Thứ Năm, 8 tháng 6, 2023

Có phải “bỏ sâu to, bắt sâu nhỏ”

Trước hết, phải khẳng định rằng, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn xác định: Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là một trụ cột trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Đây là yêu cầu tất yếu, khách quan, là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng và chế độ. Vì vậy, phải kiên quyết, kiên định, kiên trì, đấu tranh trực diện, không khoan nhượng với tham nhũng, tiêu cực; bảo đảm "trên dưới đồng lòng", "dọc ngang thông suốt". Trong cuốn sách "Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh" vừa xuất bản, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đấu tranh phòng, chống tham nhũng là một việc làm cần thiết, tất yếu, là một xu thế không thể đảo ngược”... Đồng chí Tổng Bí thư đã cương quyết chỉ đạo: Phải tiến hành thật kiên quyết, kiên trì, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không chịu bất kỳ một sức ép nào của bất cứ tổ chức, cá nhân nào. Ai ngại đấu tranh, không làm được thì đứng sang một bên...

Thực tế đã chứng minh, trong những năm qua, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả mang tính đột phá với rất nhiều vụ án, vụ việc được phát hiện, xử lý nghiêm khắc từ Trung ương đến cơ sở. Nhận rõ thực tế đằng sau nhiều vụ tham nhũng, tiêu cực, nhất là những vụ đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thường có bóng dáng của một số cán bộ đứng đầu đơn vị, địa phương, ngành, thậm chí cả cán bộ Trung ương, Đảng, Nhà nước ta đã kiên quyết chỉ đạo các cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra, thanh tra, điều tra làm rõ và xử lý nghiêm khắc, triệt để; kiên quyết không để sót lọt người vi phạm và những cán bộ làm ngơ, dung túng, tiếp tay, bao che.

Chỉ riêng năm 2022 đã thi hành kỷ luật 539 đảng viên do tham nhũng, cố ý làm trái. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 47 cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý (tăng 15 trường hợp so với năm trước); cho thôi giữ chức Ủy viên Trung ương Đảng (khóa XIII) đối với 5 đồng chí; cho thôi giữ chức vụ đối với 2 phó thủ tướng Chính phủ, 3 thứ trưởng và tương đương; các địa phương đã cho từ chức, miễn nhiệm 3 chủ tịch HĐND, chủ tịch UBND tỉnh theo chủ trương sắp xếp, bố trí công tác đối với cán bộ bị xử lý kỷ luật, uy tín giảm sút. Qua công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, đã chuyển 557 vụ việc có dấu hiệu tội phạm sang cơ quan điều tra để xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật (tăng gấp hơn hai lần so với năm 2021). Trong năm 2022, trên cả nước đã khởi tố mới 493 vụ/1.123 bị can về tội tham nhũng (tăng 163 vụ/328 bị can so với năm 2021).

Trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã kiên quyết xử lý và chỉ đạo xử lý nghiêm những người đứng đầu, cán bộ cấp cao có vi phạm. Theo thống kê của cơ quan chức năng, giai đoạn 2012-2022, Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật hơn 190 cán bộ diện Trung ương quản lý (có 4 ủy viên Bộ Chính trị, 36 ủy viên và nguyên ủy viên Trung ương Đảng, hơn 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang)... Đặc biệt, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, Đảng, Nhà nước đã xử lý và chỉ đạo xử lý kỷ luật, xử lý hình sự, cho thôi chức vụ, nghỉ công tác... nhiều cán bộ cấp cao, trong đó có không ít người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương, đơn vị... và báo chí đã đăng thông tin này rất công khai. Như vậy, không thể nói là cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam là "bỏ sâu to, bắt sâu nhỏ" như các đối tượng thù địch, phản động rêu rao, xuyên tạc.

Mặt khác, tuy Việt Nam đã xử lý không ít cán bộ cấp cao, người đứng đầu các cấp có hành vi tham nhũng, tiêu cực hoặc để xảy ra tham nhũng, tiêu cực trong cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình, thế nhưng đó chỉ là những "con sâu làm rầu nồi canh", hoàn toàn không phải như thông tin mà các thế lực chống phá rêu rao, quy chụp rằng "hầu hết cán bộ đứng đầu tham nhũng". Thực tế cho thấy, những cán bộ có vi phạm, tham nhũng, tiêu cực chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong đội ngũ cán bộ nói chung, những người đứng đầu các cấp nói riêng. Tuyệt đại đa số cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt, người đứng đầu các cấp trong hệ thống chính trị đã nỗ lực phấn đấu phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là điển hình tiêu biểu nhất. Theo kết quả điều tra dư luận xã hội do Ban Tuyên giáo Trung ương tiến hành mới đây, tuyệt đại đa số ý kiến người dân (93%) bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của những người đứng đầu trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Cũng cần nói thêm là, tham nhũng là hiện tượng xã hội tiêu cực, xấu xa mà thời nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có; đó là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực. Lịch sử nhân loại cho thấy, tình trạng tham nhũng trong bộ phận quan chức, những người đứng đầu đã trở thành vấn nạn nhức nhối, xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có cả những nước vốn được coi là kiểm soát quyền lực tốt. Việc các đối tượng thù địch, phản động, bất mãn cho rằng chế độ chủ nghĩa xã hội là nguyên nhân sinh ra tham nhũng ở Việt Nam và hầu hết cán bộ đứng đầu đều tham nhũng, tiêu cực là hoàn toàn không đúng sự thật, thể hiện góc nhìn chẳng những rất phiến diện mà còn là cố tình xuyên tạc, thổi phồng nhằm thực hiện mưu đồ thâm độc chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta.


Giải pháp tăng cường giữ vững sự lãnh đạo của Đảng trong công tác đối ngoại

 

          Trước các diễn biến phức tạp của thời cuộc, quan hệ ngoại giao của Việt Nam đã góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước. Quan hệ ngoại giao của Việt Nam với một số nước lớn tuy có lúc trải qua thăng trầm nhưng hợp tác hữu nghị vẫn là dòng chảy chính. Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với các nước láng giềng, trong đó có Trung Quốc, coi đây là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam.

          Việt Nam kiên quyết sử dụng mọi biện pháp phù hợp với luật pháp của Việt Nam và luật pháp quốc tế để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo của Tổ quốc; đồng thời quyết tâm, kiên trì, kiên quyết giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Điều này luôn được cộng đồng quốc tế ủng hộ mạnh mẽ. Trong tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, cần tăng cường hiệu quả công tác nghiên cứu, dự báo tình hình, phát huy vai trò của đội ngũ chuyên gia đối ngoại trong nghiên cứu, tham mưu, đóng góp vào việc xây dựng chính sách và triển khai đường lối đối ngoại của Đảng. Tích cực đổi mới nội dung, phương thức thông tin đối ngoại, ứng dụng hiệu quả thành tựu công nghệ thông tin, truyền thông để tăng cường thông tin, quảng bá về đất nước, con người, thành tựu của Việt Nam và đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta.
          Cùng với những giải pháp căn cơ trên, trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, cần chủ động phát hiện, xử lý kịp thời và nghiêm minh theo pháp luật đối với các hoạt động chống phá đường lối đối ngoại của Đảng. Kiên quyết không để các thế lực thù địch, cơ hội tập hợp lực lượng, gây rối chính trị, làm mất an ninh trật tự, gây rối loạn lòng dân, ảnh hưởng tới lợi ích đất nước.

          Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý các hoạt động báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, internet, mạng xã hội (Facebook, Zalo, Twitter, Telegram...), các cuộc hội thảo, hợp tác nghiên cứu khoa học xã hội về những vấn đề tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền, đối ngoại... Tuyệt đối không để xảy ra sơ hở khiến kẻ thù có thể lợi dụng xâm nhập, thu thập bí mật, phủ nhận, truyền bá quan điểm tư tưởng thù địch, kích động, xuyên tạc phá hoại đường lối đối ngoại đúng đắn, tiến bộ của Đảng và Nhà nước ta./.

Đường lối ngoại giao độc lập tự cường của Đảng ta

 

          Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn nhất quán tư duy độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hoạt động đối ngoại, tạo dựng nên truyền thống và bản sắc riêng, rất độc đáo của nền ngoại giao và đường lối đối ngoại Việt Nam “đầy hào khí, giàu tính nhân văn, hòa hiếu, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định. Trong thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống và bản sắc ngoại giao đó càng được bồi đắp, phát huy, tỏa sáng.

          Từ khi đổi mới đến nay, Đảng ta không ngừng bổ sung, hoàn thiện quan điểm, phương châm của đường lối đối ngoại, đó là: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” (Đại hội VII); “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội IX); “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội XI, Đại hội XII).

          Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.
          Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng, Nhà nước ta nói chung, trong đó có chính sách đối ngoại quốc phòng “4 không” nói riêng là kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đường lối đó có cơ sở lý luận, khoa học, thực tiễn, cơ sở pháp lý vững chắc, có sự tham khảo ý kiến của các tầng lớp nhân dân một cách dân chủ, công khai.

          Thực tế cho thấy, trong quan hệ quốc tế đương đại, các nước, đặc biệt là các nước lớn luôn có xu hướng vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau như: Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ... Do đó, những luận điệu cho rằng việc “đi theo”, “liên minh” với nước này để chống nước khác nhằm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo không những phản động, sai lầm mà còn thể hiện tư tưởng yếu hèn, trái với phương châm đối ngoại thêm bạn, bớt thù của Đảng ta.

Đề cao cảnh giác tình trạng văn hóa xấu độc xâm nhập vào đơn vị Quân đội

 Trong bối cảnh hiện nay, ngoài những hiện tượng tiêu cực của xã hội tác động đến tâm lý, tình cảm của bộ đội, các thế lực thù địch cũng ra sức lợi dụng không gian mạng, dùng mọi thủ đoạn tinh vi, thâm hiểm nhằm thẩm thấu những nội dung, sản phẩm văn hóa xấu độc vào môi trường Quân đội, hòng làm cho quân nhân chạy theo ham muốn tầm thường, từ đó nhạt phai lý tưởng, xa rời mục tiêu chiến đấu, sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa xấu độc vào đơn vị  thường thông qua một số con đường sau.

Thứ nhất, xâm nhập thông qua việc quân nhân sử dụng internet và mạng xã hội. Các thế lực thù địch tận dụng tối đa những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại để tán phát sản phẩm văn hóa xấu độc trên internet và mạng xã hội với nhiều chiêu thức mới, tinh vi. Thông qua internet và các nền tảng mạng xã hội mà quân nhân sử dụng, các sản phẩm văn hóa xấu độc trôi nổi tràn lan trên không gian mạng có thể thẩm thấu, tác động và gây ảnh hưởng xấu đến nhân cách quân nhân.

