Gần 40 năm qua kể từ khi bước vào thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, trong đó có việc bảo đảm nhân quyền góp phần ổn định và phát triển bền vững đất nước. Việt Nam cũng là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 và luôn được đánh giá là thành viên tích cực, có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta, các thế lực thù địch không ngừng đưa ra những luận điệu xuyên tạc về việc bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam.
Thứ Ba, 5 tháng 12, 2023
ĐẤU TRANH, NGĂN CHẶN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM
Ý NGHĨA CỦA “LỜI KÊU GỌI TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN” ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh - không chỉ là lời hiệu triệu của non sông đất nước, mệnh lệnh trái tim chứa đựng một ý chí mãnh liệt, một quyết tâm cháy bỏng, thúc giục cả dân tộc vùng lên“thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” mà còn trở thành nền tảng vững chắc, ý nghĩa sâu sắc đối với công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân hiện nay.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả dân tộc
Việt Nam vùng đứng lên “ai có súng dùng súng, ai có gươm cầm gươm…”, quyết tâm
đánh thắng thực dân Pháp xâm lược. Sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc đã
được phát huy lên tầm cao mới, sau 9 năm “Lời kêu gọi toàn quốc” của Chủ tịch
Hồ Chí Minh được phát ra, nhân dân Việt Nam muôn người như một, chung sức đồng
lòng, cùng nhau làm nên một Điện Biên Phủ “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa
cầu”, buộc Pháp phải ký vào Hiệp định Giơnevơ tôn trọng độc lập, chủ quyền
thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam. Lời kêu gọi ấy tiếp tục vang lên ở
hai miền đất nước, thúc giục cả hai miền Nam, Bắc quyết tâm “đánh cho Mỹ cút,
đánh cho nguỵ nhào”, giải phóng hoàn toàn đất nước năm 1975, thu non sông về
một mối, cả nước đi lên xây dựng CNXH.
Cả nước hoà bình, thống nhất đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, bên cạnh
những thuận lợi để nước ta bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, còn
muôn vàn khó khăn, thách thức trước mắt. Đất nước vừa có hoà bình vừa có chiến
tranh ở hai đầu biên giới và bị bao vây cấm vận từ nhiều phía. Trước tình hình
thế giới và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, Đảng ta chủ
trương “Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng CNXH, không một phút lơi
lỏng nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Và trong khi không một phút
lơi lỏng nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, đặt lên hàng đầu nhiệm vụ
xây dựng CNXH” . Vì vậy, cùng với phát triển kinh tế - xã hội, Đảng ta tiếp tục
kế thừa và phát huy sức mạnh của cả dân tộc theo tinh thần Lời kêu gọi toàn
quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm xây dựng nền quốc phòng toàn dân
vững chắc, củng cố quốc phòng - an ninh - điều kiện để giữ vững hoàn bình, xây
dựng thành công CNXH.
Sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc đã từng bước đưa nước ta thoát khỏi
khủng hoảng, đạt nhiều thành tựu trong hơn 35 năm đổi mới toàn diện đất nước
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã tạo ra nền tảng vững chắc để
dân tộc Việt Nam vững bước trên con đường đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, thực hiện
khát vọng Việt Nam hùng cường.
Tuy nhiên, đất nước ta còn phải đối mặt với nhiều thách thức đan xen
nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp, nhiều vấn đề bức xúc như mặt
trái của kinh tế thị trường tác động sâu sắc đến lĩnh vực chính trị, tư tưởng,
văn hoá, đạo đức; tệ quan liêu tham nhũng, suy thoái về chính trị, đạo đức của
một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù
địch đang ra sức đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, tìm
mọi cách để phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh
đạo của Đảng, chống lại sự phát trển của đất nước theo con đường xã hội chủ
nghĩa, thực hiện âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội, tìm cách xóa bỏ sự lãnh
đạo của tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Những vấn đề
đó tác động trực tiếp, thường xuyên đến quá trình xây dựng quân đội, xây dựng
nền quốc phòng toàn dân giai đoạn cách mạng mới.
