Thứ Ba, 5 tháng 12, 2023

Tỉnh táo với luận điệu “thúc đẩy tự do học thuật” nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Tỉnh táo với luận điệu “thúc đẩy tự do học thuật” nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng

Đổi mới giáo dục theo hướng phát triển toàn diện con người Việt Nam, phát huy tối đa tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, làm nền tảng cho mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, đất nước phồn vinh và hạnh phúc là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong thời kỳ mới của Đảng ta. Tuy nhiên, những năm gần đây, lợi dụng việc đổi mới trong giáo dục của ta, các thế lực thù địch, phản động tung ra luận điệu “thúc đẩy tự do học thuật” nhằm tách giáo dục ra khỏi chính trị, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.

Cảnh giác trước luận điệu “tự do học thuật” phi giai cấp

Theo nhiều học giả phương Tây, “tự do học thuật” được hiểu là “tự do của một người trong việc giảng dạy và nghiên cứu nhằm tìm kiếm sự thật không giới hạn mà không gặp phải nỗi sợ hãi về hình phạt hay mất việc vì đã xâm phạm một quan điểm chính thống về chính trị, tôn giáo hay xã hội”; hay “Tự do học thuật là sự tự do của người dạy và người học trong việc dạy, học, tìm hiểu kiến thức và nghiên cứu mà không có sự can thiệp hay giới hạn vô lý của pháp luật, nội quy hay áp lực công cộng”.

Những quan điểm đó đang được các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chống phá cách mạng Việt Nam cổ xúy, tung hô. Cùng với đó, họ tổ chức “hội thảo khoa học” bàn về vấn đề này và kêu gọi học sinh, sinh viên Việt Nam đấu tranh cho cái gọi là “đòi quyền tự do học thuật”.

Theo những quan điểm trên thì giáo dục phải đứng ngoài chính trị, nhà nước và giai cấp cầm quyền không được quy định về nội dung giáo dục hay truyền bá, lồng ghép tư tưởng chính trị của mình vào việc đào tạo ra những thế hệ chủ nhân tương lai để bảo vệ quyền và lợi ích của chính giai cấp họ.

Tuy nhiên, quan điểm “tự do học thuật” theo ý nghĩa trên chưa bao giờ tồn tại trong xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp. Kể từ khi chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất ra đời, giai cấp chủ nô đã xem giáo dục là công cụ để thực hiện mục đích chính trị và bảo vệ nền chính trị, họ đã lợi dụng những tôn giáo có tầm ảnh hưởng lớn để thâu tóm quyền lực, lợi dụng kinh thánh, giáo lý của các tôn giáo này để mị dân, ru ngủ, thủ tiêu tinh thần, ý chí phản kháng của quần chúng nhân dân nhằm bảo vệ quyền lợi cho giai cấp mình.

Tỉnh táo với luận điệu “thúc đẩy tự do học thuật” nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng
Ảnh minh họa: TTXVN 

 

Sang thời kỳ phong kiến, tầng lớp vua quan, quý tộc, địa chủ đã tìm mọi cách để nhồi nhét vào đầu óc của quần chúng nhân dân tư tưởng “trung quân” (trung với vua); trong dạy học và giáo dục thì coi trọng truyền bá cho người học những tư tưởng xem vua là thiên tử, “lệnh vua là mệnh trời”, “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”.

Trong thời kỳ tư bản chủ nghĩa, sau khi lợi dụng được quần chúng nhân dân lật đổ chế độ phong kiến, giai cấp tư sản lại một lần nữa ra sức lợi dụng kinh thánh, giáo lý của những tôn giáo lớn hoặc thông qua nền giáo dục tư bản chủ nghĩa để truyền bá những tư tưởng tư sản. Bên cạnh đó, họ còn tung ra những chiêu bài với cái gọi là “tự do”, “dân chủ” theo kiểu hỗn độn trong một khuôn khổ nhất định, khuyến khích lối sống không quan tâm đến xã hội để dễ quản lý và bóc lột.

Nhận thức đúng quan điểm mác-xít về vai trò to lớn của giáo dục

Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, quán triệt quan điểm của C.Mác: “Lý luận cũng có thể trở thành lực lượng vật chất một khi nó thâm nhập vào quần chúng”, những người cộng sản đã làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong phong trào công nhân thế giới, tạo nên một sức mạnh góp phần lật đổ ách thống trị của phong kiến, đế quốc, thực dân. Thực tiễn đã chứng minh rằng, nếu muốn cầm quyền, đảng chính trị (chính đảng) nhất thiết phải có một nền tảng tư tưởng riêng, không được tách rời và cần phải ra sức truyền bá nền tảng tư tưởng đó vào lực lượng quần chúng của mình, trừ khi muốn biến nó thành một đảng hay một tổ chức khác. V.I.Lênin đã khẳng định: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”, “Chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong”.

Vận dụng trung thành và sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vị trí, vai trò vô cùng to lớn của giáo dục. Người chỉ rõ nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục vì con người, có vai trò huấn luyện, bồi dưỡng, phát triển toàn diện con người Việt Nam mới xã hội chủ nghĩa. Nhiệm vụ của nền giáo dục là “phải phục tùng đường lối chính trị của Đảng và Chính phủ, gắn liền với sản xuất và đời sống của nhân dân. Học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế”.

