Thứ Tư, 4 tháng 10, 2023

 

KHÔNG THỂ ĐÁNH ĐỒNG HIỆN TƯỢNG

VỚI BẢN CHẤT, CÁ NHÂN VỚI TẬP THỂ

Lợi dụng vi phạm của một số cán bộ, đảng viên, các thế lực phản động, thù địch tìm mọi cách hạ thấp uy tín nhằm phủ nhận tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng; gây chia rẽ nội bộ Đảng và làm suy giảm lòng tin của nhân dân. Đây là thủ đoạn chống phá nguy hiểm cần sớm nhận diện và đấu tranh loại bỏ.

Thời gian vừa qua, cán bộ lãnh đạo của một số địa phương đã bị cơ quan chức năng khởi tố, tạm giam do có hành vi vi phạm quy định của pháp luật. Vi phạm của các cá nhân này đã gây hậu quả rất nghiêm trọng, thiệt hại lớn cho ngân sách nhà nước, người dân và xã hội; gây dư luận xấu, làm mất uy tín của tổ chức đảng, chính quyền địa phương.

Việc khởi tố, bắt tạm giam những cá nhân nêu trên đã thể hiện tinh thần đấu tranh không khoan nhượng của Đảng ta đối với tham nhũng, tiêu cực và đã nhận được sự đồng tình của dư luận. Tuy nhiên, với động cơ thiếu trong sáng và góc nhìn phiến diện, các thế lực thù địch, phản động đã đưa ra những luận điệu sai trái, gây “nhiễu” dư luận. Trên nhiều trang mạng xã hội xuất hiện luận điệu cho rằng vụ việc bị xử lý là do “đấu đá nội bộ”. Đặc biệt, một số ý kiến còn lợi dụng vụ việc để bôi nhọ Đảng theo kiểu “đến người đứng đầu tỉnh còn vi phạm”; từ đó “liên hệ” “gợi mở” nhiều vấn đề theo hướng đổ lỗi vi phạm của cán bộ, đảng viên là do thể chế, do “Đảng Cộng sản Việt Nam độc quyền lãnh đạo”… nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; kêu gọi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng.

Trước hết cần khẳng định, việc khởi tố, bắt tạm giam những cá nhân nói trên là các vụ việc cụ thể được thực hiện sau quá trình điều tra, xác minh của cơ quan chức năng và phù hợp với các quy định hiện hành. Vi phạm của họ xuất phát từ việc thiếu tu dưỡng, rèn luyện. Và việc họ bị xử lý theo các quy định của Đảng, của pháp luật là hệ quả tất yếu. Đây là vi phạm của cá nhân đảng viên; hoàn toàn không thể đồng nhất với bản chất của Đảng như các thế lực phản động, thù địch đang cố gắng tuyên truyền, xuyên tạc.

Thực tế cũng cho thấy, công cuộc xây dựng đất nước thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội là quá trình lâu dài, gian khó, chưa có trong tiền lệ. Vì vậy, quá trình đó khó có thể tránh khỏi những thiếu sót, vấp váp, nhất là trong công tác lãnh đạo, quản lý. Trong đội ngũ đông đảo cán bộ, đảng viên cũng sẽ khó tránh khỏi việc có những người mắc phải những khuyết điểm, thiết sót, sai lầm. Để hạn chế điều đó, Đảng, Nhà nước ta đã có những “hàng rào” quy định, luật pháp với những chế tài mạnh mẽ để quản lý, giáo dục, răn đe, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm. Mỗi cán bộ, đảng viên ai cũng đều phải trải qua quá trình phấn đấu rèn luyện để đạt được những tiêu chí, tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực nhất định. Ngay cả khi cán bộ, đảng viên ở vị trí lãnh đạo có vi phạm thì vẫn bị xử lý nghiêm minh theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt, những biểu hiện cụ thể của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được Đảng ta thẳng thắn chỉ ra ở Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII); các quy định cụ thể về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) về những điều đảng viên không được làm… Đó là những nỗ lực của Đảng, Nhà nước nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất.

Theo thống kê, chỉ trong 10 năm (giai đoạn 2012-2022), với sự nghiêm khắc trong xử lý kỷ luật đảng, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên, trong đó có 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng hoặc liên quan đến tham nhũng. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra T.Ư đã kỷ luật hơn 170 cán bộ thuộc diện T.Ư quản lý, trong đó có 33 Ủy viên và nguyên Ủy viên T.Ư Đảng, hơn 50 sĩ quan cấp tướng. Đặc biệt, tính riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng tới nay, 50 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý đã bị xử lý kỷ luật, trong đó có 8 Ủy viên, nguyên Ủy viên T.Ư Đảng, 20 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang (1). Song, đây chỉ là những “con sâu làm rầu nồi canh”; không thể đánh đồng cá nhân với tập thể, không thể đồng nhất những hiện tượng vi phạm đó với bản chất của Đảng, của chế độ. Sự trong sạch, tinh thần làm việc hết mình vì dân, vì nước của đại bộ phận cán bộ, đảng viên, của lãnh đạo Đảng, Nhà nước là cơ sở quan trọng đưa đến những bước phát triển mạnh mẽ của đất nước ta trong hơn 35 năm qua, kể từ khi công cuộc Đổi mới được Đảng khởi xướng. Điều đó cũng đã được nhân dân ghi nhận, trân trọng.

Mặt khác, mưu đồ nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động không thể che đậy được khi lợi dụng vi phạm của một số cá nhân, đảng viên, chúng ra sức tuyên truyền các luận điệu nhằm hạ thấp uy tín nhằm phủ nhận tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng; gây chia rẽ nội bộ Đảng và làm suy giảm lòng tin của nhân dân. Rõ ràng, mục đích sâu xa của các thế lực thù địch, phản động là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng cần tỉnh táo, đề cao cảnh giác trước các luận điệu phản động, sai trái nói trên./.

 

LỢI DỤNG TÔN GIÁO ĐỂ CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Trong giai đoạn hiện nay, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Chúng lợi dụng con đường công khai, hợp pháp để triển khai các hoạt động xâm phạm lợi ích quốc gia – dân tộc; chúng tìm mọi “mưu ma chước quỷ” hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính trị của đất nước… trong đó, có chiêu bài lợi dụng vấn đề tôn giáo, đội lốt tôn giáo để thực hiện mưu đồ chống phá.

Có thể nhận diện các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tôn giáo để chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam, gồm:

Ở nước ngoài: 1) số đối tượng có tư tưởng chống phá Việt Nam trong các tổ chức nhân quyền, tôn giáo thế giới, chủ yếu ở Mỹ và Châu Âu. 2) một số nghị sĩ, chính khách ở các nước TBCN có tư tưởng cực đoan chống CNXH. 3) các báo, đài phản động chống Việt Nam. 4) các tổ chức phản động, lưu vong người Việt ở nước ngoài. 5) các tổ chức chống đối trong các tôn giáo ở hải ngoại.

Ở trong nước: 1) số đối tượng chống đối trong các tôn giáo (không thừa nhận các tôn giáo, tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận). 2) các tổ chức tôn giáo trong các tôn giáo chưa/ không được Nhà nước công nhận (cả trong 16 tôn giáo và các “hiện tượng tôn giáo mới”, đạo lạ, tà đạo). 3) các đối tượng phản động, cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất, vi phạm pháp luật.

Tuy âm mưu, hoạt động lợi dụng tôn giáo để chống phá có khác nhau, nhưng chúng luôn câu kết, móc nối chặt chẽ với nhau, cùng hướng đến chiến lược “diễn biến hoà bình”,xác định cácmục tiêu cơ bản, xuyên suốt là: chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; kích động đồng bào các tôn giáo chống lại đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đối lập họ với Đảng; làm mất hiệu lực và tính hiệu quả trong hoạt động quản lý của Nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội; gây mất ổn định chính trị xã hội, tạo cớ can thiệp hoặc khi thời cơ đến kích động bạo loạn lật đổ; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; làm chệch hướng, tiến tới xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam.