Thứ hai, xâm nhập thông qua hoạt động giải trí vào ngày nghỉ, giờ nghỉ. Tưởng chừng như sản phẩm văn hóa xấu độc không thể xâm nhập bằng con đường này vào đơn vị, nhưng thực tế vẫn xảy ra. Một bộ phận quân nhân vẫn lén lút, tùy tiện nghe, xem các sản phẩm nghệ thuật thiếu lành mạnh như xem phim bạo lực, khiêu dâm, sản phẩm nhạc chế với lời lẽ thô tục.

Thứ ba, xâm nhập khi cán bộ, chiến sĩ được đi phép, tranh thủ, làm nhiệm vụ độc lập và công tác xa. Đây là con đường xâm nhập nhanh nhất, có tính chủ động nhất và ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển lành mạnh của nhân cách quân nhân. Sau thời gian dài sống và làm việc trong môi trường chính quy, kỷ luật, khi được đi phép, tranh thủ, nếu không có bản lĩnh chính trị vững vàng thì quân nhân thường tìm cách để “xả hơi” và sẵn sàng tiếp cận, thu nạp các sản phẩm văn hóa xấu độc.

Về phương thức, cơ chế xâm nhập là “mưa dầm thấm lâu”, chủ yếu là bí mật (trong các hội nhóm kín trên các nền tảng mạng xã hội phổ biến như Facebook, Zalo, Viber, Instagram...) trên điện thoại thông minh, máy tính bảng, máy tính xách tay; các sản phẩm văn hóa xấu độc có cơ chế lây lan theo cấp số nhân với tốc độ nhanh và khó kiểm soát.

Các sản phẩm văn hóa xấu độc xâm nhập vào đơn vị Quân đội “ngấm” dần vào tâm lý, sở thích, kích thích những ham muốn vật chất tầm thường của mỗi quân nhân, qua đó từng bước làm thay đổi các thang giá trị phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, làm cho một số quân nhân xao nhãng mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, lơ là chức trách, nhiệm vụ được giao; khơi dậy bản năng thấp hèn, chạy theo lạc thú, lợi ích vật chất tầm thường.

Vì vậy, mọi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội hãy nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên định với mục tiêu, lý tưởng, rèn luyrnj bản lĩnh chính trị, tỉnh táo cảnh giác không bị các thế lực thù địch lợi dụng nhằm phá hoại quân đội, góp phần xây dựng Quân đội ngày càng vững mạnh./.

07.6

Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

 

          Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một mô hình được sáng tạo từ những giá trị cốt lõi, nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự vận dụng sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam từ lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

          Theo Mác, “giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia”.  Lênin cũng đưa ra chính sách kinh tế mới nhằm khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế, phát triển quan hệ hàng hóa, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Giải quyết mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất là nội dung cốt lõi của kinh tế chính trị Mác - Lênin  mà bất cứ thời đại nào cũng cần chú trọng. Việt Nam đang trải qua thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng đã vận dụng đúng đắn và sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thừa nhận những bất cập do quá trình cải biến cách mạng xã hội tạo thành, để từ đó không ngừng điều chỉnh, xây dựng quan hệ sản xuất mới, tiến bộ hơn, tích lũy cơ sở vật chất cho xã hội xã hội chủ nghĩa.

          Ngày nay, các thành phần kinh tế không ngừng phát triển, mang lại những đóng góp tích cực cho nền kinh tế Việt Nam. Song, Đảng cũng thẳng thắn thừa nhận còn tồn tại tình trạng bóc lột trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đây là một hiện tượng kinh tế khách quan của nền kinh tế thị trường, nhưng với sự lãnh đạo, định hướng của Đảng trong xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, chúng ta không để tình trạng này trở thành bản chất của nền sản xuất cũng như bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua địa vị thống trị của giai cấp tư sản chứ không phải phủ nhận hoàn toàn những yếu tố tích cực, tiến bộ của chủ nghĩa tư bản.

          Do đó kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nghĩa là một mô hình kinh tế phát huy được hết sức mạnh của các nguồn lực, đảm bảo lợi ích kinh tế được đặt trong mối quan hệ sâu sắc với tính định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là một phép cộng đơn thuần mà là mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế thị trường và tính định hướng xã hội chủ nghĩa.

          Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã giúp chúng ta  thoát khỏivòng luẩn quẩn trong xử lý mối quan hệ giữa kinh tế và xã hội như nhiều nước tư bản lớn hiện nay đang phải đối mặt.

Cố tình xuyên tạc, bôi nhọ cán bộ chủ chốt

Mới đây, trên một số trang mạng, các đối tượng phản động đăng bài viết có nội dung đả kích, xuyên tạc, rêu rao rằng: Những người đứng đầu các cơ quan nhà nước đang “nêu gương đạo đức giả" trước người dân (!); tham nhũng ở Việt Nam diễn ra tràn lan là do hỏng từ người đứng đầu (!); đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam chỉ "tắm từ vai xuống" (!) và thực chất là "cuộc chiến phe phái" (!)...

Cùng với đó, một số bài viết của những kẻ chống phá đã cố tình vu khống, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước, Quân đội, người đứng đầu các cấp. Chúng tung tin nhảm rằng: Cán bộ A, cán bộ B đã nhúng chàm, cán bộ C đang bị giam lỏng...

Ở khía cạnh khác, có đối tượng phản động, bất mãn lại rêu rao: Ngoài hầu hết cán bộ đứng đầu tham nhũng thì số còn lại do “thế hèn sức mọn” nên cố tình né tránh, không dám đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực (!). Chúng còn đưa ra luận điệu vu cáo cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam chỉ là "bỏ sâu to, bắt sâu nhỏ” và "sâu to bắt sâu nhỏ”(?)... Rồi chúng dùng chiêu bài "phỏng vấn những người yêu nước” (thực chất là những người đang có tư tưởng bất mãn, phản động) để những người này bày tỏ ủng hộ những điều vu khống, xuyên tạc, quy chụp của chúng, bịa đặt rằng "người dân Việt Nam đã mất niềm tin vào những người đứng đầu" (!)...

Điều ai cũng nhận thấy là các thế lực thù địch, phản động, bất mãn đều tập trung vu khống, quy chụp, xuyên tạc, nói xấu đội ngũ cán bộ chủ chốt, nhất là người đứng đầu, bởi âm mưu, thủ đoạn chống phá của chúng vô cùng nham hiểm, tinh vi: Làm mất niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào đội ngũ cán bộ chủ trì, chủ chốt. Chúng coi đó là biện pháp hiệu quả nhất, con đường ngắn nhất để làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chúng triệt để lợi dụng việc nhiều người dân không có điều kiện tiếp xúc với lãnh đạo cấp cao, khó kiểm chứng thông tin... để tăng cường thực hiện "mưu hèn kế bẩn" này.

Luận điệu sai trái của những kẻ thù địch về những quy luật cốt lõi trong hệ thống học thuyết của kinh tế chính trị Mác - Lênin

 

          Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của nền sản xuất hàng hóa mà đỉnh cao là nền kinh tế thị trường. Những kẻ chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin muốn phủ định quy luật giá trị khi đưa ra những hiện tượng, sự vật cá biệt để chứng minh quy luật này sai, không còn ý nghĩa và giá trị khoa học trong thời đại ngày nay.

          Những kẻ tự cho mình hiểu học thuyết Mác - Lênin đã sử dụng những ví dụ cũ rích và đã sai ngay từ phương pháp tiếp cận khi lấy một sự vật, hiện tượng cá biệt nằm ngoài quy luật kinh tế trong hệ thống học thuyết Mác để phủ nhận giá trị khoa học trong những nghiên cứu của ông. Họ dựa vào những hình thái của hàng hóa trong xã hội hiện đại, đánh đồng giữa trí tuệ nhân tạo với máy móc để khẳng định máy móc cũng tạo ra giá trị thặng dư - từ đó cổ vũ cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, chỉ trích chủ nghĩa Mác đã lỗi thời, lạc hậu, xóa nhòa đi ý nghĩa to lớn của quy luật sản xuất giá trị thặng dư mà Mác đã dày công nghiên cứu, phát hiện. Những thế lực thù địch còn đề cập đến những nội dung xoay quanh vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất, dùng những thứ dân chủ giả hiệu để phê phán sở hữu của chủ nghĩa xã hội. Chúng cho rằng, chủ nghĩa xã hội sẽ cướp đi quyền sở hữu của con người, cổ súy cho việc dùng quyền sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất để nô dịch lao động của người khác; khẳng định sự điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản sẽ xóa bỏ bóc lột thông qua việc đề cập đến những chính sách ưu đãi công nhân, người lao động của các tập đoàn tư bản lớn.

          Cố tình hạ thấp, thậm chí phủ nhận giá trị khoa học của quy luật giá trị, quy luật sản xuất giá trị thặng dư, thế lực thù địch muốn khẳng định sự tồn tại vĩnh cửu của chủ nghĩa tư bản, đánh đồng kinh tế thị trường và chủ nghĩa tư bản. Chúng coi kinh tế thị trường là riêng có của chủ nghĩa tư bản, và cả chủ nghĩa tư bản cũng như kinh tế thị trường của chủ nghĩa tư bản là xu hướng tất yếu và duy nhất của nhân loại. Chúng cho rằng sẽ không cần và không có một mô hình kinh tế thị trường nào khác kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Từ đó, chúng đưa ra quan điểm phủ nhận chủ nghĩa xã hội, phủ nhận kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

          Dù có cố tình thế nào đi nữa thì Quy luật giá trị trong học thuyết của Mác - Lênin cũng vẫn là một quy luật đúng đắn và khách quan, không thể có thế lực nào muốn xoá bỏ, xuyên tác được. Tất cả những luận điệu xuyên tạc về quy luật giá trị này đều là chủ quan, vì những mục đích thấp hèn, cá nhân mà thôi.

Một số giải pháp đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội

     Những năm qua, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần giữ vững, bổ sung và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi các âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch, phản động, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, không ngừng củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động lại càng hằn học tìm mọi cách để chống phá. Lợi dụng bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp, nhanh chóng, khó dự báo, tình hình trong nước còn nhiều khó khăn, thách thức, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đi vào chiều sâu đặt ra những vấn đề lý luận và thực tiễn rất mới, trước đây chưa từng có, các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị tăng cường chống phá chúng ta.

