Thứ Ba, 5 tháng 12, 2023

ĐẤU TRANH, NGĂN CHẶN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

 Gần 40 năm qua kể từ khi bước vào thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, trong đó có việc bảo đảm nhân quyền góp phần ổn định và phát triển bền vững đất nước. Việt Nam cũng là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 và luôn được đánh giá là thành viên tích cực, có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta, các thế lực thù địch không ngừng đưa ra những luận điệu xuyên tạc về việc bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam.

Nhiều năm trở lại đây, vấn đề dân chủ, nhân quyền là một trong những mục tiêu trọng tâm mà các thế lực thù địch, đối tượng cơ hội, phản động thường xuyên lợi dụng, khai thác để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Các đối tượng liên tục đưa ra những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.
Theo đó, một số phúc trình, báo cáo về nhân quyền thế giới đưa ra những nhận định, đánh giá thiếu khách quan, không chính xác về vấn đề tự do tôn giáo, dân chủ nhân quyền ở Việt Nam. Mặt khác, các đối tượng chống phá không ngừng rêu rao về cái gọi là “tù nhân lương tâm”, từ đó lợi dụng, đòi quyền can thiệp tình hình nội bộ Việt Nam, cổ súy, kích động những đối tượng vi phạm pháp luật, bất mãn và cơ hội chính trị tố cáo Việt Nam vi phạm quyền con người.
Chẳng hạn, báo cáo của Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam (VNHR) – một trong những tổ chức phản động người Việt lưu vong tại California, Mỹ đã dựng lên việc hiện có gần 300 “tù nhân lương tâm” đang bị giam giữ trong các nhà tù ở Việt Nam và gần 80 người bị chính quyền bắt giữ trong năm 2021.
Một số đối tượng được gọi tên và tung hô trên các diễn đàn như “anh hùng” vì đã dũng cảm đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, nhưng trên thực tế lại là các đối tượng thường xuyên kích động nhân dân chống đối chính quyền soạn thảo, phát tán nhiều tài liệu chống phá Đảng, Nhà nước, bôi xấu chế độ hoặc vi phạm pháp luật nhà nước.
Ngoài ra, cũng phải nhắc tới một số cá nhân vì bất mãn cá nhân hoặc mục đích riêng thường xuyên trả lời phỏng vấn báo đài, nước ngoài xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền; thậm chí tập hợp lực lượng là các phần tử, tổ chức trong nước và ngoài nước, hướng dẫn kỹ năng hoạt động chống phá chính quyền.
Tổ chức khủng bố Việt Tân còn dựng lên “giải thưởng nhân quyền Lê Đình Lượng”, đồng thời coi đây như “một nỗ lực đóng góp cụ thể vào công cuộc đấu tranh cho nhân quyền và tự do của dân tộc Việt Nam”!
Với chiêu bài cổ súy, bảo vệ cho những hành vi xem thường luật pháp, gây rối trật tự xã hội, xâm phạm an ninh quốc gia, chống phá chế độ, các đối tượng chống đối trong nước móc ngoặc với các thế lực thù địch bên ngoài tìm mọi cơ hội để lan truyền những thông tin ngụy tạo, sai sự thật hòng đánh lừa dư luận về những sai lầm khuyết điểm của các tổ chức cá nhân, lên án “sự yếu kém của chế độ”, xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Mục đích mà các đối tượng hướng đến là nhằm gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự; hạ thấp uy tín, vị thế của Việt Nam; kích động chia rẽ làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước phục vụ cho chiến lược “diễn biến hòa bình” và đích cuối cùng là nhằm chuyển hóa chế độ xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
Cần khẳng định rằng, trong tiến trình xây dựng nền văn minh, Việt Nam cũng như các quốc gia trên thế giới đều quản lý xã hội bằng công cụ pháp luật. Những đối tượng vi phạm pháp luật đều phải bị xử lý nghiêm khắc theo quy định của luật pháp.
Pháp luật Việt Nam được xây dựng phù hợp quy định của pháp luật quốc tế và yêu cầu thực tiễn nhằm bảo đảm cho sự phát triển tự do của nhân dân, góp phần xây dựng và duy trì xã hội trật tự, ổn định, ngăn chặn các tổ chức và cá nhân lợi dụng quyền tự do, dân chủ để xâm phạm quyền con người.
Trong đó, tôn trọng và bảo đảm nhân quyền là quan điểm nhất quán, xuyên suốt trong đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam.
Các luận điệu chống phá mà những đối tượng cơ hội, phản động, các thế lực thù địch đưa ra không dựa trên những thông tin chính thống, có kiểm chứng mà dựa trên những thông tin thu thập theo kiểu cóp nhặt, cắt xén có dụng ý, với động cơ chính trị rõ ràng để bôi nhọ Việt Nam.
Như cái gọi là “tù nhân lương tâm” chỉ là sự bịa đặt, sai lệch về pháp lý, bởi lẽ khi có hành vi phạm tội, đối tượng phải chịu sự điều tra, truy tố, xét xử công khai, bị tuyên án và phải chịu hình phạt theo quyết định có hiệu lực của tòa án.
Ở Việt Nam hoàn toàn không có “tù nhân lương tâm”, chỉ có những đối tượng vi phạm pháp luật và bị các cơ quan chức năng truy tố, xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, việc kích động hay ra sức bảo vệ các đối tượng gọi là “tù nhân lương tâm” chỉ là sự cổ súy cho những kẻ vi phạm pháp luật bị kết án nhưng không chấp hành hình phạt, đội lốt dân chủ, lợi dụng dân chủ để chống phá đất nước, chuyển hóa chế độ xã hội tại Việt Nam.
Có thể thấy rất rõ mưu đồ này qua việc tổ chức khủng bố Việt Tân ra sức tung hô, đánh bóng và lấy tên giải thưởng nhân quyền Lê Đình Lượng – vốn là tên một thành viên của tổ chức này, song trên thực tế lại là đối tượng có nhiều hoạt động vi phạm pháp luật.
Ngày 18/10, tại TP Vinh (Nghệ An), Tòa án nhân dân cấp cao tại TP Hà Nội đã mở phiên tòa xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Lê Đình Lượng về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo Điều 79 Bộ luật Hình sự năm 1999. Quá trình xét xử tại phiên phúc thẩm tiếp tục làm rõ Lê Đình Lượng là đối tượng phản động đặc biệt nguy hiểm; là đối tượng tích cực tuyên truyền, lôi kéo các đối tượng có tư tưởng chống đối trên địa bàn Nghệ An, Hà Tĩnh tham gia vào tổ chức Việt Tân.
Do đó, tòa giữ nguyên bản án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo Lê Đình Lượng chịu mức án 20 năm tù giam và 5 năm quản chế. Do đó, không ai bất ngờ khi giải thưởng Lê Đình Lượng được lập ra chỉ nhằm trao và cổ súy cho những “nhà hoạt động nhân quyền” cũng đều là những đối tượng vi phạm pháp luật, bị tòa kết án.
Trên thực tế, ngay từ khi thành lập, Nhà nước Việt Nam luôn đặt quyền tự do, dân chủ, nhân quyền của công dân lên hàng đầu, và vấn đề này được quy định rõ trong Hiến pháp và pháp luật. Hiến pháp năm 2013 quy định nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi công dân một cách đầy đủ. Cụ thể tại Điều 15, Hiến pháp 2013 quy định rõ: Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội; việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Công dân Việt Nam được đảm bảo về nhân quyền như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do lập hội, quyền khiếu nại, tố cáo… Pháp luật tôn trọng và bảo vệ những tư tưởng, ý chí, nguyện vọng của mỗi tổ chức và cá nhân nếu phù hợp tinh thần xây dựng và thượng tôn pháp luật, phù hợp chuẩn mực đạo đức và truyền thống văn hóa của dân tộc.
Đồng thời, nếu những tổ chức và cá nhân có mục đích xấu, động cơ không trong sáng, viện cớ về quyền tự do dân chủ, nhân quyền nhưng lại chà đạp lên quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước thì đều phải chịu các chế tài xử phạt tương ứng.
Với cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm, ưu tiên phát triển con người và thúc đẩy bình đẳng trong các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, Việt Nam đã có những nỗ lực không mệt mỏi trong nhiều năm qua để thúc đẩy và bảo đảm nhân quyền.
Nhiều thành tựu về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam được các tổ chức của Liên hợp quốc đánh giá cao. Việt Nam xứng đáng với vai trò là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Thời gian qua, Việt Nam tích cực tham gia và chủ trì các nghị quyết đề cao Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, biến đổi khí hậu và quyền con người,… từ đó có nhiều đóng góp thiết thực đối với hoạt động của Liên hợp quốc.
Việt Nam luôn cầu thị và nỗ lực làm tốt hơn trong vấn đề bảo đảm nhân quyền cho mọi người dân. Trong nhiều báo cáo chính thức của Việt Nam trước các cơ quan nhân quyền Liên hợp quốc đã thẳng thắn đề cập trực tiếp về những khó khăn Việt Nam gặp phải trong công tác nhân quyền, từ đó đề ra những giải pháp để cải thiện trong thời gian tới.
Thực tế tuy đạt nhiều thành tựu về kinh tế-xã hội với tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định, được sự hỗ trợ, quan tâm từ Chính phủ nhưng nguồn lực của đất nước vẫn còn hạn chế nên cơ sở vật chất các ngành giáo dục, khoa học, văn hóa, thể thao, y tế… còn thiếu thốn, ảnh hưởng đến việc hưởng thụ đầy đủ quyền của người dân, nhất là khu vực miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa.
Hệ thống pháp luật hiện hành còn thiếu đồng bộ, chưa thật sự sát với thực tiễn. Nhưng quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân ta là “không ai bị bỏ lại phía sau” và để đạt được điều đó cần sự chung sức, đồng hành, quyết tâm của toàn xã hội.
Trong bối cảnh hiện nay xuất hiện những đối tượng có mục đích đen tối, thiếu trách nhiệm với đất nước, với cộng đồng, cố tình lợi dụng quyền tự do, dân chủ để làm tổn hại lợi ích của Nhà nước và các tổ chức, cá nhân; thường xuyên sử dụng chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Để không bị kẻ xấu dẫn dắt, tin nghe theo những luận điệu sai sự thật, mỗi người cần nâng cao nhận thức, tỉnh táo và cảnh giác trước những thông tin không chính thống xuyên tạc việc bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam. Các cá nhân trong điều kiện và khả năng thực tế cần tích cực tham gia đóng góp công sức vào quá trình phát triển của đất nước; chủ động đấu tranh, ngăn chặn làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động.