Theo đó, chúng thường lợi dụng các vấn đề như: đức tin và sự gắn kết cộng đồng tôn giáo để lôi kéo, tập hợp lực lượng chống đối; khoét sâu những mâu thuẫn, vấn đề nảy sinh về tôn giáo để chống phá; lợi dụng những sơ hở, bất cập, yếu kém trong thực hiện công tác tôn giáo và các vấn đề nhạy cảm được dư luận quan tâm để thổi phồng, xuyên tạc “đặt điều dựng chuyện”; lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các hiện tượng tôn giáo mới, mạng xã hội để công kích, vu khống…

Cụ thể hơn, có thể nhận diện các hoạt động của chúng ở nước ngoài gồm:Thứ nhất, thu thập thông tin từ những đối tượng phản động, chống đối trong các tôn giáo, các tổ chức tôn giáo trái pháp luật, không được Nhà nước công nhận để xuyên tạc tình hình tôn giáo, quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước. Trên cơ sở đó, chúng ban hành các đạo luật, báo cáo, kiến nghị… vu cáo, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, kích động các thế lực thù địch ở trong nước đẩy mạnh các hoạt động chống phá. Thứ hai, tổ chức các hoạt động chỉ đạo, hỗ trợ các đối tượng phản động, chống đối ở trong nước tiến hành các hoạt động chống phá. Các tổ chức phản động, lưu vong người Việt ở nước ngoài và các tổ chức chống đối trong các tôn giáo ở hải ngoại trực tiếp thực hiện âm mưu, thủ đoạn thâm hiểm này với nhiều hoạt động như: tổ chức các diễn đàn nhằm xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, kêu gọi “quốc tế” can thiệp; đẩy mạnh xuyên tạc, chống phá trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là mạng xã hội; tổ chức các hội luận, tập huấn, huấn luyện các hoạt động tuyên truyền, biểu tình, gây rối…; trực tiếp móc nối, hỗ trợ vật chất, tinh thần cho các thế lực thù địch trong nước.

Là lực lượng chủ yếu, trực tiếp thực hiện âm mưu chống phá, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động ở trong nước tập trung vào những khía cạnh: Một là, thường xuyên liên kết, câu kết chặt chẽ với nhau (Hội đồng liên tôn, Bàn tròn đa tôn giáo…) và tiếp nhận, thực hiện sự chỉ đạo, hỗ trợ của các thế lực thù địch ở nước ngoài. Hai là, đẩy mạnh các hoạt động soạn thảo, tán phát tài liệu kích động chống phá, cung cấp cho các thế lực thù địch ở nước ngoài những nội dung sai sự thật, thổi phồng sự kiện. Ba là, lợi dụng các ngày lễ của tôn giáo, các sự kiện nhạy cảm để kích động, lôi kéo tín đồ tập trung đông người, gây rối, biểu tình, gây mất an ninh trật tự. Bốn là, lợi dụng các “hiện tượng tôn giáo mới” để trục lợi, làm lệch chuẩn đạo đức, văn hóa xã hội, gây hoang mang dư luận và mất ổn định chính trị – xã hội.

Một sự thật hiển nhiên là, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tôn giáo không phải vì lợi ích của các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ, cũng không vì “tự do tôn giáo” như chúng thường rêu rao, mà là nhằm thực hiện mưu đồ chính trị phản động hòng phá hoại sự nghiệp cách mạng của chúng ta. Đây là điều đi ngược lại lợi ích chân chính của đồng bào có tín ngưỡng, theo tôn giáo, của các chức sắc, tín đồ tôn giáo mong muốn có cuộc sống “tốt đời đẹp đạo”, “đồng hành cùng dân tộc”, thực sự hạnh phúc trong một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tôn giáo là một bộ phận của chiến lược “diễn biến hòa bình”, đặc biệt nguy hiểm đối với cách mạng Việt Nam và đối với chính đồng bào theo tôn giáo. Nó trực tiếp “đẩy” đồng bào theo tôn giáo về phía đối lập với chính quyền và cách mạng. Do đó, Đảng ta đã xác định: “Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời, đẹp đạo”, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo quy định của pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự phát triển đất nước. Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; chia rẽ, phá hoại đoàn kết tôn giáo và khối đại đoàn kết toàn dân tộc”(12). Đây là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta, là yêu cầu cơ bản và cấp bách của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta trong tình hình mới, đòi hỏi sự nỗ lực và quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó có đồng bào theo tôn giáo.

Đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, được tiến hành bằng hệ thống các giải pháp đồng bộ vừa mang tính cấp bách vừa mang tính lâu dài; kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa, ngăn chặn với xử lý nghiêm minh theo pháp luật. Trước mắt, cần thực hiện tốt các định hướng chủ yếu: tuyên truyền, giáo dục; xác định nội dung, hình thức, biện pháp; tổ chức thực hiện; điều kiện bảo đảm. Trong đó, chú trọng nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho toàn xã hội; phát huy sức mạnh tổng hợp, tổ chức thực hiện “thích ứng” với từng giai đoạn, hoàn cảnh; có cơ chế, chính sách phù hợp…/.

 

 

BẢO ĐẢM AN NINH QUỐC GIA CỦA ĐẤT NƯỚC THỜI KỲ MỚI

An ninh quốc gia là vấn đề đặc biệt hệ trọng, then chốt của quốc gia. Công tác bảo đảm an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu và thường xuyên, được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ dự Hội nghị sơ kết phong trào thi đua đặc biệt “Công an nhân dân - Lá chắn thép phòng, chống dịch COVID-19, thanh bảo kiếm bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội” của Bộ Công an_Nguồn: TTXVN

Những nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia

Trong những năm gần đây, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, cục diện thế giới có sự biến động mạnh mẽ, các nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia cũng ngày càng đa dạng, như sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn; các thế lực thù địch luôn tìm cách đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; những thách thức an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu…

Trong bối cảnh đó, Đảng ta luôn chủ động nhận định, đánh giá tình hình, bổ sung, phát triển nhận thức tư duy về an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, Đảng ta đã chỉ ra 4 nguy cơ đối với sự tồn vong của Đảng, của chế độ, đồng thời với an ninh quốc gia, bao gồm: “Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới do điểm xuất phát thấp, nhịp độ tăng trưởng chưa cao và chưa vững chắc, lại phải đi lên trong môi trường cạnh tranh gay gắt; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa nếu không khắc phục được những lệch lạc trong chủ trương, chính sách và chỉ đạo thưc hiện; nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ nạn quan liêu; nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch” (1).

Từ đó đến nay, qua các kỳ đại hội, Đảng ta đều thẳng thắn đánh giá các nguy cơ này vẫn tồn tại, đồng thời xuất hiện nhiều nguy cơ mới, bao gồm các nguy cơ do tác động từ bên ngoài và các nguy cơ nảy sinh từ bên trong. Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn tồn tại, nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới, nguy cơ “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí diễn biến phức tạp; khoảng cách giàu - nghèo, phân hóa xã hội ngày càng tăng… Bảo vệ chủ quyền biển đảo đứng trước nhiều khó khăn, thách thức lớn. Tình hình chính trị - xã hội ở một số địa bàn còn tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định”(2).