Chúng thay đổi phương thức, thủ đoạn chống phá, tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng một cách tinh vi và xảo quyệt hơn. Hoạt động của chúng có lúc âm thầm, lẩn khuất, có lúc công khai, trắng trợn; thường tập trung vào thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị trong nước, sự kiện đối ngoại quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, hoặc thời điểm xảy ra các vụ, việc phức tạp, nhạy cảm.

 Để tiếp tục đấu tranh có hiệu quả, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, chúng ta cần chú trọng thực hiện tốt một số giải pháp như sau:

Một là, quán triệt sâu sắc tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tiếp tục kiên quyết, kiên trì thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra, nhận thức rõ đây là nhiệm vụ chính trị vừa cấp bách, vừa thường xuyên và lâu dài, không chỉ là công việc của các cơ quan Đảng, Nhà nước mà là của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân. Khẳng định vững chắc quan điểm có tính nguyên tắc, mang ý nghĩa sống còn của Đảng ta, đó là: Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.   

Hai là, đặc biệt coi trọng việc kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Đa dạng hóa nội dung, phương thức, hình thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở nhiều cấp độ, phù hợp với từng đối tượng, từng lĩnh vực và mỗi tầng lớp nhân dân. Cùng với việc nhận diện rõ các thông tin xấu, độc, xuyên tạc, cần kết hợp đấu tranh trực diện và gián tiếp để phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội theo kịch bản chặt chẽ, tổ chức chiến dịch truyền thông thống nhất, đa dạng, rộng rãi, có sự phối hợp đồng bộ của nhiều lực lượng để tăng tính hiệu quả và sức lan tỏa. Đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về truyền thông, báo chí, nhất là quản lý thông tin trên internet và mạng xã hội. Khẩn trương hoàn thiện các quy định pháp lý về quản lý các hoạt động trên không gian mạng, tạo căn cứ để cảnh báo, răn đe và xử lý các trường hợp vi phạm.

Ba là, tăng cường các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để phát hiện sớm, ngăn chặn tận “gốc” nguồn phát tán những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch, ngăn chặn các trang mạng độc hại. Đồng thời, xây dựng mới các trang mạng, báo chí có nội dung đấu tranh của ta bám sát thực tiễn, tuyên truyền sâu rộng với lập luận sắc bén, “chắc tay”, thuyết phục về các thành tựu phát triển của đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các định hướng, nhiệm vụ chính trị, kinh tế-xã hội của đất nước, của địa phương, với phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, từng bước giành thế chủ động, làm chủ thế trận tiến công về thông tin tư tưởng, lý luận trên internet. Cán bộ, đảng viên phải thật sự nêu gương sáng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, trước hết. Muốn đấu tranh, trước hết phải tránh xa cám dỗ, thói hư, tật xấu, xây dựng đạo đức thực thi công vụ trong sáng, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; kiên trì, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Bốn là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu để định hình, thiết lập hệ thống luận cứ, luận điểm đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; chú ý nhận diện những vấn đề mà các thế lực thù địch tập trung chống phá để xây dựng luận cứ khoa học thuyết phục, phục vụ và trực tiếp đấu tranh phản bác. Tập trung bảo vệ và làm lan tỏa những nội dung mới, tầm nhìn, định hướng, nhiệm vụ trọng tâm, đột phá chiến lược trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, tạo sự đồng thuận trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tăng cường tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển và hoàn thiện hệ thống lý luận; trong đó, chú trọng bổ sung, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những vấn đề lý luận mới về: Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị, quốc phòng, an ninh trong tình hình mới... Nghiên cứu trên quan điểm khách quan, khoa học những tư tưởng, học thuyết, lý thuyết mới, tiến bộ để chắt lọc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại. Đồng thời, nghiên cứu sâu các vấn đề quốc tế, các sự kiện gây “sốc” trên thế giới, để “mở mắt” cho các thế lực thù địch, phản động - những kẻ thường xuyên viện dẫn một cách lệch lạc, khập khiễng các vấn đề bên ngoài để bôi xấu, chỉ trích, xuyên tạc tình hình trong nước.

Năm là, gắn kết chặt chẽ yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục cán bộ, đảng viên, học viên, sinh viên, với công tác tổ chức, cán bộ, bảo vệ nội bộ, xây dựng tổ chức đảng và xây dựng đơn vị trong sạch, vững mạnh. Đặc biệt đẩy mạnh công tác tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân, nhất là trong giới trẻ về lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng và lịch sử Đảng, từ đó hình thành nhân sinh quan cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực phân biệt đúng - sai, khả năng miễn nhiễm trước các thông tin xấu, độc. Tiếp tục phát triển đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tư tưởng, lý luận có bản lĩnh, trí tuệ, năng lực, phương pháp và kỹ năng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành, có nhiệt huyết và tầm cao về lý luận; xây dựng đội ngũ cán bộ kế cận, cán bộ trẻ. Tạo môi trường thuận lợi, bảo đảm điều kiện làm việc để người tài chuyên tâm, nỗ lực đóng góp vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tích cực tìm kiếm, nhân rộng những mô hình hay, những cách làm đổi mới, sáng tạo, hiệu quả, những tấm gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến; chia sẻ kinh nghiệm tuyên truyền, đấu tranh; khen thưởng những cá nhân có thành tích xuất sắc trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

07.6

Lời cảnh tỉnh cho người tham gia mạng xã hội

 Hiến pháp và pháp luật Việt Nam ghi nhận, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền tự do dân chủ của mọi công dân, trong đó có quyền tự do ngôn luận, quyền được bảo vệ về danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền về hình ảnh của công dân. Pháp luật cho phép mọi công dân đều có quyền bày tỏ quan điểm, thái độ của mình về các Tuy nhiên, quyền tự do ngôn luận của chủ thể này sẽ bị giới hạn bởi quyền tự do ngôn luận và các quyền tự do dân chủ khác của chủ thể khác. Luật pháp nghiêm cấm việc lợi dụng quyền tự do dân chủ để xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác, xâm phạm đến bí mật Nhà nước, bí mật đời tư cá nhân hoặc sử dụng trái phép thông tin, hình ảnh của người khác. Người nào lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp để có những phát ngôn bịa đặt, sai sự thật, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác, tố cáo người khác không có căn cứ hoặc sử dụng các thông tin, hình ảnh bí mật đời tư của người khác mà không được phép thì sẽ bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, tùy thuộc vào tính chất, mức độ và hậu quả xảy ra.

Thời gian qua, nhiều người đã lạm dụng tính năng phát trực tiếp của mạng xã hội để đưa ra những thông tin bịa đặt, sai sự thật, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác vì nhiều mục đích, như bịa đặt, vu khống, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng đến môi trường mạng. Nhiều trường hợp đã bị cơ quan chức năng xử lý nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật. Đây là bài học cho những ai có biểu hiện coi thường pháp luật, thích nổi tiếng trên mạng xã hội bằng cách lợi dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

07.6

Cảnh giác với “comment bẩn” trên mạng xã hội

 

Lợi dụng mặt trái của mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cố tình tán phát các thông tin xấu độc, không đúng sự thật lên không gian mạng, rồi tạo ra các bình luận nhằm lôi kéo, kích động cộng đồng mạng tham gia, thành lập các hội, nhóm tự phát để bàn tán, chỉ trích, xuyên tạc, bôi nhọ danh dự, uy tín người khác.

Mục tiêu của họ là gieo rắc các nhận thức sai lầm, tâm lý hoài nghi, tâm trạng bất an, bức xúc trong xã hội và cộng đồng; ngấm ngầm kích động các tư tưởng bất tuân, chống đối luật pháp, chuẩn mực xã hội, cộng đồng; xúi giục các hành vi bạo loạn, bạo lực... Nhiều người gọi đây là những “comment bẩn”.

Để ngăn chặn “comment bẩn” cần phải thực hiện một số giải pháp sau:

Một là: Chú trọng công tác lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường các biện pháp giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức của công dân về pháp luật, nhất là Luật An ninh mạng; các chỉ thị, quy định về cung cấp, phát triển, sử dụng các nền tảng mạng xã hội; ý thức, trách nhiệm và những nguyên tắc khi tham gia các nền tảng mạng xã hội của người dân. Hoàn thiện các quy định về quản lý thông tin trên mạng xã hội; tập trung nghiên cứu xây dựng luật về quản lý thông tin trên mạng, Luật An ninh mạng để có thể tạo ra hành lang pháp lý đầy đủ, phù hợp; tích cực xây dựng khung khổ pháp luật khoa học, tiến bộ để truyền thông xã hội hoạt động, phát triển lành mạnh, đúng hướng và quản lý tốt mạng xã hội.

Các nhà cung cấp dịch vụ và người sử dụng mạng xã hội thực hiện nghiêm túc Bộ quy tắc ứng xử trên mạng xã hội, hướng tới xây dựng môi trường mạng xã hội lành mạnh, an toàn tại Việt Nam. Các cá nhân, tổ chức cần phải có trách nhiệm pháp lý với các thông tin đưa lên mạng xã hội nhằm hạn chế tối đa những phát ngôn “vô tội vạ”, xâm phạm đời tư, hạ thấp uy tín, bôi nhọ danh dự của cá nhân, tổ chức trên mạng xã hội. Xây dựng và hoàn thiện các văn bản thực hiện Luật Báo chí, trong đó chú trọng việc nâng cao vai trò định hướng thông tin của các cơ quan báo chí chủ lực, tích cực, chủ động phê phán, phản bác thông tin xấu, độc trên mạng xã hội để góp phần khắc phục những mặt trái của truyền thông xã hội.

Hai là: Các nhà cung cấp, khai thác dịch vụ mạng, nhất là các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ xuyên biên giới phải có trách nhiệm tuân thủ luật pháp Việt Nam, tôn trọng chủ quyền, lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia Việt Nam. Yêu cầu các đối tác phải thể hiện rõ sự hợp tác và tuân thủ các quy định khi vào hoạt động tại Việt Nam, như: Đặt cơ quan đại diện, thiết lập tính chính danh của người dùng trong đăng ký tài khoản, phối hợp tích cực để kịp thời bóc gỡ những trang mạo danh, các topic cố tình xuyên tạc, bôi nhọ, xúc phạm các cá nhân, tổ chức, xóa bỏ triệt để các tài khoản đưa thông tin sai sự thật... Đồng thời, cần coi trọng hơn các biện pháp kinh tế, trách nhiệm của những doanh nghiệp phải tương xứng với lợi ích mà họ được hưởng.

