Thứ Ba, 5 tháng 12, 2023

Thanh niên quân đội với việc làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch

Thanh niên Quân đội (TNQĐ) là lực lượng có vai trò rất quan trọng trong sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Là một bộ phận của thế hệ trẻ cả nước, TNQĐ luôn xung kích, đi đầu trong mọi nhiệm vụ, trên mọi mặt trận, là nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của các địa phương, đơn vị. Bởi vậy, xây dựng lực lượng TNQĐ vững mạnh, bản lĩnh, đủ sức chống lại các âm mưu, thủ đoạn của lực lượng thù địch là nhiệm vụ quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội, giữ trọn niềm tin của Nhân dân.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò của thanh niên: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà… nước nhà thịnh hay suy, mạnh hay yếu, một phần lớn là do các thanh niên”1, trong đó có vai trò không nhỏ của lực lượng TNQĐ. Trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, với quyết tâm “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, tinh thần “dám đánh, biết đánh và quyết thắng”, các thế hệ TNQĐ đã nêu cao ý chí chiến đấu, gan dạ, mưu trí, dũng cảm, góp phần vào thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Phát huy truyền thống vẻ vang đó, TNQĐ qua các thế hệ đã không ngừng rèn luyện, phấn đấu dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, trực tiếp là Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam và hướng dẫn của Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, thể hiện vai trò quan trọng của TNQĐ trên tất cả các mặt trận.

Hiện nay, TNQĐ được tuyển chọn kỹ, có trình độ học vấn cao, được giáo dục, rèn luyện toàn diện cả về chính trị, đạo đức, văn hóa và sức khỏe; là lực lượng chủ yếu, trực tiếp nâng cao sức mạnh tổng hợp, trình độ sẵn sàng chiến đấu, khả năng hoàn thành nhiệm vụ của Quân đội ta. Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, trực tiếp là của cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp, công tác vận động thanh niên và hoạt động của tổ chức đoàn trong Quân đội đã phát triển ngày càng mạnh mẽ, đi vào chiều sâu, đạt kết quả thiết thực.

Tuy nhiên, cũng giống như độ tuổi thanh niên nói chung, TNQĐ chưa biểu hiện rõ nét về xu hướng nhân cách, năng lực chuyên môn đang trong quá trình hình thành và phát triển, kinh nghiệm sống trong môi trường Quân đội chưa nhiều. Bởi vậy, cũng chưa có nhiều kinh nghiệm trong nhận diện, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, phản động, âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch.

Trong thời đại công nghiệp 4.0, với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, những tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường, in-tơ-nét và mạng xã hội đang tác động mạnh mẽ đến thanh niên nói chung, TNQĐ nói riêng. Các thế lực phản động, thù địch với nhiều chiêu bài khác nhau, dùng nhiều luận điệu xuyên tạc nhằm lôi kéo, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của một số ít TNQĐ, hạ thấp vai trò của thanh niên Việt Nam. Các thủ đoạn của chúng chủ yếu mang tính quy chụp, từ những hiện tượng đơn lẻ của một số thanh niên, chúng luận ra thành bản chất chung của toàn bộ tuổi trẻ Quân đội, đặc biệt là một số vụ việc diễn ra trên không gian mạng, với đối tượng nhắm đến là những tân binh mới nhập ngũ, những quân nhân ở các học viện, nhà trường Quân đội. Các thời điểm nhạy cảm như trước thềm Đại hội XIII của Đảng, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XII, các ngày lễ lớn của dân tộc..., chúng càng ra sức chống phá, tận dụng, thúc đẩy với những thủ đoạn tinh vi, diễn biến phức tạp. Vì vậy, tăng cường phòng, chống, đập tan âm mưu chống phá, hạ thấp vai trò của TNQĐ là yêu cầu hết sức quan trọng, cấp bách của Đảng ta hiện nay.

Để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của TNQĐ, đồng thời đập tan âm mưu, thủ đoạn của lực lượng thù địch, cần phải thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của TNQĐ và sự cần thiết phải đấu tranh chống lại âm mưu thủ đoạn nhằm làm giảm vai trò của TNQĐ

Cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chức năng, các tổ chức, các lực lượng cần nhận thức đúng về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của TNQĐ; sự cần thiết phải khơi dậy khát vọng cống hiến xây dựng đất nước phồn vinh của TNQĐ. Xác định thanh niên là lực lượng xung kích cách mạng, lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc. Trong đó TNQĐ là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhiệm những công việc đòi hỏi hy sinh, gian khổ, sức khỏe và sáng tạo. Trên cơ sở đó, tăng cường công tác giáo dục, đào tạo, phát huy vai trò to lớn của TNQĐ, trở thành lực lượng hùng hậu, trung thành, kế tục sự nghiệp cách mạng của Ðảng và dân tộc.