Ý NGHĨA CỦA “LỜI KÊU GỌI TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN” ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN

     Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh - không chỉ là lời hiệu triệu của non sông đất nước, mệnh lệnh trái tim chứa đựng một ý chí mãnh liệt, một quyết tâm cháy bỏng, thúc giục cả dân tộc vùng lên“thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” mà còn trở thành nền tảng vững chắc, ý nghĩa sâu sắc đối với công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân hiện nay.

    Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả dân tộc Việt Nam vùng đứng lên “ai có súng dùng súng, ai có gươm cầm gươm…”, quyết tâm đánh thắng thực dân Pháp xâm lược. Sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc đã được phát huy lên tầm cao mới, sau 9 năm “Lời kêu gọi toàn quốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh được phát ra, nhân dân Việt Nam muôn người như một, chung sức đồng lòng, cùng nhau làm nên một Điện Biên Phủ “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc Pháp phải ký vào Hiệp định Giơnevơ tôn trọng độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam. Lời kêu gọi ấy tiếp tục vang lên ở hai miền đất nước, thúc giục cả hai miền Nam, Bắc quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”, giải phóng hoàn toàn đất nước năm 1975, thu non sông về một mối, cả nước đi lên xây dựng CNXH.

    Cả nước hoà bình, thống nhất đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, bên cạnh những thuận lợi để nước ta bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, còn muôn vàn khó khăn, thách thức trước mắt. Đất nước vừa có hoà bình vừa có chiến tranh ở hai đầu biên giới và bị bao vây cấm vận từ nhiều phía. Trước tình hình thế giới và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, Đảng ta chủ trương “Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng CNXH, không một phút lơi lỏng nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Và trong khi không một phút lơi lỏng nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng CNXH” . Vì vậy, cùng với phát triển kinh tế - xã hội, Đảng ta tiếp tục kế thừa và phát huy sức mạnh của cả dân tộc theo tinh thần Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững chắc, củng cố quốc phòng - an ninh - điều kiện để giữ vững hoàn bình, xây dựng thành công CNXH.

    Sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc đã từng bước đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng, đạt nhiều thành tựu trong hơn 35 năm đổi mới toàn diện đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã tạo ra nền tảng vững chắc để dân tộc Việt Nam vững bước trên con đường đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, thực hiện khát vọng Việt Nam hùng cường.

    Tuy nhiên, đất nước ta còn phải đối mặt với nhiều thách thức đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp, nhiều vấn đề bức xúc như mặt trái của kinh tế thị trường tác động sâu sắc đến lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hoá, đạo đức; tệ quan liêu tham nhũng, suy thoái về chính trị, đạo đức của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang ra sức đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, tìm mọi cách để phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng, chống lại sự phát trển của đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, thực hiện âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội, tìm cách xóa bỏ sự lãnh đạo của tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Những vấn đề đó tác động trực tiếp, thường xuyên đến quá trình xây dựng quân đội, xây dựng nền quốc phòng toàn dân giai đoạn cách mạng mới.

    Để khắc phục mọi khó khăn, thực hiện thắng lợi mục tiêu đề ra, trong bối cảnh quốc tế, khu vực và trong nước hiện nay, Đảng ta bên cạnh tiếp tục phát huy giá trị lịch sử của “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946 lên tầm cao mới và đẩy mạnh hơn nữa Cuộc vận động "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh", cổ vũ và phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, không chỉ đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội mà còn chỉ ra kinh nghiệm sâu sắc đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân (QPTD), đủ sức mạnh bảo vệ vững chắc sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước, xây dựng và bảo vệ bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

    Đảng ta chủ trương xây dựng nền QPTD vững mạnh vì mục đích hoà bình được đúc kết từ những bài học kinh nghiệm quí báu trong kho tàng lịch sử dựng nước và giữ nước lâu dài của dân tộc Việt Nam, đặc biệt được nâng lên tầm cao mới trong thời đại Hồ Chí Minh. Quan điểm “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng” đặt trong bối cảnh quốc tế và khu vực hiện nay như một “luật chơi” của thời đại tiếp tục gợi mở hướng vận dụng mối quan hệ giữa chiến lược và sách lược, đòi hỏi những biện pháp ứng xử bang giao khôn khéo, mềm dẻo trong quan hệ đối ngoại, vừa biết “nhân nhượng” về sách lược để “thêm bạn, bớt thù”, tránh được các cuộc xung đột và chiến tranh, vừa giữ vững những nguyên tắc chiến lược cơ bản trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng XHCN, thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập mà không hoà tan vào dòng chảy của thế giới đương đại.