Để khắc phục mọi khó khăn, thực hiện thắng lợi mục tiêu đề ra, trong bối
cảnh quốc tế, khu vực và trong nước hiện nay, Đảng ta bên cạnh tiếp tục phát
huy giá trị lịch sử của “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí
Minh năm 1946 lên tầm cao mới và đẩy mạnh hơn nữa Cuộc vận động "Học tập
và làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh", cổ vũ và phát huy
sức mạnh tổng hợp của toàn dân, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại,
không chỉ đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội mà còn chỉ ra kinh nghiệm sâu
sắc đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân (QPTD), đủ sức mạnh bảo
vệ vững chắc sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước, xây dựng và bảo vệ bảo vệ Tổ
quốc hiện nay.
Đảng ta chủ trương xây dựng nền QPTD vững mạnh vì mục đích hoà bình được
đúc kết từ những bài học kinh nghiệm quí báu trong kho tàng lịch sử dựng nước
và giữ nước lâu dài của dân tộc Việt Nam, đặc biệt được nâng lên tầm cao mới
trong thời đại Hồ Chí Minh. Quan điểm “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân
nhượng” đặt trong bối cảnh quốc tế và khu vực hiện nay như một “luật chơi” của
thời đại tiếp tục gợi mở hướng vận dụng mối quan hệ giữa chiến lược và sách
lược, đòi hỏi những biện pháp ứng xử bang giao khôn khéo, mềm dẻo trong quan hệ
đối ngoại, vừa biết “nhân nhượng” về sách lược để “thêm bạn, bớt thù”, tránh
được các cuộc xung đột và chiến tranh, vừa giữ vững những nguyên tắc chiến lược
cơ bản trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng XHCN, thực hiện chính
sách mở cửa, hội nhập mà không hoà tan vào dòng chảy của thế giới đương đại.
Xây dựng nền QPTD vững mạnh vì mục đích hoà bình là chiến lược cơ bản,
lâu dài của quốc gia - dân tộc Việt Nam. Quan điểm chiến tranh nhân dân, QPTD
là quan điểm cơ bản nhất trong đường lối quân sự của Đảng, thể hiện tập trung,
sâu sắc quan điểm giai cấp, quan điểm quần chúng, quan điểm thực tiễn của Đảng
ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quan điểm này xác định lực lượng quần chúng nhân
dân và yếu tố chính trị - tinh thần là sức mạnh to lớn quyết định thắng lợi của
chiến tranh. Tiếp tục chú trọng xây dựng sức mạnh chính trị - tinh thần, phát
huy vai trò nhân tố con người, đồng thời từng bước đẩy mạnh hiện đại hoá lực
lượng quốc phòng để tăng cường sức mạnh quốc phòng. Công cuộc xây dựng nền QPTD
vững mạnh trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay đòi hỏi phải tiếp tục chú
trọng xây dựng sức mạnh chính trị-tinh thần, phát huy vai trò nhân tố con
người, đồng thời từng bước đẩy mạnh hiện đại hóa lực lượng quốc phòng, nâng cao
sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân và sức mạnh của nền QPTD,
toàn diện.
Tính chất toàn dân, toàn diện của nền quốc phòng Việt Nam được xây dựng
từ việc đúc kết những bài học kinh nghiệm của quá khứ, đồng thời xuất phát từ
thực tiễn phòng thủ đất nước, bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Điều đó cũng phù hợp với
quan niệm hiện đại về quốc phòng, coi quốc phòng là công cuộc giữ nước của một
quốc gia, bao gồm tổng thể các mặt hoạt động đối nội và đối ngoại, diễn ra trên
mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, khoa học - công nghệ, quân
sự… nhằm giữ vững hoà bình, ngăn chặn mọi hoạt động xâm phạm chủ quyền, toàn
vẹn lãnh thổ, nền độc lập dân tộc, đẩy lùi âm mưu gây chiến và nguy cơ chiến
tranh, đồng thời sẵn sàng đánh thắng mọi kẻ thù khi chúng phát động chiến tranh
xâm lược.
