Thứ Năm, 5 tháng 10, 2023

Thủ tướng Phạm Minh Chính tiếp Đô trưởng Vientiane Atsaphangthong Siphandone


Chiều 4-10, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã tiếp Đô trưởng Vientiane Atsaphangthong Siphandone cùng Đoàn đại biểu Thủ đô Vientiane, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân nhân Lào đang thăm và làm việc tại Thủ đô Hà Nội.

Chào mừng Đô trưởng Atsaphangthong Siphandone cùng Đoàn đại biểu Thủ đô Vientiane thăm Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 69 năm giải phóng Thủ đô Hà Nội (10-10-1954 / 10-10-2023), Thủ tướng Phạm Minh Chính chúc mừng những thành tựu mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào đạt được sau gần 4 thập kỷ tiến hành công cuộc đổi mới, trong đó có sự đóng góp quan trọng của Thủ đô Vientiane.

Thủ tướng Phạm Minh Chính cho rằng, kết quả hợp tác giữa Hà Nội và Vientiane là một trong những minh chứng sống động, phản ánh mối quan hệ hữu nghị truyền thống đặc biệt Việt Nam - Lào; đi đầu trong hợp tác giữa các địa phương và có sự lan tỏa rộng khắp ở tất cả các cấp từ Trung ương tới địa phương hai nước.

Thủ tướng Chính phủ khẳng định, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn dành ưu tiên cao nhất để duy trì và phát triển mối quan hệ “anh em ruột thịt, bạn bè chí cốt” có một không hai giữa hai nước và luôn ủng hộ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và quan hệ hợp tác giữa các địa phương, trong đó có hai Thủ đô - Hà Nội và Vientiane.

Để tiếp tục phát huy và làm sâu sắc hơn mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai nước trong thời gian tới, Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thủ đô Hà Nội và Thủ đô Vientiane phối hợp xây dựng kế hoạch để cụ thể hóa thỏa thuận cấp cao hai nước, Chiến lược hợp tác giữa hai Chính phủ giai đoạn 2021-2030 và Hiệp định hợp tác song phương 2021-2025; tổ chức triển khai tốt các nội dung đã ký kết tại các Biên bản thỏa thuận hợp tác.

Hai bên tiếp tục phối hợp chặt chẽ, duy trì trao đổi đoàn các cấp, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm trong công tác quản lý, điều hành phát triển thủ đô và giao lưu nhân dân; phát huy các hoạt động đối ngoại giữa các tổ chức Hội, Đoàn hai bên như Hội liên hiệp phụ nữ thủ đô, Đoàn Thanh niên; tăng cường kết nối hạ tầng chiến lược, trong đó có đường bộ cao tốc Hà Nội – Vientiane, tuyến đường sắt nối cảng Vũng Áng (Hà Tĩnh, Việt Nam) với thủ đô Vientiane.

Thủ đô Hà Nội và thủ đô Vientiane cần thúc đẩy hợp tác ở các lĩnh vực hai bên có thế mạnh, tiềm năng như mô hình sản xuất nông nghiệp tiêu biểu, ứng dụng công nghệ cao theo chuỗi giá trị, hình thành chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm nông sản giữa hai nước một cách ổn định; xúc tiến quảng bá sản phẩm du lịch, liên kết du lịch giữa Hà Nội với các tỉnh, thành phố lớn của Lào và với Campuchia…

Hai Thủ đô tăng cường trao đổi thương mại, hoạt động đầu tư; đẩy mạnh thu hút các nhà đầu tư Hà Nội đầu tư tại các lĩnh vực phía Lào ưu tiên như công nghệ sinh học, y tế-chăm sóc sức khỏe, logistics…; tăng cường hợp tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là trong các lĩnh vực mới nổi; thúc đẩy giao lưu văn hóa; chú trọng tuyên truyền và giáo dục cho thế hệ trẻ hiểu về mối quan hệ vĩ đại giữa hai nước nói chung và hai địa phương nói riêng.

Đặc biệt, hai Thủ đô hợp tác, hỗ trợ hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế-xã hội, nhất là trong những lúc khó khăn, góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, thiết thực, hiệu quả của mỗi nước.

Đô trưởng Vientiane Atsaphangthong Siphandone trân trọng cảm ơn Thủ tướng Phạm Minh Chính đã dành thời gian tiếp đoàn. Báo cáo với Thủ tướng Chính phủ về kết quả hợp tác giữa thủ đô Hà Nội và thủ đô Vientiane trong thời gian qua, cũng như chương trình kết quả chuyến thăm của Đoàn, nhất trí với các ý kiến của Thủ tướng Phạm Minh Chính, Đô trưởng Vientiane cho biết, hai Thủ đô sẽ tích cực trao đổi đoàn các cấp để tăng cường, thúc đẩy hợp tác, vun đắp tình cảm hữu nghị; tổ chức ký kết các thỏa thuận và triển khai các chương trình hợp tác hiệu quả trên nhiều lĩnh vực như hạ tầng giao thông, giáo dục - đào tạo, đầu tư, thương mại, văn hóa, du lịch, giao lưu nhân dân…

Nhân dịp này, Đô trưởng Atsaphangthong Siphandone chuyển lời thăm hỏi, lời chúc mừng nồng nhiệt nhất của Thủ tướng Lào Sonexay Siphandone tới Thủ tướng Phạm Minh Chính. Qua Đô trưởng Vientiane, Thủ tướng Phạm Minh Chính gửi lời thăm hỏi và lời chúc sức khỏe tới Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith, Thủ tướng Lào Sonexay Siphandone, Chủ tịch Quốc hội Lào Saysomphone Phomvihane và các đồng chí Lãnh đạo, nguyên Lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Quốc hội Lào.

 

Đưa hợp tác giữa Hà Nội và Vientiane trở thành hình mẫu trong quan hệ giữa các địa phương Việt Nam - Lào

 

Chiều 4-10, tại Hà Nội, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội Đinh Tiến Dũng đã tiếp Đoàn đại biểu cấp cao Thủ đô Vientiane (Lào), do đồng chí Athsaphangthong Siphandone, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó bí thư Thành ủy, Đô trưởng Thủ đô Vientiane làm Trưởng đoàn.

Phát biểu tại buổi tiếp, Đô trưởng Athsaphangthong Siphandone bày tỏ ấn tượng về sự phát triển mạnh mẽ của Thủ đô Hà Nội thời gian qua. Chia sẻ về tình hình phát triển của Thủ đô Vientiane, đồng chí Athsaphangthong Siphandone cho biết, kinh tế thành phố đạt tăng trưởng trung bình 4,3%, với thu nhập bình quân đầu người khoảng hơn 5.500 USD/năm. Trong 9 tháng năm 2023, Thủ đô Vientiane đã hoàn tất chỉ tiêu thu ngân sách, hướng tới mức vượt khoảng 20% trong năm nay.

