng khắp về mọi mặt. Bất chấp sự xuyên tạc của các phần tử cơ hội, phản động, các thế lực thù địch thì sức sống và giá trị không thể phủ nhận của phong trào thi đua yêu nước trong những thập niên qua chính là minh chứng sinh động nhất bác bỏ những luận điệu phản động, bôi đen sự thật về thi đua yêu nước được tung lên mạng xã hội thời gian qua! Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước, thì thi đua chính là động lực để phát huy lòng yêu nước và thông qua phong trào thi đua để bồi dưỡng, nâng cao lòng yêu nước, làm cho lòng yêu nước trở nên sinh động trong thực tiễn bằng chính suy nghĩ, hành động cụ thể, tích cực, sáng tạo của mỗi cá nhân, mỗi tập thể trên mọi lĩnh vực của cuộc sống. Vì thi đua “là một cách yêu nước thiết thực và tích cực” và yêu nước không chỉ là tình cảm thiêng liêng của mỗi người dân; luôn gắn liền với bổn phận, trách nhiệm của mỗi người đối với đất nước, mà còn là một truyền thống quý báu của dân tộc, là một giá trị tinh thần, luôn luôn đồng hành cùng dân tộc trong hành trình dựng nước và giữ nước, cho nên “thi đua ái quốclà ích lợi cho mình, ích lợi cho gia đình mình và lợi ích cho làng cho nước, cho dân tộc”, chứ không phải là “lợi dụng công tác thi đua để thực hiện mục đích cá nhân”; là xuyên tạc tính tích cực và bản chất thi đua thành “ganh đua”, “tranh đoạt” như các thông tin xấu độc bôi đen sự thật. Thực tế cũng cho thấy, điều đặc biệt để làm nên thắng lợi của các phong trào thi đua yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh chính là “. Thi đua ái quốc phải có phương hướng đúng và vững. Nghĩa là phải nâng cao lòng nồng nàn yêu nước và giác ngộ chính trị của mọi người. Yêu nước thì phải thi đua, thi đua tức là yêu nước. Phải có kế hoạch tỉ mỉ. Kế hoạch ấy phải do từng đơn vị nhỏ, từng gia đình, từng cá nhân bàn bạc kỹ, hiểu biết thấu, vui vẻ làm. Nghĩa là phải sao cho mỗi nhóm, mỗi người tự giác tự động. Nội dung của kế hoạch phải thiết thực, rõ ràng, đúng mực. Khi đặt kế hoạch phải tuyệt đối tránh sự sơ suất "đại khái", quá cao, phiền phức, miễn cưỡng. Thi đua không nên thiên về một phía. Phải điều hoà 3 nhiệm vụ với nhau: Tăng gia sản xuất, công việc hằng ngày và học tập (chính trị, văn hoá, tình hình trong nước và thế giới). Thi đua phải có sự lãnh đạo đúng. Trước khi thi đua phải chuẩn bị đầy đủ (giải thích, cổ động, xét kỹ kế hoạch mỗi nhóm, mỗi người). Trong lúc thi đua, phải thiết thực đôn đốc, giúp đỡ, sửa đổi. Sau đợt thi đua, phải thiết thực kiểm tra, tổng kết, phổ biến kinh nghiệm, khen thưởng những người kiểu mẫu, nâng đỡ những người kém cỏi”… Sự tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân; sự phát triển ngày càng sâu, rộng của phong trào thi đua yêu nước không chỉ chứng minh quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dưới chế độ tư bản, thực dân và phong kiến quyết không thể có phong trào thi đua yêu nước” và “chỉ có dưới chế độ dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa, dưới chế độ và nhân dân lao động làm chủ nước nhà, thì mới có phong trào thi đua” là đúng đắn, mà còn đồng thời cho thấy thi đua yêu nước theo chỉ dẫn của Người vừa thiết thực, dễ hiểu lại vừa sâu sắc, toàn diện, dễ đi vào cuộc sống, nên có sức quy tụ, hấp dẫn đông đảo quần chúng nhân dân. Thực tế cũng cho thấy, các phong trào thi đua yêu nước từ: “Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”; “Bình dân học vụ”; “Hũ gạo kháng chiến”; “Chiến sĩ ở trước mặt trận thi đua giết giặc lập công, đồng bào ở hậu phương thi đua tăng gia sản xuất”; “Ruộng rẫy là chiến trường, cuốc cày là vũ khí, nhà nông là chiến sĩ, hậu phương thi đua với tiền phương”; “Ba nhất” trong Quân đội; “Gió Đại Phong” trong nông nghiệp; “Sóng Duyên Hải” trong công nghiệp; “Hai tốt” trong ngành giáo dục; “Ba sẵn sàng” và “Năm xung phong” trong thanh niên; “Ba đảm đang” trong phụ nữ; “Thi đua Ấp Bắc giết giặc lập công”, “Dũng sĩ diệt Mỹ”, “Tìm Mỹ mà đánh, tìm Ngụy mà diệt” hay “Mỗi người làm việc bằng hai, vì miền Nam ruột thịt”… cho đến “Lao động giỏi - Lao động sáng tạo” của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; “Cựu chiến binh gương mẫu” của Hội Cựu chiến binh Việt Nam; Thi đua Quyết thắng”, “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” trong quân đội; “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, “Công an nhân dân học tập, thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy”, “Xây dựng phong cách người Công an nhân dân bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ” trong Công an hay “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển”, “Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau”, “Cán bộ, công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở”… lan tỏa sâu rộng từ Trung ương đến địa phương, ở tất cả các cấp, các ngành; trên khắp mọi miền của Tổ quốc trải dài từ sau ngày 2/9/1945 đến nay. Những phong trào nêu trên đã minh chứng: Thi đua yêu nước không chỉ trở thành động lực quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam, mà còn được nâng lên một tầm cao mới, mang hơi thở của thời đại mới.

chính sách ngoại giao đúng đắn của Việt Nam

 


 Chính sách ngoại giao của Việt Nam được khẳng định trong các văn kiện của Đảng cũng như các chủ trương, đường lối liên quan, trong đó có những khái niệm được mô tả dễ hiểu, phù hợp đặc trưng của văn hoá Việt Nam như “chính sách ngoại giao cây tre”, “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy với các nước”… Trong quan hệ với các nước, Việt Nam luôn đề cao luật pháp quốc tế, sự tin cậy chính trị, đảm bảo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ.

Tuy nhiên, các thế lực xấu thường lợi dụng những phát ngôn, những nội dung trong phát biểu của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta để cắt xén, làm sai lệch bản chất, từ đó lấy cớ bôi nhọ đường lối, chính sách ngoại giao của Việt Nam. Đáng chú ý, các thế lực thù địch, phản động thường đặt Việt Nam bên cạnh những cường quốc lớn, từ đó đưa ra quan điểm “khuyên” Việt Nam nên chọn theo nước này, chống nước kia và ngược lại, thậm chí còn cổ suý, kích động tư tưởng dân tộc cực đoan, làm “ngòi nổ” để truyền bá tư tưởng chống đối, gây chia rẽ, kỳ thị về ngoại giao, gây sự hiểu nhầm đối với người dân trong chính sách ngoại giao của Đảng, Nhà nước.