Ngày nay, các mối đe dọa về an ninh phi truyền thống gia tăng, với quy mô, tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng, tác động đến lợi ích, an toàn, an ninh quốc gia Việt Nam. Tại Đại hội XI, lần đầu tiên, Đảng ta chỉ ra các nguy cơ, thách thức phi truyền thống đan xen với các nguy cơ, thách thức truyền thống. Theo đó, “những căng thẳng, xung đột tôn giáo, sắc tộc, ly khai, chiến tranh cục bộ, bạo loạn chính trị, can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn sẽ diễn ra gay gắt; các yếu tố đe dọa an ninh phi truyền thống, tội phạm công nghệ cao trong các lĩnh vực tài chính - tiền tệ, điện tử - viễn thông, sinh học, môi trường… còn tiếp tục gia tăng” (3). Đến Đại hội XIII, Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Những vấn đề toàn cầu, như: bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai, bệnh dịch, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường,… tiếp tục diễn biến phức tạp”(4) đặt ra nhiều thách thức lớn chưa từng có cho phát triển bền vững. Những thách thức an ninh phi truyền thống này có thể xuất hiện bất cứ lúc nào, bất cứ lĩnh vực nào của đời sống xã hội, ngày càng đa dạng, phức tạp, tác động sâu rộng. Nếu không chủ động và tích cực phòng ngừa, ứng phó thì khi phát sinh dễ tạo ra những hậu quả khó lường đối với an ninh quốc gia.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, mở ra nhiều cơ hội, song cũng đặt ra không ít thách thức đối với vấn đề an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống, nhất là tội phạm công nghệ cao, đe dọa thông tin, an ninh mạng. Điều này càng trở nên phức tạp khi chúng ta chưa chủ động về công nghệ, còn lệ thuộc vào các nhà cung cấp dịch vụ xuyên biên giới, tiềm ẩn nguy cơ gây mất chủ quyền an ninh thông tin. Nhu cầu đầu tư vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự công nghệ cao có thể dẫn đến cuộc chạy đua vũ trang nguy hiểm, đe dọa an ninh các quốc gia.

Trên cơ sở phân tích, dự báo bối cảnh mới và các vấn đề đặt ra với an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia hiện nay, bảo đảm các vấn đề mang tính nguyên tắc, Đảng ta đưa ra những quan điểm đổi mới về bảo đảm an ninh quốc gia của đất nước trong thời kỳ mới, phù hợp với diễn biến của bối cảnh quốc tế và tình hình trong nước; tham khảo các quan điểm về an ninh quốc gia trên thế giới, vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của đất nước ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn phát triển. Đó là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của đất nước, nhất là vai trò của nhân dân; giữ nước phải giữ từ thời bình, giữ nước phải giữ từ khi nước chưa lâm nguy; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước, nhân dân, làm nòng cốt cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Mục tiêu của sự kết hợp hai nhiệm vụ chiến lược, xây dựng gắn liền với bảo vệ Tổ quốc là phát huy được sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng; là kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; quốc phòng với an ninh; quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hoá, xã hội và đối ngoại để giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tạo môi trường hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 chỉ rõ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, lãnh thổ toàn vẹn của Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, sự ổn định chính trị, trật tự và an toàn xã hội, quyền làm chủ của nhân dân, làm thất bại mọi âm mưu và hành động của các thế lực đế quốc, phản động phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của toàn dân và của Nhà nước” (5).

Đại hội XIII của Đảng xác định vị trí của nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia trong mối tương quan với các nhiệm vụ chiến lược khác: “Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên” (6). Như vậy, nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh trở thành một trong bốn nhiệm vụ trọng yếu trong sự nghiệp cách mạng hiện nay.

Trong bối cảnh, tình hình mới, an ninh quốc gia đứng trước những nguy cơ, thách thức mới rất phức tạp, đòi hỏi phải có chiến lược mới với tầm nhìn, hệ thống giải pháp dài hạn, chủ động để giữ vững an ninh quốc gia trong mọi tình huống. Đại hội XIII của Đảng nhận định, vấn đề an ninh quốc gia cần được hiểu một cách toàn diện hơn, rộng hơn, sâu hơn, không chỉ có các vấn đề an ninh chính trị, quân sự truyền thống, mà còn bao quát cả những vấn đề an ninh phi truyền thống. An ninh quốc gia bao gồm: An ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh quân sự, an ninh biên giới, biển, đảo, an ninh đối ngoại, an ninh tư tưởng - văn hóa, an ninh xã hội, an ninh thông tin, an ninh cơ sở dữ liệu, an ninh mạng, an ninh doanh nghiệp, an ninh tài chính - tiền tệ, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh dân cư, an ninh dân số, an ninh môi trường, an ninh con người... Tại Đại hội XIII, vấn đề “an ninh con người” được chú trọng, đề cao và được đề cập trong nhiều nội dung của Văn kiện Đại hội, điều này cũng phản ánh quan điểm lấy người dân làm trung tâm của Đảng ta.

Phương thức bảo đảm an ninh quốc gia trong tình hình mới

Trải qua hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia đã đạt được những thành tựu to lớn. An ninh trên các lĩnh vực, các địa bàn được giữ vững; trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm, tạo môi trường hòa bình, ổn định, phục vụ công cuộc xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Những thành tựu đó là kết quả phấn đấu của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với vai trò nòng cốt của lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân. Trong mỗi giai đoạn phát triển, tùy thuộc vào từng điều kiện, bối cảnh những thuận lợi, thách thức về an ninh, Đảng ta đề ra những chiến lược, kế sách phù hợp bảo vệ an ninh quốc gia vững chắc.

“Đại hội XIII của Đảng diễn ra trong bối cảnh đất nước đang đứng trước nhiều thời cơ và thách thức đan xen, nhiều vấn đề chiến lược mới đặt ra phải giải quyết, từ tình hình quốc tế, khu vực dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường đến các thách thức toàn cầu về biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và cả những thành tựu ngoạn mục của tiến bộ khoa học và công nghệ đang tác động mạnh mẽ tới đời sống kinh tế - xã hội của đất nước ta cũng như toàn thế giới” (7). Để bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia trong tình hình mới, cần tập trung thực hiện một số  phương thức và giải pháp chủ yếu sau:

Thứ nhất, xác định “chủ động phòng ngừa” là chính. Ứng phó kịp thời, hiệu quả với các đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Chú trọng an ninh, an toàn là một trong những yếu tố hàng đầu trong cuộc sống của người dân. Trong bối cảnh, tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh, phức tạp, khó dự báo, để bảo đảm các mục tiêu phát triển, Đại hội XIII của Đảng xác định phương hướng: “Chủ động chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng các phương án bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình huống” (8). Điều này thể hiện tư duy trong bảo vệ an ninh quốc gia là luôn giữ vững thế chủ động chiến lược trong mọi tình huống, trong mọi hoàn cảnh. Tinh thần an ninh chủ động còn được thể hiện rõ nét ở việc mở rộng phạm vi, không gian bảo vệ an ninh quốc gia, chú trọng giải quyết cả các vấn đề về an ninh phi truyền thống: “Chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh” (9) …

Thắm tình quân dân_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Thứ hai, chú trọng xây dựng lực lượng bảo vệ an ninh quốc gia cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Văn kiện Đại hội XIII nêu rõ: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” (10). Xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh, hiện đại, hữu dụng.

Thứ ba, xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng, củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Kết hợp chặt chẽ, có hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và ngược lại. Cụ thể hóa và thực hiện có hiệu quả hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; trong từng địa phương, vùng, địa bàn chiến lược và trong từng nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch cụ thể (11). Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, chủ động tích cực, hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực. Xét về phương diện bảo vệ an ninh quốc gia, xây dựng, phát triển toàn diện kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại là cơ sở, tiền đề, là phương thức để bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia và bảo đảm an ninh quốc gia là điều kiện quan trọng để xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Các phương thức đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia cần được sử dụng một cách tổng hợp, linh hoạt, mềm dẻo, đặt trong mối quan hệ và sự tương tác lẫn nhau để huy động sức mạnh tổng hợp và vai trò của mọi lĩnh vực, mọi lực lượng để bảo vệ Tổ quốc./.

 

 

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

                                                                                               Chú trọng các giải pháp phòng ngừa bằng việc công khai, minh bạch các cơ chế chính sách, đẩy mạnh cải cách hành chính; chú trọng kiểm tra, giám sát những lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực, đồng thời xử lý nghiêm sai phạm. Đó là những điểm nhấn trong công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN) của tỉnh Tiền Giang thời gian qua, cũng là kinh nghiệm quan trọng để tỉnh làm tốt hơn nhiệm vụ này trong giai đoạn tới.