Khẳng định chuyến thăm của Đoàn tới Hà Nội lần này tiếp tục khẳng định sự gắn bó mật thiết, mối quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp giữa hai Thủ đô, Bí thư Thành ủy Đinh Tiến Dũng đề nghị, cùng với tổng kết việc thực thi biên bản thỏa thuận hợp tác giữa hai thủ đô thời gian qua, hai bên đồng thời đôn đốc các quận, huyện tiếp tục triển khai hợp tác mạnh mẽ để đạt hiệu quả hơn nữa.

Bí thư Thành ủy nhấn mạnh, quan hệ hợp tác giữa Hà Nội và Vientiane phải phấn đấu trở thành hình mẫu trong quan hệ giữa các địa phương Việt Nam - Lào, đóng góp thiết thực vào quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước.

Bí thư Thành ủy Đinh Tiến Dũng cho biết, Đảng, Nhà nước Việt Nam nói chung, Thủ đô Hà Nội nói riêng ủng hộ Lào đảm nhiệm thành công vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2024. Cùng với đó, Hà Nội hưởng ứng và sẽ phối hợp để Lào tổ chức thành công Năm Du lịch 2024...

*Chiều 4-10, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Trần Sỹ Thanh đã hội đàm với đồng chí Athsaphangthong Siphandone, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Đô trưởng Thủ đô Vientiane (Lào) đang có chuyến thăm làm việc tại Hà Nội. 

Tại buổi hội đàm, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Trần Sỹ Thanh khẳng định, quan hệ Việt Nam-Lào, Hà Nội-Vientiane là một điểm sáng góp phần thúc đẩy sự phát triển hợp tác chung giữa hai quốc gia; trong đó, Biên bản thỏa thuận hợp tác giữa Đảng bộ, chính quyền Thủ đô Hà Nội và Đảng bộ, Chính quyền Thủ đô Vientiane giai đoạn 2022 - 2025 là văn kiện quan trọng tạo khuôn khổ, động lực mới, thúc đẩy các hoạt động hợp tác giữa Hà Nội và Vientiane trong thời gian vừa qua và giai đoạn tiếp theo.

Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội nhấn mạnh, thời gian qua, hai nước, hai thủ đô thường xuyên có sự trao đổi, hợp tác thông qua các hoạt động trên tất cả các lĩnh vực, các cấp theo hướng hiệu quả, thực chất. Tuy nhiên, hiện hai bên còn một số lĩnh vực chưa được nghiên cứu, trao đổi cụ thể như: Chuyển đổi số, chính quyền điện tử, quản lý không gian mạng, phòng, chống tội phạm trên không gian mạng. Do đó, hai bên cần tăng cường hợp tác ở các lĩnh vực này. 

Về hợp tác song phương thời gian tới, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội mong muốn cùng Đô trưởng Vientiane thống nhất trên nguyên tắc về hình thức phối hợp từ các sở, ban, ngành nhằm nâng cao năng lực ở một số lĩnh vực công nghệ mới, đóng góp thực chất cho quan hệ song phương hai nước.

 Đô trưởng Vientiane Athsaphangthong Siphandone nhất trí về những đánh giá tình hình hợp tác giữa hai thủ đô và hai nước. Trong khuôn khổ hợp tác giữa hai thủ đô, đồng chí Athsaphangthong Siphandone đề nghị xúc tiến các hoạt động hợp tác xây dựng hệ thống chính trị dân chủ cấp cơ sở quận, huyện; cho biết, Thủ đô Vientiane đang có chủ trương thí điểm tự chủ kinh tế ở một địa phương năm 2024 và sẽ nhân rộng thí điểm tại 4/9 quận, huyện.

Đô trưởng Thủ đô Vientiane mong muốn hai bên hợp tác chặt chẽ hơn, ngày càng đi vào chiều sâu và thực chất; qua đó trở thành quan hệ hợp tác toàn diện; ngày càng phát triển giữa hai thủ đô.

 

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ tiếp Đại sứ Lào Sengphet Houngboungnuang

 

Chiều 5-10, tại Nhà Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ tiếp Đại sứ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tại Việt Nam Sengphet Houngboungnuang.

Tại cuộc tiếp, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đánh giá cao những đóng góp quan trọng của Đại sứ Sengphet Houngboungnuang trong việc củng cố và phát triển mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam – Lào.

 

Đại sứ Sengphet Houngboungnuang trân trọng cảm ơn Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ và Quốc hội Việt Nam đã luôn hỗ trợ Đại sứ và Đại sứ quán Lào tại Việt Nam hoàn thành tốt nhiệm vụ; đồng thời luôn ủng hộ, dành cho đất nước và nhân dân Lào sự chia sẻ, giúp đỡ chí nghĩa, chí tình về mọi mặt. Điều này một lần nữa khẳng định, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng luôn có các đồng chí Việt Nam kề vai sát cánh giúp đỡ Lào.

Đại sứ Sengphet Houngboungnuang cho biết, hết sức vui mừng và ấn tượng trước những bước phát triển mạnh mẽ của Việt Nam thời gian qua. Việt Nam đã duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao kể cả trong bối cảnh hết sức khó khăn do tác động của đại dịch Covid-19. Vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao.

Nhấn mạnh những thành tựu đạt được ngoài sự nỗ lực của Việt Nam còn có sự đoàn kết, hỗ trợ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, trong đó có đất nước Lào anh em, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ khẳng định, tình hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước là tài sản vô giá cần được gìn giữ và trao truyền mãi mãi cho các thế hệ mai sau.

Tiếp tục tăng cường tuyên truyền, giới thiệu, tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh đến cộng đồng quốc tế

 Chiều 5-10, tại Hà Nội, Bộ Ngoại giao đã chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện Kết luận số 85-KL/TW ngày 19-8-2020 của Ban Bí thư về việc tiếp tục tăng cường tuyên truyền, giới thiệu tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân Văn hóa thế giới đến cộng đồng quốc tế.

Tham dự hội nghị có nhà ngoại giao lão thành, đại diện các ban, bộ, ngành, địa phương và các đại sứ, đại biện Đại sứ quán Việt Nam tại nước ngoài.

Quảng bá sâu rộng tới bạn bè quốc tế về tầm vóc vĩ đạitư tưởng và cống hiến của Người

Đây là hoạt động quan trọng và thiết thực nhằm đánh giá kết quả hoạt động tuyên truyền, tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong ba năm qua, định ra phương hướng, biện pháp hiệu quả hơn nữa thời gian tới; qua đó góp phần thiết thực cho việc triển khai Kết luận số 01 của Bộ Chính trị liên quan đến tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Phát biểu khai mạc Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ tịch Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam Hà Kim Ngọc nhấn mạnh, Bộ Ngoại giao đã kế thừa những thành quả quan trọng của các hoạt động tôn vinh Bác ở nước ngoài hơn 10 năm qua, thông qua mạng lưới gần 100 cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Các hình thức tôn vinh Bác tiếp tục được triển khai đa dạng, phong phú, chú trọng hơn nữa việc phát huy ý nghĩa, giá trị của các công trình tượng Bác, khu tưởng niệm, trường, phố, đại lộ, công viên… mang tên Bác.