Ba là:Cần tiếp tục hoàn thiện đồng bộ hệ thống văn bản pháp luật với các điều khoản cụ thể, rõ ràng, sát thực, phù hợp, theo kịp tốc độ biến động của truyền thông xã hội, thay vì chỉ dừng ở quy tắc điều chỉnh mang tính khuyến nghị. Tăng cường hơn nữa công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, đặc biệt là sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng có liên quan và của cả hệ thống chính trị để xử lý nghiêm những hành vi vi phạm, gây hại như: Lưu trữ, cung cấp, đăng tải, tán phát tin giả, sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, nói xấu, kích động, chống phá Đảng, Nhà nước trên internet, mạng xã hội...

Bốn là: Khi tham gia môi trường mạng, các “cư dân mạng” nên lan tỏa những thông tin, hình ảnh tốt đẹp về các hoạt động xã hội, hoạt động vì cộng đồng, phê phán những thói xấu, biểu hiện lệch lạc, hướng tới thông điệp nhân văn, xây dựng văn hóa ứng xử trên mạng xã hội thanh lịch, văn minh. Đồng thời, cần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, không sử dụng ngôn ngữ lai căng, tục tĩu, có tính bạo lực; chỉ đăng, phát thông tin rõ nguồn gốc, đã được kiểm chứng. Đặc biệt, không được lập nhóm, hội để nói xấu, bôi nhọ, xúc phạm người khác hoặc công kích lẫn nhau; không “vào hùa” theo đám đông khi chưa hiểu rõ về vụ việc hoặc không có căn cứ. Trong quá trình đăng tải các thông tin, các cư dân mạng không đăng những thông tin bịa đặt, thông tin vi phạm pháp luật; không sử dụng những ứng dụng không rõ nguồn gốc để tránh bị làm phiền bởi các tin rác hay bị lấy cắp thông tin tài khoản. Các “cư dân mạng” cần nắm rõ và tuân thủ các quy định của Luật An ninh mạng. Trên cơ sở đó, mỗi người cần biến tài khoản mạng xã hội của mình thành một kênh thông tin lành mạnh và thực hiện truyền thông xã hội trên tinh thần trách nhiệm cộng đồng, kịp thời phát hiện, góp ý, phê bình, phản bác... những thông tin phản động, độc hại trên mạng xã hội.

Khi tham gia mạng xã hội, các “cư dân” cần trang bị các kỹ năng tự bảo vệ thông tin cá nhân, cách thức chắt lọc, tiếp nhận thông tin. Việc người dùng nâng cao "sức đề kháng”, trang bị hiểu biết về pháp luật, bộ lọc văn hóa tốt, ứng xử văn minh trong tranh luận, phản biện, có năng lực về tin tức, đánh giá được độ tin cậy của thông tin trên mạng xã hội là rất quan trọng. Có như vậy, việc khai thác, sử dụng mạng xã hội mới hiệu quả, thiết thực và lành mạnh, người dùng mới có thể bảo vệ những giá trị của bản thân, của cộng đồng và dân tộc.

07.6

Những luận điệu cố tình, lạc lõng, sai sự thật

 

          Gần đây, bối cảnh quốc tế có nhiều biến động, diễn biến phức tạp như cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt hơn; chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa đơn phương, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy. Đại dịch Covid-19 tác động nghiêm trọng và để lại hậu quả nặng nề trên mọi mặt của đời sống xã hội ở hầu hết quốc gia hơn hai năm qua. Sự kiện Nga thực hiện chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine cũng tác động nhiều mặt đến đời sống chính trị và an ninh quốc tế. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng. Môi trường an ninh, tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông của một số quốc gia Đông Nam Á tiếp tục diễn biến phức tạp.

          Lợi dụng bối cảnh đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ráo riết tung ra những luận điệu xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam; trong đó, đường lối đối ngoại là một mặt trận mà họ quyết liệt chống phá nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với ngành ngoại giao Việt Nam.

          Thời gian qua, trên một số trang mạng xã hội, nổi cộm như: “Chân trời mới media”, “Hội anh em dân chủ”... đã xuất hiện những quan điểm, ý kiến của cái gọi là “luật sư độc lập”, “nhà báo tự do”, “nhà dân chủ”, “nhà nghiên cứu”, “người Việt yêu nước”... dưới các hình thức “thư góp ý”, “lời kêu gọi”, “tư vấn cho Nhà nước Việt Nam”, “phản biện”, “kiến nghị”... nhằm phê phán, xuyên tạc, phủ nhận đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.

          Một số hãng truyền thông nước ngoài có phiên bản tiếng Việt như: RFA, VOA, RFI, BBC... còn bịa đặt rằng “đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay là “đu dây”, “tự sát”, bị lệ thuộc, chi phối bởi các cường quốc. Rồi họ đưa ra "lời khuyên" Việt Nam nên bỏ chính sách quốc phòng “4 không” để nghiêng về phương Tây, gắn với thực hiện “dân chủ hóa Việt Nam”...

          Sự nguy hại của những luận điệu phản động nêu trên dễ gây ra sự hoang mang, dao động, chia rẽ từ bên trong, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước, khiến dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về Việt Nam. Chúng ta cần lên án mạnh mẽ những luận điệu xấu, độc nêu trên!

TẠO “THẾ TRẬN LÒNG DÂN” VỮNG CHẮC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

Tạo “thế trận lòng dân” vững chắc trên không gian mạng là một đòi hỏi tất yếu, vừa mang tính cấp bách, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài.


Xây dựng “thế trận lòng dân” là bài học quý trong quá trình dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc ta. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, bài học đó vẫn còn nguyên giá trị. Hiện nay, trước xu thế toàn cầu hóa, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã tạo nên không gian mạng rộng khắp, mà ở đó con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian, thời gian. Chính vì vậy, tạo “thế trận lòng dân” vững chắc trên không gian này vừa là vấn đề cấp bách, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Trong những năm qua, “thế trận lòng dân” ở từng địa bàn có lúc còn chưa vững chắc; niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước có thời điểm giảm sút… Xuất phát từ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, chúng triệt để lợi dụng mạng xã hội để xuyên tạc, chống phá ta; kích động biểu tình, bạo loạn. Thống kê gần đây cho thấy, bình quân hằng tháng các thế lực thù địch phát tán hơn 130.000 bài viết, video, clip xuyên tạc trên mạng xã hội. Chúng tận dụng tính năng phát trực tuyến của mạng xã hội làm công cụ phát tán thông tin xấu, độc. Chúng tung tin giả, nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội hòng gây mất ổn định chính trị và ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội. 


Chúng ta không thể phủ nhận, không gian mạng đem lại cho con người rất nhiều tiện ích, nhất là khi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và c.h.u.y.ể.n đ.ổ.i s.ố trở thành xu hướng tất yếu của nhân loại. Việc sử dụng mạng xã hội là nhu cầu chính đáng của mỗi tổ chức, cá nhân.


Để không gian mạng hoạt động theo chiều hướng tích cực, trước hết chúng ta phải nâng cao nhận thức của các cấp, ngành và mỗi công dân về vị trí, vai trò của mạng xã hội và tạo “thế trận lòng dân” vững chắc trên không gian này. 


Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hành lang pháp lý, nhằm tạo ra một không gian mạng lành mạnh, hữu ích, góp phần quan trọng vào sự phát triển đất nước. Đồng thời phải có chế tài đủ mạnh để ngăn chặn, răn đe những hành vi, thủ đoạn lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ; sử dụng  không gian mạng kích động, lôi kéo, xuyên tạc sự thật; phá hoại an ninh quốc gia - trật tự an toàn xã hội, gây chia rẽ, mất đoàn kết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân và quân đội. 


Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng và Ban Chỉ đạo bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong xây dựng “thế trận lòng dân”. Phát huy tốt vai trò cơ quan tuyên giáo, các cơ quan thông tấn báo chí trong việc cung cấp thông tin, kịp thời định hướng dư luận trước những sự kiện lớn, các vấn đề được xã hội quan tâm. 


Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, định hướng cho nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ có đủ sức “đề kháng”, “miễn dịch” trước các thông tin xấu, độc, xuyên tạc sự thật, các vấn đề tiêu cực trên mạng xã hội. Khuyến khích, động viên để các tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp và mỗi công dân tham gia mạng xã hội tuân thủ đúng pháp luật, có tri thức, văn hóa. Cần có cơ chế để nhân dân tham gia giám sát, đấu tranh phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch, những vấn đề tiêu cực trên  không gian mạng và cổ vũ cái tốt, cái tích cực, theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”.


Có thể khẳng định, tạo “thế trận lòng dân” vững chắc trên không gian mạng là một đòi hỏi tất yếu, khách quan, đồng thời vừa mang tính cấp bách, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo./.


THƯỢNG TƯỚNG NGUYỄN TÂN CƯƠNG THAM DỰ HỘI NGHỊ TƯ LỆNH LỰC LƯỢNG QUỐC PHÒNG CÁC NƯỚC ASEAN

 

Sáng 7-6, tại Bali, Indonesia, đã diễn ra Hội nghị Tư lệnh Lực lượng Quốc phòng các nước ASEAN lần thứ 20 (ACDFM-20) dưới sự chủ trì của Đô đốc Yudo Margono, Tư lệnh Quân đội Quốc gia Indonesia.

Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, dẫn đầu Đoàn đại biểu quân sự cấp cao QĐND Việt Nam tham dự hội nghị.


Việc tham dự ACDFM-20 nhằm tiếp tục khẳng định sự tích cực, chủ động của Việt Nam với vai trò là một thành viên có trách nhiệm trong ASEAN nói chung và hợp tác kênh quân sự - quốc phòng ASEAN nói riêng, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy hợp tác quân sự - quốc phòng thực chất, hiệu quả giữa các nước ASEAN.


Phát biểu khai mạc hội nghị, Đô đốc Yudo Margono vui mừng chào đón Tư lệnh Lực lượng Quốc phòng các nước ASEAN tham dự ACDFM-20; khẳng định hợp tác giữa quân đội các quốc gia thành viên ASEAN đóng vai trò rất quan trọng, từ đó xây dựng một khu vực ASEAN hòa bình, thịnh vượng và an ninh; đề nghị các quốc gia thành viên ASEAN cam kết đóng góp cho hòa bình, thịnh vượng và an ninh ở khu vực, tiếp tục xây dựng lòng tin chiến lược trong khu vực thông qua đối thoại và hợp tác. Đô đốc Yudo Margono cũng bày tỏ tin tưởng ACDFM-20 sẽ tạo ra những điều tích cực, góp phần tăng cường hợp tác giữa quân đội các nước ASEAN.