Hai là, thường xuyên tổ chức, thực hiện có hiệu quả hoạt động thực tiễn, các cuộc vận động, các phong trào thi đua để làm sáng thêm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, tăng cường mối quan hệ đoàn kết quân - dân.

Quá trình khẳng định vai trò của TNQĐ không thể tách rời mà phải luôn gắn với hoạt động lao động sản xuất và đấu tranh xã hội. Cần phải tích cực đưa TNQĐ vào hoạt động thực tiễn quân sự và các phong trào cách mạng của tuổi trẻ, của đất nước như phong trào thi đua “TNQĐ tiến quân vào khoa học, công nghệ”, “TNQĐ chung sức xây dựng nông thôn mới”, “TNQĐ xung kích chung tay đánh bay đại dịch Covid-19”; cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”… Muốn các phong trào phát huy hiệu quả trong TNQĐ, các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy đơn vị phải năng động, sáng tạo, bám sát hoạt động thực tiễn của đơn vị, vừa nắm vững chuyên môn, nghiệp vụ công tác, vừa biết cách tổ chức, điều hành các hoạt động phong trào, phân công, bố trí, sử dụng lực lượng phù hợp.

Ba là, phát huy tính tích cực, chủ động của TNQĐ trong học tập, rèn luyện, cống hiến, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc và đánh bại những âm mưu hạ thấp vai trò của TNQĐ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Tư tưởng đúng thì hành động mới khỏi sai lạc và mới làm trọn nhiệm vụ cách mạng được”2. Bởi vậy, với mỗi TNQĐ, trước hết phải tự nhận thức được vai trò, trách nhiệm của mình với Tổ quốc, với Nhân dân và Quân đội, từ đó luôn có tinh thần khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Mỗi thanh niên cần có tâm thế vững vàng, nỗ lực cao trong học tập, rèn luyện trong thực tiễn để nâng cao năng lực nhận thức và năng lực hành động. Cần nhận thức sâu sắc rằng, rèn luyện thông qua hoạt động thực tiễn là con đường cơ bản, tất yếu để mỗi TNQĐ hoàn thiện nhân cách của mình, thông qua đó để phát triển những phẩm chất đạo đức đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và chiến đấu của Quân đội ta hiện nay.

Bốn là, đảm bảo tốt cơ sở vật chất, điều kiện, môi trường thuận lợi để phát huy vai trò, tính tiên phong, cống hiến xây dựng đất nước của TNQĐ, làm tiền đề để đấu tranh chống lại các luận điệu sai trái về Quân đội nhân dân Việt Nam.

Đấu tranh bảo vệ, tăng cường vai trò của TNQĐ và đập tan các luận điệu sai trái của lực lượng thù địch về TNQĐ là một trong những nội dung quan trọng của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Thông qua hoạt động bảo vệ, phát huy vai trò của TNQĐ sẽ góp phần giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện nên những con người mới xã hội chủ nghĩa, lan tỏa phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.

Những luận điệu của lực lượng thù địch từ những sự việc nhỏ lẻ nhằm quy chụp thành bản chất của TNQĐ là hoàn toàn sai trái, thực chất là nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Bởi vậy, đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân phát huy tốt vai trò xung kích, sáng tạo, bản lĩnh, kiên trung của mình trên mặt trận đấu tranh tư tưởng chống lại các luận điệu sai trái đó. Đồng thời, thế hệ trẻ trong Quân đội cần “dưỡng tâm trong, rèn trí sáng, xây hoài bão lớn”, luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân để giải quyết, nhận định đánh giá các hiện tượng trong xã hội. Tin rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, TNQĐ sẽ luôn tận trung với Đảng, tận hiếu với Dân, làm sáng mãi hình ảnh của người quân nhân cách mạng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ./.