* Điểm nhấn trong công tác PCTN

Chiến lược quốc gia về PCTN đến năm 2020 của Chính phủ cũng xác định "PCTN là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của các ngành, các cấp, nhấn mạnh trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị, đề cao vai trò của xã hội, các tổ chức đoàn thể và quần chúng Nhân dân PCTN là nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài, xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới". 

Trong những năm qua, tỉnh đã quyết liệt trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo PCTN; ban hành đồng bộ hệ thống văn bản chỉ đạo, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về PCTN... với phương châm xác định PCTN là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt, lãnh đạo tỉnh đã tập trung thực hiện hiệu quả các nhóm giải pháp về PCTN, nổi bật là nâng cao nhận thức và phát huy vai trò của toàn xã hội trong PCTN.

Năm 2020, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã lãnh đạo, chỉ đạo các ban, ngành, địa phương chủ động nắm chắc tình hình, đấu tranh ngăn chặn làm thất bại mọi âm mưu của các thế lực thù địch, tập trung giải quyết kịp thời các vấn đề nổi cộm, bức xúc ở cơ sở. Lực lượng Công an phối hợp với các địa phương đẩy mạnh các hoạt động đấu tranh, trấn áp các loại tội phạm, trong đó tập trung vào tội phạm hoạt động theo băng nhóm, cướp giật, trộm cắp tài sản và ma túy; công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án bảo đảm đúng người, đúng tội, không oan sai, không bỏ lọt tội phạm.

Phát biểu tại Hội nghị tổng kết công tác nội chính, cải cách tư pháp và PCTN năm 2020, triển khai nhiệm vụ năm 2021, đồng chí Võ Văn Bình, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy yêu cầu các cấp, các ngành cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, tuyên truyền sâu rộng, triển khai thực hiện nghiêm túc các văn bản của Trung ương, của tỉnh về công tác nội chính, PCTN và cải cách tư pháp; đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến giáo dục nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho các tầng lớp Nhân dân; tiếp tục tổ chức thực hiện tốt công tác tiếp công dân, nhất là nêu cao tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của Nhân dân.

* Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác PCTN

Có thể khẳng định, PCTN là một lĩnh vực công tác luôn thu hút được sự quan tâm đặc biệt của xã hội, thể hiện sự tin tưởng của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Thời gian qua, công tác PCTN trên phạm vi cả nước nói chung và tỉnh Tiền Giang nói riêng đạt được những kết quả khá tích cực, để lại dấu ấn tốt, lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống xã hội như lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: "Công tác PCTN, lãng phí, tiêu cực đã trở thành phong trào, xu thế, được nhân dân đồng tình, đánh giá cao". Để công cuộc đấu tranh PCTN hiệu quả, các cấp ủy, tổ chức Đảng, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phương của tỉnh cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, mạnh mẽ, đồng bộ với quyết tâm cao, trong đó tập trung vào các nội dung cơ bản:

Một là, cần chú trọng công tác tuyên truyền về PCTN gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Gắn công tác PCTN với thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, gắn PCTN với xây dựng và chỉnh đốn Đảng; chấn chỉnh, đấu tranh, loại bỏ tư tưởng lo ngại việc đẩy mạnh PCTN của một số cán bộ, công chức, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

Hai là, xây dựng và ban hành bộ quy tắc ứng xử của cán bộ, đảng viên trong công việc và trách nhiệm giải trình trước cơ quan có trách nhiệm về những vấn đề liên quan theo quyền hạn, chức trách, nhiệm vụ được giao. Có cơ chế phù hợp khen thưởng, bảo vệ người tố cáo tham nhũng, lãng phí đúng. Tạo điều kiện, cơ chế đãi ngộ xứng đáng cho đội ngũ chuyên trách làm công tác PCTN. Nâng cao mức sống cho đội ngũ cán bộ, công chức thực thi chức trách, nhiệm vụ được giao, từ đó chấp hành tốt "bốn không"(không muốn tham nhũng, không thể tham nhũng, không dám tham nhũng và không cần tham nhũng) trong PCTN.

Ba là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát kỷ luật Đảng; quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên, công chức; siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy Nhà nước. Nhiệm vụ này phải được tiến hành thường xuyên, toàn diện, công khai, dân chủ, thận trọng, chặt chẽ. Kiểm tra toàn diện công tác cán bộ, chú trọng kiểm tra, giám sát cán bộ có biểu hiện tham nhũng, dư luận xã hội phản ánh, tố cáo; cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Đặc biệt, cần phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò của Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên và báo chí trong đấu tranh PCTN.

Bốn là, thực hiện cải cách hành chính quyết liệt hơn, chú trọng rà soát, đơn giản hóa, công khai thủ tục hành chính, mở rộng các lĩnh vực cung cấp dịch vụ công trực tuyến; công khai, minh bạch, tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận thông tin và giám sát việc thực thi công vụ của cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng kế hoạch và thực hiện việc chuyển đổi vị trí công tác hàng năm, điều chuyển vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức không hoàn thành nhiệm vụ, mức độ hài lòng của người dân không cao, uy tín giảm sút. Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ việc kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn và PCTN trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước theo đúng quy định của Luật PCTN năm 2018.

Năm là, đưa nội dung PCTN và kiểm tra, rà soát các cuộc thanh tra kinh tế - xã hội, việc thực hiện các kiến nghị của cơ quan Thanh tra, Kiểm toán Nhà nước vào chương trình kiểm tra, giám sát hàng năm của cấp ủy. Trong đó, đặc biệt tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra các lĩnh vực quản lý, cho thuê đất công, mua bán, chuyển nhượng tài sản công, quản lý trật tự xây dựng, xây dựng cơ bản, quản lý, sử dụng tài chính, công tác tổ chức, cán bộ. Chú trọng kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực trong công tác tổ chức, cán bộ; kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên có biểu hiện tham nhũng, nhiều đơn thư phản ánh, tố cáo tham nhũng; cán bộ có dấu hiệu suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật về bảo vệ người tố cáo; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên sai phạm, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy Nhà nước.

Sáu là, phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh các vụ án liên quan đến tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm. Tập trung lực lượng, phối hợp chặt chẽ để giải quyết các vụ việc phát sinh mới với nguyên tắc: "Tích cực, khẩn trương, làm rõ đến đâu xử lý đến đó", "Không có vùng cấm", "Không có ngoại lệ". Kiên quyết xử lý nghiêm những người bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, can thiệp, cản trở việc xử lý hành vi tham nhũng. Ngăn chặn, xử lý có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp, nhất là "tham nhũng vặt" trong giải quyết công việc.

Bảy là, các cơ quan chức năng tập trung nâng cao chất lượng công tác tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; chấp hành nghiêm quy định của pháp luật trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, bảo đảm các hành vi phạm tội phải được phát hiện, xử lý kịp thời. Phối hợp chặt chẽ trong giải quyết các vụ việc, vụ án kinh tế, tham nhũng; nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ việc, vụ án kinh tế, tham nhũng. Chú trọng công tác điều tra, mở rộng án, thu hồi tài sản, không để các đối tượng đối phó, tiêu hủy tài liệu, bỏ trốn, tẩu tán tài sản; không để xảy ra oan, sai, bỏ lọt tội phạm.

Tám là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về công vụ, công chức, nhất là việc thực thi công vụ, những vị trí trực tiếp giải quyết yêu cầu của công dân, tổ chức, doanh nghiệp. Đồng thời, công bố công khai các kết luận và kết quả kiểm tra, thanh tra có liên quan đến tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của cán bộ, công chức. Cụ thể hóa và tăng cường kiểm tra nhằm đảm bảo thực hiện nghiêm các quy định của Luật PCTN về công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở và trong các lĩnh vực, nhất là việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội. Xử lý nghiêm đối với cán bộ, công chức có hành vi tham nhũng, tiêu cực, sai phạm về chuyên môn.