    Xây dựng nền QPTD vững mạnh vì mục đích hoà bình là chiến lược cơ bản, lâu dài của quốc gia - dân tộc Việt Nam. Quan điểm chiến tranh nhân dân, QPTD là quan điểm cơ bản nhất trong đường lối quân sự của Đảng, thể hiện tập trung, sâu sắc quan điểm giai cấp, quan điểm quần chúng, quan điểm thực tiễn của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quan điểm này xác định lực lượng quần chúng nhân dân và yếu tố chính trị - tinh thần là sức mạnh to lớn quyết định thắng lợi của chiến tranh. Tiếp tục chú trọng xây dựng sức mạnh chính trị - tinh thần, phát huy vai trò nhân tố con người, đồng thời từng bước đẩy mạnh hiện đại hoá lực lượng quốc phòng để tăng cường sức mạnh quốc phòng. Công cuộc xây dựng nền QPTD vững mạnh trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay đòi hỏi phải tiếp tục chú trọng xây dựng sức mạnh chính trị-tinh thần, phát huy vai trò nhân tố con người, đồng thời từng bước đẩy mạnh hiện đại hóa lực lượng quốc phòng, nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân và sức mạnh của nền QPTD, toàn diện.

    Tính chất toàn dân, toàn diện của nền quốc phòng Việt Nam được xây dựng từ việc đúc kết những bài học kinh nghiệm của quá khứ, đồng thời xuất phát từ thực tiễn phòng thủ đất nước, bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Điều đó cũng phù hợp với quan niệm hiện đại về quốc phòng, coi quốc phòng là công cuộc giữ nước của một quốc gia, bao gồm tổng thể các mặt hoạt động đối nội và đối ngoại, diễn ra trên mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, khoa học - công nghệ, quân sự… nhằm giữ vững hoà bình, ngăn chặn mọi hoạt động xâm phạm chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, nền độc lập dân tộc, đẩy lùi âm mưu gây chiến và nguy cơ chiến tranh, đồng thời sẵn sàng đánh thắng mọi kẻ thù khi chúng phát động chiến tranh xâm lược.

    Đến Đại hội XIII, Đảng ta khẳng định: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt” . Đây chính là sự khẳng định sức mạnh của quốc phòng toàn dân là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của hệ thống chính trị, trong đó, Quân đội và Công an làm nòng cốt. Mục đích xây dựng nền quốc phòng toàn dân của Đảng ta vì mục đích hoà bình, coi việc giữ vững hoà bình, ổn định để phát triển đất nước theo định hướng XHCN là mục đích tối cao, đồng thời, góp phần tích cực vào việc bảo vệ nền hoà bình trong khu vực và trên thế giới. Đó cũng là chiến lược tự vệ chủ động, kết hợp xây dựng với bảo vệ đất nước, thực hiện giữ nước ngay từ khi chưa có chiến tranh, tìm cách ngăn ngừa chiến tranh và phương án tốt nhất là không phải tiến hành chiến tranh, thực hiện ước vọng của cha ông ta từ ngàn xưa “tắt muôn đời chiến tranh”.

    Lòng yêu nước và tinh thần "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh" của dân tộc Việt Nam ngời sáng trước họa xâm lăng hơn 77 năm trước từ “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” vẫn còn nguyên giá trị, không chỉ là cơ sở để xây dựng niềm tin vững chắc vào truyền thống yêu nước, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, phát huy ý chí “Không có gì quý hơn độc lập tự do” trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế mà còn là nền tảng để phát triển nền quốc phòng toàn dân vững chắc - nhân tố cơ bản tạo nên sức mạnh chính trị - tinh thần, ngọn nguồn sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, thực hiện thắng lợi mục tiêu: Dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh. Đồng thời “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” cổ vũ tinh thần đoàn kết toàn dân tộc, bất kỳ khi nào, trong mọi tình huống, luôn phải đặt dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết. Sức mạnh chính trị - tinh thần của nhân dân ta, dân tộc ta được đặt trên nền tảng vật chất của công cuộc đổi mới, dựa trên thế và lực của đất nước được tạo lập nên gần 4 thập niên qua dưới sự lãnh đạo của Đảng, sẽ là những yếu tố bảo đảm vững chắc cho cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược.

LẬT TẨY BẢN CHẤT CỦA TỔ CHỨC "CHÍNH PHỦ QUỐC GIA VIỆT NAM LÂM THỜI"

 Với các hoạt động chống phá nhằm lật đổ chính quyền, phá hoại sự ổn định phát triển của đất nước bằng bạo động, vũ trang, tháng 1/2018, Bộ Công an đã thông báo “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” là một tổ chức khủng bố.