Thứ trưởng Hà Kim Ngọc khẳng định những kết quả tích cực trong ba năm qua đã góp phần quảng bá sâu rộng tới bạn bè quốc tế tầm vóc vĩ đại, tư tưởng và cống hiến của Người đối với Việt Nam và thế giới; đồng thời qua đó giúp cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài củng cố và phát huy niềm tự hào dân tộc, hướng về quê hương, đất nước.

Theo Chủ tịch Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam Hà Kim Ngọc, nhiều hoạt động vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất phát từ sự yêu mến, tình cảm chân thành của chính quyền, người dân thế giới, thể hiện sự trân trọng tư tưởng và nhân cách cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự công nhận rộng rãi của cộng đồng quốc tế đối với những đóng góp to lớn của Người. Thứ trưởng Hà Kim Ngọc chia sẻ: Tổng giám đốc UNESCO Audrey Azoulay từng phát biểu rằng: “Ảnh hưởng của Người còn vươn xa ra ngoài biên giới đất nước… Cách tốt nhất để tưởng nhớ di sản nhân văn của Hồ Chí Minh là tiếp tục hợp tác để bảo vệ giáo dục, văn hóa và di sản như là giá trị chung của nhân loại”. Điều này tiếp tục khẳng định sự ghi nhận của UNESCO về công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Việt Nam và thế giới.

Chia sẻ từ điểm cầu thủ đô Algiers, Đại sứ Việt Nam tại ở Algeria Trần Quốc Khánh cho biết, Algeria là quốc gia có quan hệ hữu nghị truyền thống với Việt Nam. Chính phủ và nhân dân Algeria rất ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là nơi có 2 đường phố mang tên Bác: Đại lộ Hồ Chí Minh tại thủ đô Algiers và Đường Hồ Chí Minh ở trung tâm TP Oran - thành phố lớn thứ hai tại Algeria.

Với thế mạnh nêu trên, trong 3 năm qua, Đại sứ quán Việt Nam tại Algeria đã đẩy mạnh triển khai công tác tuyên truyền, giới thiệu, tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với công chúng Algeria. “Điểm đặc biệt là chính quyền địa phương và nhân dân Algeria chính là những người rất tích cực bảo vệ, gìn giữ địa điểm nơi đặt biển tên đường Hồ Chí Minh”, Đại sứ Trần Quốc Khánh cho biết.

Đổi mới phương thức nhằm lan tỏa những giá trị văn hoá của Bác tại nước ngoài

Tại hội nghị, các đại biểu đã trao đổi, đánh giá khách quan tình hình triển khai các hoạt động tiếp tục tăng cường tuyên truyền, giới thiệu tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh với cộng đồng quốc tế thời gian qua và định hướng thời gian tới.

Chia sẻ tại hội nghị, GS, TS Hoàng Chí Bảo nhấn mạnh tầm ảnh hưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với thế giới. Tư tưởng hòa bình, nhân văn của Người chứa đựng nhiều giá trị mang tính giai cấp, tính dân tộc và thời đại hướng tới giải phóng con người, vì hạnh phúc của con người.

Trong thời gian tới, GS, TS Hoàng Chí Bảo mong muốn các cơ quan liên quan tiếp tục nghiên cứu, đề xuất để đưa “Tuyên ngôn Độc lập” là quốc bảo, chú trọng nghiên cứu về tư tưởng hòa bình, tư tưởng nhân văn, tư tưởng về tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh; về nghệ thuật trả lời phỏng vấn báo chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh…, từ đó nêu bật về giá trị nhân văn phổ quát nhân loại của Người.

 

Đề nghị cải cách chính sách tiền lương mới từ ngày 1-7-2024

     Thực hiện ý kiến của Bộ Chính trị và Quốc hội, Chính phủ sẽ trình Trung ương, Quốc hội việc thực hiện cải cách tổng thể chính sách tiền lương mới theo Nghị quyết số 27-NQ/TW kể từ ngày 1-7-2024

Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà vừa ký báo cáo của Chính phủ gửi đại biểu Quốc hội về công tác quản lý cán bộ, công chức.

Một trong những nội dung báo cáo đề cập đến là vấn đề cải cách chính sách tiền lương. Đây cũng là nội dung được Trung ương bàn thảo tại Hội nghị lần thứ 8 này.

Theo Bộ trưởng Phạm Thị Thanh Trà, việc thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức được thực hiện thường xuyên, đúng thẩm quyền theo phân cấp hiện hành, bảo đảm đúng quy định của Nhà nước. Chế độ thôi việc, nghỉ hưu đối với cán bộ, công chức được thực hiện đúng theo quy định.

Thực hiện Nghị quyết số 69/2022/QH15 của Quốc hội về dự toán ngân sách nhà nước năm 2023, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 24/2023/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Theo đó, từ ngày 1-7-2023 điều chỉnh mức lương cơ sở từ 1,49 triệu đồng lên 1,8 triệu đồng (tăng 20,8%) để giảm bớt khó khăn cho cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang; đồng thời, điều chỉnh lương hưu, trợ cấp ưu đãi người có công theo mức lương cơ sở cho phù hợp.

Đánh giá kết quả đạt được trong công tác quản lý cán bộ, công chức, báo cáo Chính phủ cho biết, thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp, trên cơ sở quán triệt yêu cầu: "Khẩn trương xây dựng và hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm, coi đây là giải pháp căn bản mang tính tiền đề để thực hiện cải cách tiền lương", Chính phủ ban hành Nghị định số 62/2020/NĐ-CP quy định về vị trí việc làm và biên chế công chức để làm căn cứ xác định vị trí việc làm, biên chế công chức và cơ cấu ngạch công chức.

Việc xây dựng danh mục vị trí việc làm, bản mô tả công việc và khung năng lực của vị trí việc làm cán bộ, công chức giai đoạn từ năm 2019 đến nay đã có sự thay đổi về cách tiếp cận cả lý luận và thực tiễn về vị trí việc làm. Việc triển khai vị trí việc làm trong hệ thống chính trị làm cơ sở cho việc tuyển dụng, quản lý, sử dụng cán bộ, công chức theo vị trí việc làm và xác định biên chế, cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và tiến tới trả lương theo vị trí việc làm theo chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 27-NQ/TW.