 

ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG, NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO, SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA ĐẢNG.

                                                         Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là giải pháp quan trọng hàng đầu để bảo đảm Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, giữ vững vị thế của Đảng trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, nâng cao uy tín lãnh đạo của Đảng. Thường xuyên xây dựng và chỉnh đốn về mọi mặt chính là quy luật tồn tại và phát triển của một đảng cách mạng chân chính. Đảng phải luôn đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xem đó là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa quyết định đến sự tồn vong của Đảng và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ; do đó, phải tăng cường xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.

Trong tình hình hiện nay, phải tiếp tục thực hiện quyết liệt, hiệu quả mục tiêu, nhiệm vụ công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra; theo đó, phải kết hợp chặt chẽ và hiệu quả giữa xây dựng với chỉnh đốn Đảng; giữa xây dựng Đảng với bảo vệ Đảng. Không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; tăng cường xây dựng Đảng về chính trị; hết sức coi trọng xây dựng Đảng về tư tưởng. Kiên định, vững vàng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, đường lối đổi mới, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Tăng cường giáo dục truyền thống văn hóa, lịch sử cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc; không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên; thường xuyên đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tập trung xây dựng Đảng trong sạch về đạo đức, tích cực đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ gắn với đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phát huy thật tốt trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm “chức vụ càng cao, càng phải gương mẫu”. Thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; luôn gương mẫu trong thực hiện nguyên tắc, kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích của quốc gia - dân tộc và của nhân dân.

 

 

SÁNG MÃI MỐI QUAN HỆ MẬT THIẾT

GIỮA ĐẢNG VỚI NHÂN DÂN

 

Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Nhìn lại chặng đường lịch sử của cách mạng Việt Nam trong suốt hơn 93 năm qua, có thể khẳng định, mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân luôn là mối quan hệ gắn bó mật thiết, là yếu tố quyết định tạo nên sức mạnh to lớn, làm nên những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Nhân dân ta đã một lòng theo Đảng, trải qua bao khó khăn, gian khổ, hy sinh để bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

Mục tiêu lý tưởng của Đảng là vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và hạnh phúc của nhân dân. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm chăm lo quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, luôn “đặt lợi ích của quốc gia - dân tộc, nhân dân lên trên hết, trước hết”; luôn coi trọng việc lắng nghe, nắm bắt tình hình và giải quyết nguyện vọng, kiến nghị hợp pháp, chính đáng, vấn đề bức xúc của nhân dân; góp phần tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân và phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Nhờ đó, niềm tin của nhân dân đối với Đảng ngày càng được củng cố, tăng cường; vị thế, uy tín, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng không ngừng được nâng lên ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới. Mối quan hệ tốt đẹp, gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân chính là tiền đề, điều kiện và là nguồn sức mạnh, động lực để cách mạng nước ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đặc biệt, sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới và hơn 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước; đồng thời, ngày càng củng cố, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân./.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: KIÊN QUYẾT, BỀN BỈ TRONG “CUỘC CHIẾN” GIỮ VỮNG VỊ THẾ, UY TÍN, THANH DANH CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM!

         Để góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, vấn đề cần quan tâm hiện nay là phải nhận thức đúng đắn, thực hiện đồng bộ việc nâng cao hiệu quả, tăng cường tính chiến đấu và bảo đảm tính thuyết phục trong “cuộc chiến” giữ gìn, bảo vệ vị thế, uy tín, thanh danh của Đảng Cộng sản Việt Nam và bản chất chế độ chính trị-xã hội ưu việt mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn!

Kiên trì bồi đắp niềm tin, lý tưởng cao đẹp cho cán bộ, đảng viên và nhân dân
Mục tiêu của việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch là giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, sự ổn định chính trị-xã hội, nâng cao nhận thức chính trị cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Nếu xa rời nguyên tắc này thì việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch cũng không có tính mục đích.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch phải góp phần vào việc tuyên truyền Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nghiên cứu, phổ biến, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên và quần chúng. Mặt khác, thực hiện hiệu quả nhiệm vụ này sẽ góp phần bồi dưỡng lập trường, tư tưởng, ý thức hệ, thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, hình thành tư duy lý luận chính trị cho những người xây dựng và hoạch định chính sách, cũng như những nhà nghiên cứu khoa học lý luận nói chung; góp phần vào việc bổ sung, phát triển những nguyên lý, lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận trong nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch phải góp phần hình thành, bồi đắp niềm tin, lý tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng trong công cuộc xây dựng xã hội mới, con người mới. Sự vững vàng về lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước các cấp trong hệ thống chính trị chính là hiệu quả thiết thực trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần củng cố niềm tin vững chắc vào con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn.

Vận dụng phương pháp đấu tranh mác-xít trong “cuộc chiến” bảo vệ Đảng
Trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay, chúng ta cần vận dụng phương pháp mà các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác-Lênin đã đấu tranh trực diện với những quan điểm sai trái, thù địch nhằm phủ nhận, xuyên tạc, bôi nhọ Chủ nghĩa Mác-Lênin.

Ngay từ đầu năm 1842 đến tháng 3-1843, C.Mác và Ph.Ăngghen đã tích cực đấu tranh, vạch trần bản chất vụ lợi, sự lừa gạt của luật pháp và nhà nước Phổ; thể hiện sự cảm thông sâu sắc với tình cảnh khổ cực của những người nông dân trồng nho xứ Môden. Những bài viết đăng trên Báo Sông Ranh thời gian này bước đầu hình thành tính phê phán, tính chiến đấu mạnh mẽ của C.Mác và Ph.Ăngghen đối với những khuynh hướng duy tâm và lập trường chính trị thỏa hiệp, phản động của một số nhà triết học, nhà tư tưởng, nhất là những đại biểu của phái Hêghen trẻ.

Thông qua các tác phẩm: “Vấn đề Do Thái”, “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen-Lời nói đầu”, “Tình cảnh giai cấp công nhân Anh”, “Lược khảo phê phán khoa kinh tế chính trị”, “Gia đình thần thánh”, “Tư bản”..., C.Mác và Ph.Ăngghen tiếp tục làm rõ những hạn chế của cách mạng tư sản và phê phán những quan điểm phản động, phản cách mạng, chủ nghĩa vô chính phủ, trực tiếp phân tích và phê phán xã hội tư bản. Đặc biệt, “Chống Đuyrinh” là một tác phẩm kiểu mẫu đấu tranh chống kẻ thù của Chủ nghĩa Mác.

V.I.Lênin đã khẳng định rằng, toàn bộ giá trị của học thuyết Mác là ở chỗ, lý luận đó về bản chất là một lý luận có tính chất phê phán và cách mạng. V.I.Lênin đã phê phán toàn diện triết học duy tâm tư sản và chủ nghĩa xét lại trong triết học. Các tác phẩm của V.I.Lênin đã kết hợp một cách hữu cơ tinh thần cách mạng chiến đấu với tính khoa học sâu sắc, góp phần nâng cao nhận thức và sự nghiệp cải tạo thế giới bằng con đường cách mạng.

Ngày nay, những quan điểm sai trái, thù địch núp bóng ở nhiều vấn đề khác nhau và rất khó nhận diện. Tuy nhiên, kiên định với những nguyên lý căn bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin và giữ vững nguyên tắc của Đảng thì chúng ta hoàn toàn có thể phát hiện, nhận diện và có dũng khí đấu tranh với mọi quan điểm sai trái, thù địch.