Cùng với công tác đấu tranh, xử lý, các đơn vị nghiệp vụ của Bộ Công an phối hợp với Công an các đơn vị, địa phương đã tuyên truyền, giải thích để người dân hiểu được bản chất của tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”. Đến thời điểm này, nhiều đối tượng từng là thành viên cốt cán của tổ chức và một số người từng bị lôi kéo đã từ bỏ, không tham gia vào tổ chức.
BÀI 1: Khi những người trong cuộc bỏ “cuộc chơi”
Trong khoảng 4 năm (từ năm 2015-2019) những người theo dõi tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” chắc hẳn đều biết các đối tượng cốt cán, đứng sau Đào Minh Quân là những cái tên như Quách Thế Hùng; Kelly Triệu (Triệu Thanh Hoa) và Nguyễn Đức Thắng… Song đến thời điểm này, các đối tượng này đều đã từ bỏ tổ chức.
Quy y cửa Phật, nhận ra sai lầm
Một trong số đó là Kelly Triệu hay Kelly Triệu Thanh Hoa. Kelly Triệu còn có tên là Nguyễn Thị Ngọc Huỳnh (SN 1968, sống tại Westminster, California, Mỹ). Sau một thời gian hoạt động, đến thời điểm này, Huỳnh đã từ bỏ tổ chức, tìm đến cửa Phật như một sự giải thoát!. Vì sao một đối tượng cầm đầu, cốt cán của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” lại tự rời bỏ nếu tổ chức này có “thực lực” như những lời Đào Minh Quân vẫn ra rả tuyên truyền trên mạng xã hội.
Để lý giải cho vấn đề này, trước hết phải lật ngược lại thời gian khi Huỳnh tham gia vào tổ chức. Khoảng tháng 2/2012, trong quá trình làm từ thiện tại một số thành phố ở bang California, Huỳnh quen biết và được Sloan Trương, đại biểu của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” tại Garden Grove, kiêm phụ trách cái gọi là “Ban tài chính” tuyên truyền, giới thiệu, lôi kéo tham gia vào tổ chức. Trước đó, bố Huỳnh từng là đại uý cảnh sát của chế độ Việt Nam cộng hoà nên khi nhận thấy tôn chỉ, mục đích hoạt động của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” là lật đổ chế độ cộng sản ở Việt Nam, khôi phục chế độ Việt Nam Cộng hoà, phù hợp với mong muốn và nguyện vọng của Huỳnh nên bà ta đã đồng ý tham gia tổ chức này.
Sau đó, Huỳnh được Nguyễn Đức Thắng (SN 1951, sống tại Mỹ), đối tượng được phong là Thiếu tướng, Tổng Cục trưởng Tổng cục tiếp vận của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, nguyên Chánh văn phòng “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” hướng dẫn cách viết đơn và hoàn tất các thủ tục gia nhập tổ chức, với bí danh “Kelly Triệu Thanh Hoa”; phân công làm “Đại biểu của Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” tại Westminter.
Tháng 7/2016, Huỳnh được “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” phong cấp hàm chuẩn tướng, phân công nhiệm vụ phụ trách thanh niên. Không lâu sau đó, đối tượng được bổ nhiệm giữ chức vụ Giám đốc Nha nhân viên – Bộ Quốc phòng. Dưới sự chỉ đạo của Đào Minh Quân, Huỳnh đã thực hiện hàng loạt các hoạt động chống phá quyết liệt.
Cụ thể, đối tượng sử dụng mạng xã hội, móc nối, lôi kéo hơn 30 người tham gia vào tổ chức này; đồng thời thường xuyên sử dụng 2 tài khoản Facebook “Kelly Trieu” và “Thanh Hoa Trieu” để đăng tải, chia sẻ các bài viết, vi deo, hình ảnh có nội dung tuyên truyền về đường lối hoạt động của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”; ca ngợi, suy tôn hình ảnh Đào Minh Quân; kêu gọi người dân đăng ký tham gia “Trưng cầu dân ý”; bầu Đào Minh Quân làm “Tổng thống Đệ tam Việt Nam cộng hoà”.
Chìm đắm trong “giấc mộng” do Quân và một số đối tượng dựng lên trong khoảng 10 năm, khoảng năm 2018, Huỳnh phát hiện Quân và số cốt cán của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” lập các công ty giả để kêu gọi thành viên đóng góp cổ phần chỉ nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản. Cùng với đó là những bức xúc, bất mãn âm ỉ đã dồn góp lâu ngày do đã đóng góp nhiều tiền, công sức cho hoạt động của tổ chức nhưng không được ghi nhận công trạng nên đối tượng đã chủ động chấm dứt liên hệ, gặp gỡ với các thành viên của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” và xuất gia, đi tu.
Năm 2022, dưới tên được “cha sinh, mẹ đẻ” đặt là Huỳnh, đối tượng tìm về quê hương, đất nước. Gần đây nhất, vào ngày 29/8, Huỳnh tiếp tục về Việt Nam để tham dự lễ ” Tự tứ kế khoá an cư kiết hạ” (lễ ra hạ/làm từ thiện tại TP Hồ Chí Minh). Để tránh bị liên luỵ do Bộ Công an đã công bố tên Kelly Triệu là thành viên tổ chức khủng bố “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” trên cổng thông tin điện tử; đồng thời cũng muốn quên đi quá khứ, đối tượng đã sử dụng tên là Huỳnh làm thủ tục nhập cảnh về nước. Dẫu là muộn nhưng “có vẫn còn hơn không”!
Ngoài Huỳnh, một số đối tượng từng là thành viên cốt cán trong bộ máy của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” trước đây cũng tuyên bố ly khai khỏi tổ chức như Quách Thế Hùng, Đại tướng, Chủ tịch hội đồng quốc lão, kiêm Phó tổng Tư lệnh quân lực Việt Nam Cộng hoà; Nguyễn Đức Thắng, Thiếu tướng, Tổng cục trưởng Tổng cục tiếp vận “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” (nguyên Chánh văn phòng “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”); Trần Trưng Nguyệt Ánh, Chuẩn tướng, Thứ trưởng Bộ An sinh xã hội; Nguyễn Huy Hoàng, Đại tá, Chánh Văn phòng “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”; Đỗ Đức T, Đại tá, tuỳ viên quân sự; Tuệ Lan, Chủ tịch hội đồng tôn giáo.
Còng lưng trả nợ vì nghe theo kẻ “tâm thần chính trị”
Đó là câu chuyện của Quách Thế Hùng (SN 1948), một đối tượng cốt cán từng chống cộng quyết liệt. Hùng mang quốc tịch Mỹ, là bác sĩ, đi du học ở Mỹ năm 1974. Đối tượng từng tham gia lễ kỷ niệm “Ngày thành lập quân lực Việt Nam cộng hoà” tại “Tụ nghĩa đường” Mỹ nhằm “Tưởng niệm quân đội Việt Nam cộng hoà đã hy sinh vì lý tưởng tự do”.
Thông qua đó, Hùng và các đối tượng đã tuyên truyền, khuyếch trương về hoạt động của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”; kêu gọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước tham gia chương trình “Trưng cầu dân ý” đợt 2 bầu Quân về nước làm Tổng thống “Đệ tam Việt Nam cộng hoà” nhằm “giải thể” Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Hùng còn tham gia tuyên truyền cái gọi là “Thi đua truyền thống quốc tế” với nội dung gồm thuyết trình các phim, ảnh, tư liệu về tiểu sử Quân; xây dựng các bài viết ca ngợi tinh thần “đấu tranh” của các thành viên trong nước; biên soạn tài liệu, sách, báo giới thiệu về “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”…
Không dừng lại ở đó, Hùng còn cùng đồng bọn xây dựng tượng đài Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ tại “Tụ nghĩa đường”; xuyên tạc chính quyền Việt Nam “hèn nhát” không dám đề cập đến sự kiện lịch sử liên quan đến các cuộc xâm lược của Trung Quốc; ủng hộ Quân và “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” về Việt Nam tiếp quản chính quyền, lật đổ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Hùng cùng các đối tượng cốt cán đẩy mạnh công tác tuyên truyền; phá hoại tư tưởng. Đối tượng còn triệt để lợi dụng việc trong nước tiến hành Đại hội Đảng lần thứ XIII; bầu cử quốc hội khoá XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp để tán phát hàng nghìn tài liệu, bài viết, video nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tuyên truyền, xuyên tạc tình hình bầu cử, tình hình chống dịch tại Việt Nam; kêu gọi nhân dân tẩy chay bầu cử, tẩy chay việc tiêm vaccine của Trung Quốc. Song đến thời điểm này, Hùng đã không tham gia tổ chức. Từng là những đối tượng hoạt động tích cực; tham gia với vai trò điều hành, cốt cán, vì sao các đối tượng cầm đầu tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” lại từ bỏ tổ chức”?

"CÁN BỘ LÀ CÁI GỐC CỦA CÔNG VIỆC"!

     Căn bệnh "sợ trách nhiệm" đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ lúc sinh thời. Trong di sản tư tưởng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đến căn nguyên của căn bệnh này một cách rất cụ thể: "Có lợi cho tôi thì tôi tích cực; không có lợi cho tôi thì tôi tiêu cực. Tôi muốn có địa vị cao, nhưng lại sợ trách nhiệm”.

    Theo Bác, những người mắc bệnh sợ trách nhiệm là những người: "Họ muốn địa vị cao, nhưng lại sợ trách nhiệm nặng. Dần dần tinh thần đấu tranh và tính tích cực của họ bị kém sút, chí khí anh dũng và phẩm chất tốt đẹp của người cách mạng cũng kém sút; họ quên rằng tiêu chuẩn số một của người cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng".

    Trong cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về "Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch vững mạnh" - xuất bản vào dịp kỷ niệm 93 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 2/2023) - trích đăng một số bài đã đăng trên Tạp chí Cộng sản, trong đó có những bài của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng viết cách đây gần 50 năm về bệnh sợ trách nhiệm, cũng đã chỉ rõ căn bệnh sợ trách nhiệm và những biểu hiện của nó: "Nhiệm vụ trước mắt đòi hỏi mọi người phải có tinh thần trách nhiệm rất cao, nhưng hiện nay trong cán bộ, đảng viên ta còn có những đồng chí sợ trách nhiệm".

    Nói về nguyên nhân của tình trạng này, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà cho biết có 4 nguyên nhân cơ bản.

    Thứ nhất là nhận thức và ý thức trách nhiệm, cũng như năng lực chuyên môn của một bộ phận cán bộ công chức bị hạn chế.

    Thứ hai là việc nêu gương của một số cán bộ đứng đầu chưa được phát huy một cách nghiêm túc.

    Thứ ba là thể chế chính sách còn bất cập, chồng chéo, chậm sửa đổi một số vấn đề phát sinh trong thực tiễn; quy chế, phối hợp giữa các bộ, địa phương vẫn còn một số mặt chưa kịp thời, đồng bộ, thống nhất.

    Thứ tư là kỷ cương, kỷ luật đang được siết chặt lại, phòng chống tham nhũng tiêu cực đang được đẩy mạnh và hàng loạt cán bộ công chức bị kỷ luật, khởi tố, truy tố do sai phạm nghiêm trọng cũng dẫn đến tâm lý một bộ phận cán bộ công chức sợ sai, sợ trách nhiệm.