Khi lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta tiến hành các hoạt động thăm hỏi ngoại giao tại các nước cũng như khi lãnh đạo các nước thăm chính thức Việt Nam, các đối tượng chống phá tìm cách cắt ghép hình ảnh, video, cắt xén những phát ngôn của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta rồi thêm thắt, bình luận, làm sai lệch nội dung, bản chất vấn đề, cố tình thổi phồng theo hướng kích động chia rẽ kiểu bắt tay bên này để chống bên kia. Nhiều bài viết cố tình biến tấu, làm sai lệch bản chất quan điểm “ngoại giao cây tre” của Việt Nam, cho rằng đây là kiểu ngoại giao không lập trường, gió chiều nào theo chiều ấy, uốn kiểu nào cũng được, từ đó bôi nhọ rằng kiểu “ngoại giao cây tre” là không thể tin cậy, không nên tin và đi theo…

Ngày 4/6/2023, trang BBC tiếng Việt đưa bài viết nói rằng, International Institute for Strategic Studies (IISS) vừa công bố “Đánh giá về an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương năm 2023”, trong đó có nội dung bình luận Việt Nam “đang dần giảm bớt sự phụ thuộc nguồn vũ khí từ Nga và thận trọng trong quan hệ ngoại giao với Mỹ, đặc biệt về khía cạnh an ninh - quốc phòng”. IISS đưa ra những đánh giá đặt trong mối quan hệ so sánh quan hệ ngoại giao của Việt Nam với Trung Quốc và Việt Nam với Mỹ, từ đó có những bình luận mang tính định kiến, sai lệch. IISS cũng đánh giá về những vấn đề nhân sự lãnh đạo cấp cao ở Việt Nam thời gian qua và nêu quan điểm thiếu thiện chí, tạo cớ để những đối tượng xấu comment (bình luận) mang tính kích động, bôi nhọ ngay phía dưới bài viết. Thực ra, đây là kiểu chống phá theo lối tung hoả mù, cố tình đặt ra vấn đề mang hàm ý xấu để lôi kéo, câu nhử những “con rối” có tư tưởng chống đối vào “còm”, đả phá dưới bài viết, tạo ra dư luận xấu.



Báo cáo chính trị Đại hội lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh, Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá. Báo cáo cũng tái khẳng định nguyên tắc “4 không” trong chính sách quốc phòng, trong đó mục tiêu tối thượng là bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế. Khẳng định cam kết của Việt Nam tiếp tục là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Điểm cốt lõi là sự nhấn mạnh vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước. Khẳng định ngoại giao giữ vai trò trung tâm và tích cực trong bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, nâng cao năng lực quốc gia và gia tăng uy tín quốc tế của Việt Nam. Đồng thời, Đại hội lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh nhu cầu xây dựng một nền ngoại giao “toàn diện, hiện đại”, bao gồm 3 trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân cũng như sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa những trụ cột trên. Bằng việc bổ sung nội hàm “toàn diện”, Việt Nam thúc đẩy một cách rõ ràng tất cả các hình thái ngoại giao chính trị, kinh tế, quốc phòng, công chúng, văn hóa và nghị viện.

Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, công tác đối ngoại luôn giữ vai trò vô cùng quan trọng, không chỉ góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ mà còn góp phần to lớn trong xây dựng, phát triển đất nước. Trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng hiện nay, ngoại giao Việt Nam tiếp tục thực hiện sứ mệnh mới, góp phần tạo dựng và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc Tổ quốc; đồng thời linh hoạt, sáng tạo tìm ra phương cách mới thúc đẩy hợp tác quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng và phát triển kinh tế, nâng cao vị thế và gia tăng tiềm lực đất nước.

Xác định tầm quan trọng của công tác ngoại giao trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay, tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng ngày 14/12/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Quyết tâm xây dựng và phát triển một nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hiện đại và mang đậm bản sắc dân tộc - trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam”.

Hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta đã xây dựng nên một trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”. Cây tre Việt Nam “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam, đó là: “Mềm mại, khôn khéo nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định, can trường trước mọi thử thách, khó khăn vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đoàn kết, nhân ái nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Biết nhu, biết cương; biết thời, biết thế; biết mình, biết người; biết tiến, biết thoái, “tùy cơ ứng biến”, “lạt mềm buộc chặt”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã mượn hình ảnh cây tre - một biểu tượng rất mộc mạc, dung dị mà thân thuộc với người Việt Nam để gửi gắm thông điệp mang tính triết lý hết sức sâu sắc nhưng lại vô cùng gần gũi, thiết thực đối với ngành đối ngoại, ngoại giao của Việt Nam.

Trong công cuộc đổi mới đất nước, kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới và tư tưởng tiến bộ của nhân loại, công tác đối ngoại mang bản sắc “cây tre Việt Nam” đã đạt được nhiều kết quả, thành tích rất tốt đẹp. Từ phá thế bị bao vây, cấm vận, chúng ta đã tạo dựng và củng cố ngày càng vững chắc cục diện đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Đến nay, nước ta đã có quan hệ ngoại giao với 189 nước trong tổng số 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, trong đó 3 nước có “quan hệ đặc biệt”, 17 nước “đối tác chiến lược” và 13 nước “đối tác toàn diện” và là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, như Liên hợp quốc, ASEAN, APEC, ASEM, WTO... Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân và đối ngoại của các ngành, lĩnh vực, địa phương, doanh nghiệp ngày càng mở rộng, chủ động, tích cực và đi vào chiều sâu, góp phần củng cố chính trị, quốc phòng, an ninh; kinh tế, văn hóa - xã hội được đẩy mạnh, qua đó tăng cường sự tin cậy chính trị và đan xen lợi ích với các đối tác.

Từ việc đẩy mạnh công tác ngoại giao, Việt Nam tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi và huy động được các nguồn lực từ bên ngoài để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế - xã hội. Nếu cách đây 30 năm, chúng ta mới có quan hệ kinh tế - thương mại với gần 30 nước và vùng lãnh thổ thì đến nay đã có quan hệ kinh tế - thương mại với 230 nước và vùng lãnh thổ; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đến nay đã đạt khoảng 600 tỉ USD, gấp khoảng 120 lần so với những năm đầu của thời kỳ đổi mới.

Đối ngoại đã giữ vai trò tiên phong trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Các vấn đề biên giới với các nước liên quan từng bước được giải quyết, tạo điều kiện thuận lợi nhằm bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ, góp phần củng cố hòa bình, ổn định trong khu vực. Thực hiện tốt ngoại giao cây tre, kết hợp “cứng” và “mềm”, đề cao hòa hiếu, chúng ta luôn giương cao ngọn cờ hòa bình, hợp tác, tích cực trao đổi, đàm phán với các nước liên quan kiểm soát bất đồng, tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài cho các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Trên cơ sở đó, vị thế và uy tín quốc tế của nước ta trong khu vực và trên thế giới ngày càng được nâng cao, đóng góp tích cực và đầy trách nhiệm vào việc giữ vững hòa bình, hợp tác phát triển và tiến bộ trên thế giới.