Sau khi thông qua chương trình nghị sự, hội nghị ACDFM-20 nghe báo cáo kết quả Hội nghị Những người đứng đầu Tình báo quân đội các nước ASEAN lần thứ 20 (AMIM-20) và Hội nghị Cục trưởng Tác chiến quân đội các nước ASEAN lần thứ 13 (AMOM-13) đã được tổ chức ngày 5-6-2023.


Một trong những nội dung nhận được sự quan tâm, đánh giá cao của các đại biểu là tại AMIM-20, các nước đã nhất trí thông qua Tài liệu Khái niệm thành lập Cộng đồng Tình báo Quốc phòng các nước ASEAN (AMIC) và Hội thảo lãnh đạo AMIC sẽ được tổ chức tại Việt Nam trong thời gian sớm nhất.


Tại ACDFM-20, Tư lệnh lực lượng quốc phòng các nước ASEAN bày tỏ ủng hộ chủ đề năm ASEAN 2023 do Indonesia lựa chọn là “Hòa bình, Thịnh vượng và An ninh”- chủ đề phản ánh mong muốn chung của các nước thành viên ASEAN trong việc đề cao sự gắn bó, đoàn kết, cùng nhau hướng tới tương lai, trong đó lấy người dân là trung tâm; nhấn mạnh quân đội các nước ASEAN là một thực thể không tách rời trong ứng phó với các thách thức chung của khu vực, nhất là trong bối cảnh tình hình an ninh diễn biến nhanh, phức tạp hiện nay.


Sau khi trao đổi về tình hình an ninh khu vực và thế giới, đặc biệt là các thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống có ảnh hưởng trực tiếp đến khu vực ASEAN, hội nghị đã đánh giá kết quả hợp tác giữa quân đội các nước ASEAN và đề ra định hướng thúc đẩy hợp tác thực chất, hiệu quả trong thời gian tới.


Phát biểu tại hội nghị, Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Trưởng đoàn Việt Nam khẳng định QĐND Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục tham gia có trách nhiệm vào các hoạt động hợp tác giữa quân đội các nước ASEAN.


Thượng tướng Nguyễn Tân Cương nhấn mạnh: Trước sau như một, Việt Nam kiên trì nguyên tắc giải quyết tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và lợi ích chính đáng của các quốc gia, tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982.


Trưởng đoàn Việt Nam cho rằng, các nước liên quan cần tiếp tục nhấn mạnh cam kết trong việc duy trì hòa bình, an ninh, ổn định, an toàn và tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông; đồng thời tăng cường xây dựng lòng tin, thực thi đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm kết thúc đàm phán, ký kết Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) thực chất, hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế. Điều này sẽ tiếp tục khẳng định những cam kết, trách nhiệm của lực lượng quốc phòng các quốc gia vì hòa bình, thịnh vượng và an ninh chung của khu vực.


Thượng tướng Nguyễn Tân Cương cho biết, dự kiến Việt Nam sẽ chủ trì tổ chức một số hoạt động quan trọng về hợp tác quân sự - quốc phòng trong năm 2023, như: Hội nghị thường niên Mạng lưới Trung tâm Gìn giữ hòa bình các nước ASEAN lần thứ 8; Giải Bóng chuyền quân đội các nước ASEAN và đồng chủ trì với Nhật Bản tổ chức các hoạt động cuối chu kỳ của Nhóm chuyên gia ADMM+ về Gìn giữ hòa bình chu kỳ 2021-2023. Việt Nam mong muốn nhận được sự ủng hộ và tham gia tích cực của các quốc gia thành viên ASEAN. Năm 2024, Việt Nam sẽ tổ chức kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng thời có kế hoạch tổ chức Triển lãm quốc phòng quốc tế tại Việt Nam nhân sự kiện này và mong muốn nhận được sự ủng hộ của Bộ Quốc phòng, quân đội các nước ASEAN.


Tại hội nghị, Tư lệnh Lực lượng Quốc phòng các nước ASEAN đã thông qua Kế hoạch hoạt động hai năm của quân đội các nước ASEAN (2023-2025); thông qua và ký Tuyên bố chung Hội nghị ACDFM-20.


Kết thúc Hội nghị đã diễn ra Lễ bàn giao chức Chủ tịch ACDFM-21 cho Lào, nước Chủ tịch ASEAN năm 2024.


* Sáng cùng ngày, Tư lệnh Lực lượng Quốc phòng các nước ASEAN đã thông qua Tài liệu Khái niệm thành lập Cộng đồng Tình báo Quốc phòng các nước ASEAN (AMIC).



TĂNG CƯỜNG TUYÊN TRUYỀN, BẢO ĐẢM AN TOÀN GIAO THÔNG CHO HỌC SINH

 

Cơ quan chức năng kêu gọi cha mẹ học sinh giáo dục các em tự giác chấp hành quy tắc giao thông, có biện pháp quản lý và không giao xe máy cho con điều khiển khi chưa đủ tuổi, chưa có giấy phép lái xe.


Tăng cường bảo đảm an toàn giao thông cho học sinh, đây là yêu cầu của Chủ tịch Ủy ban An toàn giao thông quốc gia đối với Chủ tịch Ủy ban Nhân dân, kiêm Trưởng ban An toàn giao thông các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.


Thời gian qua, địa bàn cả nước đã xảy ra một số vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng liên quan đến học sinh điều khiển xe máy khi chưa đủ tuổi và chưa có giấy phép lái xe, tai nạn giao thông liên quan tới trẻ em, điển hình là vụ tai nạn giao thông tại Bình Dương (phường Thuận Giao, thành phố Thuận An) ngày 17/10/2022 khiến một học sinh t.ử v.o.n.g; vụ tai nạn giao thông tại Lào Cai (km 133+600, Quốc lộ 4D qua thôn Luổng Láo 2, xã Cốc San, thành phố Lào Cai) ngày 19/5/2023 khiến ba học sinh t.ử v.o.n.g và vụ tai nạn tại Bình Định (thôn 8 Tây, xã Mỹ Thắng, huyện Phù Mỹ) ngày 26/5/2023 khiến ba người t.ử v.o.n.g.


Nhằm tăng cường đảm bảo an toàn giao thông cho học sinh, phòng tránh và hạn chế những vụ việc tương tự xảy ra, đặc biệt trong dịp nghỉ hè 2023, Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân kiêm Trưởng ban An toàn giao thông các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo các cơ quan chức năng tại địa phương triển khai có hiệu quả Chỉ thị số 10/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ trong tình hình mới; Chương trình phối hợp số 11/CtrPH-BCA-BGDĐT giữa Bộ Công an với Bộ Giáo dục và Đào tạo về phối hợp tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về trật tự, an toàn giao thông trong các cơ sở giáo dục giai đoạn 2022–2025.


Cùng với đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân kiêm Trưởng ban An toàn giao thông các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo Sở Giáo dục và Đào tạo, các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh, thành phố phối hợp với Ban đại diện cha mẹ học sinh vận động cha, mẹ, người giám hộ thường xuyên nhắc nhở, giáo dục con em mình tự giác chấp hành quy tắc giao thông, có biện pháp quản lý và ký cam kết chấp hành pháp luật về an toàn giao thông, không giao xe máy cho con điều khiển khi chưa đủ tuổi, chưa có giấy phép lái xe.


Nhân rộng mô hình “Cổng trường an toàn giao thông” thông qua việc tổ chức giao thông ở khu vực cổng trường và tuyến đường thường xuyên đi học của học sinh, trẻ em (từ nhà tới trường và ngược lại) ngay sau khi học sinh hết kỳ nghỉ hè.


Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh chỉ đạo Ủy ban Nhân dân cấp huyện, xã, các đoàn thể chính trị, xã hội, phát huy vai trò người cao tuổi, người có uy tín ở cơ sở tổ chức tốt công tác tuyên truyền, vận động các dòng họ, gia đình tích cực nhắc nhở, vận động con em trong độ tuổi thanh thiếu niên, nhất là học sinh, sinh viên đang nghỉ hè cùng gia đình tự giác chấp hành pháp luật khi tham gia giao thông; không uống rượu, bia khi chưa đủ 18 tuổi, người trưởng thành thực hiện “Đã uống rượu bia, không lái xe,” đội mũ bảo hiểm khi đi xe mô tô, xe máy, xe đạp điện; không điều khiển xe môtô, xe máy khi chưa đủ tuổi, khi chưa có giấy phép lái xe.


Phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức Đoàn, Hội, Đội tổ chức tốt công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn giao thông trong các hoạt động của thanh, thiếu niên, nhất là trong sinh hoạt hè tại địa phương; đẩy mạnh cuộc vận động “Học sinh, sinh viên với văn hóa giao thông”; tăng cường phổ biến các kiến thức và kỹ năng tham gia giao thông an toàn cho phụ huynh trong trường hợp chở trẻ em trên xe máy, ô tô và các phương tiện khác.


Lãnh đạo các địa phương chỉ đạo các lực lượng chức năng tăng cường tuần tra, kiểm soát, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm vi phạm đối với các trường hợp học sinh điều khiển xe mô tô, xe gắn máy khi chưa đủ tuổi, chưa có giấy phép lái xe và không đội mũ bảo hiểm khi ngồi trên xe môtô, xe gắn máy tham gia giao thông; đặc biệt, cần tập trung xử lý hành vi giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định điều khiển phương tiện tham gia giao thông.


Tăng cường sự phối hợp giữa lực lượng chức năng-nhà trường-gia đình trong việc quản lý và giáo dục học sinh nghiêm chỉnh chấp hành quy định pháp luật về trật tự an toàn giao thông, trong đó chú trọng công tác trao đổi thông tin về vi phạm trật tự an toàn giao thông của học sinh giữa lực lượng chức năng tới nhà trường và từ nhà trường tới gia đình để cùng quản lý và giáo dục về an toàn giao thông với trẻ em./.


PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC NGÀNH VĂN HÓA: CẦN NHỮNG ĐỘT PHÁ MỚI

 

Nguồn nhân lực chất lượng cao có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong gìn giữ, chấn hưng và phát triển nền văn hóa dân tộc. Đây là “khâu then chốt của then chốt”, “là cái gốc của mọi công việc”. Để khắc phục những khó khăn, bất cập trong phát triển nguồn nhân lực ngành văn hóa, cần phải có cơ chế, chính sách và giải pháp mang tính đột phá, thích ứng với bối cảnh mới.


NHIỀU CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH ĐÃ ĐƯỢC BAN HÀNH


Một trong những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm mà Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đề ra là: “Khơi dậy tinh thần và ý chí, quyết tâm phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc cường thịnh, trường tồn; phát huy giá trị văn hoá, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.