Đến Đại hội XIII, Đảng ta khẳng định: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo
vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường
xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó, Quân đội
nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt” . Đây chính là sự khẳng định sức mạnh
của quốc phòng toàn dân là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của hệ
thống chính trị, trong đó, Quân đội và Công an làm nòng cốt. Mục đích xây dựng
nền quốc phòng toàn dân của Đảng ta vì mục đích hoà bình, coi việc giữ vững hoà
bình, ổn định để phát triển đất nước theo định hướng XHCN là mục đích tối cao,
đồng thời, góp phần tích cực vào việc bảo vệ nền hoà bình trong khu vực và trên
thế giới. Đó cũng là chiến lược tự vệ chủ động, kết hợp xây dựng với bảo vệ đất
nước, thực hiện giữ nước ngay từ khi chưa có chiến tranh, tìm cách ngăn ngừa
chiến tranh và phương án tốt nhất là không phải tiến hành chiến tranh, thực
hiện ước vọng của cha ông ta từ ngàn xưa “tắt muôn đời chiến tranh”.
Lòng yêu nước và tinh thần "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh"
của dân tộc Việt Nam ngời sáng trước họa xâm lăng hơn 77 năm trước từ “Lời kêu
gọi toàn quốc kháng chiến” vẫn còn nguyên giá trị, không chỉ là cơ sở để xây
dựng niềm tin vững chắc vào truyền thống yêu nước, sự lãnh đạo đúng đắn của
Đảng, phát huy ý chí “Không có gì quý hơn độc lập tự do” trong thời kỳ đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế mà còn là nền tảng để phát triển nền quốc
phòng toàn dân vững chắc - nhân tố cơ bản tạo nên sức mạnh chính trị - tinh
thần, ngọn nguồn sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của dân tộc Việt Nam trong
thời đại Hồ Chí Minh, thực hiện thắng lợi mục tiêu: Dân giàu nước mạnh, dân
chủ, công bằng văn minh. Đồng thời “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” cổ vũ
tinh thần đoàn kết toàn dân tộc, bất kỳ khi nào, trong mọi tình huống, luôn
phải đặt dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết. Sức mạnh chính trị - tinh thần của
nhân dân ta, dân tộc ta được đặt trên nền tảng vật chất của công cuộc đổi mới,
dựa trên thế và lực của đất nước được tạo lập nên gần 4 thập niên qua dưới sự
lãnh đạo của Đảng, sẽ là những yếu tố bảo đảm vững chắc cho cuộc chiến đấu bảo
vệ Tổ quốc, đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược.
LẬT TẨY BẢN CHẤT CỦA TỔ CHỨC "CHÍNH PHỦ QUỐC GIA VIỆT NAM LÂM THỜI"
Với các hoạt động chống phá nhằm lật đổ chính quyền, phá hoại sự ổn định phát triển của đất nước bằng bạo động, vũ trang, tháng 1/2018, Bộ Công an đã thông báo “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” là một tổ chức khủng bố.
"CÁN BỘ LÀ CÁI GỐC CỦA CÔNG VIỆC"!
Căn bệnh "sợ trách nhiệm" đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ lúc sinh thời. Trong di sản tư tưởng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đến căn nguyên của căn bệnh này một cách rất cụ thể: "Có lợi cho tôi thì tôi tích cực; không có lợi cho tôi thì tôi tiêu cực. Tôi muốn có địa vị cao, nhưng lại sợ trách nhiệm”.
Theo Bác, những người mắc bệnh sợ trách nhiệm là những người: "Họ
muốn địa vị cao, nhưng lại sợ trách nhiệm nặng. Dần dần tinh thần đấu tranh và
tính tích cực của họ bị kém sút, chí khí anh dũng và phẩm chất tốt đẹp của
người cách mạng cũng kém sút; họ quên rằng tiêu chuẩn số một của người cách
mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng".