Cùng với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, chúng ta cần thấm nhuần và phát huy phương pháp “ngoại giao cây tre”, nắm vững nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, vì lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc”. Cần phải chủ động, thường xuyên theo dõi, nghiên cứu, nắm chắc diễn biến tình hình khu vực, thế giới và các mối quan hệ quốc tế để kịp thời đề xuất các giải pháp thích hợp. Giữ vững quan điểm, đường lối đối ngoại, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc đường lối đối ngoại của Việt Nam, kế thừa những truyền thống, kinh nghiệm quý báu, thấm nhuần triết lý ngoại giao với bản lĩnh vững vàng, tự tin và khôn khéo.

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH ĐÚC KẾT LỊCH SỬ DÂN TỘC TRONG 210 CÂU THƠ RẤT ĐẶC SẮC

 Nếu có một lãnh tụ nào trên thế giới đủ trí tuệ để đúc toàn bộ lịch sử 4000 năm nước mình thành 210 câu thơ lục bát thì đó chỉ có thể là Nguyễn Ái Quốc - HỒ CHÍ MINH.

Dân ta phải biết sử ta,
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.
Kể năm hơn bốn ngàn năm,
Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hoà.
Hồng Bàng là tổ nước ta.
Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang.
Thiếu niên ta rất vẻ vang,
Trẻ con Phù Đổng tiếng vang muôn đời.
Tuổi tuy chưa đến chín mười,
Ra tay cứu nước dẹp loài vô lương.
An Dương Vương thế Hùng Vương,
Quốc danh Âu Lạc cầm quyền trị dân.
Triệu Đà là vị hiền quân,
Quốc danh Nam Việt trị dân năm đời.
Nước Tàu cậy thế đông người,
Kéo quân áp bức giống nòi Việt Nam.
Quân Tàu nhiều kẻ tham lam,
Dân ta há dễ chịu làm tôi ngươi?
Hai Bà Trưng có đại tài,
Phất cờ khởi nghĩa giết người tà gian,
Ra tay khôi phục giang san,
Tiếng thơm dài tạc đá vàng nước ta.
Tỉnh Thanh Hoá có một bà,
Tên là Triệu Ẩu tuổi vừa đôi mươi,
Tài năng dũng cảm hơn người,
Khởi binh cứu nước muôn đời lưu phương.
Phụ nữ ta chẳng tầm thường,
Đánh Đông, dẹp Bắc làm gương để đời,
Kể gần sáu trăm năm giời,
Ta không đoàn kết bị người tính thôn.
Anh hùng thay ông Lý Bôn,
Tài kiêm văn võ, sức hơn muôn người,
Đánh Tàu đuổi sạch ra ngoài.
Lập nên Triều Lý sáu mươi năm liền.
Vì Lý Phật Tử ngu hèn,
Để cho Tàu lại xâm quyền nước ta.
Thương dân cực khổ xót xa,
Ông Mai Hắc Đế đứng ra đánh Tàu,
Vì dân đoàn kết chưa sâu,
Cho nên thất bại trước sau mấy lần.
Ngô Quyền quê ở Đường Lâm,
Cứu dân ra khỏi cát lầm ngàn năm.
Đến hồi Thập nhị sứ quân,
Bốn phương loạn lạc, muôn dân cơ hàn.
Động Hoa Lư có Tiên Hoàng,
Nổi lên gây dựng triều đàng họ Đinh.
Ra tài kiến thiết kinh dinh,
Đến vua Phế Đế chỉ kinh hai đời.
Lê Đại Hành nối lên ngôi.
Đánh tan quân Tống, đuổi lui Xiêm Thành.
Vì con bạo ngược hoành hành,
Ra đời thì đã tan tành nghiệp vương.
Công Uẩn là kẻ phi thường,
Dựng lên nhà Lý cầm quyền nước ta.
Mở mang văn hoá nước nhà,
Đắp đê để giữ ruộng nhà cho dân.
Lý Thường Kiệt là hiền thần,
Đuổi quân nhà Tống, phá quân Xiêm Thành.
Tuổi già phỉ chí công danh,
Mà lòng yêu nước trung thành không phai.
Họ Lý truyền được chín đời,
Hai trăm mười sáu năm giời thì tan.
Nhà Trần thống trị giang san,
Trị yên trong nước, đánh tan địch ngoài,
Quân Nguyên binh giỏi tướng tài:
Đánh đâu được đấy, dông dài Á, Âu,
Tung hoành chiếm nửa Âu châu,
Chiếm Cao Ly, lấy nước Tàu bao la,
Lăm le muốn chiếm nước ta,
Năm mươi vạn lính vượt qua biên thuỳ,
Hải quân theo bể kéo đi,
Hai đường vây kín Bắc Kỳ như nen.
Dân ta nào có chịu hèn,
Đồng tâm, hợp lực mấy phen đuổi Tàu.
Ông Trần Hưng Đạo cầm đầu,
Dùng mưu du kích đánh Tàu tan hoang,
Mênh mông một giải Bạch Đằng,
Nghìn thu soi rạng giống dòng quang vinh,
Hai lần đại phá Nguyên binh,
Làm cho Tàu phải thất kinh rụng rời.
Quốc Toản là trẻ có tài,
Mới mười sáu tuổi ra oai trận tiền,
Mấy lần đánh thắng quân Nguyên,
Được phong làm tướng cầm quyền binh nhung.
Thật là một đấng anh hùng,
Trẻ con Nam Việt nên cùng noi theo.
Đời Trần văn giỏi võ nhiều,
Ngoài dân thịnh vượng, trong triều hiền minh.
Mười hai đời được hiển vinh,
Đến Trần Phế Đế nước mình suy vi.
Cha con nhà Hồ Quý Ly,
Giết vua tiếm vị một kỳ bảy niên.
Tình hình trong nước không yên,
Tàu qua xâm chiếm giữ quyền mấy lâu,
Bao nhiêu của cải trân châu,
Chúng vơ vét chở về Tàu sạch trơn.
Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn,
Mặc dầu tướng ít binh đơn không nàn.
Mấy phen sông Nhị núi Lam,
Thanh gươm yên ngựa Bắc, Nam ngang tàng.
Kìa Tuý Động nọ Chi Lăng,
Đánh hai mươi vạn quân Minh tan tành.
Mười năm sự nghiệp hoàn thành,
Nước ta thoát khỏi cái vành nguy nan.
Vì dân hăng hái kết đoàn,
Nên khôi phục chóng giang san Lạc Hồng.
Vua hiền có Lê Thánh Tông,
Mở mang bờ cõi đã khôn lại lành.
Trăm năm truyền đến cung hoàng,
Mạc Đăng Dung đã hoành hành chiếm ngôi.
Bấy giờ trong nước lôi thôi,
Lê nam, Mạc bắc rạch đôi san hà,
Bảy mươi năm nạn can qua.
Cuối đời mười sáu Mạc đà suy vi.
Từ đời mười sáu trở đi,
Vua Lê, Chúa Trịnh chia vì khá lâu.
Nguyễn Nam, Trịnh Bắc đánh nhau,
Thấy dân cực khổ mà đau đớn lòng.
Dân gian có kẻ anh hùng,
Anh em Nguyễn Nhạc nổi vùng Tây Sơn,
Đóng đô ở đất Quy Nhơn,
Đánh tan Trịnh, Nguyễn, cứu dân đảo huyền.
Nhà Lê cũng bị mất quyền,
Ba trăm sáu chục năm truyền vị vương.
Nguyễn Huệ là kẻ phi thường,
Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu,
Ông đà chí cả mưu cao,
Dân ta lại biết cùng nhau một lòng.
Cho nên Tàu dẫu làm hung,
Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà.
Tướng Tây Sơn có một bà,
Bùi là nguyên họ, tên là Thị Xuân,
Tay bà thống đốc ba quân,
Đánh hơn mấy trận, địch nhân liệt là.
Gia Long lại dấy can qua,
Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài.
Tự mình đã chẳng có tài,
Nhờ Tây qua cứu, tính bài giải vây.
Nay ta mất nước thế này,
Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà,
Khác gì cõng rắn cắn gà,
Rước voi dầy mả, thiệt là ngu si.
Từ năm Tân Hợi trở đi,
Tây đà gây chuyện thị phi với mình.
Vậy mà vua chúa triều đình,
Khư khư cứ tưởng là mình khôn ngoan.
Nay ta nước mất nhà tan
Cũng vì những lũ vua quan ngu hèn.
Năm Tự Đức thập nhất niên,
Nam Kỳ đã lọt dưới quyền giặc Tây.
Hăm lăm năm sau trận này,
Trung Kỳ cũng mất, Bắc Kỳ cũng tan,
Ngàn năm gấm vóc giang san,
Bị vua họ Nguyễn đem hàng cho Tây!
Tội kia càng đắp càng đầy,
Sự tình càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Nước ta nhiều kẻ tôi trung,
Tấm lòng tiết nghĩa rạng cùng tuyết sương.
Hoàng Diệu với Nguyễn Tri Phương,
Cùng thành còn mất làm gương để đời.
Nước ta bị Pháp cướp rồi,
Ngọn cờ khởi nghĩa nhiều nơi lẫy lừng;
Trung Kỳ đảng Phan Đình Phùng
Ra tay đánh Pháp, vẫy vùng một phương.
Mấy năm ra sức Cần Vương,
Bọn ông Tán Thuật nổi đường Hưng Yên,
Giang san độc lập một miền,
Ông Hoàng Hoa Thám đất Yên tung hoành.
Anh em khố đỏ, khố xanh,
Mưu khởi nghĩa tại Hà thành năm xưa,
Tỉnh Thái Nguyên với Sầm Nưa,
Kế nhau khởi nghĩa rủi chưa được toàn.
Kìa Yên Bái, nọ Nghệ An
Hai lần khởi nghĩa tiếng vang hoàn cầu.
Nam Kỳ im lặng đã lâu,
Năm kia khởi nghĩa đương đầu với Tây.
Bắc Sơn đó, Đô Lương đây!
Kéo cờ khởi nghĩa, đánh Tây bạo tàn.
Xét trong lịch sử Việt Nam,
Dân ta vốn cũng vẻ vang anh hùng.
Nhiều phen đánh bắc dẹp đông,
Oanh oanh liệt liệt con Rồng cháu Tiên.
Ngày nay đến nỗi nghèo hèn,
Vì ta chỉ biết lo yên một mình.
Để người đè nén, xem khinh,
Để người bóc lột ra tình tôi ngươi!
Bây giờ Pháp mất nước rồi,
Không đủ sức, không đủ người trị ta.
Giặc Nhật Bản thì mới qua,
Cái nền thống trị chưa ra mối mành.
Lại cùng Tàu, Mỹ, Hà, Anh,
Khắp nơi có cuộc chiến tranh rầy rà.
Ấy là nhịp tốt cho ta,
Nổi lên khôi phục nước nhà tổ tông.
Người chúng ít, người mình đông
Dân ta chỉ cốt đồng lòng là nên.
Hỡi ai con cháu Rồng Tiên!
Mau mau đoàn kết vững bền cùng nhau.
Bất kỳ nam nữ, nghèo giàu,
Bất kỳ già trẻ cùng nhau kết đoàn.
Người giúp sức, kẻ giúp tiền,
Cùng nhau giành lấy chủ quyền của ta.
Trên vì nước, dưới vì nhà,
Ấy là sự nghiệp, ấy là công danh.
Chúng ta có hội Việt Minh
Đủ tài lãnh đạo chúng mình đấu tranh
Mai sau sự nghiệp hoàn thành
Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng
Dân ta xin nhớ chữ đồng:
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh!
ST