Mong ước cũng mãi chỉ là ước mong

Cái tên nhà "rân chủ" Thái Bá Tân không quá xa lạ khi trong suốt bao năm qua Thái Bá Tân vẫn miệt mài chống Đảng, chống Nhà nước. Cũng như nhiều kẻ phản động hay rân chủ trước đây, họ đều dự báo về ngày Đảng mất quyền lãnh đạo đất nước nhưng tất cả dự báo đó không thành hiện thực. Càng dự báo thì đất nước càng phát triển, Đảng lại càng có nhiều thành tựu trong lãnh đạo đất nước.

Thái Bá Tân cũng không phải ngoại lệ. Thậm chí, Thái Bá Tân cũng đã lớn tuổi rồi nên có lẽ thấy rằng mục tiêu chống Đảng của mình đến cuối đời vẫn không thể hoàn thành. Do đó, trong vài dòng trạng thái trên facebook của mình, Thái Bá Tân đã thể hiện một “mong ước” mãnh liệt, “mong ước” cuối đời của mình.

Nhiều người đọc mong ước của Thái Bá Tân xong thì cười, cười cho cái sự ngô nghê của lão, cười cho một cuộc đời lãng phí, cười vì “mong ước” đó mãi chỉ là ước mong. Rồi cũng nhiều người tỏ ra thương cảm bởi cho đến cuối đời, Thái Bá Tân vẫn chưa tỉnh ngộ, vẫn mãi chạy theo những thứ chân lý lừa phỉnh của đám phản động. Và nhiều người cũng tiếc cho Thái Bá Tân khi là một người có học thức nhưng đã lầm đường lạc lối. Thái Bá Tân cũng như nhiều kẻ phản động, rân chủ khác thôi, rằng rất nhiều kẻ dành cả đời để chống Đảng, chống lại đất nước nhưng cuối cùng kết quả cũng lại về không.

Cuộc đời Thái Bá Tân được đất nước, được Đảng nuôi ăn học, tạo điều kiện cống hiến nhưng Thái Bá Tân lại quay ra chống phá. Buồn vì chắc chắn Thái Bá Tân sẽ không thực hiện được mong ước của mình. Một mong ước phi lý./.

“Cuộc chiến không tiếng súng” Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng.

Không gian mạng đã trở thành một vùng lãnh thổ bên cạnh đất liền, vùng biển, vùng trời của một quốc gia. Chính vì vậy, bên cạnh không gian vật chất truyền thống, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng còn cần được thực hiện thường xuyên, liên tục trên không gian mạng trong kỷ nguyên số hiện nay.

Thế giới đang bước vào “kỷ nguyên số” với sự phát triển như vũ bão của các công nghệ thông tin và ứng dụng internet, sự phát triển này tạo ra một không gian chiến lược mới - “không gian mạng”, mang lại nhiều cơ hội phát triển cho các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, với đặc trưng mở, phổ biến, liên kết cao, không gian mạng là mảnh đất màu mỡ để các thế lực thù địch lợi dụng để tác động, bóp méo dư luận với các mục tiêu chống phá chế độ, chống phá Đảng. Không gian mạng đã trở thành một vùng lãnh thổ bên cạnh đất liền, vùng biển, vùng trời của một quốc gia, chính vì vậy bên cạnh không gian vật chất truyền thống, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng còn cần được thực hiện thường xuyên, liên tục trên không gian mạng trong kỷ nguyên số hiện nay.

Bản chất, cốt lõi của bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Nền tảng tư tưởng là hệ thống quan điểm chỉ đạo nhận thức và hoạt động thực tiễn của một cá nhân, tổ chức hoặc quốc gia. Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, nền tảng tư tưởng của Đảng đã được xác định rõ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Trong đó nêu rõ: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”.

Như vậy, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là những học thuyết, những tư tưởng được hình thành trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những thành tựu văn minh của tư duy nhân loại; liên tục được bổ sung, phát triển từ những kết quả nghiên cứu mới nhất của khoa học và tổng kết thực tiễn lịch sử trong nước và thế giới.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng có nghĩa là làm cho cán bộ, Đảng viên, nhân dân hiểu đúng và vận dụng các học thuyết nói trên trong thực tiễn; Đấu tranh phản bác các nội dung tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch về lãnh đạo Đảng, nhà nước, về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, nhà nước; Cung cấp thông tin thường xuyên kịp thời về thành tích phát triển kinh tế-xã hội của đất nước để củng cố, gia tăng lòng tin của nhân dân đối với Đảng, với nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bên cạnh đó, bảo vệ nền tảng của Đảng còn là việc giữ vững hình ảnh, uy tín của từng Đảng viên, cơ sở, cấp ủy Đảng. Mỗi Đảng viên, cơ sở, cấp ủy Đảng không làm tốt công việc được giao, bị dụ dỗ, mua chuộc hoặc có biểu hiện tham ô, tham nhũng hay tự diễn biến, tự chuyển hóa đều tác động tiêu cực đến dư luận xã hội và niềm tin của nhân dân vào Đảng và từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến nền tảng tư tưởng của Đảng. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ mang mục đích tự thân mà còn là mang lại nhiều phúc lợi hơn, giảm chi phí, phiền hà, mang lại cuộc sống ấm no hơn, hạnh phúc hơn cho người dân, xã hội.

Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng

Thời gian qua, các cơ quan, đơn vị đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong công tác bảo vệ tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, tuy nhiên trong thời gian tới cần tập trung đổi mới về công cụ, phương pháp, bổ sung nguồn lực, mở rộng không gian, đối tượng đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ nhất, phải xây dựng được công cụ hữu hiệu giúp nhanh chóng phát hiện, ngăn chặn, xử lý các thông tin xấu độc trên mạng xã hội. Công cụ này có thể là các thuật toán tự động sàng lọc, phân loại, ngăn chặn xử lý thông tin trên mạng xã hội dựa trên các từ khóa hoặc các đường dây nóng để tiếp nhận phản ánh về thông tin xấu độc trên mạng xã hội.

Thứ hai, về nguồn lực, cần huy động sự tham gia của tất cả cán bộ, Đảng viên trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng. Mỗi cán bộ, Đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên phải là “người lính xung kích” trong việc đưa trang mạng xã hội của cá nhân mình thành một kênh thông tin, tuyên truyền thường xuyên, chính thống về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Bên cạnh đó, cần đề cao kỷ luật phát ngôn, ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên khi tham gia các mạng xã hội, mỗi người phải tỉnh táo phân tích, kiểm chứng thông tin trên mạng trước khi bình luận, chia sẻ, tuyệt đối không lưu trữ, cung cấp, phát tán, chia sẻ thông tin xấu độc, không nói trái chủ trương, chính sách, pháp luật trên mạng xã hội.

Thứ ba, bên cạnh việc cung cấp thông tin chính thống, kịp thời phát hiện ngăn chặn thông tin xấu độc thì cần yêu cầu cán bộ, Đảng viên, nhất là Đảng viên giữ cương vị lãnh đạo nêu gương trong sinh hoạt và công vụ. Hành động gương mẫu, nêu gương của cán bộ, Đảng viên, nhất là người đứng đầu, chính là “mệnh lệnh không lời”, trực tiếp truyền cảm hứng mạnh mẽ cho nhân dân học tập, noi theo, qua đó, góp phần bảo vệ và phát huy nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ tư, tăng cường công tác giám sát, kiểm soát thông tin trên không gian mạng để phát hiện thông tin xấu độc từ sớm, từ xa. Tập trung phát hiện các trang web, mạng xã hội thường xuyên đăng tải những nội dung xấu, thù địch; Phát hiện âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động tuyên truyền chống phá; Phát hiện, xử lý cá nhân, tổ chức sở hữu, quản lý, điều hành các trang mạng xã hội thường xuyên đăng tải các bài viết, hình ảnh, video tuyên truyền chống phá Đảng.

Thứ năm, mở rộng không gian, đối tượng đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng. Hiện nay, nhiều cá nhân có ảnh hưởng trong xã hội tuy không dùng mạng xã hội nhưng thường xuyên phát biểu, bình luận trái chiều, bài xích, phủ nhận tư tưởng của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước. Phát biểu của những đối tượng này được các thế lực thù địch lợi dụng đăng tải trên không gian mạng để chống phá Đảng. Vì thế, cần phải mở rộng đối tượng đấu tranh, xử lý đến cả những đối tượng không tham gia không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng.

Thứ sáu, đẩy mạnh hợp tác quốc tế, thúc đẩy ký kết các văn kiện hợp tác đa phương và song phương, ký kết thỏa thuận hợp tác với các nền tảng mạng xã hội nước ngoài để giải quyết từ gốc đối với thông tin xuyên tạc, tin giả, sai sự thật vì phần lớn các thế lực thù địch đều hoạt động ở nước ngoài để trốn tránh sự xử lý của các cơ quan bảo vệ pháp luật của Việt Nam.