Chống việc lợi dụng “tự do học thuật” với dụng ý chính trị xấu

Ở Việt Nam, những năm gần đây, nhất là khi Luật Giáo dục đại học năm 2012 được ban hành (sửa đổi, bổ sung năm 2018), nhiều ý kiến trong và ngoài nước cho rằng cần “thúc đẩy tự do học thuật” để đưa nền giáo dục Việt Nam bắt kịp thế giới. Một số ý kiến còn đưa ra những dẫn chứng về cơ sở pháp lý cho rằng tự do học thuật được quy định trong Hiến pháp và pháp luật của Việt Nam. Họ đã trích Điều 25 Hiến pháp năm 2013 của nước ta: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình” và luận giải rằng, quyền tự do học thuật hàm chứa trong quyền tự do ngôn luận đã được hiến định từ lâu. Họ còn trích khoản 3, Điều 32 Luật Giáo dục đại học năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) quy định: “Cơ sở giáo dục đại học có quyền tự chủ trong học thuật, trong hoạt động chuyên môn”; khoản 7, Điều 55 của Luật này quy định giảng viên có quyền “độc lập về quan điểm chuyên môn trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học” và cho rằng cách diễn đạt này thể hiện tinh thần của quyền tự do học thuật.

Trên thực tế, Hiến pháp và pháp luật của Việt Nam chưa có một văn bản nào quy định về tự do học thuật theo kiểu “tự do của một người trong việc giảng dạy và nghiên cứu nhằm tìm kiếm sự thật không giới hạn mà không gặp phải nỗi sợ hãi về hình phạt hay mất việc vì đã xâm phạm một quan điểm chính thống về chính trị, tôn giáo hay xã hội”, mà chỉ quy định về việc tự do ngôn luận, tự chủ về việc giáo dục, đào tạo theo luật định. Khoản 11, Điều 1 Luật Giáo dục đại học năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) quy định: “Quyền tự chủ là quyền của cơ sở giáo dục đại học được tự xác định mục tiêu và lựa chọn cách thức thực hiện mục tiêu; tự quyết định và có trách nhiệm giải trình về hoạt động chuyên môn, học thuật, tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản và hoạt động khác trên cơ sở quy định của pháp luật và năng lực của cơ sở giáo dục đại học”. Khoản 7, Điều 55 của Luật này cũng quy định: Giảng viên có quyền “độc lập về quan điểm chuyên môn trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học trên nguyên tắc phù hợp với lợi ích của Nhà nước và xã hội”.

Như vậy, những quy định của Luật Giáo dục đại học hiện hành quy định rõ các cơ sở giáo dục đại học có quyền tự chủ trong việc ban hành, tổ chức thực hiện tiêu chuẩn, chính sách chất lượng, mở ngành, tuyển sinh, đào tạo, hoạt động khoa học-công nghệ, hợp tác trong nước và quốc tế nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật và những chuẩn mực đạo đức, thuần phong mỹ tục của xã hội Việt Nam, phù hợp với lợi ích của Nhà nước và xã hội Việt Nam, hoàn toàn không quy định về việc người dạy và người học có thể tự do bày tỏ quan điểm, nghiên cứu những vấn đề không chịu sự ràng buộc của quan điểm chính trị hay tôn giáo.

Tự do học thuật ở Việt Nam cần được hiểu là việc người dạy và người học có quyền lựa chọn những vấn đề nghiên cứu, phương pháp giảng dạy và học tập phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam, phù hợp với chuẩn mực đạo đức của con người mới xã hội chủ nghĩa và quy định của pháp luật Việt Nam vì mục tiêu phát triển toàn diện con người Việt Nam; phát huy tối đa tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Tỉnh táo để đi đúng hướng

Thực chất việc “thúc đẩy tự do học thuật” mà các thế lực thù địch rêu rao là đặt giáo dục ra ngoài chính trị, nhưng đây chính là một thủ đoạn nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, phá hoại văn hóa và truyền thống của dân tộc ta, làm cho giáo dục không thể thực hiện được chức năng giáo dục nhân cách, chức năng định hướng tư tưởng, xây dựng niềm tin cho người học. Chính vì vậy, mọi cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là những người làm công tác giáo dục cần phải hết sức tỉnh táo để công cuộc đổi mới nền giáo dục Việt Nam đi đúng hướng.

Giáo dục là công cụ sắc bén nhất để bảo vệ chính trị, là vấn đề cốt lõi, quyết định đến sự tồn tại, phát triển của một quốc gia, dân tộc; chính giáo dục cùng với hệ thống pháp luật làm cho hệ tư tưởng của giai cấp thống trị trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong xã hội. Vì vậy, các cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan, đoàn thể, nhà trường cần làm tốt công tác tuyên truyền, làm cho mọi cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục và học sinh, sinh viên hiểu đúng vai trò của giáo dục đối với sự tồn vong của chế độ, với sự tồn tại, phát triển của quốc gia, dân tộc, hiểu đúng ý nghĩa của thuật ngữ “tự do học thuật” và việc thực hiện quyền tự chủ trong học thuật của các cơ sở giáo dục.

Trong đổi mới giáo dục và thực hiện quyền tự chủ về học thuật, các cơ sở giáo dục-đào tạo cần tuân thủ nghiêm túc những quy định của Hiến pháp và pháp luật; việc đổi mới và thực hiện quyền tự chủ về học thuật phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức, văn hóa, truyền thống của dân tộc, vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chủ nghĩa Mác-Lênin được cấu thành bởi 3 bộ phận là triết học Mác-Lênin, kinh tế chính trị Mác-Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học. Trước đây, 3 bộ phận này được tổ chức giảng dạy bài bản, chuyên sâu trong chương trình đào tạo đại học. Tuy nhiên những năm gần đây, do giảm thời lượng lý thuyết, tăng thời lượng thực hành, một số cơ sở giáo dục đã và đang có biểu hiện xem nhẹ việc giảng dạy 3 môn học quan trọng này. Mặt khác, việc lựa chọn các môn lý luận tự chọn của sinh viên hiện nay chủ yếu dựa vào cảm tính và tự tìm hiểu qua các lớp học trước nên động cơ, thái độ học tập của các em có thời điểm chưa đúng đắn, chưa tích cực.