Để khơi dậy và phát huy mạnh mẽ giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam, công tác cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng; góp phần “đánh thức” và khơi thông những mạch nguồn văn hóa, để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. 


Ý thức sâu sắc về vai trò, tầm quan trọng của đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức và cán bộ quản lý văn hóa, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách để phát triển nguồn nhân lực đặc biệt này.


Đánh giá cao vai trò, vị thế của đội ngũ trí thức nói chung và trí thức trong lĩnh vực văn hóa - nghệ thuật (VHNT) nói riêng, Nghị quyết 27-NQ/TW, ngày 6/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về “Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” khẳng định: Trong mọi thời đại, tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức; là nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong chiến lược phát triển”.


Để xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” đề ra một trong những giải pháp trọng tâm là “xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa”, trong đó nhấn mạnh vào các nhiệm vụ cụ thể, như: Xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ văn hóa. Coi trọng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa, cán bộ làm công tác khoa học, chuyên gia đầu ngành, cán bộ ở cơ sở... Đổi mới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ văn hóa theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế... Có chính sách phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh cán bộ trong lĩnh vực VHNT; trọng dụng người có tài, có đức. Điều chỉnh chế độ tiền lương, trợ cấp đối với những người hoạt động trong các bộ môn nghệ thuật đặc thù.


Trên cơ sở chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước đã thể chế thành các chính sách cụ thể, tạo hành lang pháp lý và những điều kiện cần thiết về nguồn lực để văn hóa ngày càng phát triển. Trong lĩnh vực văn hóa, Nhà nước đã ban hành 5 Luật (Điện ảnh, Di sản văn hóa, Quảng cáo, Sở hữu trí tuệ, Thư viện), 50 Nghị định, 14 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và trên 100 Thông tư, Thông tư liên tịch được điều chỉnh trực tiếp, trong đó có những điều khoản quy định liên quan trực tiếp đến nguồn nhân lực văn hóa.


Nhằm tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có chuyên môn, trình độ, kỹ năng và nghiệp vụ, đáp ứng tốt yêu cầu bối cảnh, tình hình mới, Chính phủ đã ban hành nhiều đề án đào tạo, bồi dưỡng tài năng và nguồn nhân lực VHNT, thể thao, tiêu biểu như các đề án: “Xây dựng đội ngũ trí thức ngành văn hóa, thể thao và du lịch đến năm 2020, tầm nhìn 2030”, “Đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo các trường văn hóa nghệ thuật”, “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giảng viên trình độ cao trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật giai đoạn 2010-2020”, “Đào tạo, bồi dưỡng và phát triển tài năng trẻ lĩnh vực văn hóa nghệ thuật”, “Tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng tài năng thể thao và nhân lực thể thao thành tích cao đến năm 2035”, “Đào tạo tài năng văn hóa nghệ thuật giai đoạn 2016-2025, tầm nhìn đến năm 2030”, “Đào tạo, bồi dưỡng nhân lực văn hóa nghệ thuật ở nước ngoài đến năm 2030”,...


Cùng với đó, hệ thống các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực cho lĩnh vực VHNT thuật ngày càng được quan tâm, đầu tư, mở rộng về cơ sở, mạng lưới trường lớp; đa dạng hóa các ngành nghề và phương thức đào tạo; không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng dạy và học, đáp ứng tốt yêu cầu, đòi hỏi của tình hình thực tiễn. Hiện cả nước có 40 trường trung cấp, cao đẳng, đại học đào tạo lĩnh vực VHNT; 3 viện nghiên cứu đào tạo tiến sĩ; khoảng 80 cơ sở đào tạo công lập và tư thục tham gia đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cho các ngành thuộc lĩnh vực VHNT. Chính sách đãi ngộ, hỗ trợ đội ngũ văn nghệ sĩ được ban hành và ngày càng hoàn thiện.


Nhờ thực hiện đồng bộ các chính sách đã góp phần khắc phục tình trạng thiếu hụt về nhân lực trong các lĩnh vực văn hóa, bao gồm cả VHNT, thể dục - thể thao và du lịch. Nghị quyết của Đảng đã khẳng định: “Đội ngũ làm công tác văn hóa, văn nghệ có bước trưởng thành”, có nhiều đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.


NHỮNG KHÓ KHĂN, THÁCH THỨC ĐẶT RA


Hiện nay, nhân lực ngành VHNT có thể chia thành các nhóm: 1) những người làm công tác lãnh đạo, quản lý ở các cơ quan, đơn vị văn hóa; 2) đội ngũ trực tiếp sáng tạo, thực hành và trình diễn văn hóa; 3) lực lượng cung ứng các sản phẩm, dịch vụ văn hóa; 4) đội ngũ cộng tác viên là các già làng, trưởng bản, người có uy tín, kinh nghiệm trong cộng đồng. Nguồn nhân lực nào cũng có vai trò, vị trí quan trọng, đảm nhiệm những sứ mệnh riêng để cùng hướng đến mục tiêu xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc, tạo ra đời sống tinh thần lành mạnh, phong phú, vui tươi.


Tuy nhiên so với yêu cầu của thực tiễn, nguồn nhân lực trong lĩnh vực VHNT còn chưa đáp ứng tốt, rõ nhất là tình trạng thiếu hụt đội ngũ cán bộ văn hóa ở các cấp, nhất là ở các địa bàn vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; thiếu hụt đội ngũ chuyên gia trong các ngành nghệ thuật cơ bản. Nghị quyết của Đảng cũng đã nhận định: “Công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa các cấp, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao còn nhiều hạn chế, bất cập”.


Đối với cán bộ quản lý văn hóa ở cơ sở, theo Nghị định 34/NĐ-CP, ngày 24/4/2019 của Chính phủ về “Sửa đổi, bổ sung một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố” thì cán bộ văn hóa - xã hội là một trong 7 chức danh chuyên môn nghiệp vụ được “cơ cấu cứng” trong bộ máy cấp xã. Tuy nhiên ở nhiều xã, phường, thị trấn không bố trí được cán bộ văn hóa - xã hội chuyên trách mà chỉ có đồng chí Phó Chủ tịch phụ trách chung. Ở một số địa phương, cán bộ văn hóa phải đảm trách nhiều đầu việc, từ quản lý di tích, nếp sống văn minh đến phong trào văn hóa... Có những địa phương do địa bàn rộng, phức tạp, đội ngũ cán bộ mỏng, lương và phụ cấp thấp nên gặp nhiều áp lực. Vì thiếu cán bộ văn hóa có chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng nên không ít địa phương phải bố trí cán bộ thuộc các ngành nghề, lĩnh vực khác kiêm nhiệm, phụ trách, dẫn đến hiệu quả công việc không cao, xử lý tình huống còn lúng túng, thiếu chuyên nghiệp.


Với nguồn nhân lực tham gia trực tiếp vào quá trình sáng tạo, thực hành và trình diễn VHNT, thể dục - thể thao cũng gặp nhiều khó khăn. Để hoạt động tốt trong lĩnh vực VHNT, ngoài các điều kiện như tài năng, năng khiếu, sự đam mê, còn phải có một quá trình khổ luyện mà đi liền với đó là những nguy hiểm, rủi ro, nhất là những ngành nghề như xiếc, thể dục dụng cụ,… Chính vì việc đào tạo tài năng nghệ thuật là cả một quá trình lâu dài, bền bỉ, liên tục, từ khi còn tuổi thiếu niên, trong khi tuổi nghề lại tương đối ngắn, mức lương thưởng chưa tương xứng... khiến nhiều gia đình băn khoăn, không muốn cho con em thi vào các trường nghệ thuật.


Về chính sách đào tạo, bồi dưỡng tài năng đỉnh cao trong lĩnh vực nghệ thuật. Do những khó khăn trong khâu tuyển chọn với những yêu cầu, tiêu chuẩn cao về ngoại ngữ khiến cho việc cử tài năng trẻ ra nước ngoài đào tạo theo Đề án 1437/QĐ-TTg, ngày 19/7/2016 của Thủ tướng Chính phủ về “Đào tạo, bồi dưỡng nhân lực văn hóa nghệ thuật ở nước ngoài đến năm 2030” không đạt được mục tiêu đã đề ra. Theo mục tiêu Đề án, mỗi năm sẽ cử được 20 cán bộ đi học thạc sĩ, tiến sĩ ở các nước phát triển. Tuy nhiên, sau 6 năm thực hiện mới chỉ có 1 người đi học thạc sĩ và chưa cử được cán bộ nào đi học tiến sĩ. Điều này đang đặt ra thách thức lớn cho các cơ sở đào tạo chuyên sâu về VHNT khi lực lượng có chuyên môn, trình độ đang dần thưa vắng; cảnh báo sự khủng hoảng về nhân lực trong đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ kế cận...


Đối với một số đơn vị nghệ thuật, nhất là các đoàn nghệ thuật truyền thống cũng đang đứng trước những bài toán nan giải về nhân sự khi số diễn viên, nghệ sĩ trong biên chế nhưng đã hết tuổi nghề chế chiếm tỷ lệ lớn, nhưng khó bố trí những công việc khác phù hợp. Điều này vô tình gây ra những rào cản trong tuyển dụng, thu hút tài năng trẻ - những nhân tố mới, có triển vọng. Bên cạnh đó, trong bối cảnh tự chủ tài chính khiến cho việc xây dựng các sản phẩm - tác phẩm nghệ thuật có chất lượng của nhiều đoàn nghệ thuật gặp sức ép trước sự lấn át và cạnh tranh của các loại hình nghệ thuật hiện đại, sự xuất hiện của các không gian, loại hình vui chơi, giải trí mới, đa phương tiện. Những áp lực về vở diễn, doanh thu, tình trạng vừa thừa số lượng, vừa thiếu nguồn nhân lực có chất lượng đang là những vấn đề mà nhiều đơn vị nghệ thuật loay hoay đi tìm lời giải.