    "Những biểu hiện về đùn đẩy, né tránh, thiếu trách nhiệm, sợ sai trong thực thi công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức đã vi phạm các quy định theo nghị quyết của Đảng, vi phạm các quy định của Luật Chính quyền địa phương, Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Cán bộ, công chức", Bộ trưởng Bộ Nội vụ nhấn mạnh.

KHÔNG ĐỂ CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG CUỘC BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM

 Thời gian qua, lợi dụng những diễn biến phức tạp trên Biển Đông, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thông qua nhiều âm mưu nham hiểm nhằm xuyên tạc, phủ nhận đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam.

Sự nham hiểm của những luận điệu xuyên tạc
Biển là không gian chiến lược mở, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đường lối, chiến lược và tương lai phát triển của đất nước. Biển Đông là “bản lề” nối liền Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, là nơi hội tụ lợi ích chiến lược và thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhiều quốc gia trong và ngoài khu vực, nhất là các nước lớn. Về mặt tiềm năng phát triển, Biển Đông có nhiều lợi thế. Nơi đây đã và đang trở thành tâm điểm của sự cạnh tranh lợi ích, quyền lực và tầm ảnh hưởng của các nước lớn, được các chuyên gia quân sự ví như vùng “chảo lửa” trên bàn cờ chính trị của khu vực với nhiều diễn biến phức tạp, nhạy cảm.
Lợi dụng tình hình phức tạp trên Biển Đông, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị khai thác triệt để, biến tấu thành nhiều bài viết, hình ảnh, video nhằm bịa đặt tình hình, bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta trong công tác quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo; lợi dụng các trang mạng xã hội để lan truyền, tán phát thông tin, gây tâm lý hoang mang, bất ổn, chia rẽ đoàn kết trong nước và quốc tế.
Với những nội dung xuyên tạc xảo trá, họ thường lặp đi lặp lại luận điệu cũ rích rằng: “Cộng sản Việt Nam làm ngơ về vấn đề chủ quyền trên Biển Đông”; Đảng, Nhà nước Việt Nam im lặng vì đã thỏa hiệp với nước lớn, không cung cấp đầy đủ thông tin về tình hình Biển Đông, không có giải pháp đủ mạnh để bảo vệ chủ quyền biển, đảo… Những thông tin xuyên tạc này ít nhiều đã tác động tiêu cực tới nhận thức, tư tưởng, tình cảm, niềm tin của một bộ phận nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta.
Chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, vùng trời, vùng biển và các hải đảo. Quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là kiên quyết, kiên trì đấu tranh quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không trên các vùng biển, đảo quốc gia. Sinh thời, khi đến thăm cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”.
Những năm qua, Đảng ta luôn coi trọng nhiệm vụ phát triển mạnh kinh tế-xã hội, bảo vệ và làm chủ vùng biển của Tổ quốc. Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9-2-2007 “Về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, trong đó xác định: “Phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo”. Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22-10-2018 “Về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” đã xác định: “Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ”. Tại Đại hội XIII (năm 2021), Đảng ta một lần nữa khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển”.
Như vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của biển, đảo là một bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng không thể tách rời, bất khả xâm phạm của Tổ quốc. Bảo vệ Tổ quốc nói chung, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền, bảo đảm an ninh, an toàn và lợi ích quốc gia-dân tộc trên các vùng biển, đảo nói riêng là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quá trình hoạch định và triển khai thực hiện đường lối bảo vệ chủ quyền biển, đảo luôn giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, kết hợp chặt chẽ với sức mạnh thời đại và tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để phát triển kinh tế biển gắn với quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo quốc gia.
Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo quốc gia bằng biện pháp hòa bình
Bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, trong đó chủ quyền biển, đảo là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Tuy nhiên, về biện pháp tiến hành, cần phải hết sức bình tĩnh, tỉnh táo, linh hoạt, thực hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong các tình huống cụ thể với mục tiêu cao nhất là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia-dân tộc. Quan điểm, lập trường của Việt Nam về vấn đề Biển Đông, về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển quốc gia theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) là rất rõ ràng và hoàn toàn có đầy đủ cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn.
Với những vấn đề còn tồn tại bất đồng, tranh chấp, Việt Nam nhất quán giải quyết bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp và thông lệ quốc tế. Là một quốc gia thành viên của Liên hợp quốc đã tham gia ký kết UNCLOS 1982, Việt Nam luôn tuân thủ các quy định của luật pháp và nguyên tắc quan hệ quốc tế; kiên trì con đường giải quyết các vấn đề nảy sinh bằng biện pháp hòa bình, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau nhằm tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của tất cả các bên liên quan vì độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và vì hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực, quốc tế.
Trên thực tế, trong những thời điểm mà quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên Biển Đông bị đe dọa, Đảng, Nhà nước và toàn dân ta luôn thể hiện tinh thần đoàn kết, đồng lòng, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp hòa bình trên các diễn đàn quốc tế, khu vực thông qua các cuộc gặp gỡ, trao đổi đoàn các cấp trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao; chủ động kiềm chế, không có các hành động khiêu khích, không làm phức tạp tình hình; thực hiện đầy đủ, hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và thể hiện thiện chí để sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Xây dựng hệ thống các biện pháp hòa bình để giải quyết bất đồng, tranh chấp với các bên, các nước có liên quan, như biện pháp ngoại giao (đàm phán hòa bình; thương lượng; điều tra; trung gian hòa giải; sử dụng các tổ chức quốc tế, khu vực; ký kết các hiệp định song phương, đa phương…).
Trên tinh thần đó, Việt Nam luôn nỗ lực cao nhất để xử lý các vấn đề tranh chấp trên Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn trên biển; duy trì quan hệ hữu nghị với các bên, các nước. Kiên trì mục tiêu không để nước ngoài lấn chiếm nhưng cũng không để xảy ra xung đột; kiên trì tìm kiếm giải pháp lâu dài và yêu cầu các bên liên quan không có những hành động quá khích, cực đoan, làm phức tạp thêm tình hình, tuân thủ các cam kết đã ký kết, giải quyết mọi bất đồng trên cơ sở thượng tôn luật pháp quốc tế, UNCLOS 1982 và nguyên tắc chung sống hòa bình. Coi trọng thúc đẩy xây dựng lòng tin chiến lược với các đối tác; đẩy mạnh hợp tác đa phương trên các lĩnh vực bảo đảm an ninh, nghiên cứu khoa học-công nghệ, phòng, chống tội phạm trên biển… để Biển Đông thực sự là vùng biển hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển.
Một mặt, Việt Nam không tạo phe, không kết nhóm, không chọn bên, không liên minh quân sự, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự tại Việt Nam nhằm tấn công các nước khác, không đi theo nước này để chống lại nước kia, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Mặt khác, chúng ta cũng không mơ hồ, mất cảnh giác, né tránh, nhân nhượng vô nguyên tắc, không thụ động, không dựa dẫm, không trông chờ ỷ lại; không mắc mưu lôi kéo, kích động, khiêu khích của bất cứ thế lực nào; chỉ chọn theo chân lý, đứng về lẽ phải, dựa trên luật pháp quốc tế vì mục tiêu hòa bình, hợp tác và phát triển.
Nhằm quán triệt và thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong tình hình mới, chúng ta cần phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, thực hiện phương châm “vừa hợp tác, vừa đấu tranh” trên tinh thần “thêm bạn, bớt thù”, tranh thủ tối đa sự đồng thuận, ủng hộ của các bên liên quan cùng các nước trong khu vực và trên thế giới để hạn chế những bất đồng, khắc phục sự khác biệt, triệt để khai thác các nhân tố có lợi từ bên ngoài tạo thành sức mạnh tổng hợp.
Tập trung giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục; xây dựng lực lượng bảo vệ chủ quyền, thực thi pháp luật trên biển (hải quân, cảnh sát biển, bộ đội biên phòng, kiểm ngư, dân quân tự vệ biển) vững mạnh; xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng chính trị-tinh thần vững chắc.
Tích cực xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về biển, tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động khai thác, quản lý, bảo vệ biển, đảo phù hợp với luật pháp quốc tế. Kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp đấu tranh chính trị, pháp lý, ngoại giao, kinh tế, quốc phòng, an ninh; tăng cường hợp tác quốc tế, đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại quốc phòng về quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới.
Những quan điểm nêu trên là đường lối chính trị, căn cứ pháp lý để xây dựng sự đoàn kết, đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin trong nước, quốc tế, tạo thành nền tảng và sức mạnh tổng hợp quốc gia; đồng thời là cơ sở để đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động; để dư luận quốc tế hiểu rõ về lập trường, quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia trong tình hình hiện nay.