Ta tự hào về Việt Nam

 


 Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em mang những

đặc điểm văn hóa đa dạng bản sắc, trong đó dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ lớn nhất,

cư trú phân tán và xen kẽ nhau. Bảo vệ và thúc đẩy phát triển bình đẳng dân tộc,

phát triển quyền con người là chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt

Nam. Việt Nam luôn xem con người là trung tâm, là động lực của quá trình đổi

mới và công cuộc phát triển đất nước, nỗ lực vì mục tiêu nâng cao đời sống,

quyền thụ hưởng của người dân, không để ai bị bỏ lại phía sau. Các quyền cơ

bản của con người được ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam, được bảo vệ, thúc


đẩy bởi các văn bản pháp luật cụ thể và được triển khai trong thực tiễn. Tất cả

mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có nghĩa vụ tuân thủ các quy định

của pháp luật. Bất cứ ai vi phạm pháp luật đều phải bị chế tài tương ứng. Nhà

nước nỗ lực để bảo đảm sự thụ hưởng đầy đủ các quyền của mỗi người dân

trong một xã hội an toàn, trật tự và công bằng. Không ai bị bắt giữ, xét xử vì

thực hiện các quyền con người một cách chính đáng.

Vấn đề dân chủ, nhân quyền được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm

lãnh đạo, chỉ đạo với nhiều chủ trương, chính sách và giải pháp đúng đắn, phù

hợp và đạt được nhiều kết quả thiết thực, không thể phủ nhận. Tôn trọng, thực

thi, bảo vệ nhân quyền là một chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt

Nam. Tuy Ngày Nhân quyền thế giới bắt đầu có từ 10/12/1948 nhưng quyền con

người, quyền công dân của người dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã

được hiến định tại Hiến pháp 1946 và tiếp tục được bổ sung rõ ràng hơn, đầy đủ

hơn tại các Hiến pháp 1959, 1980, 1992 và nhất là tại Hiến pháp 2013. Tính đến

năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp

quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao

động quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản liên quan đến các lĩnh vực

thương lượng tập thể, phòng, chống phân biệt đối xử, lao động trẻ em và lao

động cưỡng bức…

Việc Việt Nam trúng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ

thứ 2 (2023- 2025) và với những đóng góp trực tiếp vào công tác bảo vệ, thúc

đẩy quyền con người trên toàn thế giới là minh chứng về vị thế, uy tín của Việt

Nam, phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Những đóng

góp cho nhân quyền thế giới của Việt Nam đã và đang được quốc tế có những

đánh giá cao, là những thành tựu không thể phủ nhận, góp phần khẳng định

tiếng nói về quyền con người của Việt Nam với thế giới. Những kết quả, thành

tựu to lớn trên lĩnh vực thúc đẩy, bảo vệ, bảo đảm quyền con người mà Việt

Nam đã đạt được là minh chứng sinh động cho thấy quan điểm, chủ trương,


đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam là đúng đắn,

là vì quyền con người.