Thẳng thắn nhìn nhận, trong bối cảnh hiện nay, nguồn nhân lực trong lĩnh vực văn hóa, nhất là đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, cán bộ làm công tác văn hóa còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng. Việc phát triển nguồn nhân lực văn hóa gặp nhiều khó khăn, thách thức lớn. Việc tinh giảm biên chế, sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực văn hóa ở nhiều nơi chưa phù hợp, nhiều bất cập. Số lượng viên chức trong lĩnh vực VHNT có trình độ cao ngày càng ít đi. Bố trí, sắp xếp công việc đối với cán bộ làm công tác văn hóa tại cơ sở chưa hợp lý. Công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực văn hóa gặp nhiều khó khăn, chưa đáp ứng được yêu cầu; nhiều chuyên ngành VHNT truyền thống rất khó tuyển sinh... Cùng với đó, nguồn nhân lực cung ứng dịch vụ VHNT cũng như đội ngũ cộng tác viên tham gia quản lý đời sống văn hóa ở cơ sở đang thiếu những cơ chế, chính sách mang tính ràng buộc trách nhiệm. Nhiều cá nhân, công ty, đơn vị, doanh nghiệp tư nhân tham gia khai thác kinh doanh sản phẩm, dịch vụ văn hóa đang bị “vướng” bởi những chính sách ưu đãi về thuế, lệ phí, thuê mặt bằng - chưa được quy định cụ thể trong Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư. Còn nhiều bất cập liên quan đến các chính sách tôn vinh, đãi ngộ, bảo hiểm xã hội, trợ cấp hàng tháng cho đội ngũ già làng, trưởng bản, nghệ nhân, người có uy tín trong cộng đồng - những chủ thể đóng vai trò truyền lửa, thổi hồn vào các tác phẩm nghệ thuật, trao truyền văn hóa cho các thế hệ sau...


Những hạn chế, bất cập nêu trên là một trong những rào cản, điểm nghẽn lớn khiến văn hóa chưa phát triển xứng tầm với tiềm năng và thế mạnh hiện có.


CẦN NHỮNG GIẢI PHÁP MANG TÍNH ĐỘT PHÁ


Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề ra một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển văn hóa là: “Đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, tham mưu trong lĩnh vực văn hoá, văn nghệ, nhất là cán bộ chủ chốt thực sự am hiểu về văn hoá, có phẩm chất, bản lĩnh, năng lực chuyên môn, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Rà soát toàn bộ hệ thống các trường đào tạo văn hoá, văn nghệ, đổi mới và hiện đại hoá quy trình, nội dung, phương thức đào tạo để trong 5 - 10 năm tới khắc phục về cơ bản sự thiếu hụt đội ngũ cán bộ làm công tác văn hoá”.


Phát biểu tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng, một trong những nhiệm vụ cần phải thực hiện một cách quyết liệt và có hiệu quả là phải xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác văn hoá tương xứng với yêu cầu và nhiệm vụ phát triển văn hoá trong giai đoạn mới; sớm khắc phục tình trạng chắp vá, tuỳ tiện trong bố trí cán bộ làm công tác văn hoá...


Để xây dựng, phát triển nguồn nhân lực văn hóa đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, phải tiếp tục xác định những giải pháp mang tính đột phá, trước mắt cần thực hiện có chất lượng, đồng bộ những giải pháp cơ bản:


Một là, tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức một cách sâu sắc, đầy đủ, toàn diện về vai trò, vị trí của văn hóa. Văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần, là mục tiêu, động lực mà còn là nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm quan trọng trong quá trình phát triển đất nước. Văn hóa phải thực sự được coi trọng ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội, “là hồn cốt của Dân tộc, nói lên bản sắc của Dân tộc. Văn hoá còn thì Dân tộc còn”,… Trên cơ sở nhận thức đúng, toàn diện, các cấp ủy đảng, chính quyền phải có kế sách quan tâm đầu tư, xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa một cách tương xứng; phát huy tài năng, trí lực vì một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc trong bối cảnh mới.


Hai là, thường xuyên quan tâm đổi mới cơ chế, chính sách về đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng nguồn nhân lực văn hóa một cách phù hợp, hiệu quả.


Trong xây dựng, thực thi chính sách với đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa, cần quán triệt sâu sắc quan điểm: Tài năng trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật là vốn quý của dân tộc. Việc chăm lo phát hiện, bồi dưỡng, quý trọng và phát huy các tài năng là trách nhiệm của toàn xã hội, trước hết là của Đảng, Nhà nước và của các tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp. Tôn trọng, bảo đảm quyền tự do sáng tạo, tạo điều kiện thuận lợi phát huy tính độc lập, khơi dậy mọi nguồn lực sáng tạo của văn nghệ sĩ; phát huy lòng yêu nước nồng nàn, gắn bó máu thịt với nhân dân, nêu cao trách nhiệm công dân, sáng tạo nên nhiều tác phẩm có giá trị phụng sự đất nước và dân tộc.


Các ban ngành và các địa phương tiếp tục rà soát, tổng kết, đánh giá những kết quả đạt được và những bất cập sau hơn 10 năm thực hiện Đề án “Xây dựng đội ngũ trí thức ngành văn hóa, thể thao và du lịch đến năm 2020”, để có cơ sở nghiên cứu, xây dựng, ban hành Đề án “Xây dựng đội ngũ trí thức ngành văn hóa, thể thao và du lịch đến năm 2030”, hướng đén mục tiêu: Xây dựng đội ngũ trí thức ngành văn hóa, thể thao và du lịch đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, phù hợp với xu thế phát triển khoa học - công nghệ, bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số, đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành và xã hội. Hình thành một đội ngũ trí thức có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, có trình độ chuyên môn cao và năng lực giải quyết các vấn đề thực tiễn, từng bước tiếp cận ngang tầm với trình độ của trí thức trong khu vực và trên thế giới; có khả năng làm chủ và chuyển giao khoa học - công nghệ tiên tiến; sáng tạo ra các sản phẩm VHNT có chất lượng, đạt được đỉnh cao nghệ thuật; đưa thể thao và du lịch phát triển ngang tầm khu vực và thế giới.


Xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù trong tuyển sinh, đào tạo, bồi dưỡng tài năng VHNT, đảm bảo môi trường học tập thuận lợi, an toàn, hiệu quả; gắn lý luận với thực hành, nâng cao trình độ, tri thức, kỹ năng và nghiệp vụ, thích ứng linh hoạt trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp chặt chẽ với Bộ Giáo dục và Đào tạo thống nhất khung chương trình đào tạo; chú trọng, nâng cao chất lượng chuyên môn, giảm bớt sự trồng chéo, trùng lặp các chương trình không phù hợp, đảm bảo quyền, lợi ích của người học.


Trong tuyển dụng, bố trí đội ngũ cán bộ văn hóa, bên cạnh các tiêu chuẩn theo quy định cần nghiên cứu, đề xuất những chính sách phù hợp với vị trí, tính chất ngành nghề, làm sao thu hút được tài năng trẻ để họ yên tâm công tác, rèn luyện và cống hiến tài năng, công sức cho sự phát triển của nền VHNT nước nhà.


Ba là, trong bối cảnh chuyển đổi mô hình xã hội, nghề nghiệp, phát triển kinh tế thị trường, các đơn vị nghệ thuật phải không ngừng đổi mới tư duy sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; chủ động trong khâu tuyển chọn, sử dụng nghệ sĩ, diễn viên; sẵn sàng thanh lọc, tinh giảm những cán bộ không đủ năng lực, trình độ; có chính sách đãi ngộ, thu hút, giữ chân và ươm mầm cho những tài năng trẻ. Đảm bảo môi trường nghệ thuật thật sự tự do, dân chủ, lành mạnh, nhân văn, vì cái đẹp, cái thiện, cái cao cả, từ đó kích thích khát vọng sáng tạo, cống hiến của những tài năng.


Đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ, làm mới những sản phẩm, dịch vụ, tác phẩm VHNT; có chiến lược quảng bá, truyền thông, tương tác trên môi trường Internet để công chúng có thể tiếp cận, thụ hưởng những thành quả VHNT .


Bốn là, văn hóa là lĩnh vực đặc biệt nhạy cảm, tinh tế, chăm lo nền tảng tinh thần của xã hội, góp phần giáo dục, hình thành những con người mới. Vì vậy không thể thiếu vai trò lãnh đạo, quản lý, đầu tư, hỗ trợ của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương. Cần dành những ưu tiên cần thiết về nhân lực, tài lực cho lĩnh này. Đồng thời cần phát huy sự tham gia của cộng đồng, các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp tư nhân trong đào tạo, bồi dưỡng, cung ứng và bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo đà cho lĩnh vực VHNT không ngừng phát triển.


Năm là, đổi mới chính sách tiền lương, phụ cấp và bảo hiểm xã hội, nhất là đối với đội ngũ cán bộ bán chuyên trách, già làng, trưởng bản, nghệ nhân, người có uy tín và những người có những đóng góp, cống hiến lớn trong việc gìn giữ, phát triển và chấn hưng nền văn hóa.


Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Trong bất kỳ lĩnh vực nào của xã hội, cán bộ luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Lĩnh vực văn hóa không nằm ngoài tính tất yếu đó. Việc đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng được đội ngũ cán bộ có tài, có tâm, có tinh thần trách nhiệm và khát vọng sáng tạo, cống hiến sẽ là khâu then chốt để khơi thông mạch nguồn văn hóa, góp phần thực hiện thành công khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.



Không thể đánh đồng hiện tượng với bản chất, cá nhân với tập thể

 Lợi dụng vi phạm của một số cán bộ, đảng viên, các thế lực phản động,

thù địch tìm mọi cách hạ thấp uy tín nhằm phủ nhận tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh

đạo của Đảng; gây chia rẽ nội bộ Đảng và làm suy giảm lòng tin của nhân dân.

Đây là thủ đoạn chống phá nguy hiểm cần sớm nhận diện và đấu tranh loại bỏ.

Thời gian vừa qua, cán bộ lãnh đạo của một số địa phương đã bị cơ quan

chức năng khởi tố, tạm giam do có hành vi vi phạm quy định của pháp luật.

Điển hình như cựu Chủ tịch UBND TP Hà Nội, Chu Ngọc Anh; cựu chủ tịch

UBND tỉnh Bình Dương, Trần Thanh Liêm và gần đây nhất là nguyên Bí thư

Tỉnh ủy Hải Dương, Phạm Xuân Thăng... Vi phạm của các cá nhân này đã gây

hậu quả rất nghiêm trọng, thiệt hại lớn cho ngân sách nhà nước, người dân và xã

hội; gây dư luận xấu, làm mất uy tín của tổ chức đảng, chính quyền địa phương.