Tấm gương Hồ Chí Minh về gắn tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với đề ra chủ trương, chính sách và sự vận dụng của Đảng ta.

 Chủ tịch Hồ Chí Minh là mẫu mực về gắn tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với xây dựng đường lối, chính sách. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh để xây dựng, hoàn thiện đường lối đổi mới, đưa đất nước ta đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử.

 

Tấm gương Hồ Chí Minh về gắn tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận  với đề ra chủ trương, chính sách và sự vận dụng của Đảng ta

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phòng làm việc ở căn cứ Việt Bắc - Ảnh: backan.gov.vn

1. Hồ Chí Minh - tấm gương mẫu mực về gắn tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với đề ra đường lối, chính sách

Cuộc đời của Hồ Chí Minh gắn liền với hoạt động thực tiễn. Nghiên cứu, tổng kết thực tiễn từ những cuộc đấu tranh của cách mạng Việt Nam chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Người nhận ra một chân lý: nếu dân tộc mà chưa giành được độc lập, thì vấn đề giai cấp cũng không giải quyết được. Mặc dù rất khâm phục lòng yêu nước và đánh giá cao những cống hiến của các bậc cách mạng tiền bối cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, nhưng từ thực tiễn, Người đã nhận thấy những hạn chế và bế tắc về mục tiêu, đường lối và phương pháp cách mạng của các nhà yêu nước đương thời. Thực tế đó đã thôi thúc Người đi ra nước ngoài để xem cho rõ thực chất của xã hội các nước phương Tây là thế nào. Năm 1911, Nguyễn Tất Thành đã dấn thân vào thực tiễn đầy chông gai và nguy hiểm - đi tìm đường cứu nước.

Trải qua những năm tháng đầy gian truân ở các nước Á, Phi, Mỹ, Âu, làm rất nhiều nghề, phân tích, tổng kết thực tiễn các cuộc cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đi tới khẳng định: đó là các cuộc cách mạng không triệt để, “nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục (tước đoạt - BT) công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức”(1)

Cũng từ tổng kết thực tiễn, Nguyễn Ái Quốc có đánh giá hết sức khoa học về thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga. Người khẳng định: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”(2). Đây không phải là nhận định cảm tính chủ quan, mà là sự tổng kết thực tiễn đấu tranh của nhân loại mà Nguyễn Ái Quốc đã dày công nghiên cứu.

Tính triệt để hay không triệt để, “đến nơi” hay không “đến nơi” của một cuộc cách mạng - theo Nguyễn Ái Quốc - chính là kết quả của cuộc cách mạng đó có giải phóng cho toàn thể nhân dân lao động hay không, nhân dân lao động có thật sự nắm được chính quyền mới ra đời đó hay không. Theo đó, Người khẳng định, cuộc cách mạng mang tính triệt để nhất và thành công nhất trong thế giới lúc bấy giờ “chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi”(3), vì “ở đó dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam”(4)

Từ tổng kết thực tiễn sự thất bại của các phong trào đấu tranh cách mạng Việt Nam chống Pháp những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc chỉ ra một trong những nguyên nhân là thiếu một lý luận tiên phong dẫn đường. Người dẫn lời của V.I.Lênin “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng” và “chỉ có một đảng có lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có thể làm tròn được vai trò chiến sĩ tiền phong”(5). Đó chính là cơ sở để Nguyễn Ái Quốc quyết tâm đi tìm cho cách mạng Việt Nam một đường lối giải phóng phù hợp.

Suốt cuộc hành trình gần 10 năm (1911 - 1920), Nguyễn Ái Quốc dày công nghiên cứu rất nhiều công trình lý luận, tác phẩm văn học của các nhà văn lớn, gia nhập các hội như Hội Nghệ thuật và khoa học và Hội Những người bạn của nghệ thuật, nghiên cứu kỹ bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp, tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ…

Năm 1920, đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Nguyễn Ái Quốc tìm thấy chân lý giải phóng cho dân tộc - con đường cách mạng vô sản. Đây là dấu mốc của bước chuyển trong tư tưởng Nguyễn Ái Quốc từ lập trường yêu nước chân chính sang lập trường cách mạng vô sản.

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Hồ Chí Minh đã hình thành tư tưởng vĩ đại, có đóng góp to lớn vào lý luận Mác - Lênin. Người đã vận dụng sáng tạo lý luận Mác - Lênin vào cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam và phong trào đấu tranh ở các nước thuộc địa. Đó là tư tưởng giải phóng dân tộc, độc lập dân tộc là trên hết, trước hết. Người khẳng định: “Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”(6)

Đó là kết quả của cả một quá trình nghiên cứu công phu, đầy sáng tạo của Người, thâu thái những tinh hoa tư tưởng của nhân loại trên mọi lĩnh vực và tìm ra điểm tương đồng, hướng tới giải phóng nhân loại. Điều quan trọng trong quan điểm của Hồ Chí Minh là không phải nghiên cứu để tiếp thu một cách máy móc, nguyên xi, mà tiếp thu có chọn lọc, sáng tạo, vận dụng vào thực tiễn cách mạng có hiệu quả.

Với Hồ Chí Minh, không chỉ nghiên cứu, học tập lý luận và dừng lại ở tổng kết, mà phải biến lý luận đó, sự tổng kết đó thành những chủ trương chính sách có hiệu quả. Người là tấm gương tiêu biểu cho việc gắn tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với định hướng đường lối, chính sách. Sau khi tổng kết thực tiễn sự phát triển của thế giới, tiếp thu lý luận Mác - Lênin, Người chủ trương đưa vào nội dung học tập tại các khóa huấn luyện của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Quảng Châu gồm: “Lịch sử các cuộc cách mạng, ba quốc tế, các phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa, lịch sử Cách mạng tháng Mười Nga, Cách mạng Tân Hợi, cách mạng đang diễn ra ở Trung Quốc với Tam dân chủ nghĩa và Tam đại chính sách”(7), nhằm đào tạo đội ngũ cán bộ hướng tới thành lập một chính đảng cho cách mạng ở Việt Nam.

Từ tổng kết thực tiễn, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, trong từng giai đoạn cách mạng, Hồ Chí Minh đã đề ra các chủ trương đúng đắn và những chính sách hết sức khoa học, linh hoạt. Chẳng hạn, với chính sách “thêm bạn, bớt thù”, lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, thực hiện nhân nhượng có nguyên tắc, Hồ Chí Minh đã linh hoạt, sáng tạo, khéo léo tìm ra lời giải cho sách lược cách mạng của Việt Nam sau năm 1945 một cách thần kỳ, đưa dân tộc thoát khỏi cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đề ra đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, đánh bại thực dân Pháp tại Điên Biên Phủ năm 1954, đưa miền Bắc tiến lên xây dựng CNXH, tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Hồ Chí Minh nêu rõ: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”(8); “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”(9).  Theo đó, để có đường lối, chủ trương, chính sách phù hợp, trước hết phải có chính sách đối với cán bộ. Hồ Chí Minh yêu cầu thực hiện chính sách đối với từng loại cán bộ.