Trong cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về "Kiên quyết,
kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và
Nhà nước ta ngày càng trong sạch vững mạnh" - xuất bản vào dịp kỷ niệm 93
năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 2/2023) - trích đăng một số
bài đã đăng trên Tạp chí Cộng sản, trong đó có những bài của Tổng Bí thư Nguyễn
Phú Trọng viết cách đây gần 50 năm về bệnh sợ trách nhiệm, cũng đã chỉ rõ căn
bệnh sợ trách nhiệm và những biểu hiện của nó: "Nhiệm vụ trước mắt đòi hỏi
mọi người phải có tinh thần trách nhiệm rất cao, nhưng hiện nay trong cán bộ,
đảng viên ta còn có những đồng chí sợ trách nhiệm".
Nói về nguyên nhân của tình trạng này, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị
Thanh Trà cho biết có 4 nguyên nhân cơ bản.
Thứ nhất là nhận thức và ý thức trách nhiệm, cũng như năng lực chuyên
môn của một bộ phận cán bộ công chức bị hạn chế.
Thứ hai là việc nêu gương của một số cán bộ đứng đầu chưa được phát huy
một cách nghiêm túc.
Thứ ba là thể chế chính sách còn bất cập, chồng chéo, chậm sửa đổi một
số vấn đề phát sinh trong thực tiễn; quy chế, phối hợp giữa các bộ, địa phương
vẫn còn một số mặt chưa kịp thời, đồng bộ, thống nhất.
Thứ tư là kỷ cương, kỷ luật đang được siết chặt lại, phòng chống tham
nhũng tiêu cực đang được đẩy mạnh và hàng loạt cán bộ công chức bị kỷ luật,
khởi tố, truy tố do sai phạm nghiêm trọng cũng dẫn đến tâm lý một bộ phận cán
bộ công chức sợ sai, sợ trách nhiệm.
"Những biểu hiện về đùn đẩy, né tránh, thiếu trách nhiệm, sợ sai
trong thực thi công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức đã vi phạm
các quy định theo nghị quyết của Đảng, vi phạm các quy định của Luật Chính
quyền địa phương, Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Cán bộ, công chức", Bộ
trưởng Bộ Nội vụ nhấn mạnh.
KHÔNG ĐỂ CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG CUỘC BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM
Thời gian qua, lợi dụng những diễn biến phức tạp trên Biển Đông, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thông qua nhiều âm mưu nham hiểm nhằm xuyên tạc, phủ nhận đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam.
Tấm gương Hồ Chí Minh về gắn tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với đề ra chủ trương, chính sách và sự vận dụng của Đảng ta.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là mẫu mực về gắn tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với xây dựng đường lối, chính sách. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh để xây dựng, hoàn thiện đường lối đổi mới, đưa đất nước ta đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử.
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phòng làm việc ở căn cứ Việt Bắc - Ảnh: backan.gov.vn
1. Hồ Chí Minh - tấm gương mẫu mực về gắn tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với đề ra đường lối, chính sách
Cuộc đời của Hồ Chí Minh gắn liền với hoạt động thực tiễn. Nghiên cứu, tổng kết thực tiễn từ những cuộc đấu tranh của cách mạng Việt Nam chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Người nhận ra một chân lý: nếu dân tộc mà chưa giành được độc lập, thì vấn đề giai cấp cũng không giải quyết được. Mặc dù rất khâm phục lòng yêu nước và đánh giá cao những cống hiến của các bậc cách mạng tiền bối cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, nhưng từ thực tiễn, Người đã nhận thấy những hạn chế và bế tắc về mục tiêu, đường lối và phương pháp cách mạng của các nhà yêu nước đương thời. Thực tế đó đã thôi thúc Người đi ra nước ngoài để xem cho rõ thực chất của xã hội các nước phương Tây là thế nào. Năm 1911, Nguyễn Tất Thành đã dấn thân vào thực tiễn đầy chông gai và nguy hiểm - đi tìm đường cứu nước.