Chính vì vậy, các cơ sở giáo dục cần cân nhắc kỹ lưỡng việc quy định tên của môn học, việc cắt giảm thời lượng lý thuyết, nhất là thời lượng dạy học 3 môn cấu thành nên Chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng thời làm tốt công tác quy định, định hướng cho việc lựa chọn các môn học tự chọn, các nội dung nghiên cứu của người học. Trong tình hình hiện nay, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả việc giảng dạy, giáo dục lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin trong các cơ sở giáo dục đại học cũng là một giải pháp hữu hiệu để góp phần phòng ngừa việc lợi dụng “tự do học thuật” nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đại tá, Thạc sĩ TRƯƠNG THANH QUẢNG (Hệ Chiến dịch-Chiến lược, Học viện Quốc phòng)

Phát huy vai trò của Hội Cựu chiến binh trong đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Phát huy vai trò của Hội Cựu chiến binh trong đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Qua các thời kỳ cách mạng Việt Nam đã cho thấy, các thế lực thù địch chưa khi nào ngừng chống phá Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục tiêu của chúng là muốn gây mất ổn định và tạo những khoảng trống ý thức hệ trong cán bộ, đảng viên; kích động, thúc đẩy quá trình "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" hòng làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta

Những năm qua, các đối tượng phản động và thế lực thù địch thường sử dụng một số phương thức, chiêu trò để chống phá Đảng và Nhà nước, như:

Thứ nhất, lợi dụng triệt để sự phát triển của internet, mạng xã hội nhằm tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch, thông tin xấu độc, bịa đặt, thật giả lẫn lộn, hòng gây nhiễu loạn thông tin, gieo rắc tư tưởng hoài nghi, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ hai, các thế lực thù địch, phản động cố tình xuyên tạc chủ nghĩa xã hội (CNXH), chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) và con đường đi lên CNXH của Việt Nam, công kích, phản bác CNXH, ngợi ca một chiều chủ nghĩa tư bản (CNTB), phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xuyên tạc về những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước ta sau 37 năm đổi mới.

Thứ ba, chúng tiếp tục đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ với âm mưu thủ đoạn tinh vi, thâm hiểm hơn, nhất là thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, phá hoại từ bên trong, tạo mâu thuẫn chia rẽ nội bộ, đặc biệt là chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sự gắn bó giữa nhân dân với Đảng và khi có thời cơ, chúng sẽ kích động người dân biểu tình, bạo loạn, gây bất ổn chính trị, tạo ra những cuộc cách mạng đường phố, "cách mạng màu" nhằm lật đổ chính quyền.

Thứ tư, chúng đưa ra các “kiến nghị” nhằm hướng lái dư luận theo ý đồ xấu; triệt để lợi dụng tâm lý hiếu kỳ của một số người dân, đưa ra những thông tin mập mờ đúng - sai để gây hoài nghi cho nhân dân; cổ súy cho cái gọi là “nhận thức đa chiều” hay “nhìn nhận đa chiều”, hòng xuyên tạc, chống phá chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước.

Các chiêu trò chống phá nêu trên đều hướng tới mục đích cuối cùng là hòng tạo nên bức tranh bi quan về tình hình Việt Nam, gây mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ XHCN, dọn đường dư luận để tiếp tục đưa ra những luận điệu phủ nhận vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Phát huy vai trò của Hội Cựu chiến binh trong đấu tranh phản bác âm mưu, luận điệu chống phá của các thế lực thù địch, phản động

Xuất phát từ vai trò, nhiệm vụ chính trị của Hội Cựu chiến binh (CCB) Việt Nam, những năm qua, các cấp hội đã thường xuyên chăm lo giáo dục, tuyên truyền, giúp hội viên hiểu biết sâu sắc và nâng cao nhận thức về quan điểm, đường lối, chủ trương, của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Phát huy vai trò của Hội Cựu chiến binh trong đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
 Trung tướng Đặng Nam Điền, Phó chủ tịch, Tổng thư ký Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam phát biểu bế mạc triển lãm "Da cam – Lương tri và Công lý” tại Lâm Đồng cuối tháng 10-2023.

Thông qua các hoạt động tuyên truyền, mỗi cán bộ, hội viên CCB  hiểu rõ hơn nội dung về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chính là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng, bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Một trong những giải pháp giúp nâng cao nhận thức chính trị cho cán bộ, hội viên CCB đó là các cấp hội thường xuyên quan tâm xây dựng lượng nòng cốt, cốt cán trong Hội CCB. Từ những hoạt động cụ thể, thiết thực, các phong trào thi đua, Hội CCB các cấp đã xây dựng được lực lượng tham gia cấp ủy, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể, có vai trò quan trọng trong đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động. Cùng với đó, các cấp hội đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 05 và Chỉ thị 01 của Bộ Chính trị (khóa XII, XIII) về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện các nghị quyết của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Các cấp hội, hội viên luôn gương mẫu chấp hành, thường xuyên phối hợp với các cấp, các ngành, đoàn thể tham mưu cho cấp ủy đảng và trực tiếp tham gia tuyên truyền, vận động hội viên, nhân dân hiểu rõ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là những vấn đề về dân tộc, tôn giáo, âm mưu thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, phản động, không để kẻ xấu lợi dụng xuyên tạc, gây chia rẽ, mất đoàn kết. Hằng năm, có hơn 98% cán bộ, hội viên CCB đăng ký thực hiện những nội dung, việc làm thiết thực; nhiều tấm gương tiêu biểu được cấp ủy, chính quyền các địa phương biểu dương, khen thưởng. Kết quả đó tiếp tục khẳng định vai trò của tổ chức Hội CCB trong thực hiện nhiệm vụ tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhân dân và chế độ XHCN, giữ vững ổn định chính trị ở cơ sở, góp phần quan trọng xây dựng, củng cố hệ thống chính trị vững mạnh. Các cấp hội phối hợp tham gia giám sát, phản biện xã hội và tham gia giải quyết một số vấn đề phức tạp xảy ra trên địa bàn; phát hiện kịp thời và chủ động ngăn chặn những quan điểm sai trái, thù địch tác động đến hội viên CCB và nhân dân trên địa bàn.