Khẳng định sức sống không thể phủ nhận của Chủ nghĩa Mác - Lênin
Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết khoa học, vì chủ nghĩa ấy đã chỉ ra được những quy luật khách quan trong sự vận động của tự nhiên, xã hội và tư duy; đồng thời lần đầu tiên, chủ nghĩa ấy đã tạo ra bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học khi làm cho lý luận gắn với hoạt động thực tiễn của con người. Tính khoa học và cách mạng của chủ nghĩa ấy có cơ sở từ sự tiếp thu toàn bộ những tinh hoa trong lịch sử tư tưởng của nhân loại từ thời cổ đại đến thời đại các ông, mà trực tiếp nhất là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị cổ điển Anh, chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp.

C.Mác đã tiến hành tổng kết lịch sử, kế thừa có chọn lọc, có phê phán toàn bộ tư tưởng xã hội trên cơ sở khái quát thực tiễn thời đại. Chủ nghĩa ấy được xây dựng trên cơ sở những thành tựu của khoa học tự nhiên, thông qua sự khái quát của C.Mác và Ph.Ăngghen nên nó là học thuyết chính xác. Cơ sở cho tính khoa học và tính cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin còn là thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản. Cho nên học thuyết ấy còn mang tính thực tiễn.

Lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin tuyệt đối không phải là khoa học trừu tượng, tư biện mà là khoa học về cách mạng, khoa học của thực tiễn và vì thực tiễn hướng tới mục tiêu giải phóng con người khỏi sự chế ngự bởi “vương quốc tất yếu”, để bước tới “vương quốc tự do”. Xuyên suốt toàn bộ di sản lý luận đồ sộ, sâu sắc của C.Mác là một thế giới quan mới và phương pháp luận khoa học và cách mạng, đem lại cho nhân loại tiến bộ và nhất là cho giai cấp công nhân một công cụ vĩ đại để nhận thức và cải tạo thế giới. Hạt nhân làm nên tính khoa học và cách mạng của học thuyết Mác chính là thế giới quan duy vật biện chứng-thế giới quan đã xây dựng nên học thuyết triết học mới, trong đó chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng thống nhất với nhau một cách hữu cơ thành một hệ thống chỉnh thể-chủ nghĩa duy vật biện chứng.

Trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng, C.Mác đã đưa ra hai phát minh khoa học vĩ đại là quan niệm duy vật lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư. Với quan niệm duy vật lịch sử, C.Mác đã thực hiện một cuộc cách mạng trong toàn bộ quan niệm về lịch sử thế giới. Lần đầu tiên trong lịch sử, các quy luật phát triển của xã hội loài người được phát hiện. Ph.Ăngghen viết: “Trên hành tinh của chúng ta, Sáclơ Đácuyn đã tìm ra quy luật phát triển của thế giới hữu cơ. Mác đã phát hiện ra quy luật cơ bản chi phối sự vận động và phát triển của lịch sử loài người”(1). V.I.Lênin khẳng định: “Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học. Một lý luận khoa học hết sức hoàn chỉnh và chặt chẽ đã thay cho sự lộn xộn và sự tùy tiện vẫn ngự trị từ trước đến nay trong các quan niệm về lịch sử và chính trị”(2) .

Với thắng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917, chủ nghĩa xã hội từ một học thuyết trở thành một chế độ chính trị-xã hội tồn tại đến ngày nay đã minh chứng hùng hồn cho giá trị và sức sống mãnh liệt, trường tồn và vai trò to lớn của Chủ nghĩa Mác-Lênin trong sự phát triển của lịch sử nhân loại.

Thực tiễn là chân lý chứng minh sự lựa chọn đúng đắn của chúng ta

Thước đo quan trọng nhất thể hiện tính hiệu quả của việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch chính là thành quả của sự nghiệp đổi mới, cuộc sống hạnh phúc của nhân dân ta.

Thông qua các hình thức tuyên truyền, truyền thông đa dạng, phong phú trên các kênh, chúng ta cần làm cho thế giới biết đến Việt Nam ngày nay đã có vị thế mới trong cộng đồng quốc tế, quy mô nền kinh tế ngày càng lớn mạnh. Từ một nước nông nghiệp, lạc hậu, quy mô nền kinh tế nhỏ bé, chỉ với 14 tỷ USD và thu nhập bình quân đầu người chỉ khoảng 250USD trong những năm đầu đổi mới, sau gần 4 thập niên, Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình và có quan hệ kinh tế-thương mại với hầu hết các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới.

Việt Nam đã tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) và các hiệp định thương mại tự do (FTA), nhất là các FTA thế hệ mới, là nước thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ổn định nhất trong ASEAN. Việc ký kết và thực thi các FTA, nhất là các FTA thế hệ mới, chủ trì các hội nghị đa phương lớn của Việt Nam trong thời gian qua, đặc biệt là FTA giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) với 28 nước thành viên EU, đã đánh dấu bước tiến mới của Việt Nam trong hội nhập quốc tế. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với nhiều nước, trong đó có tất cả các nước lớn trong khu vực và trên thế giới. Việt Nam đã thực sự chủ động, tích cực tham gia hội nhập quốc tế với một vị thế mới, bắt kịp với xu thế của thời đại.

Việt Nam đã được tín nhiệm bầu vào các cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc, như: Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009 và nhiệm kỳ 2020-2021; Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016 và nhiệm kỳ 2023-2025; Ủy ban Di sản thế giới của UNESCO nhiệm kỳ 2013-2017; Hội đồng Kinh tế-Xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016-2018. Năm 2020, Việt Nam cùng lúc đảm nhận, hoàn thành tốt 3 trọng trách: Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch ASEAN và Chủ tịch AIPA, góp phần nâng cao uy tín, vị thế trong khu vực và trên thế giới.

Mới đây, Việt Nam đề xuất và soạn thảo Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR) và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Vienna (VDPA), được Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc thông qua. Điều này đã hiện thực hóa chính sách đối ngoại chủ động, tích cực, có trách nhiệm tham gia giải quyết các vấn đề của cộng đồng quốc tế. Việt Nam đang trở thành nước có quan điểm, cách tiếp cận mới, góp phần định hướng những giá trị chung cho nhân loại.

Hiện nay, các nhà đầu tư quốc tế luôn coi Việt Nam là nước có nhiều tiềm năng, lợi thế cũng một phần bởi giá trị văn hóa, con người Việt Nam. Bên cạnh đó, với sự định hướng đúng đắn, quyết tâm cao của Đảng, Nhà nước và trên hết là một thể chế chính trị có vai trò định hướng, dẫn dắt và quản trị tốt, Việt Nam hoàn toàn có thể đạt được những bước tiến mới mạnh mẽ trong tương lai.

Những thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới đã chứng tỏ những người cách mạng chúng ta đang đi đúng hướng. Vì vậy, những quan điểm sai trái, thù địch cần phải được quét sạch trên con đường đi của chúng ta!
------------------
(1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, tập19, tr.496
(2) V.I.Lênin: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tập 23, tr.53
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: RẤT CẦN ĐỘT PHÁ VỀ LƯƠNG!

     Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII đang bàn nhiều nội dung rất cơ bản và quan trọng, trong đó có việc làm rõ lộ trình thực hiện chế độ tiền lương mới từ ngày 1-7-2024 theo Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21-5-2018 của Ban Chấp hành Trung ương về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp!
Tiền lương luôn là vấn đề được đông đảo người dân đặc biệt quan tâm vì ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của bản thân, gia đình; đồng thời có ý nghĩa quyết định trong việc tạo động lực, khuyến khích người lao động làm việc, cống hiến, thúc đẩy sự phát triển của mọi tổ chức nói riêng, đất nước nói chung.

Tiền lương cũng thể hiện sự phát triển hay đứng im hoặc tụt lùi của xã hội.

Thực tế nhiều năm qua, chính sách tiền lương của nước ta còn có những hạn chế, bất cập, nhất là còn nặng tính cào bằng, bình quân, chưa bảo đảm tốt cho cuộc sống, chưa thu hút và phát huy được nhân tài, chưa tạo được động lực để nâng cao chất lượng, hiệu quả làm việc của người lao động; không thể hiện rõ thứ bậc hành chính trong hoạt động công vụ.