Trải qua những năm tháng đầy gian truân ở các nước Á, Phi, Mỹ, Âu, làm rất nhiều nghề, phân tích, tổng kết thực tiễn các cuộc cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đi tới khẳng định: đó là các cuộc cách mạng không triệt để, “nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục (tước đoạt - BT) công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức”(1).
Cũng từ tổng kết thực tiễn, Nguyễn Ái Quốc có đánh giá hết sức khoa học về thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga. Người khẳng định: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”(2). Đây không phải là nhận định cảm tính chủ quan, mà là sự tổng kết thực tiễn đấu tranh của nhân loại mà Nguyễn Ái Quốc đã dày công nghiên cứu.
Tính triệt để hay không triệt để, “đến nơi” hay không “đến nơi” của một cuộc cách mạng - theo Nguyễn Ái Quốc - chính là kết quả của cuộc cách mạng đó có giải phóng cho toàn thể nhân dân lao động hay không, nhân dân lao động có thật sự nắm được chính quyền mới ra đời đó hay không. Theo đó, Người khẳng định, cuộc cách mạng mang tính triệt để nhất và thành công nhất trong thế giới lúc bấy giờ “chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi”(3), vì “ở đó dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam”(4).
Từ tổng kết thực tiễn sự thất bại của các phong trào đấu tranh cách mạng Việt Nam chống Pháp những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc chỉ ra một trong những nguyên nhân là thiếu một lý luận tiên phong dẫn đường. Người dẫn lời của V.I.Lênin “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng” và “chỉ có một đảng có lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có thể làm tròn được vai trò chiến sĩ tiền phong”(5). Đó chính là cơ sở để Nguyễn Ái Quốc quyết tâm đi tìm cho cách mạng Việt Nam một đường lối giải phóng phù hợp.
Suốt cuộc hành trình gần 10 năm (1911 - 1920), Nguyễn Ái Quốc dày công nghiên cứu rất nhiều công trình lý luận, tác phẩm văn học của các nhà văn lớn, gia nhập các hội như Hội Nghệ thuật và khoa học và Hội Những người bạn của nghệ thuật, nghiên cứu kỹ bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp, tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ…
Năm 1920, đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Nguyễn Ái Quốc tìm thấy chân lý giải phóng cho dân tộc - con đường cách mạng vô sản. Đây là dấu mốc của bước chuyển trong tư tưởng Nguyễn Ái Quốc từ lập trường yêu nước chân chính sang lập trường cách mạng vô sản.
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Hồ Chí Minh đã hình thành tư tưởng vĩ đại, có đóng góp to lớn vào lý luận Mác - Lênin. Người đã vận dụng sáng tạo lý luận Mác - Lênin vào cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam và phong trào đấu tranh ở các nước thuộc địa. Đó là tư tưởng giải phóng dân tộc, độc lập dân tộc là trên hết, trước hết. Người khẳng định: “Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”(6).
Đó là kết quả của cả một quá trình nghiên cứu công phu, đầy sáng tạo của Người, thâu thái những tinh hoa tư tưởng của nhân loại trên mọi lĩnh vực và tìm ra điểm tương đồng, hướng tới giải phóng nhân loại. Điều quan trọng trong quan điểm của Hồ Chí Minh là không phải nghiên cứu để tiếp thu một cách máy móc, nguyên xi, mà tiếp thu có chọn lọc, sáng tạo, vận dụng vào thực tiễn cách mạng có hiệu quả.