Có thể thấy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng là công tác thường xuyên, lâu dài, mặc dù khó khăn nhưng công tác này chắc chắn sẽ thành công nếu huy động được sự tham gia rộng rãi của cán bộ, đảng viên, phát huy được sự kiên nhẫn, bền bỉ, lý tưởng, nhiệt huyết và tinh thần trách nhiệm của mỗi Đảng viên cũng như cấp ủy các cấp./.

 Môn thể thao nào được cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội yêu thích và tập luyện nhiều nhất? Câu trả lời là bóng đá và bóng chuyền. Chứng kiến trận chung kết bóng chuyền nam trong nhà giữa đội tuyển Trường Sĩ quan Lục quân 1 (SQLQ1) và đội tuyển Quân chủng Hải quân (QCHQ) tại Hội thao bóng đá, bóng chuyền toàn quân năm 2023, chúng tôi hiểu hơn về nhận định này.

Trời nhá nhem, bên trong nhà thi đấu Trường SQLQ1 không còn một chỗ trống. Phía bên ngoài, ban tổ chức bố trí hai màn hình lớn để phục vụ hàng nghìn cổ động viên (CĐV) trực tiếp đến cổ vũ. Tiếng trống, tiếng kèn sôi động khiến các vận động viên (VĐV) cảm nhận rõ sức hút của một trận đấu hấp dẫn. Được đánh giá cao hơn bởi kinh nghiệm, đội tuyển QCHQ nhanh chóng vươn lên dẫn 2-0 sau 2 set với cùng điểm số 25-23. Những CĐV trung lập bụng bảo dạ, chắc trận đấu kết thúc sớm, thậm chí có thể là một trận thua trắng cho đội tuyển Trường SQLQ1.Dù trận đấu diễn ra bất lợi cho chủ nhà nhưng không vì thế mà các khán đài giảm đi sự sôi động. Mỗi lần CĐV đội tuyển QCHQ hô khẩu hiệu "chiến thắng" thì nhận lại sự đáp trả gấp nhiều lần từ những người hâm mộ Trường SQLQ1. Các CĐV cổ vũ thật văn minh. Họ chỉ hò hét khi kết thúc mỗi pha bóng, trong trận đấu lại im lặng để các cầu thủ tập trung nhất. Và trong mỗi pha bóng tranh chấp, công nghệ VAR (video hỗ trợ trọng tài) đã phát huy hiệu quả để bảo đảm sự công bằng.

Trong set 3, có thời điểm đội tuyển QCHQ dẫn 13-10, nhưng với quyết tâm không bỏ cuộc cùng sự cổ vũ nồng nhiệt của CĐV nhà, đội tuyển Trường SQLQ1 đã thi đấu ấn tượng để giành chiến thắng với điểm số 25-21. Cũng từ đây, tinh thần của các VĐV Trường SQLQ1 lên cao hẳn. Đội chủ nhà thi đấu thăng hoa với màn ngược dòng khó tin khi thắng 25-21 trong set 4 và 15-7 trong set 5 để ấn định thắng lợi 3-2. Chức vô địch trên sân nhà trở nên ý nghĩa hơn khi đây là lần đầu tiên trong lịch sử, đội tuyển Trường SQLQ1 bước lên bục cao nhất của môn bóng chuyền toàn quân.

Trong bóng chuyền, đôi khi bản lĩnh thắng trình độ và chiến thắng của Trường SQLQ1 là minh chứng. Điều này được chính VĐV Trần Quang Hùng của Trường SQLQ1 lý giải: “Trước trận đấu, khi so sánh lực lượng, chúng tôi thấy đội bạn rất mạnh. Khi vào trận, anh em động viên nhau phải nỗ lực hết mình, vượt qua cảm giác là đội mình thua kém bạn. Thật hạnh phúc khi toàn đội đã vượt qua chính mình”.

Không chỉ chung kết, các trận bóng chuyền tại Hội thao bóng đá, bóng chuyền toàn quân năm 2023 luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của thủ trưởng các cơ quan, đơn vị và người hâm mộ. Những khán đài sôi động, những màn cổ vũ đậm chất lính là một lời khẳng định cho sức hút của môn thể thao này trong toàn quân. Trung tướng Nguyễn Doãn Anh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam khẳng định: “Bóng đá, bóng chuyền được đông đảo cán bộ, chiến sĩ hâm mộ và luyện tập rất rộng rãi. Việc tổ chức hội thao hai môn này tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy phong trào luyện tập thể dục, thể thao và đáp ứng lòng mong mỏi của cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân”.