Một số nhiệm vụ, giải pháp phát huy vai trò của Hội CCB trong đấu tranh phản bác luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ nhiệm vụ của Hội CCB Việt Nam: "Động viên CCB phát huy bản chất, truyền thống Bộ đội Cụ Hồ trong xây dựng và bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; giúp nhau làm kinh tế, cải thiện đời sống. Tăng cường vai trò của hội viên trong việc giáo dục lòng yêu nước, truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ, góp phần xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh".

Phát huy vai trò của Hội Cựu chiến binh trong đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Cựu chiến binh quận Tân Phú, TP Hồ Chí Minh phối hợp với cán bộ, chiến sĩ dân quân tham gia giữ gìn an ninh trật tự địa bàn.

Trước diễn biến phức tạp, khó lường của tình hình thế giới, khu vực và sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, các cấp hội CCB cần quan tâm thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, như sau:

Một là, tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 35 của Bộ Chính trị và hướng dẫn, chỉ đạo của Ban chỉ đạo 35 các cấp về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới đến cán bộ, hội viên CCB. Các cấp hội quan tâm làm tốt công tác nắm tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, đặc biệt ở các địa bàn trọng điểm, kịp thời phát hiện những vấn đề nổi cộm, từ đó tham mưu, đề xuất Ban chỉ đạo 35 các cấp giải quyết, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng. Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng, trọng tâm là nâng cao nhận thức cho hội viên về những nội dung cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tuyên truyền làm cho hội viên CCB và nhân dân hiểu, nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chú trọng những chính sách có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, trách nhiệm của hội viên.

Hai là, phối hợp chặt chẽ với cấp ủy Đảng, chính quyền và các ngành, đoàn thể, tập trung làm tốt công tác định hướng dư luận xã hội cho cán bộ, hội viên CCB và nhân dân; cung cấp thông tin kịp thời, đa dạng, chuẩn xác, qua đó phản bác luận điệu sai trái của các thế lực thù địch. Thường xuyên nắm chắc tình hình hội viên và nhân dân trên địa bàn dân cư; kịp thời phát hiện những động thái, dư luận có biểu hiện lệch lạc, đồng thời bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền; phối hợp chặt chẽ với Mặt trận, các đoàn thể chính trị - xã hội và các hội quần chúng trong triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực thù địch, phản động. Khi có tình huống xảy ra trên địa bàn dân cư, cần làm tốt công tác tham mưu để cấp ủy, chính quyền và lực lượng vũ trang địa phương kịp thời xử lý.

Ba là, đi đôi với công tác tuyên truyền, cần làm tốt công tác nắm tình hình dư luận xã hội, chủ động nắm bắt các nguồn thông tin lan truyền tại cơ sở để phản ánh trung thực tâm tư nguyện vọng của hội viên CCB và nhân dân, xây dựng nội dung tuyên truyền chống các luận điệu sai trái, qua đó phát huy dân chủ, giúp người dân có điều kiện bày tỏ quan điểm, chính kiến của mình đối với các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Thông qua dư luận để điều chỉnh một số chủ trương, chính sách cho phù hợp, đáp ứng yêu cầu thực tế của nhân dân và địa phương; kiên quyết loại trừ những thông tin bịa đặt, không chính xác; thông báo, xử lý kịp thời cho cơ quan chức năng xử lý các thông tin sai trái gây hoang mang trong dư luận xã hội.

Bốn là, tổ chức hội CCB ở cơ sở cần tăng cường công tác quản lý, giáo dục cán bộ, hội viên chấp hành đúng Điều lệ hội. Thực hiện đúng quy định của Đảng, Nhà nước, không lan truyền những thông tin sai lệch, xấu độc; tán phát đơn thư nặc danh, mạo danh có nội dung xuyên tạc, vu không, kích động; xử lý kịp thời, nghiêm minh các sai phạm. Các tổ chức hội cần kết nối lực lượng xung kích ở cơ sở để tạo thành thế trận vững chắc, có tính tổ chức, kỷ luật trong việc phòng chống, phản bác thông tin sai trái, xuyên tạc. Chủ động xây dựng lực lượng nòng cốt, có năng lực, trình độ đấu tranh trên mặt trận lý luận, tư tưởng; đồng thời duy trì nghiêm nền nếp hoạt động của các tổ, các cộng tác viên trong phát hiện, đấu tranh với các luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Năm là, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, hội viên CCB từ cơ sở, chi hội, tổ hội. Mỗi cán bộ hội cần phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu trong thực hiện Nghị quyết 35-NQ/TW; tích cực học tập lý luận chính trị để trang bị kiến thức, nâng cao “khả năng miễn dịch”, tăng cường “sức đề kháng” trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Mỗi CCB cần nêu cao cảnh giác, không để các phần tử xấu lợi dụng gây mất đoàn kết nội bộ, vu cáo, bôi nhọ, đả kích Đảng, Nhà nước. Thực hiện tốt nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội; tham gia đóng góp xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh. Bằng tâm huyết và sự từng trải của mình, các CCB cần tích cực tham gia giáo dục truyền thống và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, truyền thụ kinh nghiệm sống, cống hiến cho thế hệ trẻ.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là vấn đề cơ bản, hệ trọng, sống còn trong xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, thường xuyên, lâu dài của các cấp hội và mỗi cán bộ, hội viên hội CCB, trước hết là người đứng đầu tổ chức hội các cấp.

Trung tướng, PGS, TS ĐẶNG NAM ĐIỀN, Phó chủ tịch, Tổng thư ký Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam

*Mời bạn đọc vào chuyên mục Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng xem các tin, bài liên quan. 

Không để các luận điệu xuyên tạc làm ảnh hưởng đến công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam

 

Không để các luận điệu xuyên tạc làm ảnh hưởng đến công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam

Thời gian qua, lợi dụng những diễn biến phức tạp trên Biển Đông, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thông qua nhiều âm mưu nham hiểm nhằm xuyên tạc, phủ nhận đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam.