Những thành tựu Việt Nam đạt được thể hiện rõ trên các lĩnh vực như

trong xây dựng hệ thống pháp luật, triển khai thực thi quyền con người; tham gia

ký các công ước quốc tế, điều ước quốc tế về quyền con người và cam kết thực

hiện, coi đó là trách nhiệm chính trị, pháp lý của Nhà nước. Việt Nam hoàn

thành trước hầu hết các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDG) và đang tích

cực triển khai thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững (SDG), nhất là đóng

góp của Việt Nam tại Hội đồng Nhân quyền (với chu kỳ III, Việt Nam đã thực

hiện nghiêm túc, trách nhiệm 82,6% các khuyến nghị đã chấp thuận). Cùng với

đó, việc khởi động tiến trình Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV là thêm

một minh chứng cho thấy không phải Việt Nam “sợ nhân quyền”, “không thực

thi nhân quyền” như các luận điệu xuyên tạc mà là luôn chú trọng đảm bảo nhân

quyền, quyền công dân cho người dân. Ngày 3/4/2023 (giờ địa phương), tại trụ

sở Văn phòng Liên Hiệp quốc tại Geneva (Thụy Sỹ), Hội đồng Nhân quyền Liên

Hiệp quốc đã đồng thuận thông qua Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn

quốc tế về nhân quyền (UDHR) và 30 năm Tuyên bố cùng Chương trình hành

động Viên (VDPA) do Việt Nam đề xuất và soạn thảo.

Chuyến thăm tốt đẹp của Ngoại trưởng Hoa Kỳ Anthony Blinken đã một

lần nữa khẳng định về một Việt Nam yên bình, thân thiện và mến khách. Những

giá trị và truyền thống tốt đẹp, sự hiếu khách cùng những trải nghiệm thanh

bình, ấm cúng đã để lại ấn tượng tốt đẹp trong cảm nhận của Ngoại trưởng Hoa

Kỳ cũng như các chính khách từng đến Việt Nam. Điều đó đã và đang giúp Việt

Nam trở thành điểm đến thân thiện trong mắt bạn bè quốc tế, đồng thời bác bỏ

những luận điệu của các thế lực xấu vu cáo Việt Nam không có tự do, dân chủ,

nhân quyền…

TẠO “THẾ TRẬN LÒNG DÂN” VỮNG CHẮC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 Tạo “thế trận lòng dân” vững chắc trên không gian mạng là một đòi hỏi tất yếu, vừa mang tính cấp bách, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài.

Xây dựng “thế trận lòng dân” là bài học quý trong quá trình dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc ta. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, bài học đó vẫn còn nguyên giá trị. Hiện nay, trước xu thế toàn cầu hóa, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã tạo nên không gian mạng rộng khắp, mà ở đó con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian, thời gian. Chính vì vậy, tạo “thế trận lòng dân” vững chắc trên không gian này vừa là vấn đề cấp bách, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong những năm qua, “thế trận lòng dân” ở từng địa bàn có lúc còn chưa vững chắc; niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước có thời điểm giảm sút… Xuất phát từ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, chúng triệt để lợi dụng mạng xã hội để xuyên tạc, chống phá ta; kích động biểu tình, bạo loạn. Thống kê gần đây cho thấy, bình quân hằng tháng các thế lực thù địch phát tán hơn 130.000 bài viết, video, clip xuyên tạc trên mạng xã hội. Chúng tận dụng tính năng phát trực tuyến của mạng xã hội làm công cụ phát tán thông tin xấu, độc. Chúng tung tin giả, nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội hòng gây mất ổn định chính trị và ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội.
Chúng ta không thể phủ nhận, không gian mạng đem lại cho con người rất nhiều tiện ích, nhất là khi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và c.h.u.y.ể.n đ.ổ.i s.ố trở thành xu hướng tất yếu của nhân loại. Việc sử dụng mạng xã hội là nhu cầu chính đáng của mỗi tổ chức, cá nhân.
Để không gian mạng hoạt động theo chiều hướng tích cực, trước hết chúng ta phải nâng cao nhận thức của các cấp, ngành và mỗi công dân về vị trí, vai trò của mạng xã hội và tạo “thế trận lòng dân” vững chắc trên không gian này.
Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hành lang pháp lý, nhằm tạo ra một không gian mạng lành mạnh, hữu ích, góp phần quan trọng vào sự phát triển đất nước. Đồng thời phải có chế tài đủ mạnh để ngăn chặn, răn đe những hành vi, thủ đoạn lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ; sử dụng không gian mạng kích động, lôi kéo, xuyên tạc sự thật; phá hoại an ninh quốc gia - trật tự an toàn xã hội, gây chia rẽ, mất đoàn kết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân và quân đội.
Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng và Ban Chỉ đạo bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong xây dựng “thế trận lòng dân”. Phát huy tốt vai trò cơ quan tuyên giáo, các cơ quan thông tấn báo chí trong việc cung cấp thông tin, kịp thời định hướng dư luận trước những sự kiện lớn, các vấn đề được xã hội quan tâm.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, định hướng cho nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ có đủ sức “đề kháng”, “miễn dịch” trước các thông tin xấu, độc, xuyên tạc sự thật, các vấn đề tiêu cực trên mạng xã hội. Khuyến khích, động viên để các tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp và mỗi công dân tham gia mạng xã hội tuân thủ đúng pháp luật, có tri thức, văn hóa. Cần có cơ chế để nhân dân tham gia giám sát, đấu tranh phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch, những vấn đề tiêu cực trên không gian mạng và cổ vũ cái tốt, cái tích cực, theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”.
Có thể khẳng định, tạo “thế trận lòng dân” vững chắc trên không gian mạng là một đòi hỏi tất yếu, khách quan, đồng thời vừa mang tính cấp bách, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo./.
ST


DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN, LUẬN ĐIỆU CŨ RÍCH CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 


       Những thành quả và quan điểm của Việt Nam về dân chủ, nhân quyền là rất rõ ràng, đúng đắn. Thế nhưng trên một số trang mạng vẫn có những cá nhân, tổ chức tán phát bài viết xuyên tạc, bác bỏ, cố tình phủ nhận những thực tế về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Họ phủ nhận tất cả, từ những nỗ lực của Nhà nước Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật đến cuộc đấu tranh chống tham nhũng hiện nay.

Bên cạnh đó, chúng còn thường xuyên đăng tải và phát tán trên mạng Internet những  thông tin sai trái, dựng chuyện hoặc “có ít xít ra nhiều” một số vấn đề xã hội; “tận dụng triệt để” những bức xúc trong đời sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên để “thổi phồng”… nhằm tạo sự hoài nghi trong xã hội, làm giảm sút ý chí, từng bước hạ thấp rồi làm mất lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ.

Chúng ta hiểu rằng, chiêu bài “dân chủ, nhân quyền” chỉ là một trong những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã và đang áp dụng hòng mong muốn xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Vì thế, hai trong nhiều vấn đề then chốt mà các học thuyết “dân chủ, nhân quyền” kiểu phương Tây cho rằng “cần áp dụng đối với Việt Nam” là xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng và xóa bỏ vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng Cộng sản.