KHỞI NGHĨA HAI BÀ TRƯNG: THỨC TỈNH TINH THẦN DÂN TỘC

 

Khởi nghĩa Hai Bà Trưng là cuộc khởi nghĩa chống Bắc thuộc đầu tiên trong lịch sử Việt Nam do hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa bắt đầu vào năm 40 (Canh Tý), đã đánh đuổi được lực lượng cai trị nhà Đông Hán ra khỏi Giao Chỉ. Đó là lần đầu tiên trong lịch sử người dân Việt đứng lên vì nền độc lập cũng như niềm tự hào của mình.
Tức nước vỡ bờ
Từ khi nhà Triệu tiêu diệt An Dương Vương và thiết lập quyền cai trị trên lãnh thổ Âu Lạc cũ, chế độ thống trị dừng lại ở cấp quận với đại diện là 2 viên quan sứ ở 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Đến khi nhà Tây Hán diệt nhà Triệu (111 trước Công nguyên), cấp độ thống trị vẫn ở cấp quận; chế độ các Lạc hầu, Lạc tướng của người Việt với quyền thế tập trên lãnh thổ Âu Lạc cũ được các chính quyền phương Bắc chấp nhận cho duy trì, nhưng ngày càng suy yếu.
Từ khi nhà Đông Hán thành lập, Hán Quang Vũ Đế tuy chưa dẹp xong các lực lượng cát cứ phương Bắc nhưng vẫn quan tâm tới miền Nam. Tích Quang, Nhâm Diên làm Thái thú Giao Chỉ và Thái thú Cửu Chân của nhà Hán, ra sức thực hiện chính sách đồng hóa, thay đổi tập tục từ hôn nhân đến y phục, lễ nghĩa của người Việt bắt theo người Hán, dẫn đến xúc phạm nặng nề tới phong tục cũ nhiều đời của người Việt.
Từ khi Tô Định sang làm Thái thú Giao Chỉ năm 34, ách thống trị của nhà Đông Hán càng nặng nề hơn với người Việt. Tô Định tàn bạo và tham lam, tăng cường phục dịch và thuế khóa đối với người Việt để cống nạp cho triều đình nhà Hán nhiều hơn, thúc ép các Lạc tướng nhiều hơn. Sự đụng chạm lớn về văn hóa, tín ngưỡng và kinh tế khiến mâu thuẫn giữa người Việt - không chỉ nhân dân mà cả các Lạc tướng - với chế độ thống trị của nhà Hán ngày càng gay gắt. Vì vậy các Lạc tướng đã đoàn kết nhau lại để chống đối.
Trong số các Lạc tướng có ý chống lại sự thống trị của nhà Hán, nổi lên nhà Trưng Trắc ở Mê Linh, Phong Châu và nhà Thi Sách ở Chu Diên. Trưng Trắc kết hôn với Thi Sách, hai nhà đồng lòng tập hợp lực lượng chống lại sự cai trị của nhà Hán và đã tập hợp được sự ủng hộ của khá nhiều thủ lĩnh địa phương khác. Trước khí thế chống đối của các thủ lĩnh người Việt, Tô Định đã giết Thi Sách để hy vọng dập tắt sớm ý định chống đối. Thù chồng bị giết càng khiến Trưng Trắc hành động gấp rút trong việc khởi binh chống nhà Hán.
Tuy nhiên, có những sử liệu cho thông tin khác về Thi Sách. Ngoài việc ông tên là Thi (chứ không phải Thi Sách), “Thủy kinh chú” cho biết ông cùng Trưng Trắc khởi nghĩa thắng lợi và 3 năm sau mới tử trận cùng vợ; sách “Thiên Nam ngữ lục” cho rằng Thi Sách có tham gia khởi nghĩa với Trưng Trắc và tử trận trước khi khởi nghĩa thắng lợi và sử gia Đào Duy Anh đồng tình với thuyết này.
Các sử gia khẳng định khởi nghĩa vẫn nổ ra dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng dù chồng Trưng Trắc không bị giết. Do đó nguyên nhân chính dẫn tới cuộc khởi nghĩa không phải là cái chết của Thi Sách mà là chính sách đồng hóa gắt gao và bóc lột hà khắc của nhà Đông Hán đối với người Việt tại Giao Chỉ đương thời. Lê Văn Siêu trong sách “Việt Nam văn minh sử” thậm chí còn cho rằng, việc Thi Sách tên thật là gì, có bị giết hay không trong sự kiện Hai Bà khởi nghĩa không phải là một chi tiết quan trọng.