Sự nham hiểm của những luận điệu xuyên tạc

Biển là không gian chiến lược mở, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đường lối, chiến lược và tương lai phát triển của đất nước. Biển Đông là “bản lề” nối liền Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, là nơi hội tụ lợi ích chiến lược và thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhiều quốc gia trong và ngoài khu vực, nhất là các nước lớn. Về mặt tiềm năng phát triển, Biển Đông có nhiều lợi thế. Nơi đây đã và đang trở thành tâm điểm của sự cạnh tranh lợi ích, quyền lực và tầm ảnh hưởng của các nước lớn, được các chuyên gia quân sự ví như vùng “chảo lửa” trên bàn cờ chính trị của khu vực với nhiều diễn biến phức tạp, nhạy cảm.

Lợi dụng tình hình phức tạp trên Biển Đông, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị khai thác triệt để, biến tấu thành nhiều bài viết, hình ảnh, video nhằm bịa đặt tình hình, bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta trong công tác quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo; lợi dụng các trang mạng xã hội để lan truyền, tán phát thông tin, gây tâm lý hoang mang, bất ổn, chia rẽ đoàn kết trong nước và quốc tế.

Với những nội dung xuyên tạc xảo trá, họ thường lặp đi lặp lại luận điệu cũ rích rằng: “Cộng sản Việt Nam làm ngơ về vấn đề chủ quyền trên Biển Đông”; Đảng, Nhà nước Việt Nam im lặng vì đã thỏa hiệp với nước lớn, không cung cấp đầy đủ thông tin về tình hình Biển Đông, không có giải pháp đủ mạnh để bảo vệ chủ quyền biển, đảo... Những thông tin xuyên tạc này ít nhiều đã tác động tiêu cực tới nhận thức, tư tưởng, tình cảm, niềm tin của một bộ phận nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta.

Chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, vùng trời, vùng biển và các hải đảo. Quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là kiên quyết, kiên trì đấu tranh quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không trên các vùng biển, đảo quốc gia. Sinh thời, khi đến thăm cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”.

Những năm qua, Đảng ta luôn coi trọng nhiệm vụ phát triển mạnh kinh tế-xã hội, bảo vệ và làm chủ vùng biển của Tổ quốc. Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9-2-2007 “Về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, trong đó xác định: “Phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo”. Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22-10-2018 “Về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” đã xác định: “Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ”. Tại Đại hội XIII (năm 2021), Đảng ta một lần nữa khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển”.

Không để các luận điệu xuyên tạc làm ảnh hưởng đến công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam
Ngư dân lao động trên vùng biển Phú Yên. Ảnh: ĐÌNH HOÀNG 

Như vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của biển, đảo là một bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng không thể tách rời, bất khả xâm phạm của Tổ quốc. Bảo vệ Tổ quốc nói chung, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền, bảo đảm an ninh, an toàn và lợi ích quốc gia-dân tộc trên các vùng biển, đảo nói riêng là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quá trình hoạch định và triển khai thực hiện đường lối bảo vệ chủ quyền biển, đảo luôn giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, kết hợp chặt chẽ với sức mạnh thời đại và tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để phát triển kinh tế biển gắn với quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo quốc gia.

Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo quốc gia bằng biện pháp hòa bình

Bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, trong đó chủ quyền biển, đảo là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Tuy nhiên, về biện pháp tiến hành, cần phải hết sức bình tĩnh, tỉnh táo, linh hoạt, thực hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong các tình huống cụ thể với mục tiêu cao nhất là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia-dân tộc. Quan điểm, lập trường của Việt Nam về vấn đề Biển Đông, về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển quốc gia theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) là rất rõ ràng và hoàn toàn có đầy đủ cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn.

Với những vấn đề còn tồn tại bất đồng, tranh chấp, Việt Nam nhất quán giải quyết bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp và thông lệ quốc tế. Là một quốc gia thành viên của Liên hợp quốc đã tham gia ký kết UNCLOS 1982, Việt Nam luôn tuân thủ các quy định của luật pháp và nguyên tắc quan hệ quốc tế; kiên trì con đường giải quyết các vấn đề nảy sinh bằng biện pháp hòa bình, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau nhằm tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của tất cả các bên liên quan vì độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và vì hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực, quốc tế.

Trên thực tế, trong những thời điểm mà quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên Biển Đông bị đe dọa, Đảng, Nhà nước và toàn dân ta luôn thể hiện tinh thần đoàn kết, đồng lòng, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp hòa bình trên các diễn đàn quốc tế, khu vực thông qua các cuộc gặp gỡ, trao đổi đoàn các cấp trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao; chủ động kiềm chế, không có các hành động khiêu khích, không làm phức tạp tình hình; thực hiện đầy đủ, hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và thể hiện thiện chí để sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Xây dựng hệ thống các biện pháp hòa bình để giải quyết bất đồng, tranh chấp với các bên, các nước có liên quan, như biện pháp ngoại giao (đàm phán hòa bình; thương lượng; điều tra; trung gian hòa giải; sử dụng các tổ chức quốc tế, khu vực; ký kết các hiệp định song phương, đa phương...).