Rất cần đột phá về lương!
Quang cảnh hội nghị. Ảnh: QĐND 
Thật vô lý khi cán bộ có chức vụ, trách nhiệm cao mà lương nhiều hơn nhân viên không đáng kể. Thậm chí, nhiều trường hợp lương của người đứng đầu còn thấp hơn cả nhân viên cấp dưới vì thua về cấp hàm, thâm niên công tác...; cán bộ cấp cao đã nhiều năm cống hiến nhưng lương thấp hơn cử nhân trẻ vừa vào làm việc trong các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thấp hơn cả thu nhập của nhiều đối tượng hành nghề tự do, làm những công việc đơn giản; lương của người lao động chính đang phải nuôi cả gia đình lại thấp hơn lương của người già đã nghỉ hưu-đối tượng không cần tiêu dùng nhiều nữa...

Những bất hợp lý trên đã gây ra biết bao hệ lụy: Không chỉ dẫn đến tình trạng “chảy máu chất xám”, kìm hãm sự phát triển, mà còn khiến rất nhiều cán bộ, công chức, viên chức, người lao động không sống được bằng lương, thường phải tìm cách kiếm thêm thu nhập; một bộ phận không nhỏ đã làm những việc trái đạo đức và pháp luật, thậm chí tham nhũng, gây bức xúc trong xã hội.

Chính phủ đang trình Trung ương và Quốc hội việc thực hiện cải cách tổng thể chính sách tiền lương mới theo Nghị quyết số 27-NQ/TW kể từ ngày 1-7-2024. Dư luận nhân dân kỳ vọng, trong lộ trình thực hiện chế độ tiền lương mới, những bất hợp lý nêu trên sẽ được xem xét, giải quyết triệt để theo đúng mục tiêu Nghị quyết số 27-NQ/TW đã xác định: Xây dựng hệ thống chính sách tiền lương quốc gia một cách khoa học, minh bạch, phù hợp với tình hình thực tiễn đất nước, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập quốc tế, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ; tạo động lực giải phóng sức sản xuất, nâng cao năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực; góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phòng, chống tham nhũng, lãng phí; bảo đảm đời sống của người hưởng lương và gia đình người hưởng lương, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội...

Đồng thời, nội dung cải cách chính sách tiền lương, phụ cấp cần tạo được sự đột phá theo hướng bảo đảm công bằng, sòng phẳng, trách nhiệm gắn liền với quyền lợi, chi trả đúng công sức, hiệu quả công việc, mức độ cống hiến; ưu tiên thỏa đáng những đối tượng thuộc diện lao động đặc biệt để khuyến khích, thu hút nhân tài.

Cùng với đó, phải chú trọng bảo đảm lương, phụ cấp xứng đáng cho những cán bộ giữ cương vị lãnh đạo, quản lý để vừa góp phần tạo uy tín, danh dự cho đối tượng “tinh hoa”, vừa tạo động lực cho mọi người nỗ lực phấn đấu. Đây cũng là cơ sở đầu tiên giúp đội ngũ cán bộ giữ gìn sự liêm chính, trong sạch, chỉ hành động vì lợi ích chung chứ không cần tham nhũng, tiêu cực!
Yêu nước ST.

Một số giải pháp chủ yếu trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng tiêu cực gắn với nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ

 Để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong thời gian tới, một trong những nhiệm vụ quan trọng là cần đẩy mạnh hơn nữa công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với mục tiêu cao nhất là phát hiện từ sớm, từ xa, phòng ngừa hơn xử lý, bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững đội ngũ cán bộ, đảng viên. Theo đó, các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên cần tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cần phải nhận thức thật đầy đủ, sâu sắc về vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, công tác bảo vệ chính trị nội bộ đối với vận mệnh của Đảng, của chế độ, phải biến quyết tâm, nhận thức chính trị thành hành động thực tiễn và phải có lộ trình, mục tiêu, cách làm cụ thể. Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”” đã chỉ ra nguyên nhân làm hạn chế kết quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay; đó là “do một số cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu chưa nhận diện đầy đủ mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tại địa phương, cơ quan, đơn vị mình; chưa quyết tâm và có biện pháp chỉ đạo đủ mạnh, còn thụ động, trông chờ vào sự chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên; không thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, chưa gương mẫu, mất đoàn kết nội bộ, chưa thẳng thắn đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thậm chí còn cục bộ, lợi ích nhóm, bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất, thờ ơ, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân”(4).

Thứ hai, tăng cường rà soát, bổ sung và hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, giữa các cơ quan chuyên trách bảo vệ chính trị nội bộ và cơ quan nội chính trong việc nắm vững tình hình và rà soát, thẩm định, thẩm tra, kết luận rõ tiêu chuẩn chính trị của cán bộ, đảng viên, tuyệt đối không được để lọt vào cấp ủy những người không đủ tiêu chuẩn chính trị, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chuyển trọng tâm từ nắm vững và giải quyết vấn đề lịch sử chính trị sang vấn đề chính trị hiện nay. Các mặt công tác quản lý cán bộ cần bám sát tình hình thực tế của đội ngũ cán bộ để có biện pháp phòng ngừa, răn đe kịp thời, hữu hiệu. Phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội các cấp trong việc tập hợp, vận động nhân dân tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, đặc biệt là trong công tác kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Biến hàng ức, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp”(5).

Thứ ba, tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh trên cơ sở quán triệt sâu sắc, nghiêm túc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Trung ương(6), chú trọng xây dựng Đảng về đạo đức, kiên trì xây dựng văn hóa tiết kiệm, trọng liêm sỉ, danh dự, nêu cao tinh thần, trách nhiệm, đạo đức công vụ của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, theo phương châm “cán bộ, đảng viên phải quyết liệt đi đầu, gương mẫu trước”; có biện pháp, hình thức phù hợp, hiệu quả để kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh kịp thời những cán bộ, đảng viên xuất hiện biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Thứ tư, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán đồng thời với điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh các vụ việc, vụ án tham nhũng, tiêu cực, nhất là những trường hợp dư luận xã hội đặc biệt quan tâm; để trở thành tiếng chuông cảnh tỉnh cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa, tự tu dưỡng, rèn luyện. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và xây dựng, làm trong sạch Đảng và bộ máy Nhà nước chỉ làm “chùn bước” những ai có động cơ không trong sáng, đã trót “nhúng chàm” và những người không nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, thiếu bản lĩnh, thiếu kiến thức và kinh nghiệm”(7).

Thứ năm, tiếp tục nghiên cứu, xây dựng, nâng cao cơ chế, chính sách, đãi ngộ cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Mục đích là nhằm tạo động lực quan trọng để thu hút, “giữ chân” những người có năng lực, tâm huyết với công việc, bên cạnh đó khuyến khích cán bộ, đảng viên nâng cao trách nhiệm công vụ, phát huy tính sáng tạo, ra sức cống hiến vì sự nghiệp chung; đồng thời, có cơ chế để cảnh báo, ngăn ngừa, hạn chế hiệu quả hành vi tham nhũng, tiêu cực.

Thứ sáu, tiếp tục nghiên cứu, rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, quản lý cán bộ để kịp thời phát hiện, khắc phục những vướng mắc, hạn chế nảy sinh trong thực tiễn trên cơ sở tập trung vào những vấn đề chính trị hiện nay của cán bộ, đảng viên sao cho phù hợp với những yêu cầu, diễn biến của tình hình mới./.