Tuy nhiên, báo cáo cũng chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý cán bộ, công chức, trong đó có nguyên nhân chủ quan là tiền lương và thu nhập của cán bộ, công chức còn thấp, chưa thực sự tạo động lực, khuyến khích đội ngũ cán bộ, công chức tâm huyết, toàn tâm, toàn ý, cống hiến trong quá trình thực thi công vụ.

"Thực hiện ý kiến của Bộ Chính trị và Quốc hội, Chính phủ sẽ trình Trung ương, Quốc hội việc thực hiện cải cách tổng thể chính sách tiền lương mới theo Nghị quyết số 27-NQ/TW kể từ ngày 1-7-2024", Bộ trưởng Phạm Thị Thanh Trà cho biết.

Cũng theo người đứng đầu ngành Nội vụ, thời gian tới, cần tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, thực hiện tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức theo vị trí việc làm, thực hiện cải cách chính sách tiền lương, tiền lương và phúc lợi cho cán bộ, công chức theo Nghị quyết số 27-NQ/TW.

 

Nhiều chính sách hiệu quả giúp kinh tế vượt khó

     Nội dung bàn và cho ý kiến kết luận về tình hình kinh tế-xã hội, ngân sách nhà nước năm 2023, kế hoạch năm 2024 trong chương trình Hội nghị Trung ương tám khóa XIII của Đảng đang thu hút sự quan tâm của toàn xã hội. Vừa qua, trong lúc nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều thách thức do khó khăn chung của kinh tế thế giới, đã có nhiều giải pháp chính sách mang lại hiệu quả. Do đó, cán bộ, đảng viên và nhân dân trông đợi Hội nghị Trung ương tám sẽ đưa ra định hướng chính sách giúp nền kinh tế Việt Nam tiếp tục vượt khó, lấy lại nhịp độ tăng trưởng cao trong thời gian tới.

Kết quả kinh tế-xã hội 9 tháng cho thấy nhiều điểm sáng. Đầu tiên, tăng trưởng GDP quý III-2023 đạt 5,33%. Trong bối cảnh khó khăn, con số không phải quá cao, nhưng rất tích cực trong thời điểm này, qua đó đóng góp vào tăng trưởng GDP 9 tháng là 4,24%. Đáng chú ý, kết quả này được tăng trên nền tăng trưởng GDP quý III-2022 rất cao. Điều này cho thấy, nền kinh tế dần lấy lại đà tăng trưởng, quý sau tăng nhanh hơn quý trước, tháng sau tích cực hơn tháng trước. Nếu so sánh với các nước trong khu vực, các nước trên thế giới thì tăng trưởng của Việt Nam là khá cao.

Điểm nhấn trong bức tranh kinh tế-xã hội 9 tháng năm 2023 là công tác điều hành linh hoạt, hiệu quả của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về chính sách tiền tệ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận vốn thuận lợi, điều hành tỷ giá phù hợp, bảo đảm tính thanh khoản của toàn hệ thống. Tiếp theo là kiểm soát lạm phát, giải ngân đầu tư công. Giải ngân vốn đầu tư công sau 9 tháng đạt hơn 51% là kết quả rất đáng khích lệ. Lần đầu tiên, kết quả giải ngân vốn đầu tư công 9 tháng đạt được hơn 50%. Đặc biệt, trong năm nay khi bối cảnh thế giới nhiều biến động thì đất nước đã đạt nhiều kết quả rất tốt về đối ngoại. Đây là nội dung rất quan trọng trong điều hành kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng cả năm.

Tại phiên họp Chính phủ vừa qua, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã cập nhật các kịch bản tăng trưởng GDP năm 2023 lần lượt là 5%; 5,5%; 6% để có những giải pháp điều hành phù hợp. Chính phủ đã đặt mục tiêu phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng cao nhất trong năm 2023. Thời gian tới, nền kinh tế tiếp tục gặp những khó khăn, thách thức. Đó là, tình hình kinh tế thế giới có những diễn biến, tác động khó lường. Điển hình như, tình hình lạm phát, giá cả năng lượng, lương thực... cũng như cách ứng xử về chính sách tài khóa tiền tệ của các nền kinh tế lớn hiện nay rất khó đoán định.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải thích ứng với các tiêu chí xanh, tiêu chí phát triển bền vững của các nhà nhập khẩu... Do vậy, vấn đề của chúng ta là nắm chắc tình hình kinh tế thế giới để có cách ứng xử phù hợp. Trong quý IV, các động lực chính của nền kinh tế cũng phải tạo ra được các đột phá. Đó là tạo đột phá trong sản xuất công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến, chế tạo. Bên cạnh đó, trong dịp cuối năm sẽ có sự gia tăng nhu cầu tại các thị trường xuất khẩu lớn, chủ lực của Việt Nam. Hoạt động du lịch, tiêu dùng trong nước trong dịp cuối năm và cận kề Tết Nguyên đán 2024 cũng sẽ gia tăng, là cơ sở để các động lực chính như xuất khẩu, thị trường trong nước tăng trưởng nhanh hơn.

Trong những tháng đầu năm 2023, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp. Kinh tế toàn cầu phục hồi chậm, nhiều quốc gia vẫn thắt chặt chính sách tiền tệ và duy trì xu hướng tăng lãi suất. Giá dầu tăng cao, xung đột, thiên tai, biến đổi khí hậu... tác động tiêu cực đến chuỗi cung ứng, giá cả hàng hóa và dòng vốn đầu tư toàn cầu. Là nền kinh tế có độ mở lớn, Việt Nam cũng chịu những tác động lớn từ bên ngoài. Trong bối cảnh như vậy, thực hiện sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và trên cơ sở bám sát diễn biến vĩ mô trong và ngoài nước, thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã lãnh đạo, chỉ đạo toàn hệ thống ngân hàng thực hiện các giải pháp để góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối và đặc biệt chú trọng tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, người dân trong tiếp cận vốn vay.

Liên quan đến vấn đề tiếp cận tín dụng và tăng khả năng hấp thụ vốn cho nền kinh tế, trong 9 tháng năm 2023, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành 11 văn bản chỉ đạo về các giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng đối với một số đối tượng, ngành, lĩnh vực; về vấn đề lãi suất, phí dịch vụ ngân hàng. Với nhiều nỗ lực, tăng trưởng tín dụng chung toàn quốc đã có chuyển biến tích cực, tháng sau cao hơn tháng trước. Đến ngày 29-9-2023 tăng trưởng tín dụng tăng 6,92% so với cuối năm 2022. Tín dụng đối với một số lĩnh vực ưu tiên tăng trưởng cao.