Trên tinh thần đó, Việt Nam luôn nỗ lực cao nhất để xử lý các vấn đề tranh chấp trên Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn trên biển; duy trì quan hệ hữu nghị với các bên, các nước. Kiên trì mục tiêu không để nước ngoài lấn chiếm nhưng cũng không để xảy ra xung đột; kiên trì tìm kiếm giải pháp lâu dài và yêu cầu các bên liên quan không có những hành động quá khích, cực đoan, làm phức tạp thêm tình hình, tuân thủ các cam kết đã ký kết, giải quyết mọi bất đồng trên cơ sở thượng tôn luật pháp quốc tế, UNCLOS 1982 và nguyên tắc chung sống hòa bình. Coi trọng thúc đẩy xây dựng lòng tin chiến lược với các đối tác; đẩy mạnh hợp tác đa phương trên các lĩnh vực bảo đảm an ninh, nghiên cứu khoa học-công nghệ, phòng, chống tội phạm trên biển... để Biển Đông thực sự là vùng biển hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

Một mặt, Việt Nam không tạo phe, không kết nhóm, không chọn bên, không liên minh quân sự, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự tại Việt Nam nhằm tấn công các nước khác, không đi theo nước này để chống lại nước kia, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Mặt khác, chúng ta cũng không mơ hồ, mất cảnh giác, né tránh, nhân nhượng vô nguyên tắc, không thụ động, không dựa dẫm, không trông chờ ỷ lại; không mắc mưu lôi kéo, kích động, khiêu khích của bất cứ thế lực nào; chỉ chọn theo chân lý, đứng về lẽ phải, dựa trên luật pháp quốc tế vì mục tiêu hòa bình, hợp tác và phát triển.

Nhằm quán triệt và thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong tình hình mới, chúng ta cần phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, thực hiện phương châm “vừa hợp tác, vừa đấu tranh” trên tinh thần “thêm bạn, bớt thù”, tranh thủ tối đa sự đồng thuận, ủng hộ của các bên liên quan cùng các nước trong khu vực và trên thế giới để hạn chế những bất đồng, khắc phục sự khác biệt, triệt để khai thác các nhân tố có lợi từ bên ngoài tạo thành sức mạnh tổng hợp.

Tập trung giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục; xây dựng lực lượng bảo vệ chủ quyền, thực thi pháp luật trên biển (hải quân, cảnh sát biển, bộ đội biên phòng, kiểm ngư, dân quân tự vệ biển) vững mạnh; xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng chính trị-tinh thần vững chắc.

Tích cực xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về biển, tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động khai thác, quản lý, bảo vệ biển, đảo phù hợp với luật pháp quốc tế. Kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp đấu tranh chính trị, pháp lý, ngoại giao, kinh tế, quốc phòng, an ninh; tăng cường hợp tác quốc tế, đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại quốc phòng về quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới.

Những quan điểm nêu trên là đường lối chính trị, căn cứ pháp lý để xây dựng sự đoàn kết, đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin trong nước, quốc tế, tạo thành nền tảng và sức mạnh tổng hợp quốc gia; đồng thời là cơ sở để đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động; để dư luận quốc tế hiểu rõ về lập trường, quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia trong tình hình hiện nay.

Đại tá, ThS TRẦN ĐỨC TIẾN, Khoa Lịch sử nghệ thuật quân sự, Học viện Chính trị

Đừng để thất bại ngay từ trong suy nghĩ

 

Đừng để thất bại ngay từ trong suy nghĩ

Thời gian qua, trên các nền tảng mạng xã hội, nhất là TikTok, xuất hiện một số TikToker (người dùng TikTok) làm các video clip kiểu như: “Có lẽ tôi sẽ từ bỏ Quân đội để được làm chính mình”; “Có nên rời khỏi ngành Công an để bắt đầu làm lại?”...

Không biết quan điểm của bạn về mấy TikToker nói trên như thế nào, còn đối với tôi-một sĩ quan trẻ đang công tác trong Quân đội, tôi cho rằng đó là suy nghĩ tầm thường của một bộ phận thanh niên không có bản lĩnh, lập trường, phai nhạt về lý tưởng, đạo đức cách mạng... nên sinh ra tư tưởng “đứng núi này trông núi nọ”.

Tầm thường từ tư tưởng “đứng núi này trông núi nọ”

Trên thực tế, đã có người rời bỏ hàng ngũ Quân đội, Công an để được “làm chính mình” (theo tự nhận của một số TikToker). Nhưng mơ ước của những “anh hùng bàn phím” đã nhanh chóng vụn vỡ, khiến họ thất bại thảm hại, để rồi cay đắng thừa nhận rằng, bệnh “đứng núi này trông núi nọ” chẳng thể nào vươn tới đỉnh cao.

Tư tưởng “đứng núi này trông núi nọ” xuất hiện ở mọi lứa tuổi, giới tính, công việc... nhưng thường tập trung vào nhóm người phải làm việc trong môi trường vất vả, nhiều áp lực, thu nhập thấp. Tuy nhiên, điều kiện công tác, vị trí việc làm chỉ là nhân tố khách quan, còn nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng nêu trên là do sự bồng bột, thiếu kiên định, ngại rèn luyện; chưa suy nghĩ thấu đáo đã quyết định nóng vội khiến cho bản thân phải trả giá đắt.

Thực tiễn đã chứng minh, con người ta phải “có làm thì mới có ăn”. Vậy mà, một số bạn trẻ vẫn đắm mình trong lối sống ảo, thích hưởng thụ nhưng lười lao động; muốn làm giàu nhanh nhưng tư duy kinh tế trống rỗng. Chính vì vậy mà họ không ngại vay mượn bằng mọi giá để liều mình “lao như thiêu thân”, đầu tư vào các tài khoản mã hóa, ứng dụng kiếm tiền ảo, các sàn giao dịch chứng khoán trên mạng chưa được cơ quan quản lý nhà nước cấp phép... Mặc dù lãnh đạo, chỉ huy các cấp và cơ quan chức năng đã thường xuyên tuyên truyền, cảnh báo, nhưng họ vẫn dửng dưng để ngoài tai, đem niềm tin đặt vào những lời chèo kéo của đám “cò mồi”, hệ quả là bị “sập bẫy” và không có đường lui. Cực chẳng đã, bố mẹ vốn đã nhọc nhằn, vất vả lo toan cuộc sống mưu sinh, nay lại còng lưng gánh nợ, thậm chí bán đất, bán nhà để trả nợ cho con. Không những thế, vì coi thường pháp luật mà không ít người đã vướng vào vòng lao lý, tù tội.