LHQ- ST

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng chống chủ nghĩa cá nhân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

 Trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, chủ nghĩa cá nhân không có nhiều điều kiện để phát triển. Khi đã giành được chính quyền, do cán bộ, đảng viên nắm giữ các chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan lãnh đạo, quản lý ở tất cả các cấp, các lĩnh vực gắn liền với nhiều quyền lợi và lợi ích, nên chủ nghĩa cá nhân vị kỷ có môi trường phát triển. Cùng với đó, “sinh trưởng trong một xã hội cũ, chúng ta ai cũng mang trong mình hoặc nhiều hoặc ít vết tích xấu xa của xã hội đó về tư tưởng, về thói quen… Vết tích xấu nhất và nguy hiểm nhất của xã hội cũ là chủ nghĩa cá nhân” (1). Hơn nữa, “Đảng ta không phải từ trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra” (2); “Đảng ta là một Đảng rất to lớn, bao gồm đủ các tầng lớp trong xã hội. Vì vậy có nhiều tính cách rất trung thành, rất kiên quyết, rất vĩ đại. Song cũng không tránh khỏi những tập tục, những tính nết, những khuyết điểm của xã hội bên ngoài, nó lây, ngấm vào trong Đảng” (3). Từ thực tế đó, đồng thời dự báo chiều hướng phát triển của tình hình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều thời gian, tâm sức để giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng, phòng, chống chủ nghĩa cá nhân cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Người đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng các cơ quan từ Chính phủ cho đến các làng, phải là công bộc của dân, Chính phủ phục vụ nhân dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại đến dân phải hết sức tránh. Người nhấn mạnh, nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì. Nhưng để xây dựng được chính phủ phục vụ nhân dân, thực sự là công bộc của dân, thì việc phòng, chống chủ nghĩa cá nhân có ý nghĩa quyết định. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu các cơ quan từ Chính phủ cho đến các làng phải đặt quyền lợi của nhân dân lên trên hết, trước hết, phải chú ý giải quyết hết các vấn đề liên quan tới đời sống của dân, phải có tinh thần chí công vô tư; đồng thời, nghiêm khắc phê phán, lên án những căn bệnh, như cậy thế, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo, óc bè phái đang ngự trị trong đầu óc của không ít cán bộ, đảng viên.

Trong công cuộc kiến thiết, xây dựng đất nước, nhất là khi bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, chủ nghĩa cá nhân vị kỷ có cơ hội phát triển. Số đông cán bộ ta vẫn giữ được truyền thống cách mạng, hết sức trung thành, tận tụy với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân, nhưng cũng có cán bộ, đảng viên ỷ thế cậy quyền, ngông nghênh, lấy của công dùng vào việc tư; tư túng, kéo bè kéo cánh, kiêu ngạo, coi khinh dân, cử chỉ lúc nào cũng vác mặt “quan cách mạng”. Những thói hư, tật xấu đó là do cán bộ, đảng viên không chịu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, sa vào chủ nghĩa cá nhân.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, gian giảo, xảo quyệt. Đây là một kẻ địch bên trong mỗi con người. Đối với đế quốc bên ngoài, ta có thể dùng súng, dùng đạn để bắn. Với kẻ địch trong người thì không thể dùng lựu đạn mà ném vào được. Nó vô hình, không dàn ra thành trận, luôn luôn lẩn lút trong ta. Nó khó thấy, khó biết, nên khó tránh. Người sa vào chủ nghĩa cá nhân chỉ nghĩ đến lợi ích của mình, của gia đình mình, mà không nghĩ đến lợi ích chung của tập thể, của Đảng và nhân dân. Nếu có nghĩ đến, thì bao giờ cũng đặt lợi ích của mình và gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung. Đây là một bệnh chính, sinh ra nhiều chứng bệnh khác. Do vậy, phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và gia đình mình” (4). “Lợi ích của cá nhân gắn liền với lợi ích của tập thể. Nếu lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể” (5). Người nhấn mạnh, đây là nguyên tắc tối cao của Đảng, là tính Đảng. Mỗi đảng viên phải khắc ghi điều đó.

LHQ-ST

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: 03 NHÓM LỪA ĐẢO THƯỜNG XUYÊN DIỄN RA TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG!

     Thời gian qua, mặc dù các phương tiện thông tin đại chúng, cũng như lực lượng Công an tỉnh đã thường xuyên thông báo các phương thức, thủ đoạn hoạt động của các đối tượng lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhất là lừa đảo, chiếm đoạt tài sản sử dụng công nghệ cao, nhưng vì nhiều lý do người dân vẫn bị các đối tượng lừa đảo, chiếm đoạt tài sản bằng nhiều hình thức, thủ đoạn khác nhau.

Qua đấu tranh với các loại tội phạm này, hiện nay, có 03 nhóm lừa đảo chính với một số hình thức lừa đảo thường xuyên diễn ra trên không gian mạng, cụ thể:

Nhóm 1: Giả mạo thương hiệu
- Giả mạo thương hiệu của các tổ chức (Ngân hàng, cơ quan nhà nước, công ty tài chính, chứng khoán…) để gửi tin nhắn SMS lừa đảo cho nạn nhân.
- Giả mạo các trang web/blog chính thống (giao diện, địa chỉ tên miền/đường dẫn,…) tạo uy tín lừa nạn nhân, thu thập thông tin cá nhân của người dân.

Nhóm 2: Chiếm đoạt tài khoản
- Chiếm quyền sử dụng các tài khoản mạng xã hội (Zalo, Facebook, Tiktok…) để gửi tin nhắn lừa đảo cho bạn bè người thân nhằm chiếm quyền tài khoản, lấy cắp thông tin, chiếm đoạt tài sản, bôi nhọ danh dự, tống tiền…
- Các ứng dụng, quảng cáo tín dụng đen xuất hiện trên các trang web, gửi tràn lan qua các kênh thư điện tử rác, tin nhắn SMS, mạng xã hội. Nạn nhân sẽ biến thành những con nợ trong khi chính nạn nhân cũng không biết.

Nhóm 3: Các hình thức kết hợp
- Sử dụng số điện thoại (trong nước, nước ngoài, đầu số lạ…) giải danh cơ quan chức năng, công an, nhà mạng viễn thông… để tiến hành gọi điện thoại cho nạn nhân thông báo vi phạm pháp luật, lợi dụng các tình huống khẩn cấp để yêu cầu chuyển khoản.
- Sử dụng số điện thoại đầu số lạ gọi điện cho nạn nhân, khi bắt máy nạn nhân sẽ bị trừ tiền trong tài khoản mà không hề hay biết.
- Lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua quảng bá bán hàng online trên các nền tảng mạng xã hội (bán hàng giả, chất lượng kém, vé máy bay giả, khuyến mãi giả, hàng ảo hoặc rao bán giả mạo không tồn tại sản phẩm.
- Giả mạo trang cá nhân, tài khoản người dùng trên Facebook, Telegram, Zalo để tạo uy tín và lừa nạn nhân sử dụng dịch vụ hoặc đầu tư.
- Lừa đảo cài cắm mã độc thông qua đường dẫn độc hại, phần mềm độc hại (tiện ích mở rộng cho trình duyệt, phần mềm bẻ khóa - crack). Đối tượng tạo những công cụ, đường dẫn, phần mềm độc hại để chiếm đoạt tài sản, thông tin tài khoản mạng xã hội, ngân hàng thông qua tiếp cận nạn nhân từ chạy quảng cáo đường link độc hại, phát tán mã độc, phần mềm độc hại qua Facebook, Telegram, Google Search, Google Play Store, Apple’s App Store và email.
- Nâng cấp lên SIM 4G hay 5G để lừa lấy số điện thoại của nạn nhân nhằm chiếm đoạt thông tin tài khoản và tài sản.
- Thông báo trúng thưởng, quà tặng, khuyến mại để lừa nạn nhân đánh cắp thông tin tài khoản và tài sản thông qua các trang web giả mạo.
- Lập sàn đầu tư tiền ảo crypto, đầu tư đa cấp, đầu tư nhị phân, đầu tư Forex… lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Nếu người dân phát hiện trường hợp nghi ngờ về hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì kịp thời trình báo Cơ quan Công an nơi gần nhất hoặc gọi qua số điện thoại đường dây nóng: 0226.3852.673 để được hướng dẫn, giải quyết./.
Yêu nước ST.