Trong thời gian tới, để góp phần đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, bên cạnh các giải pháp của các bộ, ngành, địa phương, ngành ngân hàng tiếp tục tích cực triển khai: Thực hiện các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng nhằm mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô; hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, gắn việc đầu tư tín dụng ngân hàng để thực hiện các chương trình, dự án theo quy hoạch của các địa phương. Tiếp tục thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ khách hàng, chỉ đạo tổ chức tín dụng tích cực triển khai các nhiệm vụ của ngành ngân hàng tại Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội, trọng tâm là Chương trình hỗ trợ lãi suất 2% từ nguồn ngân sách nhà nước 40.000 tỷ đồng qua hệ thống ngân hàng thương mại; các chương trình mục tiêu quốc gia; các chương trình, chính sách tín dụng đặc thù đối với một số ngành, lĩnh vực theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ...

Cùng với đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ chỉ đạo các ngân hàng thương mại tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong tiếp cận tín dụng, tiếp tục tiết giảm chi phí điều hành và các giải pháp khác để có điều kiện tiếp tục giảm lãi suất cho vay đối với cả khoản vay mới và dư nợ hiện hữu. Tích cực rà soát, cắt giảm phí nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp, người dân; chủ động xây dựng các chương trình, sản phẩm tín dụng với lãi suất hợp lý, đáp ứng linh hoạt nhu cầu của nhiều đối tượng, phân khúc khách hàng.

 

BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA TRONG TÌNH HÌNH MỚI


Quan điểm về bảo vệ ANQG là bộ phận đặc biệt quan trọng trong hệ thống quan điểm lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quan điểm này không ngừng được bổ sung, phát triển, hoàn thiện, tạo cơ sở quan trọng để thống nhất nhận thức, hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Trước những thay đổi chiến lược mang tính toàn cầu, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, trên cơ sở tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 (khóa VIII), ngày 5/9/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 51-NQ/TW về Chiến lược bảo vệ ANQG, tiếp tục hoàn thiện quan điểm về bảo vệ ANQG trong tình hình mới.

Qua đó, khẳng định quan điểm nhất quán, xuyên suốt: ANQG là sự vững mạnh, trường tồn của Đảng, sự ổn định, phát triển bền vững về mọi mặt của đất nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; sự ổn định về chính trị, biên giới, chủ quyền lãnh thổ quốc gia và an ninh, an toàn của xã hội. Công tác bảo vệ ANQG phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước; là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, của các cấp, các ngành.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta tiếp tục phát triển quan điểm, khẳng định tư duy và định hướng xa hơn, toàn diện hơn trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ANQG. Về tầm nhìn chiến lược, Đảng ta đã hoạch định đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Về tư duy nhận thức, Đảng ta xác định mục tiêu, quan điểm, phương hướng, phạm vi, kế sách, tiềm lực, kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, phát triển lý luận và xây dựng lực lượng nòng cốt bảo vệ ANQG.

          Đảng ta đã đặc biệt coi trọng và nhấn mạnh: Bảo vệ an ninh, an toàn là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu của đất nước và trong cuộc sống của người dân. Bổ sung, phát triển toàn diện và sâu sắc hơn nội hàm, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc, gồm cả bảo vệ "ANQG, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh". Đây là quan điểm nhân văn, tiến bộ của Đảng, luôn đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong tổng thể đường lối phát triển đất nước mà Đại hội XIII của Đảng đề ra, tăng cường an ninh, quốc phòng bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xác định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị; là bộ phận đặc biệt quan trọng trong hệ thống quan điểm, đường lối lãnh đạo cách mạng của Đảng, là "kim chỉ nam" trong thực hiện nhiệm vụ chiến lược bảo vệ ANQG, bảo vệ an ninh Tổ quốc.

Những khó khăn, thách thức liên quan đến bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia - dân tộc trên Biển Đông. Trung Quốc quyết liệt triển khai các hoạt động nhằm “độc chiếm Biển Đông”, cơ bản thiết lập khả năng kiểm soát trên thực tế ở biển Đông, chiếm ưu thế và chủ động chiến lược trên thực địa, tạo nguyên trạng mới ở biển Đông, khiến không gian chiến lược biển và nguồn lợi kinh tế biển của Việt Nam bị thu hẹp. Hiện nay Trung Quốc đang gia tăng sức ép toàn diện đối với hoạt động dầu khí trên biển của Việt Nam, mục tiêu biến vùng không có tranh chấp thành khu vực có tranh chấp, xâm phạm ngày càng nghiêm trọng hơn quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam tại Biển Đông, tác động tiêu cực đến các hoạt động kinh tế trên biển, đời sống của ngư dân ven biển.

Những thách thức, nguy cơ đối với an ninh kinh tế. Nổi lên là: Khó khăn, thách thức trước những tác động từ cạnh tranh chiến lược, cọ xát kinh tế, thương mại giữa các nước lớn và xu hướng gia tăng bảo hộ thương mại, trong bối cảnh nền kinh tế trong nước có độ mở cao và phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu. Nguy cơ kinh tế Việt Nam lệ thuộc nhiều hơn vào nước ngoài thông qua các dự án hợp tác cụ thể trong quá trình tham gia các chiến lược/sáng kiến của các nước triển khai tại Châu Á - Thái Bình Dương nói chung, Đông Nam Á nói riêng.

          Nguy cơ môi trường phát triển kinh tế ở trong nước, thu hút đầu tư nước ngoài bị ảnh hưởng tiêu cực, không gian phát triển kinh tế biển bị thu hẹp trước diễn biến phức tạp ở Biển Đông. Các nguy cơ chệch hướng, tụt hậu về kinh tế; mất độc lập về kinh tế; suy giảm tiềm lực và chậm đà phát triển… vẫn hiển hiện. Những thách thức, khó khăn khi thực thi các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là các FTA thế hệ mới; tác động từ khủng hoảng kinh tế thế giới dẫn tới khủng hoảng kinh tế - chính trị, xã hội tại các nước và ảnh hưởng tới Việt Nam; lợi dụng hội nhập kinh tế để gây sức ép về chính trị, quốc phòng, an ninh gia tăng mức độ phức tạp. Bối cảnh tình hình trên đòi hỏi tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện có hiệu quả quan điểm của Đảng về ANQG và bảo vệ ANQG, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trước hết phải thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và hệ thống chính trị về bảo vệ ANQG là sự nghiệp chung, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, là cuộc đấu tranh toàn diện nhằm làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và các loại tội phạm. Vì vậy, cần tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó lực lượng CAND làm nòng cốt trong công tác bảo đảm ANQG. Đây là quan điểm, tư tưởng cơ bản, xuyên suốt, là vấn đề có tính nguyên tắc, yếu tố quyết định giữ vững ổn định chính trị, xã hội, bảo đảm lợi ích, an ninh, an toàn của đất nước và Nhân dân trong mọi tình huống.