Đừng để thất bại ngay từ trong suy nghĩ
Bộ đội giúp dân gặt lúa. Ảnh minh họa: TTXVN 

 

Quân đội là môi trường đặc thù với muôn vàn gian lao nhưng rất đỗi vinh quang. Gần 80 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, dưới sự lãnh đạo, rèn luyện của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội ta luôn giữ vững bản chất, truyền thống, luôn được dân trọng, dân mến, dân tin. Tuyệt đại đa số cán bộ, chiến sĩ an tâm tư tưởng, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao phó; giữ vững và phát huy phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ. Tuy nhiên, do tác động của mặt trái kinh tế thị trường và ảnh hưởng tiêu cực của mạng xã hội; cùng với đó là tư tưởng ngại khó, ngại khổ nên trong một bộ phận nhỏ sĩ quan trẻ đã có biểu hiện “đứng núi này trông núi nọ” với suy nghĩ “rời bỏ hàng ngũ Quân đội để làm lại từ đầu”. Đó là điều vô cùng đáng trách, đi ngược lại với lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng; ảnh hưởng xấu đến tư tưởng, tình cảm của đồng chí, đồng đội; tạo cớ để các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị xuyên tạc, chống phá.

Trong cuộc sống, ai cũng có mơ ước, khát vọng riêng của đời mình. Song, điều đó không đồng nghĩa quay lưng lại với sự nghiệp mà chính bản thân đã lựa chọn để đi theo tiền tài, danh vọng hư vô. Hơn nữa, được phục vụ lâu dài trong Quân đội hay Công an từ lâu đã trở thành khao khát của biết bao lớp thanh niên, thậm chí có những bạn trẻ phải lận đận thi hết lần này, lần khác vẫn chưa thành công thì một số ít sĩ quan trẻ-những người đã được đào tạo bài bản lại hoài nghi, dao động, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng, cổ xúy cho những hành động sai trái. Nói cách khác, “đứng núi này trông núi nọ” là sự thất bại ngay từ trong tư tưởng của chính những người vẫn tự cho là mình khôn ngoan, sáng suốt.

 Môi trường nào cũng có quy tắc, quy định riêng

Tục ngữ có câu: “Quốc có quốc pháp, gia có gia quy”, từ gia đình-“tế bào của xã hội” đến cộng đồng quốc tế, ở đâu cũng có quy tắc, quy định riêng. Theo đó, để tồn tại, phát triển, mỗi cá nhân nhất thiết phải tôn trọng, chấp hành và tuyệt đối không được phép tự ý vượt quá những “lằn ranh đỏ” mà tổ chức đặt ra. Điều đó nhắc nhở chúng ta rằng, tự do mà mỗi người có được là “tự do trong khuôn khổ” chứ không phải “tự do vô tổ chức, vô kỷ luật”. Vậy nên, bất cứ ai cho rằng “rời bỏ hàng ngũ Quân đội, Công an để được làm chính mình” chỉ là sự mơ hồ ảo tưởng, một suy nghĩ viển vông, vô căn cứ.

Quân đội là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thiêng liêng, cao cả. Để hoàn thành trọng trách được Đảng, Tổ quốc và nhân dân giao phó, mỗi cán bộ, chiến sĩ đều phải trải qua quá trình rèn luyện đặc biệt với những đòi hỏi rất cao cả về trí lực lẫn thể lực. Vậy nên, kỷ luật và ý thức tổ chức kỷ luật là hai thành tố không thể thiếu, luôn song hành, trở thành nét đặc trưng riêng của Bộ đội Cụ Hồ. Trong đó, "kỷ luật là sức mạnh của Quân đội”, còn ý thức tổ chức kỷ luật tự giác, nghiêm minh là nét đẹp cao quý trong phẩm chất, nhân cách người quân nhân cách mạng và những người tự do nhất chính là những người tự giác chấp hành kỷ luật nghiêm minh nhất. Ý chí sắt đá, sẵn sàng đương đầu với mọi khó khăn, gian khổ cũng giống như “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” từ lâu đã thấm sâu vào nếp sống, nếp nghĩ của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ; là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, góp phần quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu, chiến thắng của Quân đội ta. Ngược lại, đối với những người “cả thèm chóng chán”, “dễ làm khó bỏ” thì dẫu có đi đâu, làm gì cũng sẽ có chung một kết quả, đó là sự thất bại.

Là chính mình-hiểu sao cho đúng?

 Quân đội là “trường học lớn” của tuổi trẻ. Từ “ngôi trường” ấy đã có biết bao tấm gương sáng về tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc, biết khắc phục khó khăn, thử thách để vươn lên, đem về vinh quang cho Tổ quốc, tiêu biểu trong thời gian gần đây nhất như: Nữ kình ngư Nguyễn Thị Ánh Viên, vận động viên bắn súng Hoàng Xuân Vinh, vận động viên điền kinh Nguyễn Văn Lai, cùng với đó là nhiều gương mặt trẻ lăn xả vào huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, nghiên cứu khoa học, giáo dục, phát triển kinh tế, giúp dân xóa đói, giảm nghèo... Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cũng thường xuyên quan tâm, khuyến khích, động viên những cán bộ, chiến sĩ có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ bằng những chế độ, chính sách cụ thể, thiết thực, như: Thăng quân hàm trước niên hạn; đề bạt, bổ nhiệm chức vụ công tác; luân chuyển thực tế; đào tạo, bồi dưỡng... và Đề án “Thu hút, trọng dụng nhân tài trong Quân đội” đang triển khai xây dựng là một minh chứng điển hình. Vậy nên, sống trong quân ngũ không thể có chuyện “không được là chính mình”.