Với Hồ Chí Minh, không chỉ nghiên cứu, học tập lý luận và dừng lại ở tổng kết, mà phải biến lý luận đó, sự tổng kết đó thành những chủ trương chính sách có hiệu quả. Người là tấm gương tiêu biểu cho việc gắn tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với định hướng đường lối, chính sách. Sau khi tổng kết thực tiễn sự phát triển của thế giới, tiếp thu lý luận Mác - Lênin, Người chủ trương đưa vào nội dung học tập tại các khóa huấn luyện của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Quảng Châu gồm: “Lịch sử các cuộc cách mạng, ba quốc tế, các phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa, lịch sử Cách mạng tháng Mười Nga, Cách mạng Tân Hợi, cách mạng đang diễn ra ở Trung Quốc với Tam dân chủ nghĩa và Tam đại chính sách”(7), nhằm đào tạo đội ngũ cán bộ hướng tới thành lập một chính đảng cho cách mạng ở Việt Nam.
Từ tổng kết thực tiễn, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, trong từng giai đoạn cách mạng, Hồ Chí Minh đã đề ra các chủ trương đúng đắn và những chính sách hết sức khoa học, linh hoạt. Chẳng hạn, với chính sách “thêm bạn, bớt thù”, lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, thực hiện nhân nhượng có nguyên tắc, Hồ Chí Minh đã linh hoạt, sáng tạo, khéo léo tìm ra lời giải cho sách lược cách mạng của Việt Nam sau năm 1945 một cách thần kỳ, đưa dân tộc thoát khỏi cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đề ra đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, đánh bại thực dân Pháp tại Điên Biên Phủ năm 1954, đưa miền Bắc tiến lên xây dựng CNXH, tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Hồ Chí Minh nêu rõ: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”(8); “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”(9). Theo đó, để có đường lối, chủ trương, chính sách phù hợp, trước hết phải có chính sách đối với cán bộ. Hồ Chí Minh yêu cầu thực hiện chính sách đối với từng loại cán bộ.
Trong Di chúc, Người căn dặn rất kỹ: “Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong…), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”(10). Đảng và Chính phủ cần chọn một số chiến sĩ trẻ trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong, ưu tú nhất, cho đi học thêm các ngành, nghề để đào tạo thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc, là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi CNXH ở nước ta.
Người viết: “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo”(11); “đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên””(12). Nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hǎng hái, cần cù. Đảng cần có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và vǎn hóa, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.
Như vậy, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chỉ thật sự có hiệu quả khi phục vụ thiết thực việc đề ra đường lối, chủ trương và ban hành chính sách hành động phù hợp thực tiễn.
Đi qua gần 30 quốc gia, vượt qua muôn vàn gian khổ, làm rất nhiều nghề để kiếm sống, với quyết tâm cháy bỏng tự do cho đồng bào mình, độc lập cho Tổ quốc mình; với khối tri thức lý luận khổng lồ, nhất là lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã hình thành đường lối, chính sách phù hợp cho cách mạng Việt Nam. Trong suốt sự nghiệp cách mạng, Hồ Chí Minh gắn chặt việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với việc đề ra đường lối, chính sách. Đó chính là cơ sở để Đảng ta tiếp tục lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến xây dựng thành công CNXH.
2. Sự vận dụng, phát triển sáng tạo của Đảng trong thời kỳ đổi mới
Tính đúng đắn của lý luận chỉ thể hiện khi nó trở thành hiện thực thông qua hoạt động thực tiễn. Ngược lại, tổng kết thực tiễn chỉ có giá trị và ý nghĩa khi những bài học được rút ra từ sự tổng kết đó được chuyển hóa thành tư tưởng, lý luận định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động tổ chức thực tiễn ở giai đoạn tiếp theo, nghĩa là phải gắn chặt việc tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận với việc đề ra đường lối, chính sách.
Vận dụng, phát triển sáng tạo lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, hơn 90 năm qua, trong từng giai đoạn lịch sử, Đảng ta đã đề ra đường lối, chính sách phù hợp với yêu cầu cách mạng.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, bên cạnh những thuận lợi có được, công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta gặp muôn vàn khó khăn. Trước tình hình đó, Đảng ta đã có bước đột phá là quyết định đổi mới.