Thời của các nữ tướng
Vai trò lãnh đạo nòng cốt là các Lạc hầu, Lạc tướng dòng dõi Hùng Vương, có uy tín với nhân dân và ít nhiều được chính quyền đô hộ phương Bắc vì nể. Ngoài 3 đại diện tiêu biểu là Trưng Trắc, Trưng Nhị và Thi Sách, các sử gia khẳng định còn có nhiều thủ lĩnh địa phương khác có nguồn gốc Lạc tướng.
Một nhân vật được xem là đóng vai trò quan trọng trong thời kỳ trước khởi nghĩa là bà Man Thiện - mẹ của Trưng Trắc và Trưng Nhị. Bà được xem là cháu chắt bên ngoại của Hùng Vương, góa chồng sớm, nuôi dạy hai con gái nghề trồng dâu nuôi tằm và võ nghệ. Bà Man Thiện có vai trò tổ chức lực lượng, giao thiệp với các quan lang các vùng xung quanh ủng hộ con khởi nghĩa.
Điều đáng chú ý là phần lớn các tướng lĩnh của cuộc khởi nghĩa là phụ nữ được các thần tích, truyền thuyết ghi lại: Trưng Trắc, Trưng Nhị, Man Thiện, Diệu Tiên, Bát Nàn, Đào Kỳ, Lê Hoa, Lê Chân, Phương Dung, Trinh Thục, Thánh Thiên, Thiện Hoa, Nàng Tía, Xuân Hương, Ả Di, Ả Tắc, Ả Lã, Nàng Đô… Số tướng lĩnh nam chiếm số lượng ít hơn: Đỗ Năng Tế, Hùng Nguyên (chồng Trưng Nhị), ông Đống, ông Cai, ông Nà, Đồng Bảng, Đô Chính, Đô Dương…
Các tướng lĩnh này đều có quan hệ huyết thống bên nội hay ngoại, hoặc là bè bạn của nhau. Theo ý kiến của các sử gia, dù được đời sau gán cho những “mỹ tự” và được đặt “họ” (tên họ), mà vào những năm đầu Công nguyên người Việt chưa có "họ", nhưng tất cả cho thấy kết cấu quan hệ huyết tộc, vị trí, vai trò của người phụ nữ, người mẹ, người vợ còn rất lớn không chỉ trong gia đình mà cả trong mọi mặt của hoạt động xã hội Việt Nam khi đó. Điều đó được xem là tàn dư của chế độ mẫu quyền còn phổ biến thời Hai Bà Trưng ở Việt Nam.
Lên ngôi Vua bà
Tháng 9 năm 39, Trưng Trắc và Trưng Nhị tập hợp các tướng lĩnh cùng nhau làm Hội thề ở cửa sông Hát (huyện Phúc Thọ, Hà Nội) thuộc huyện Mê Linh thời đó. “Thiên Nam ngữ lục” ghi lời thề của Trưng Trắc như sau: "Một xin rửa sạch nước thù/ Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng /Ba kêu oan ức lòng chồng/ Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này".
Sau một thời gian chuẩn bị, tháng 2 năm 40, Trưng Trắc cùng Trưng Nhị chính thức phát động khởi nghĩa chống lại nhà Đông Hán. Cuộc khởi nghĩa được sự hưởng ứng của nhiều đội quân và nhân dân các nơi thuộc Âu Lạc và Nam Việt cũ.
Quân Hai Bà trước tiên tấn công Đô úy trị quận Giao Chỉ ở Mê Linh. Chiếm được nơi đây, Hai Bà Trưng tiến đánh huyện Tây Vu, chiếm thành Cổ Loa. Trên đà thắng lợi, từ Cổ Loa, Hai Bà Trưng mang quân vượt sông Hoàng, sông Đuống đánh trị sở Giao Chỉ ở Luy Lâu bên bờ sông Dâu (lãng Lũng Khê, Thuận Thành, Bắc Ninh). Quân khởi nghĩa tấn công quá nhanh khiến Tô Định không kịp trở tay. Trước thế mạnh của quân Hai Bà, các viên quan cầm đầu không dám chống cự, bỏ chạy về phương Bắc.