Cần khẳng định dù họ có áp đặt, vu khống đến đâu thì cũng không thể phủ nhận một thực tế rằng Việt Nam là một nước luôn tôn trọng và phát huy dân chủ, bảo đảm các quyền tự do dân chủ của con người. Điều này được thể hiện ngay trong hệ thống quan điểm, đường lối chính sách của Đảng Cộng sản, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và từ thực tiễn đời sống xã hội ở Việt Nam.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về Lời kêu gọi thi đua ái quốc đối với công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn cách mạng hiện nay

 Ngày 11 tháng 6 năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, phát động phong trào thi đua yêu nước trên toàn quốc và Bác đã chỉ rõ: “Bổn phận của người dân Việt Nam, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh; bất kỳ làm việc gì, đều cần phải thi đua nhau: Làm cho mau, làm cho tốt, làm cho nhiều…”.

Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh được truyền đi như lời hiệu triệu, lôi cuốn, động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta phát huy truyền thống yêu nước, cùng đoàn kết, tạo sức mạnh đưa cách mạng Việt Nam giành được thắng lợi vẻ vang.
Thấm nhuần tư tưởng về thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện lời dạy của Người: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Trong 75 năm qua, thực hiện tư tưởng thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các phong trào thi đua yêu nước ở nước ta đã diễn ra sôi nổi, rộng khắp trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nội dung và hình thức thi đua ngày càng đổi mới phong phú, đa dạng. Đảng, Nhà nước đã truy tặng, phong tặng nhiều tập thể, cá nhân nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động, vinh danh Mẹ Việt Nam Anh hùng, tặng thưởng hàng trăm nghìn huân chương, huy chương, Chiến sỹ Thi đua toàn quốc và tuyên dương, biểu dương hàng triệu điển hình tiên tiến tiêu biểu trong cả nước,… góp phần quan trọng vào công cuộc giải phóng dân tộc, bảo tồn, phục hưng và phát triển đất nước.
Trong giai đoạn hiện nay, thấm nhuần tư tưởng thi đua của Chủ tịch Hồ Chí Minh và thực hiện lời dạy của Người “càng khó khăn, càng phải thi đua”, thi đua, khen thưởng là động lực phát triển, là biện pháp quan trọng để xây dựng con người mới. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để có những giải pháp nhằm không ngừng đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng, tích cực góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn hiện nay, đó là:
1. Tiếp tục quán triệt sâu sắc tư tưởng về thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh; chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng; vị trí, vai trò và tác dụng to lớn của phong trào thi đua yêu nước; về phong trào thi đua trong giai đoạn mới và vai trò của tổ chức đảng, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị về chất lượng, hiệu quả các phong trào thi đua.
2. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền nhằm góp phần nâng cao hiệu quả việc phát hiện, bồi dưỡng, tuyên truyền, nhân rộng các phong trào thi đua yêu nước, các điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt. Tổ chức thực hiện các phong trào thi đua sôi nổi, thiết thực nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, tạo sự đồng thuận của toàn xã hội; phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung; kiên quyết khắc phục khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
3. Tổ chức thực hiện tốt và có kết quả các hoạt động thiết thực chào mừng kỷ niệm 75 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948 - 11/6/2023). Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng; chú trọng tổ chức, triển khai các phong trào thi đua yêu nước trên tất cả các lĩnh vực gắn với “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.
4. Tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 07/4/2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng; Quyết định số 1526/QĐ-TTg ngày 09/12/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tuyên truyền gương điển hình tiên tiến giai đoạn 2022 - 2025”. Đồng thời, triển khai, quán triệt đầy đủ, kịp thời Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng và các văn bản hướng dẫn thi hành đảm bảo sôi nổi, thiết thực với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, bám sát các nhiệm vụ chính trị được giao, hướng vào các nhiệm vụ trọng tâm, tạo sự đồng bộ, nhịp nhàng trong việc tổ chức thực hiện để thi đua thực sự trở thành động lực to lớn của toàn Đảng, toàn dân, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề ra./.
ST


chính sách ngoại giao đúng đắn của Việt Nam

 


Khi lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta tiến hành các hoạt động thăm hỏi ngoại giao tại các nước cũng như khi lãnh đạo các nước thăm chính thức Việt Nam, các đối tượng chống phá tìm cách cắt ghép hình ảnh, video, cắt xén những phát ngôn của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta rồi thêm thắt, bình luận, làm sai lệch nội dung, bản chất vấn đề, cố tình thổi phồng theo hướng kích động chia rẽ kiểu bắt tay bên này để chống bên kia. Nhiều bài viết cố tình biến tấu, làm sai lệch bản chất quan điểm “ngoại giao cây tre” của Việt Nam, cho rằng đây là kiểu ngoại giao không lập trường, gió chiều nào theo chiều ấy, uốn kiểu nào cũng được, từ đó bôi nhọ rằng kiểu “ngoại giao cây tre” là không thể tin cậy, không nên tin và đi theo…

Báo cáo chính trị Đại hội lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh, Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá. Báo cáo cũng tái khẳng định nguyên tắc “4 không” trong chính sách quốc phòng, trong đó mục tiêu tối thượng là bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế. Khẳng định cam kết của Việt Nam tiếp tục là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Điểm cốt lõi là sự nhấn mạnh vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước. Khẳng định ngoại giao giữ vai trò trung tâm và tích cực trong bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, nâng cao năng lực quốc gia và gia tăng uy tín quốc tế của Việt Nam. Đồng thời, Đại hội lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh nhu cầu xây dựng một nền ngoại giao “toàn diện, hiện đại”, bao gồm 3 trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân cũng như sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa những trụ cột trên. Bằng việc bổ sung nội hàm “toàn diện”, Việt Nam thúc đẩy một cách rõ ràng tất cả các hình thái ngoại giao chính trị, kinh tế, quốc phòng, công chúng, văn hóa và nghị viện.

Hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta đã xây dựng nên một trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”. Cây tre Việt Nam “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam, đó là: “Mềm mại, khôn khéo nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định, can trường trước mọi thử thách, khó khăn vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đoàn kết, nhân ái nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Biết nhu, biết cương; biết thời, biết thế; biết mình, biết người; biết tiến, biết thoái, “tùy cơ ứng biến”, “lạt mềm buộc chặt”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã mượn hình ảnh cây tre - một biểu tượng rất mộc mạc, dung dị mà thân thuộc với người Việt Nam để gửi gắm thông điệp mang tính triết lý hết sức sâu sắc nhưng lại vô cùng gần gũi, thiết thực đối với ngành đối ngoại, ngoại giao của Việt Nam.

Trong công cuộc đổi mới đất nước, kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới và tư tưởng tiến bộ của nhân loại, công tác đối ngoại mang bản sắc “cây tre Việt Nam” đã đạt được nhiều kết quả, thành tích rất tốt đẹp. Từ phá thế bị bao vây, cấm vận, chúng ta đã tạo dựng và củng cố ngày càng vững chắc cục diện đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Đến nay, nước ta đã có quan hệ ngoại giao với 189 nước trong tổng số 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, trong đó 3 nước có “quan hệ đặc biệt”, 17 nước “đối tác chiến lược” và 13 nước “đối tác toàn diện” và là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, như Liên hợp quốc, ASEAN, APEC, ASEM, WTO... Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân và đối ngoại của các ngành, lĩnh vực, địa phương, doanh nghiệp ngày càng mở rộng, chủ động, tích cực và đi vào chiều sâu, góp phần củng cố chính trị, quốc phòng, an ninh; kinh tế, văn hóa - xã hội được đẩy mạnh, qua đó tăng cường sự tin cậy chính trị và đan xen lợi ích với các đối tác.