 

 

Tin tưởng vào triển vọng của kinh tế Việt Nam

 Từ đầu năm 2023 đến nay, tình hình kinh tế thế giới nhìn chung rất ảm đạm, ảnh hưởng không nhỏ tới tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Tuy gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng kinh tế Việt Nam vẫn là điểm sáng trong bức tranh chung của kinh tế thế giới, nhất là nhìn trong dài hạn. Việt Nam cần phải tích cực tận dụng những cơ hội mới về thị trường, về đầu tư, tháo gỡ những vướng mắc trong cơ chế, chính sách, pháp luật để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

ADB dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam vẫn cao nhất Đông Nam Á

Về tổng thể, nền kinh tế toàn cầu năm 2023 vẫn bấp bênh trong bối cảnh chịu tác động kéo dài của các cú sốc tiêu cực chồng chéo, như đại dịch Covid-19, xung đột Nga-Ukraine, chính sách thắt chặt tiền tệ của các nước phát triển nhằm kiềm chế lạm phát và hướng tới tài chính công bền vững; xu hướng thu hẹp tiêu dùng và sụt giảm lượng đơn hàng xuất khẩu; sự suy giảm mạnh thị trường bất động sản, giá năng lượng cao... Sự phân mảnh địa kinh tế ngày càng sâu sắc, với nhiều hạn chế hơn về thương mại, dịch chuyển vốn xuyên biên giới, công nghệ, lao động và thanh toán quốc tế có thể làm gia tăng biến động về giá cả hàng hóa, cản trở sự hợp tác đa phương trong việc cung cấp hàng hóa.

Theo cập nhật mới nhất trong tháng 9-2023 của đa số các tổ chức quốc tế, tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2023 sẽ thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng năm 2022. Tăng trưởng GDP của kinh tế thế giới sẽ đạt từ 2,5% (theo Fitch Ratings) đến 3% (theo Quỹ Tiền tệ quốc tế-IMF và Diễn đàn Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế-OECD), so với mức tăng 3,3-3,5% của năm 2022. Thậm chí, Ngân hàng Thế giới (WB) bi quan hơn khi cho rằng tăng trưởng toàn cầu sẽ chỉ ở mức 2,1% trong năm 2023. Các nền kinh tế phát triển chỉ đạt tăng trưởng GDP 0,7%, các nền kinh tế đang phát triển và thị trường mới nổi sẽ đạt tăng trưởng GDP 4%.

Đối với các nước trong khu vực, theo báo cáo cập nhật tháng 9-2023 của OECD, tăng trưởng GDP năm 2023 của Philippines là 5,6%; Indonesia sẽ là 4,7%; Malaysia đạt 3,9%; Thái Lan đạt mức 2,8% và Singapore đạt 1,4%.

Đáng lo ngại với những nền kinh tế xuất khẩu là nhu cầu hàng hóa trên thị trường đang ở mức rất thấp do lạm phát, thu nhập cá nhân giảm và nhiều rào cản thương mại được các nước dựng lên. IMF nhận định, tăng trưởng thương mại thế giới dự kiến sẽ giảm từ 5,2% năm 2022 xuống 2% năm 2023, thấp hơn nhiều so với mức trung bình 4,9% của giai đoạn 2000-2019.

Trong bối cảnh khó khăn chung nêu trên, dự báo cập nhật tháng 9-2023, OECD dự báo tăng trưởng GDP năm 2023 của Việt Nam đạt 4,9%. WB và IMF dự báo kinh tế Việt Nam tăng trưởng 4,7% năm 2023. Đặc biệt, theo Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), tăng trưởng GDP năm 2023 của Việt Nam sẽ đạt 5,8%, cao nhất Đông Nam Á (dù đã điều chỉnh giảm 0,7 điểm phần trăm so với dự báo trong tháng 4-2023) và sẽ tăng 6% GDP trong năm 2024. Lạm phát sẽ ở mức 3,8% cho năm 2023 và 4% cho năm 2024.

Các chính sách hỗ trợ đã phát huy hiệu quả

Trên thực tế, trong 9 tháng năm 2023, hoạt động sản xuất, kinh doanh của cộng đồng doanh nghiệp gặp vô vàn khó khăn, gắn với bối cảnh chung của kinh tế thế giới nêu trên, nổi bật là tình trạng đơn hàng xuất khẩu sụt giảm mạnh trong các ngành công nghiệp chế biến, dệt may, da giày và đồ gỗ... Cùng với suy giảm đơn hàng, không có thị trường tiêu thụ sản phẩm, không ít doanh nghiệp lâm vào tình cảnh cạn kiệt nguồn vốn, trong khi trái phiếu doanh nghiệp đến kỳ đáo hạn, vốn vay ngân hàng đến kỳ phải trả, việc hoàn thuế và dòng tiền về chậm, áp lực giá và chi phí đầu vào cao, nhất là tăng lãi suất tín dụng khiến nhiều doanh nghiệp lao đao, sản xuất cầm chừng. Ngoài ra, Việt Nam còn phải đối mặt với hàng trăm vụ việc phòng vệ thương mại do các nước khởi kiện, trong đó, các vụ kiện chống bán phá giá là 128 vụ, chiếm 55,4%.

Để ứng phó với tình hình, từ đầu năm đến nay, nhiều chính sách, giải pháp đã được Quốc hội, Chính phủ và các địa phương khẩn trương ban hành, nổi bật là Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 6-1-2023 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, dự toán ngân sách nhà nước và cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2023; Nghị định số 12/2023/NĐ-CP ngày 14-4-2023 của Chính phủ về giãn, hoãn thuế, tiền thuê đất, giảm một số thuế, phí với tổng quy mô gói hỗ trợ khoảng 198,4 nghìn tỷ đồng; Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 11-3-2023 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, đặc biệt là về thể chế, tổ chức thực hiện và nguồn vốn cho thị trường bất động sản; Nghị quyết số 58/NQ-CP ngày 21-4-2023 của Chính phủ về hỗ trợ doanh nghiệp. Nghị quyết giảm 2% thuế VAT được Quốc hội thông qua và thực hiện từ ngày 1-7-2023. Ngân hàng Nhà nước cũng sử dụng linh hoạt và hiệu quả các công cụ tiền tệ, tín dụng nhằm vừa kiểm soát lạm phát, vừa hỗ trợ doanh nghiệp... Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương, các giải pháp đã được ban hành và triển khai thực hiện có hiệu quả.

Tất cả tạo hợp lực tác động trực tiếp làm tăng tổng cầu và đa dạng hóa thị trường tiêu thụ, giải quyết lượng hàng tồn kho, nợ đọng vốn, hỗ trợ doanh nghiệp từng bước phục hồi, mở rộng sản xuất, bảo đảm ổn định việc làm cho người lao động; khắc phục tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm trong giải quyết công việc; bảo đảm kỷ luật, kỷ cương hành chính và nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo, điều hành, với mục tiêu tháo gỡ rào cản về pháp lý, khắc phục các điểm nghẽn và bất cập của nền kinh tế, tạo hiệu ứng tích cực và niềm tin cho cộng đồng doanh nghiệp, các hộ sản xuất, kinh doanh, nhằm khơi thông nguồn lực cho đầu tư sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. 