Tại Đại hội VI, Đảng ta nhận định: Thái độ của Đảng ta trong việc đánh giá tình hình là nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật. Theo đó, Đảng ta nhận định: “việc đánh giá tình hình cụ thể về các mặt kinh tế, xã hội của đất nước, đã có nhiều thiếu sót. Do đó, trong mười năm qua, đã phạm nhiều sai lầm trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế. Do chưa nhận thức đầy đủ rằng thời kỳ quá độ lên củ nghĩa xã hội là một quá trình lịch sử tương đối dài, phải trải qua nhiều chặng đường, và do tư tưởng chỉ đạo chủ quan, nóng vội, muốn bỏ qua những bước đi cần thiết”(13). Trên cơ sở đó, Đại hội nhấn mạnh: “Tư tưởng chỉ đạo của kế hoạch và các chính sách kinh tế là giải phóng mọi năng lực hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nước và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ của quốc tế để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất đi đôi với xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa”(14).
Đến Hội nghị Trung ương 8 Khóa IX, Đảng nhấn mạnh việc “xây dựng những định hướng chính sách nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc (cả những định hướng chính sách chung và những định hướng chính sách đối với các giai cấp, tầng lớp xã hội)”(15).
Báo cáo tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991 - 2011), Đảng nhấn mạnh: “Hoàn chỉnh hệ thống chính sách bảo đảm cung ứng dịch vụ công cộng thiết yếu, bình đẳng cho mọi người dân. Tiếp tục đổi nới nhận thức trong định hướng chính sách phân phối, chính sách tiền lương, xây dựng hệ thống an sinh xã hội (bảo hiểm, hỗ trợ, ưu đãi xã hội…). Thực hiện chính sách khuyến khích làm giàu chính đáng theo pháp luật, đi đôi với xóa đói, giảm nghèo”(16).
Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: “Nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chính sách với phù hợp quy luật khách quan và đặc điểm của Việt Nam, tạo bước đột phá để phát triển”(17), phải “đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp các luận cứ khoa học, lý luận cho việc hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”(18).
Đại hội XIII của Đảng đã đề ra nhiệm vụ: “Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Gắn kết tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với định hướng chính sách”(19).
Với ý chí quyết tâm, nỗ lực, bản lĩnh, sáng tạo, quyết đoán, với sự thường xuyên tổng kết thực tiễn, đổi mới lý luận, Đảng ta đã đề ra đường lối, chính sách phù hợp, lãnh đạo tiến hành công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu to lớn.
_________________
Ngày nhận bài: 07-11-2023; Ngày bình duyệt: 10-11-2023; Ngày duyệt đăng: 02-12-2023.
(1), (3), (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 296, 304, 304.
(2), (10, (11), (12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.15, Sđd, tr. 387, 616, 617, 612.
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.15, Sđd, tr. 48.
(7) Hồ Song: Giáo trình lịch sử Việt Nam, quyển 2, t.2, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1979, tr. 130.
(8), (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 5 Sđd, tr. 280, 309.
(13), (14) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t. 47, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, tr. 353-354, 380.
(15) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t. 62, Sđd, 2016, tr. 100.
(16) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t. 69, Sđd, 2018, tr. 441-442.
(17), (18) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, t. I, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 200, 201.
CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG VIDEO ĐỘC HẠI, XUYÊN TẠC HÌNH ẢNH CÔNG AN, QUÂN ĐỘI TRÊN MẠNG XÃ HỘI
Thời gian qua, trên các nền tảng mạng xã hội, nhất là TikTok, xuất hiện những TikToker (người dùng TikTok) làm các video clip kiểu như: “Có lẽ tôi sẽ từ bỏ Quân đội để được làm chính mình”; “Có nên rời khỏi ngành Công an để bắt đầu làm lại?”… Đi liền với đó là các video và bài viết xuyên tạc về tình hình nội bộ của lực lượng Công an, Quân đội.