Đối ngoại đã giữ vai trò tiên phong trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Các vấn đề biên giới với các nước liên quan từng bước được giải quyết, tạo điều kiện thuận lợi nhằm bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ, góp phần củng cố hòa bình, ổn định trong khu vực. Thực hiện tốt ngoại giao cây tre, kết hợp “cứng” và “mềm”, đề cao hòa hiếu, chúng ta luôn giương cao ngọn cờ hòa bình, hợp tác, tích cực trao đổi, đàm phán với các nước liên quan kiểm soát bất đồng, tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài cho các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Trên cơ sở đó, vị thế và uy tín quốc tế của nước ta trong khu vực và trên thế giới ngày càng được nâng cao, đóng góp tích cực và đầy trách nhiệm vào việc giữ vững hòa bình, hợp tác phát triển và tiến bộ trên thế giới.

Cùng với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, chúng ta cần thấm nhuần và phát huy phương pháp “ngoại giao cây tre”, nắm vững nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, vì lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc”. Cần phải chủ động, thường xuyên theo dõi, nghiên cứu, nắm chắc diễn biến tình hình khu vực, thế giới và các mối quan hệ quốc tế để kịp thời đề xuất các giải pháp thích hợp. Giữ vững quan điểm, đường lối đối ngoại, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc đường lối đối ngoại của Việt Nam, kế thừa những truyền thống, kinh nghiệm quý báu, thấm nhuần triết lý ngoại giao với bản lĩnh vững vàng, tự tin và khôn khéo./.

ANH HÙNG TÔ VĂN ĐỰC - NGƯỜI NÔNG DÂN CHẾ MÌN DIỆT XE TĂNG MỸ

 Đầu tháng 02/1962, thanh niên Tô Văn Đực - một người con của Củ Chi lúc đấy vừa tròn 20 tuổi, đã gia nhập vào đội ngũ dân quân du kích xã Nhuận Đức. Anh được tổ chức phân công phụ trách công xưởng sửa chữa những vũ khí hỏng hóc.

Dù chỉ biết chữ đủ để biết đọc biết viết nhưng người thanh niên Tô Văn Đực đã làm được những điều khiến người ta ngưỡng mộ: Ông đã cải tiến từ súng ngựa trời bắn tầm gần đến súng trường bắn tầm xa cho du kích chiến đấu. Khẩu súng ngắn K54 dành cho cán bộ cũng được nâng cấp từ 8 lên 14 viên.
Năm 1966, khi Mỹ tiến hành càn quét trên diện rộng với sự yểm trợ của xe tăng, máy bay, pháo hạng nặng âm mưu nhằm tiêu diệt quân chủ lực của ta. Ông kể lại: "Thời ấy làm gì có B40 để chống lại xe tăng, anh Tám Thạnh lúc ấy cho tôi mượn 2 quả mìn cán. Tôi đặt ngay lỗ châu mai, cách khoảng 50 thước, xe đi ngang cán đúng mìn nổ. Từ đó tôi thấy tính năng của mìn có thể bẻ được cuộc càn của xe tăng".
Phát hiện ra điều này, ngay lập tức, ông Đực cùng đồng đội bắt tay vào sản xuất mìn cán nhằm chặn bước tiến của xe tăng địch. Nhưng, để chế tạo được mìn, chàng trai trẻ Tô Văn Đực khi ấy không ít lần đứng giữa ranh giới sinh tử. Ban ngày ông cùng đồng đội tranh thủ đi nhặt bom không nổ về cưa ra rồi lấy thuốc nổ, những quả bom không nổ đó đã trở thành nguồn thuốc nổ quý giá cho du kích của ta chế tạo mìn. Sau đó ông chế tạo ra loại mìn gạt để đánh xe tăng được hiệu quả hơn.
Nhờ những quả mìn gạt của Tô Văn Đực, hàng loạt xe tăng Mỹ đã bị quân ta hạ gục. Xe tăng địch trúng mìn, trực thăng sà xuống lấy xác, cánh quạt thổi mạnh làm nổ tung những quả mìn gạt được gài xung quanh.
Ông là tấm gương về sự can trường và tinh thần vươn lên. Ngày 17/9/1967, Tô Văn Đực được Mặt trận Giải phóng miền Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân khi mới 24 tuổi.
Tin đó rất nhanh chóng được dư luận thế giới kháo nhau về một anh nông dân chế tạo mìn phá tăng khiến Mỹ ngỡ ngàng và điêu đứng.
Sau khi hòa bình lặp lại, ông vẫn tiếp tục có những cống hiến ở lĩnh vực kỹ thuật quân sự, trong vai trò là Phó Chủ nhiệm kỹ thuật Quân khu 7.
Giờ đây khi đã nghỉ hưu, Cựu chiến binh Tô Văn Đực vẫn nhớ về những chiến tích xưa, nhớ những ngày tháng cùng đồng đội chiến đấu./.
ST


NGUYÊN TẮC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG LÀ KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

 

 Nhiều năm qua, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị luôn dùng mọi thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hòng phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng, phá vỡ sự đoàn kết, thống nhất, chặt chẽ về mặt tổ chức và hoạt động của Đảng, làm cho Đảng tan rã cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ hòng thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng.

Để thực hiện âm mưu này, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị đã lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí, núp bóng dân chủ, đội lốt nhân quyền rêu rao cho rằng: tập trung và dân chủ là hai mặt không thể thống nhất, đã tập trung thì không thể có dân chủ, đã dân chủ thì không thể tập trung, tập trung với dân chủ như lửa với nước, nên hoặc chỉ có tập trung, hoặc chỉ có dân chủ .

Thực chất các luận điệu này là muốn tách rời, đối lập tập trung và dân chủ nhằm phủ nhận một mặt nào đó để Đảng dẫn tới dân chủ vô chính phủ, khi đó sự chặt chẽ, thống nhất trong tổ chức và hoạt động của Đảng bị phá vỡ, Đảng mất sức chiến đấu, uy tín của Đảng bị giảm sút, không còn đủ sức lãnh đạo cách mạng, Đảng sẽ mất vai trò lãnh đạo.

Trong bối cảnh đất nước ta thực hiện công cuộc đổi mới, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị cho rằng: nguyên tắc tắc tập trung dân chủ chỉ phù hợp khi Đảng còn hoạt động bí mật hoặc trong điều kiện chiến tranh, nay thời bình, nguyên tắc đó là lỗi thời, không còn phù hợp, là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn tới trì trệ, tiêu cực. Điều nguy hiểm hơn, họ lợi dụng những khuyết điểm, sai phạm trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những vụ việc tham nhũng, lãng phí, tiêu cực để đổ lỗi cho những khuyết điểm, hạn chế đó đều do nguyên tắc tắc tập trung dân chủ không còn phù hợp.

Lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm, nhất là khi Đảng ta đẩy mạnh thực hiện xây dựng, chỉnh đốn Đảng, với quan điểm “không có vùng cấm”, “không có trường hợp ngoại lệ” đã xử lý nghiêm nhiều cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng sai phạm, làm trong sạch Đảng, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị đã xuyên tạc, bóp méo sự thật, quy chụp, đánh đồng hiện tượng thành bản chất. Họ cho rằng, tham nhũng là bản chất của Đảng, là hệ quả của thực hiện nguyên tắc tắc tập trung dân chủ, là lợi ích nhóm, lợi ích của cán bộ, đảng viên. Họ cho rằng: chống tham nhũng là để thanh trừng phe cánh chứ không phải là để làm cho Đảng sạch hơn, mạnh hơn.

Sự thật hoàn toàn trái ngược: trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhiệm vụ chống tham nhũng được coi là phương thuốc chữa bệnh đặc hiệu, làm cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh. Với quan điểm “xử một người, cứu muôn người”, “chặt cành để cứu cây”, Đảng sẽ thật sự trong sạch, thật sự xứng đáng với sứ mệnh lịch sử và trọng trách mà nhân dân giao phó. “Cuộc đại phẫu” này tuy đau đớn, nhưng cần thiết và được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Chưa khi nào uy tín của Đảng được nâng cao như ngày nay. Vì vậy, những luận điểm đánh lận bản chất, bôi đen mục tiêu của Đảng cần phải được nhận diện và đấu tranh.

TRANG SỔ LƯƠNG CỦA BÁC HỒ KHI LÀM PHỤ BẾP TRÊN TÀU PHÁP NĂM 1911

 Ngày 5/6/1911, lấy tên Văn Ba, người thanh niên Nguyễn Tất Thành nhận làm phụ bếp cho tàu Amiral Latouche Tréville rời cảng Sài Gòn sang Pháp, bắt đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước.

Tàu Amiral Latouche Tréville thuộc hãng Chargeurs Réunis, dân ta quen gọi là hãng Năm Sao do ống khói các tàu của hãng sơn biểu tượng hình năm ngôi sao. Đây là một trong những tàu lớn đầu thế kỷ XX, vừa chở hàng, vừa chở khách. Làm việc trên tàu, Nguyễn Tất Thành được giao nhặt rau, vác khoai, rửa nồi, cào lò, xúc than...
Hình ảnh trang sổ lương (đăng trong bài viết này) là một trong những trang sổ lương của Nguyễn Tất Thành được sao lại từ cuốn sổ lương của tàu Amiral Latouche Tréville do Bảo tàng Hồ Chí Minh sưu tầm tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại tại Aix en Provence, Pháp. Trên tài liệu này có ghi rõ tên Văn Ba và tên hai người Việt Nam khác là Lê Quang Chi và Nguyễn Văn Trị cũng làm công trên tàu với mức lương là 45 franc/1 tháng. Trong khi đó, những phụ bếp người Pháp cùng làm việc như vậy thì hưởng lương nhiều gấp ba.
Sau khi trả tiền ăn, tiền nộp cho cai bếp, góp vào quỹ bảo hiểm cho riêng thủy thủ người Pháp, thực tế Nguyễn Tất Thành chỉ còn nhận được 10 franc. Trên trang sổ lương này còn ghi Nguyễn Tất Thành đã làm việc trên tàu được hai tháng 27 ngày và tổng số tiền nhận được đến thời điểm đó là 124.5 franc.
Tuy phải làm nhiều công việc nặng nhọc nhưng mỗi khi được nghỉ, Nguyễn Tất Thành lại tranh thủ đọc và viết tiếng Pháp với sự giúp đỡ của những thủy thủ Pháp trên tàu.
Theo hành trình của tàu, chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã được đi đến nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều người và biết được nhiều điều mới lạ. Sau những năm tháng ấy, Nguyễn Tất Thành đã rút ra được kết luận quan trọng thể hiện trong bài Đoàn kết giai cấp đăng trên báo Le Paria, số ra tháng 5 năm 1924 có nội dung: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một tình hữu ái là thật mà thôi - tình hữu ái vô sản”./.
ST


Đấu tranh chống suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống

 


          Sai phạm của những cá nhân nêu trên đã được Ban Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII chỉ rõ: ...Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; vi phạm Quy định về những điều đảng viên không được làm, Quy định trách nhiệm nêu gương; gây hậu quả rất nghiêm trọng, làm thất thoát, lãng phí lớn ngân sách nhà nước; ảnh hưởng đến công tác phòng, chống dịch Covid-19; gây bức xúc trong xã hội; ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng...

Kết luận này dựa trên kết quả kiểm tra cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng có dấu hiệu vi phạm của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, thực hiện theo quy định của Điều lệ Đảng. Căn cứ nội dung, tính chất, mức độ hậu quả, nguyên nhân vi phạm, theo quy định của Đảng về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với Ban cán sự Đảng Bộ Khoa học và Công nghệ nhiệm kỳ 2016-2021, Ban cán sự Đảng Bộ Y tế nhiệm kỳ 2016-2021. Ban Bí thư quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng đối với ông Phạm Công Tạc. Ban Chấp hành Trung ương thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng đối với ông Chu Ngọc Anh và ông Nguyễn Thanh Long.

Trong kết luận sai phạm của những cá nhân nêu trên, cụm từ “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” được nhấn mạnh, đặt lên hàng đầu. Điều này khẳng định, suy thoái là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, là gốc rễ dẫn đến những sai phạm, vi phạm kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước của những cán bộ, đảng viên giữ trọng trách trong tổ chức đảng và hệ thống chính trị của đất nước.

Sự nguy hại của suy thoái đã được Đảng ta cảnh báo, nhấn mạnh trong Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII: “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc... Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”.

Suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên để lại hậu quả, nguy cơ vô cùng tai hại đối với Đảng và dân tộc. Cán bộ giữ chức vụ càng cao bị suy thoái thì hậu quả, nguy cơ đối với Đảng, với chế độ càng lớn. Nhìn lại những vụ việc, vụ án tham nhũng được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm thời gian qua, trong đó có nhiều cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý bị đưa ra xét xử, chúng ta thấy, tính chất, mức độ vi phạm ngày càng nghiêm trọng.

Đây là lần đầu tiên kể từ Đại hội XII, Ban Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng xem xét, kết luận hành vi sai phạm của những cán bộ, đảng viên thuộc diện Trung ương quản lý là “suy thoái về tư tưởng chính trị”.

Đây cũng là lần đầu tiên trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng từ Đại hội XII, việc xử lý sai phạm của cán bộ, đảng viên cấp cao và hành vi vi phạm pháp luật của công dân được Đảng, Nhà nước, Quốc hội và cơ quan hành pháp các cấp thực hiện kịp thời, nhanh chóng, chỉ trong một thời gian rất ngắn.

Việc xử lý nghiêm khắc, kịp thời, thống nhất, đồng bộ... đối với những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước thể hiện tinh thần quyết liệt, không có vùng cấm trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta. Qua những vụ việc này cho thấy, suy thoái như là một loại “virus” lây bệnh nguy hiểm, không trừ một ai. Nó có thể tấn công, làm biến dạng, biến chất ngay cả những người được đào tạo bài bản, có học hàm, học vị cao; ngay cả những cán bộ giữ cương vị chủ chốt, trọng trách trong Đảng.