Việc khởi tố, bắt tạm giam những cá nhân nêu trên đã thể hiện tinh thần

đấu tranh không khoan nhượng của Đảng ta đối với tham nhũng, tiêu cực và đã


nhận được sự đồng tình của dư luận. Tuy nhiên, với động cơ thiếu trong sáng và

góc nhìn phiến diện, các thế lực thù địch, phản động đã đưa ra những luận điệu

sai trái, gây “nhiễu” dư luận. Trên nhiều trang mạng xã hội xuất hiện luận điệu

cho rằng vụ việc bị xử lý là do “đấu đá nội bộ”. Đặc biệt, một số ý kiến còn lợi

dụng vụ việc để bôi nhọ Đảng theo kiểu “đến người đứng đầu tỉnh còn vi

phạm”; từ đó “liên hệ” “gợi mở” nhiều vấn đề theo hướng đổ lỗi vi phạm của

cán bộ, đảng viên là do thể chế, do “Đảng Cộng sản Việt Nam độc quyền lãnh

đạo”… nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; kêu gọi xóa bỏ vai trò lãnh

đạo của Đảng.

Trước hết cần khẳng định, việc khởi tố, bắt tạm giam những cá nhân nói

trên là các vụ việc cụ thể được thực hiện sau quá trình điều tra, xác minh của cơ

quan chức năng và phù hợp với các quy định hiện hành. Vi phạm của họ xuất

phát từ việc thiếu tu dưỡng, rèn luyện. Và việc họ bị xử lý theo các quy định của

Đảng, của pháp luật là hệ quả tất yếu. Đây là vi phạm của cá nhân đảng viên;

hoàn toàn không thể đồng nhất với bản chất của Đảng như các thế lực phản

động, thù địch đang cố gắng tuyên truyền, xuyên tạc.

Mặt khác, mưu đồ nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động không

thể che đậy được khi lợi dụng vi phạm của một số cá nhân, đảng viên, chúng ra

sức tuyên truyền các luận điệu nhằm hạ thấp uy tín nhằm phủ nhận tiến tới xóa

bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng; gây chia rẽ nội bộ Đảng và làm suy giảm lòng tin

của nhân dân. Rõ ràng, mục đích sâu xa của các thế lực thù địch, phản động là

xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ chủ nghĩa

xã hội ở nước ta. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng cần tỉnh táo, đề

cao cảnh giác trước các luận điệu phản động, sai trái nói trên./.

NHẬN DIỆN RÕ BẢN CHẤT CỦA PHÁP LUÂN CÔNG

 

Pháp luân công còn có tên gọi khác là Pháp luân đại pháp do Lý Hồng Chí (sinh năm 1952 tại Cát Lâm, Trung Quốc) lập ra năm 1992; sau đó Lý Hồng Chí đã sang Mỹ định cư. Năm 1993, hội nhóm này được biết đến với tên gọi “Hội nghiên cứu Pháp luân đại pháp” được Bộ Dân chính Trung Quốc cấp phép hoạt động.


 Thực tế cho thấy Pháp luân công không phải tôn giáo, tín ngưỡng, cũng không có sự sáng tạo nào kể cả kết quả nghiên cứu khoa học hay lý thuyết tư tưởng hệ, mà chỉ dựa trên cơ sở vay mượn, cắt xén của các tôn giáo khác để hình thành. Cụ thể, Pháp luân công tự cho mình là một hệ phái Phật giáo, nhưng các bài tập theo Pháp luân công bản chất là sự tạp pha theo lịch sử khí công đã được nhà sư Phật giáo, võ sỹ Đạo giáo và học giả Nho giáo luyện tập từ xa xưa, xem như một hình thức cải thiện tinh thần, đạo đức và thể chất


Các đối tượng tuyên truyền, người tập luyện Pháp luân công sẽ sửa được tâm tính, chữa được bách bệnh chỉ bằng các bài tập khí công của Lý Hồng Chí. Tổ chức của Pháp luân công không có nhà thờ hoặc nơi thờ tự, quyền năng chỉ được trao duy nhất trong các bài giảng của người thành lập là Lý Hồng Chí. Xét về phạm vi tổ chức, Pháp luân công được thực hiện thông qua cộng đồng kết nối toàn cầu chủ yếu là trực tuyến. Lý Hồng Chí dùng các trang thông tin điện tử để điều phối hoạt động và giảng bài.


Pháp luân công du nhập vào Việt Nam từ những năm 2000. Hai người Việt Nam tập Pháp luân công đầu tiên là Nguyễn Nam Trung ở thành phố Hồ Chí Minh và Trần Ngọc Trí ở thành phố Hà Nội. Đến nay, tại Việt Nam có khoảng trên 7.000 người tham gia, luyện tập tại 565 điểm nhóm, tập trung chủ yếu ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.

 

Để tuyên truyền về Pháp luân công, các đối tượng đã sử dụng nhiều cách thức khác nhau như: phát tán nơi công cộng hoặc trong khu dân cư; lập các trang Web và tài khoản mạng xã hội truyền bá qua Internet; gửi tài liệu qua đường bưu chính đến nhiều đối tượng khác nhau; tiếp cận những vùng dân trí còn hạn chế để lôi kéo tham gia…

Trước tình hình dịch bệnh Covid-19, các đối tượng luyện tập Pháp luân công tại Việt Nam đã ra sức tuyên truyền, phát tán tài liệu nhằm mục đích kêu gọi sự tham gia của nhiều người cùng vào luyện tập. Điển hình như vụ việc đưa nội dung tuyên truyền Pháp luân công vào gói khẩu trang để phát tán, bị lực lượng Công an tỉnh Hà Tĩnh phát hiện vào cuối tháng 3/2020. Vào tháng 4/2020, Công an tỉnh Bình Phước cũng phát hiện 02 đối tượng lợi dụng việc phát cơm từ thiện để phát tán tài liệu tuyên truyền về Pháp luân công. 


Ngoài ra, lực lượng Công an cũng đã phát hiện trường hợp các đối tượng luyện tập Pháp luân công tung tin giả trên mạng xã hội. Điển hình là vào ngày 13/8/2021, đối tượng Nguyễn Thị Tuyết (trú tại tỉnh Ninh Bình) đã sử dụng điện thoại truy cập vào tài khoản Facebook của mình có tên là “Quang Minh” và đăng tải, chia sẻ bài viết trên mạng xã hội với nội dung “Nhờ niệm 9 chữ chân ngôn” Pháp luân công để chữa khỏi Covid-19 và khẳng định trong vòng 10 ngày chuyển từ dương tính sang âm tính, không còn triệu chứng “Không 1 viên thuốc, không 1 phương cách nào khác”. Nội dung bài viết do Nguyễn Thị Tuyết đăng tải là hoàn toàn bịa đặt, không có cơ sở khoa học, gây hoang mang trong nhân dân, làm ảnh hưởng đến công tác phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. 


Người dân cần nhận diện rõ bản chất của Pháp luân công, kịp thời phát hiện, trình báo với lực lượng Công an khi xuất hiện người có hành vi truyền bá Pháp luân công trên địa bàn./. 



Nhận diện đúng và thực hiện quyết liệt, thường xuyên các giải pháp phòng, chống “diễn biến hoà bình”

 Thứ nhất, cần xác định công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ

đoạn chống phá của các thế lực thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị

dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên

và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, kết hợp chặt

chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là chính. Tuyên truyền giúp cán bộ, đảng

viên và Nhân dân nâng cao cảnh giác, tạo sức đề kháng trước những thông tin,

quan điểm sai trái, thù địch.

Thứ hai, cấp uỷ, chính quyền các cấp nhất là người đứng đầu các cơ quan,

đơn vị phải chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững lập

trường tư tưởng, chính trị cho cán bộ, đảng viên. Bản lĩnh chính trị của cán bộ,

đảng viên là yếu tố cơ bản, then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu của các đơn vị;

đồng thời, giữ vai trò định hướng thúc đẩy hành động và hành vi tích cực của

cán bộ, đảng viên. Đối với tổ chức đảng phải thường xuyên chăm lo xây dựng

nội bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện, chủ động nắm bắt tình hình, định

hướng dư luận không để bị động, bất ngờ khi có tình huống xảy ra, coi đây là

yếu tố then chốt quyết định đến thắng lợi của nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến

hòa bình”.

Thứ ba, cần quán triệt sâu sắc phương châm, gắn “xây dựng với bảo vệ”,

“bảo vệ với xây dựng”; xây dựng là một nội dung của bảo vệ và là biện pháp

chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội hiệu quả

nhất. Như đã phân tích, mục đích của các thế lực thù địch nhằm thúc đẩy “phi


chính trị hóa” quân đội, công an hòng làm ta từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng,

phai nhạt bản chất giai cấp, lý tưởng cách mạng, xa rời phương hướng chính trị,

mục tiêu chiến đấu và cuối cùng dẫn tới xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Âm mưu

của họ rất thâm hiểm.

Thứ tư, xây dựng tổ chức lực lượng nòng cốt trong công tác đấu tranh

phòng chống “diễn biến hòa bình”. Lực lượng tham gia đấu tranh chống “diễn

biến hòa bình” phải được tổ chức bài bản và có các phương án, xây dựng, bố trí

lực lượng chủ công trên từng lĩnh vực tư tưởng, chính trị, văn hóa, văn học,

nghệ thuật, kết hợp giữa tin bài trên các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả

mạng xã hội, báo cáo viên, thông tin chuyên đề thời sự trong sinh hoạt đảng,

đoàn thể. Tổ chức các diễn đàn đối thoại, các hoạt động khoa học có tính chuyên

sâu, tập hợp được chuyên gia, trí thức, văn nghệ sỹ bàn về những vấn đề đang

được dư luận xã hội quan tâm, có liên quan đến lợi ích của đất nước, qua đó thu

hẹp khoảng cách bất đồng quan điểm, chính kiến, không để xuất hiện các tổ

chức, quan điểm chính trị đối lập.

Thứ năm, phát huy mạnh mẽ vai trò của báo chí, truyền thông đối với

công cuộc đấu tranh phòng, chống “Diễn biến hoà bình”. Đảm bảo tính tư

tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính định hướng, cần phát

huy vai trò của báo chí trong việc tạo dòng thông tin chủ lưu tích cực, góp phần

tăng cường sự đoàn kết, nhất trí về tư tưởng, chính trị trong nhân dân. Kiên

quyết đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, khắc phục các biểu

hiện thương mại hoá, xa rời tôn chỉ, mục đích và các biểu hiện tiêu cực, lệch lạc.

Để chống “diễn biến hoà bình”, báo chí cần tăng cường giáo dục ý thức xã hội

chủ nghĩa cho quần chúng nhân dân, đặc biệt là thanh niên, sinh viên hiểu và

nhận thức rõ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tình hình kinh tế,

chính trị, xã hội của đất nước; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa

thực dụng… Báo chí cần tuyên truyền tinh thần yêu nước, thúc đẩy tiến trình

công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ vững phương hướng đúng đắn trong chỉ đạo

dư luận, làm thất bại những âm mưu của “diễn biến hoà bình”.