Trong Di chúc, Người căn dặn rất kỹ: “Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong…), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”(10). Đảng và Chính phủ cần chọn một số chiến sĩ trẻ trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong, ưu tú nhất, cho đi học thêm các ngành, nghề để đào tạo thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc, là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi CNXH ở nước ta.

Người viết: “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo”(11); “đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên””(12). Nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hǎng hái, cần cù. Đảng cần có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và vǎn hóa, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

 Như vậy, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chỉ thật sự có hiệu quả khi phục vụ thiết thực việc đề ra đường lối, chủ trương và ban hành chính sách hành động phù hợp thực tiễn.

Đi qua gần 30 quốc gia, vượt qua muôn vàn gian khổ, làm rất nhiều nghề để kiếm sống, với quyết tâm cháy bỏng tự do cho đồng bào mình, độc lập cho Tổ quốc mình; với khối tri thức lý luận khổng lồ, nhất là lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã hình thành đường lối, chính sách phù hợp cho cách mạng Việt Nam. Trong suốt sự nghiệp cách mạng, Hồ Chí Minh gắn chặt việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với việc đề ra đường lối, chính sách. Đó chính là cơ sở để Đảng ta tiếp tục lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến xây dựng thành công CNXH.

2. Sự vận dụng, phát triển sáng tạo của Đảng trong thời kỳ đổi mới

Tính đúng đắn của lý luận chỉ thể hiện khi nó trở thành hiện thực thông qua hoạt động thực tiễn. Ngược lại, tổng kết thực tiễn chỉ có giá trị và ý nghĩa khi những bài học được rút ra từ sự tổng kết đó được chuyển hóa thành tư tưởng, lý luận định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động tổ chức thực tiễn ở giai đoạn tiếp theo, nghĩa là phải gắn chặt việc tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận với việc đề ra đường lối, chính sách.

Vận dụng, phát triển sáng tạo lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, hơn 90 năm qua, trong từng giai đoạn lịch sử, Đảng ta đã đề ra đường lối, chính sách phù hợp với yêu cầu cách mạng.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, bên cạnh những thuận lợi có được, công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta gặp muôn vàn khó khăn. Trước tình hình đó, Đảng ta đã có bước đột phá là quyết định đổi mới.

Tại Đại hội VI, Đảng ta nhận định: Thái độ của Đảng ta trong việc đánh giá tình hình là nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật. Theo đó, Đảng ta nhận định: “việc đánh giá tình hình cụ thể về các mặt kinh tế, xã hội của đất nước, đã có nhiều thiếu sót. Do đó, trong mười năm qua, đã phạm nhiều sai lầm trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế. Do chưa nhận thức đầy đủ rằng thời kỳ quá độ lên củ nghĩa xã hội là một quá trình lịch sử tương đối dài, phải trải qua nhiều chặng đường, và do tư tưởng chỉ đạo chủ quan, nóng vội, muốn bỏ qua những bước đi cần thiết”(13). Trên cơ sở đó, Đại hội nhấn mạnh: “Tư tưởng chỉ đạo của kế hoạch và các chính sách kinh tế là giải phóng mọi năng lực hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nước và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ của quốc tế để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất đi đôi với xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa”(14).

Đến Hội nghị Trung ương 8 Khóa IX, Đảng nhấn mạnh việc  “xây dựng những định hướng chính sách nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc (cả những định hướng chính sách chung và những định hướng chính sách đối với các giai cấp, tầng lớp xã hội)”(15).

Báo cáo tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991 - 2011), Đảng nhấn mạnh: “Hoàn chỉnh hệ thống chính sách bảo đảm cung ứng dịch vụ công cộng thiết yếu, bình đẳng cho mọi người dân. Tiếp tục đổi nới nhận thức trong định hướng chính sách phân phối, chính sách tiền lương, xây dựng hệ thống an sinh xã hội (bảo hiểm, hỗ trợ, ưu đãi xã hội…). Thực hiện chính sách khuyến khích làm giàu chính đáng theo pháp luật, đi đôi với xóa đói, giảm nghèo”(16).

Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: “Nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chính sách với phù hợp quy luật khách quan và đặc điểm của Việt Nam, tạo bước đột phá để phát triển”(17), phải “đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp các luận cứ khoa học, lý luận cho việc hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”(18).

Đại hội XIII của Đảng đã đề ra nhiệm vụ: “Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Gắn kết tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với định hướng chính sách”(19).

Với ý chí quyết tâm, nỗ lực, bản lĩnh, sáng tạo, quyết đoán, với sự thường xuyên tổng kết thực tiễn, đổi mới lý luận, Đảng ta đã đề ra đường lối, chính sách phù hợp, lãnh đạo tiến hành công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu to lớn.

_________________

Ngày nhận bài: 07-11-2023; Ngày bình duyệt: 10-11-2023; Ngày duyệt đăng: 02-12-2023.

(1), (3), (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 296, 304, 304.

(2), (10, (11), (12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.15, Sđd, tr. 387, 616, 617, 612.

(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.15, Sđd, tr. 48.

(7) Hồ Song: Giáo trình lịch sử Việt Nam, quyển 2, t.2, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1979, tr. 130.

(8), (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 5 Sđd, tr. 280, 309.

(13), (14) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t. 47, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, tr. 353-354, 380.

(15) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t. 62, Sđd, 2016, tr. 100.

(16) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t. 69, Sđd, 2018, tr. 441-442.

(17), (18) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, t. I, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 200, 201.

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG VIDEO ĐỘC HẠI, XUYÊN TẠC HÌNH ẢNH CÔNG AN, QUÂN ĐỘI TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 Thời gian qua, trên các nền tảng mạng xã hội, nhất là TikTok, xuất hiện những TikToker (người dùng TikTok) làm các video clip kiểu như: “Có lẽ tôi sẽ từ bỏ Quân đội để được làm chính mình”; “Có nên rời khỏi ngành Công an để bắt đầu làm lại?”… Đi liền với đó là các video và bài viết xuyên tạc về tình hình nội bộ của lực lượng Công an, Quân đội.