Nhờ đó, tăng trưởng kinh tế quý sau cao hơn quý trước (GDP quý I tăng 3,28%; quý II tăng 4,05%; quý III tăng 5,33%) và bình quân 9 tháng năm 2023, GDP tăng 4,24% so với cùng kỳ năm trước. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,43%, đóng góp 9,16% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 2,41%, đóng góp 22,27%; khu vực dịch vụ tăng 6,32%, đóng góp 68,57%, trong đó tăng trưởng của một số ngành dịch vụ thị trường đạt mức khá. Việt Nam vẫn xuất siêu 21,68 tỷ USD hàng hóa. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 9 tháng tăng ở mức 3,16%, dự báo CPI bình quân cả năm 2023 trong khoảng 3,5-4%, thấp hơn mục tiêu đã được Quốc hội thông qua.

Đáng chú ý là trong khi thị trường thế giới đang giảm cầu thì tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong nước của Việt Nam vẫn tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước. Thu ngân sách nhà nước ước tính đạt 1.223,8 nghìn tỷ đồng, bằng 75% dự toán năm, góp phần bảo đảm cân đối thu-chi, giữ vững ổn định ngân sách nhà nước. Đầu tư công ngày càng được đẩy nhanh, nhất là từ quý III, tạo cơ sở hoàn thành mục tiêu giải ngân 95% kế hoạch đầu tư công của cả năm 2023.

Nên tập trung tận dụng tốt các cơ hội mới

Ông Shantanu Chakraborty, Giám đốc quốc gia của ADB tại Việt Nam phân tích rằng, môi trường kinh tế bên ngoài yếu đã ảnh hưởng tiêu cực tới lĩnh vực sản xuất định hướng xuất khẩu của Việt Nam, làm thu hẹp sản xuất công nghiệp. Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam vẫn vững vàng và dự kiến sẽ phục hồi nhanh trong tương lai gần nhờ tiêu dùng trong nước mạnh, được hỗ trợ bởi lạm phát ở mức vừa phải, tăng tốc giải ngân vốn đầu tư công và cải thiện các hoạt động thương mại, cũng như các lĩnh vực khác được dự báo tăng trưởng lành mạnh. Lĩnh vực dịch vụ được kỳ vọng tiếp tục mở rộng nhờ sự hồi sinh của ngành du lịch và sự phục hồi của các dịch vụ liên quan. Nông nghiệp sẽ được hưởng lợi từ giá lương thực tăng và dự kiến tăng trưởng 3,2% trong năm 2023 và năm tiếp theo. Tiêu dùng nội địa sẽ được hỗ trợ bởi lạm phát ở mức vừa phải và tiếp tục tăng trưởng trong các tháng còn lại của năm.

Ông Shantanu Chakraborty cho rằng, đầu tư công sẽ là động lực chính cho phục hồi và tăng trưởng kinh tế trong năm 2023. Trong những tháng gần đây, cam kết chính trị mạnh mẽ đã giúp hoạt động giải ngân được cải thiện đáng kể. Với những giải pháp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, những hạn chế về nguồn tài chính dành cho các lĩnh vực bất động sản, xây dựng dự kiến sẽ được nới lỏng, qua đó hỗ trợ cho đầu tư tư nhân từng bước phục hồi từ năm 2024 trở đi. Lĩnh vực chế biến, chế tạo sẽ vẫn là động lực chính thúc đẩy hoạt động kinh tế của đất nước và những trở ngại đối với xuất khẩu được dự báo sẽ giảm dần từ cuối năm 2023 đến năm 2024, khi nền kinh tế Hoa Kỳ và EU bắt đầu phục hồi.

 Ngày 5-9-2023, trong cuộc gặp với Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) Klaus Schwab đánh giá, Việt Nam là điểm sáng của tăng trưởng kinh tế sau đại dịch Covid-19 nhờ cách tiếp cận toàn diện về quản lý kinh tế vĩ mô, giúp đưa nền kinh tế vượt qua các thách thức của bối cảnh quốc tế và khu vực hiện nay.

Cộng đồng thế giới cũng đánh giá cao Việt Nam trong thúc đẩy thương mại quốc tế và cam kết mở rộng đầu tư vào Việt Nam trong thời gian tới. Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 20-9-2023 bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt gần 20,21 tỷ USD, tăng 7,7% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 9 tháng năm 2023 ước đạt 15,91 tỷ USD, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của 9 tháng trong 5 năm qua.

Theo ước tính của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, khả năng Việt Nam sẽ tăng trưởng GDP cả năm 2023 từ 5% đến 6%, phụ thuộc vào tốc độ phục hồi sản xuất công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến, chế tạo; sự gia tăng nhu cầu tại các thị trường xuất khẩu lớn, chủ lực của Việt Nam, hoạt động du lịch, tiêu dùng trong nước trong dịp cuối năm và cận kề Tết Nguyên đán 2024...

Như vậy, đất nước ta đã đi được 3/4 chặng đường của năm 2023. Thành công là tích cực và đáng ghi nhận, song trước mắt còn nhiều khó khăn, thách thức. Để phấn đấu đạt kết quả tăng trưởng cao nhất trong quý IV-2023, đặc biệt là tạo đà cho năm 2024 và các năm tiếp theo, rất cần sự chủ động, nỗ lực, quyết tâm cao của các cấp, ngành, địa phương trong việc tiếp tục triển khai nhanh, hiệu quả các chủ trương, chính sách của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, các luật, nghị quyết được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ năm; tập trung tổ chức, thực thi một cách quyết liệt, tổng thể và đồng bộ từ tất cả các cấp, ngành, địa phương các giải pháp, chính sách đã ban hành để hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là các chính sách về thuế, phí, tiền tệ, thương mại, đầu tư; tập trung thúc đẩy thị trường trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu; kịp thời thông tin về thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng nhanh, kịp thời các tiêu chuẩn mới của nước đối tác xuất khẩu, tranh thủ cơ hội xuất khẩu từ các FTA đã ký kết.

Cần thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế, tranh thủ các cơ hội mới từ quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Mỹ để thu hút các tập đoàn đa quốc gia. Cùng với đó, cần quan tâm bảo đảm an sinh xã hội, hỗ trợ người lao động, bảo đảm đời sống người dân. Một yêu cầu rất quan trọng là phải tăng cường công tác thông tin, truyền thông chính sách, củng cố niềm tin của doanh nghiệp, nhà đầu tư, người dân vào sự chuyển biến tích cực của nền kinh tế, tin vào sự lãnh đạo của Đảng, các quyết sách của Quốc hội, công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương.