Đến đây, tôi chợt nhớ tới câu chuyện “muốn được làm chính mình” của nhân vật Hiếu trong bộ phim “Cuộc chiến không giới tuyến”. Bởi thích tự do làm những điều mình muốn, Hiếu đã tìm mọi cách để không tham gia quân ngũ. Để rồi, chưa kịp thành công, chàng trai trẻ ấy đã để lại cho gia đình “một đống nợ”. Nghe bà nội của Hiếu tâm sự cùng con gái, chắc hẳn rất nhiều khán giả đã không cầm được lòng mình: “Đời tao, nhìn theo bố mày đi công tác, rồi lại đến lượt nhìn anh mày đi công tác... thứ tao quen nhất chỉ là cái bóng sau lưng thôi”. Song, dẫu đã chịu muôn vàn nỗi đau, sự thiệt thòi, nhưng bà vẫn mạnh mẽ, can trường, chủ động động viên, thậm chí yêu cầu Hiếu-người cháu trai duy nhất ở bên cạnh bản thân lúc xế chiều phải cố gắng nối nghiệp ông cha. Trong đôi mắt ngấn lệ, bà khẳng khái: “Đấy, cho cháu muốn làm gì thì làm, giờ thì cháu làm ra một đống nợ! Còn nhập ngũ, cháu đã vào ngày nào đâu mà biết không hợp? Cháu phải vào để Quân đội dạy cho cháu cách làm một con người... chứ bà không sống mãi mà lo cho cháu được đâu”. Để rồi, sau quãng thời gian tân binh ngắn ngủi, chàng trai khờ dại, non nớt ngày nào đã rắn rỏi, trưởng thành. Không những vậy, Hiếu còn giác ngộ sâu sắc lý tưởng cách mạng, sự thiêng liêng, cao cả khi được cống hiến cho Tổ quốc. Bởi thế, anh đã tiếp tục viết đơn xin được đi học để phục vụ lâu dài trong Quân đội.

Trong tiểu thuyết nổi tiếng “Thép đã tôi thế đấy” của nhà văn Xô viết Nikolai Alekseevich Ostrovsky có đoạn: “Thép đã tôi trong lửa đỏ và nước lạnh, lúc đó thép trở nên không hề biết sợ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu của chúng ta cũng đã dạy: “Gạo đem vào giã bao đau đớn/ Gạo giã xong rồi, trắng tựa bông/ Sống ở trên đời người cũng vậy/ Gian nan rèn luyện mới thành công”. Do đó, có thể thấy được giá trị và ý nghĩa của tinh thần kiên trì, bền bỉ trong rèn luyện bản lĩnh, trí tuệ đối với sự trưởng thành, phát triển cũng như chặng đường thành công của mỗi con người.

Từ văn học, nghệ thuật, điện ảnh... cho đến cuộc sống, giá trị cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ lại càng được khẳng định rõ nét. Điển hình như câu chuyện về gia đình ông Huỳnh Văn Đó, ở xã Tân Hải, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, là du kích Nam Bộ, có con trai Huỳnh Văn Kết là cựu Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia, thương binh hạng 1/4. Ông Kết có hai con trai công tác trong lực lượng vũ trang: Anh trai Huỳnh My là Trung úy công an, còn em Huỳnh Văn Hợp đang học năm thứ hai Trường Sĩ quan Chính trị. Đáng chú ý, dẫu đã một lần dang dở mơ ước vì lý do sức khỏe nhưng Huỳnh Văn Hợp vẫn không từ bỏ khao khát được trở thành người sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam; quyết tâm lặn lội từ Nam ra Bắc lần 2 để đi theo con đường mình đã chọn. Nếu không phải là người kiên định, nếu không có lòng quả cảm, liệu chàng trai ấy có đủ can đảm để đi theo con đường mà ông, cha, anh đã lựa chọn, nhất là khi bản thân đã chứng kiến những cơn đau mà mỗi khi trái gió trở trời bố vẫn phải nghiến răng chịu đựng sau những cống hiến thời trai trẻ?

Từ một vài ví dụ điển hình, chúng ta càng cảm thấy khâm phục những tấm gương dám hy sinh vì non sông gấm vóc bao nhiêu, lại càng bất bình với một số người, dẫu chưa đóng góp được gì cho Tổ quốc nhưng đã vội đề cao giá trị của bản thân họ bấy nhiêu!

Dù ở thời chiến hay thời bình, Bộ đội Cụ Hồ luôn sẵn sàng nhận về mình những công việc khó khăn nhất. Còn nhớ, trong cuộc chiến với đại dịch Covid-19, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã nhấn mạnh: “Chúng tôi sẽ cố gắng làm và làm hết mình... Cái gì khó quá thì cứ giao cho Quân đội”. Qua đó khẳng định ý chí quyết tâm của toàn thể cán bộ, chiến sĩ Quân đội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đúng với lời thề: “Thắng không kiêu, bại không nản, dù gian lao khổ hạnh cũng không sờn lòng, vào sống ra chết cũng không nản chí”.

Mỗi người là chính mình hay không là chính mình không phải do môi trường quyết định, mà phụ thuộc vào bản lĩnh và ý chí của chính họ. Nếu đã chọn lực lượng vũ trang làm điểm khởi đầu của sự nghiệp thì các bạn hãy luôn tự hào và quyết tâm đi hết con đường ấy một cách vinh quang nhất. Dẫu biết rằng bảo vệ Tổ quốc vừa là trách nhiệm, vừa là bổn phận của tất cả mọi người, nhưng Quân đội, Công an tuyệt nhiên không ép buộc bất cứ ai phải phục vụ lâu dài trong môi trường ấy. Vậy nên, trước khi quyết định bất cứ một việc gì, các bạn hãy suy nghĩ thật kỹ, đừng để “đứt gánh giữa đường”. Còn tư tưởng “rời bỏ hàng ngũ Quân đội, Công an để được làm chính mình” nếu không phải là hành động "câu view" của những TikToker chuyên “kiếm tiền bẩn” thì cũng chỉ là viện cớ của một sự thất bại-thất bại ngay từ trong suy nghĩ.

VŨ VĂN QUỐC