Thực tế cho thấy, một số lượng không nhỏ các video có nội dung xấu độc trên các nền tảng TikTok, YouTube Short, Facebook Reel, Bigo Bar, Instagram, Likee… trong phạm vi nào đó đã tác động tiêu cực đến nhận thức, hành vi người sử dụng mạng xã hội.
Sự bùng nổ của video ngắn độc hại trên mạng xã hội
Không phải ngẫu nhiên, các phương tiện truyền thông đại chúng đều có chung nhận định đây là thời kỳ trỗi dậy của nền tảng nội dung ngắn. Sau thành công của TikTok, các nền tảng mạng xã hội lớn mà điển hình là YouTube và Facebook đã lao vào phát triển ứng dụng phát và chia sẻ video ngắn (short video), bất chấp một thực tế là hai mạng xã hội này vốn chứa hàng tỷ video clip có thời lượng dưới 1 phút. Ðiểm mới của TikTok là nền tảng này cung cấp cho người dùng hàng loạt các tính năng như ghép nhạc, thêm hiệu ứng (filter) hình ảnh và âm thanh, cách thức để video hiện lên trên xu hướng (trending). TikTok cũng ban hành nhiều chính sách để thu hút người dùng mới và tăng thời lượng sử dụng mạng xã hội này như nhận tiền hoa hồng với lời mời bạn bè đăng ký tài khoản mới, nhận tiền để truy cập và theo dõi video liên tục 10 phút trong 14 ngày.
Ðáng chú ý, hiện tượng đăng tải và chia sẻ các video ngắn độc hại không chỉ xuất hiện trên nền tảng TikTok mà lan rộng sang nhiều nền tảng Facebook Reel, YouTube Short, Instagram Reel… Trong đó, một phần nguyên nhân đến từ việc các ứng dụng video ngắn này có rất nhiều tính năng, công cụ, thuật toán tương đồng với TikTok, thậm chí cho phép người dùng đăng tải, chia sẻ đồng thời trên nhiều nền tảng. Hầu hết các ứng dụng video ngắn đều là các nền tảng xuyên biên giới nên rất khó xác định đối tượng nào trực tiếp tham gia hoạt động quản lý, cung cấp các dịch vụ. Bởi lẽ công ty chủ quản, pháp nhân đại diện, đơn vị cung cấp dịch vụ mạng xã hội của các nền tảng này thường được đặt tại các quốc gia khác nhau. Ðây chính là lý do khiến việc phát hiện, xử lý sai phạm đối với các nền tảng video ngắn không hề dễ dàng.
Theo thống kê từ Statista, Việt Nam hiện là quốc gia đứng thứ 12 thế giới về tỷ lệ tăng trưởng người sử dụng mạng xã hội nhiều nhất. Mỗi ngày, người dùng Việt Nam dành tới gần 7 giờ đồng hồ để tham gia các hoạt động liên quan tới Internet. Nếu các video độc hại bị lan truyền với thời lượng lớn sẽ gây tình trạng nhiễu loạn thông tin, đúng sai bị đảo lộn, bởi sẽ có rất nhiều người bị tiếp nhận thông tin thụ động. Thậm chí có thể xem là một trong những tác nhân gây ra sự vô cảm trong xã hội. Theo thống kê của cơ quan chức năng, trung bình mỗi tháng có hàng chục nghìn bài viết, video trên internet, mạng xã hội có nội dung liên quan đến Việt Nam, trong đó tỷ lệ không nhỏ các bài viết, video có nội dung xuyên tạc, chống phá nước ta (có khoảng 67% bài viết được phát tán trên mạng xã hội Facebook, số còn lại phát tán trên các kênh mạng xã hội Youtube, Blog cá nhân hoặc các kênh tin tức phản động).
Nhận diện âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch trong việc sử dụng video ngắn độc hại trên mạng xã hội
Khi những video ngắn độc hại lan rộng trên mạng xã hội thời gian qua như: “Có lẽ tôi sẽ từ bỏ Quân đội để được làm chính mình”; “Có nên rời khỏi ngành Công an để bắt đầu làm lại?”…, đã có những ý kiến, bình luận mang tính a dua, cổ xuý theo nội dung mà video đề cập. Đi liền với đó là các video và bài viết xuyên tạc về tình hình nội bộ, hoạt động chiến đấu của lực lượng Công an, Quân đội xuất hiện khá nhiều gây nhiễu loạn thông tin cho người xem, đặc biệt với những cán bộ, chiến sĩ Công an tuổi đời còn trẻ. Ẩn sâu đằng sau những video đó còn là âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch và các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài.
Qua thực tiễn trào lưu video ngắn độc hại trên mạng xã hội thời gian qua, có thể nhận thấy “bàn tay đen” của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trên không gian mạng âm mưu và hoạt động chống phá tập trung vào các nội dung, như: Xuyên tạc phá hoại nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; gây mâu thuẫn nội bộ, công kích, bôi nhọ và hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, lãnh đạo, chỉ huy trong Công an, Quân đội; thông qua truyền thông mạng xã hội để kêu gọi, kích động biểu tình, gây mất an ninh, trật tự an toàn xã hội; kích động chống phá của số đối tượng chống đối chỉ trích Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, tự do Internet…
Để thực hiện âm mưu thâm độc trên, các đối tượng phản động, thù địch thường dùng các thủ đoạn: Sử dụng tài khoản mạng xã hội có tương tác lớn hoặc tổ chức các chiến dịch truyền thông phát tán thông tin. Đăng tải tài liệu, thông tin, bình luận hướng dư luận nhìn nhận theo quan điểm sai lệch; dẫn nguồn thông tin từ báo chí chính thống, pha trộn thông tin thật-giả, xuyên tạc tình hình chính trị trong nước. Tiến hành xây dựng nhiều kênh thông tin trên các nền tảng xuyên biên giới có sự liên kết với nhau. Việc sử dụng các video ngắn độc hại hướng vào vấn đề phi chính trị hóa Quân đội và Công an, thực chất là muốn tách Công an và Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo Đảng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Về mặt hình thức, những video ngắn trên mạng xã hội trước tiên làm tổn hại đến lực lượng CAND, để người dân hiểu sai, hiểu không tốt về lực lượng Công an. Từ những vụ việc đơn lẻ, các đối tượng thổi phồng, tiến tới gây phản ứng quy kết cho cả lực lượng CAND, tạo ác cảm, tiến đến không ủng hộ, chống đối lực lượng Công an, gây ra những xung đột xã hội.
Những luận điệu xuyên tạc nêu trên nếu không phát hiện, xử lý kịp thời sẽ gây ra nhiều hệ lụy, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của lực lượng Công an, giảm sút lòng tin của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự. Luận điệu xuyên tạc thông qua video trên nền tảng mạng xã hội dễ phát tán, lây lan, ảnh hưởng đến tâm lý tiêu cực trong một bộ phận nhân dân, dễ nảy sinh tâm lý tiêu cực, a dua để điều hướng dư luận nhằm thực hiện các hành vi sai trái, vi phạm pháp luật của một số đối tượng. Tình hình đó khiến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. Vì vậy, đấu tranh với các thông tin, luận điệu sai trái, xuyên tạc về lực lượng Công an nói riêng và lực lượng vũ trang nhân dân nói chung trên mạng xã hội là vấn đề thời sự, cấp bách hiện nay.
Lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lực lượng CAND Việt Nam luôn thể hiện phẩm chất anh hùng, bản lĩnh kiên cường, tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, không quản ngại gian khổ, hiểm nguy, hy sinh, lập nhiều chiến công, giữ vững vai trò nòng cốt trong bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân. Cùng với hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm ANTT, lực lượng CAND còn làm tốt công tác an sinh xã hội với mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau”; triển khai đồng bộ, hiệu quả các mặt công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế; gương mẫu, đi đầu trong nhiều mặt công tác… Những kết quả, thành tích đó đã đóng góp rất quan trọng vào việc xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, củng cố và nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội luôn coi Công an, Quân đội là một trong những lực lượng cần tập trung chống phá, xuyên tạc, mục đích nhằm hạ uy tín, vị thế, gây chia rẽ giữa các lực lượng và chia rẽ giữa Công an, Quân đội với các ngành, với nhân dân, tạo ra những nghi kỵ, ác cảm để lấy cớ kích động chống đối.
Xã hội ngày càng phát triển, cuộc sống ngày càng hiện đại, nền công nghiệp 4.0 tập trung vào công nghệ số với sự trợ giúp mạnh mẽ từ internet thì các thế lực thù địch sẽ gia tăng lợi dụng mạng xã hội để tung nhiều thông tin xấu độc, vu cáo, xuyên tạc, bôi nhọ lực lượng CAND, tác động đến cộng đồng. Việc các thế lực xấu tung video ngắn trên TikTok, Facebook, các nền tảng mạng xã hội là chiêu trò lợi dụng trào lưu người sử dụng mạng đang có thói quen xem các video ngắn, các thông tin nhanh, nóng, tức thời. Do đó, dù phương pháp, thủ đoạn có những biến tướng thì bản chất vẫn không thay đổi, cũng chỉ là “bình mới, rượu cũ”. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân, nhất là các em học sinh, sinh viên cần tỉnh táo, nhận rõ phải – trái, đúng – sai. Hơn ai hết, mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an phải nâng cao tinh thần, ý thức trách nhiệm, đề cao cảnh giác, tích cực đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực xấu.