 

NÂNG CAO HIỆU LỰC QUẢN LÝ TRONG PHÒNG CHỐNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH

     Chiến lược “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào độc lập dân tộc mang tính toàn cầu, là chiến lược phản cách mạng, phá hoại toàn diện trên các lĩnh vực, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, quân sự, không giới hạn thời gian, không gian, nhằm đẩy đối phương suy yếu, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, rối loạn nội bộ rồi tự sụp đổ. Các thế lực thù địch đã tiến hành các nội dung, biện pháp, thủ đoạn hết sức tinh vi, vô cùng xảo quyệt. Đặc biệt chúng tận dụng triệt để những thay đổi của tình hình thế giới để chống phá. Trong đó, chống phá về chính trị - tư tưởng là trọng tâm; đồng thời, coi trọng và đi sâu chống phá nội bộ Đảng cộng sản, chính quyền, chuyển hóa đội ngũ cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, “phi chính trị hóa quân đội và công an”. Sự chống phá chủ nghĩa xã hội của các thế lực thù địch bằng chiến lược “diễn biến hoà bình” ngày càng mạnh mẽ hơn, đặc biệt là tập trung sử dụng các phương thức tạo diễn biến, chuyển hóa nội bộ các nước trên không gian mạng trong bối cảnh bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, thâm độc hơn hẳn giai đoạn trước, hòng xoá bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại và phong trào độc lập, dân chủ, tiến bộ trên thế giới. Trong đó, Việt Nam là một trọng điểm chống phá của chúng.

Vai  trò của cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền các cấp không chỉ thể hiện ở việc trực tiếp tổ chức quản lý, điều hành việc triển khai thực hiện phòng chống, mà còn trực tiếp huy động, sử dụng sao cho hiệu quả lực lượng, phương tiện để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phòng chống diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ thuộc từng cấp, từng lĩnh vực, từng ngành cơ sở.  

Chính quyền các cấp phải cụ thể hoá nghị quyết, quan điểm phòng chống “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ thành ch­­­ương trình hành động cụ thể, thiết thực và tổ chức cho nhân dân thực hiện có hiệu quả. Tính hiệu quả, thiết thực, khả năng thực thi nhiệm vụ phòng chống diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ phụ thuộc rất lớn vào việc nó được cụ thể hóa đến đâu và như thế nào trong quá trình thực hiện. Làm cho nghị quyết không dừng lại ở “giấy tờ”, mà được biểu hiện cụ thể trong thực tiễn củng cố tăng cường quốc phòng an ninh trên địa bàn tỉnh theo mục tiêu đã xác định.

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước, chính quyền các cấp trong phòng chống “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ đòi hỏi phải tăng cường pháp chế trên tất cả các lĩnh vực, bảo đảm cho luật pháp, các văn bản pháp luật thành hiện thực trong cuộc sống của nhân dân, đồng bào các dân tộc thiểu số. nâng cao hiệu quả công tác tôn giáo, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, góp phần đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế xã hội gắn với củng cố quốc phòng an ninh.

Thường xuyên củng cố và phát huy vai trò các tổ chức, quản lý chặt chẽ đơn vị về mọi mặt thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình”.

Phòng chống “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là nhiệm vụ thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, của cả hệ thống chính trị, trước hết là ở các đơn vị cơ sở trong quân đội. Quá trình thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, phải thường xuyên làm tốt công tác xây dựng địa bàn, trực tiếp tiếp xúc với các thành phần xã hội và tiến hành công tác vận động quần chúng, đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của địch, đồng thời cán bộ, chiến sĩ cũng là những đối tượng mà địch chú ý tác động phá hoại; kẻ địch thường lợi dụng những kẽ hở, khâu yếu, điểm yếu của ta, những địa bàn, đơn vị có những vấn đề phức tạp, bộc lộ những yếu kém để chọn làm điểm đột phá, từ đó phát triển chống phá ta trên phạm vi rộng hơn.

Trước hết, đối với tổ chức đảng, cấp ủy, phải thường xuyên chăm lo xây dựng nội bộ trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo đơn vị thực hiện nhiệm vụ, coi đây là yếu tố then chốt quyết định đến thắng lợi của nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình”. Phải thường xuyên quán triệt, giáo dục làm cho mọi tổ chức đảng, đảng viên nhận thức sâu sắc nhiệm vụ, xây dựng tinh thần cảnh giác cách mạng, ý chí quyết tâm làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch.

Thường xuyên kiện toàn cấp ủy, chi bộ, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tăng cường công tác kiểm tra, bảo đảm cho nghị quyết của tổ chức đảng được thực hiện thắng lợi. Chăm lo xây dựng và phát huy vai trò tính tiền phong của đội ngũ đảng viên, thực sự trở thành lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Xây dựng đội ngũ cán bộ, chỉ huy các cấp ở đơn vị cơ sở cả về số lượng và chất lượng, thể hiện ở các khâu từ lựa chọn, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí đúng người, đúng việc, phát huy vai trò tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Đặc biệt coi trọng bồi dưỡng nâng cao giác ngộ chính trị, lập trường tư tưởng kiên định, kinh nghiệm tổ chức chỉ huy, nhất là trong lúc khó khăn, gian khổ, phức tạp để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống.

 Phát huy vai trò của tổ chức Đoàn Thanh niên và Hội đồng quân nhân là nơi tập trung mọi cán bộ, chiến sĩ trong các phong trào hành động cách mạng, thực hiện nhiệm vụ, phát huy dân chủ, tinh thần đoàn kết, tính chủ động trong việc ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch.

Bốn là: Phối hợp với địa phương và các đơn vị bạn xây dựng địa bàn vững mạnh, an toàn, kịp thời ngăn chặn và đập tan khi có tình huống bạo loạn xảy ra.

Xây dựng cơ sở vững mạnh là vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong tình hình hiện nay, là nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị. Tham gia xây dựng cơ sở địa phương vững mạnh là một nhiệm vụ của các đơn vị quân đội, là một nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong phòng chống “Diễn biến hòa bình” và trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng đối với Quân đội ta.

Để góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đấu tranh phòng chống “Diễn biến hòa bình” của địch có hiệu quả, thì một trong những biện pháp quan trọng là phải không ngừng tăng cường đẩy mạnh các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, nhằm tạo cơ sở chính trị, tinh thần cho quá trình thực hiện nhiệm vụ, phát huy sức mạnh của mọi tổ chức, mọi lực lượng, mọi người trong và ngoài đơn vị thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Trong tình hình hiện nay, các thế lực thù địch thực hiện chiến lược “Diễn biến hào bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng đối với quân đội bằng nhiều thủ đoạn vô cùng tinh vi, xảo quyệt. Do đó, thực hiện đồng bộ những giải pháp trên sẽ góp phần phòng, chống và làm thất bại âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng trong Quân đội ta, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, thực sự là lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay./.