Thái thú Giao Chỉ là Tô Định hoảng hốt cũng tháo chạy. Để thoát thân, Tô Định phải cạo tóc, cạo râu, trà trộn vào loạn quân, vứt bỏ ấn tín mà chạy. Tương truyền người Việt đương thời vẫn có tục lệ phổ biến là cạo tóc, nên Tô Định bắt chước làm như vậy cho khỏi bị phát hiện trên đường trốn chạy. Cuối cùng, Tô Định thoát về quận Nam Hải, bị Mã Viện dâng sớ lên Hán Quang Vũ Đế hạch tội “thấy tiền thì giương mắt lên, thấy giặc thì cụp mắt xuống”. Vua Hán hạ ngục trị tội Tô Định.
Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng được nhân dân khắp nơi hưởng ứng. Sau khi Luy Lâu bị hạ, các thành khác nhanh chóng tan vỡ và quy phục. Cuộc khởi nghĩa lan rộng vào Cửu Chân, Nhật Nam, sang Uất Lâm, Hợp Phố… Khởi nghĩa thắng lợi, Trưng Trắc lên ngôi vua, xưng vương. Thần phả cho biết Trưng Nhị được phong làm Phó vương.
Giương cao ngọn cờ tự hào dân tộc
Dưới sự lãnh đạo của hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị, nhiều lực lượng chống ách đô hộ của nhà Đông Hán đã kết hợp làm một, trở thành một phong trào khởi nghĩa rộng lớn của người Việt, đánh đổ sự cai trị của nhà Hán trên toàn bộ lãnh thổ Âu Lạc và Nam Việt cũ.
Điều này được các sử gia đánh giá là một sự thức tỉnh của tinh thần dân tộc Việt, một sự tái nhận thức quan trọng về quyền sống theo cách riêng của người Việt. Cuộc khởi nghĩa phản ánh ý thức dân tộc đã khá rõ rệt của Lạc tướng và Lạc dân trong các bộ lạc hợp thành nước Âu Lạc cũ. Ý thức về độc lập chủ quyền quốc gia của dân tộc Việt trên con đường hình thành qua hơn 200 năm mất nước - khoảng thời gian mà các triều đại phong kiến phương Bắc ráo riết thực hiện đồng hóa nhằm biến Âu Lạc vĩnh viễn là quận huyện của Trung Quốc - vẫn tồn tại và phát triển trong lòng người Việt.
Đây là cuộc khởi nghĩa chống sự cai trị của Trung Quốc đầu tiên của người Việt trong 1.000 năm Bắc thuộc. Các Lạc tướng cùng hậu duệ của họ là đại biểu của phong trào này. Hai Bà Trưng đã dựa vào nhân dân khôi phục lại sự nghiệp cũ của Vua Hùng. Cuộc khởi nghĩa là sự phủ nhận hiên ngang cường quyền của các triều đại phương Bắc coi các dân tộc xung quanh là “Man Di”, thuộc quốc buộc phải phục tùng “thiên triều”, “thiên tử”, phủ nhận tư tưởng “tôn quân, đại thống nhất”.
Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng do phụ nữ đứng đầu, trong thế giới tư tưởng “trọng nam khinh nữ” của đế chế Hán cổ đại, được xem là sự đối chọi quyết liệt về văn hóa, nếp sống, nếp tư duy của đôi bên Nam - Bắc, Việt - Hán./.
ST

“ĐÂU CÓ GIẶC LÀ TA CỨ ĐI”

 "Hành quân xa dẫu có nhiều gian khổ/Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/Mắt ta sáng, chí căm thù bảo vệ đồng quê ta tiến bước/Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi..."-Lời bài hát “Hành quân xa” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận hơn 60 năm qua đã vang lên hùng tráng, tự hào trong những chặng đường hành quân của các thế hệ Bộ đội Cụ Hồ. Ít người biết, bài hát được sáng tác rất nhanh, chỉ khoảng một giờ đồng hồ, khi tác giả Đỗ Nhuận hành quân cùng bộ đội tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.

Từ trước Chiến dịch Đông-Xuân 1953-1954, nhạc sĩ Đỗ Nhuận đã ấp ủ ý định sáng tác một bài hành khúc cho chiến sĩ vừa hành quân vừa hát. Nhưng dự định mãi vẫn chưa viết ra được. Trong một khóa học chính trị, được gặp Bác, Đỗ Nhuận bày tỏ băn khoăn với Bác về việc sáng tác hành khúc. Bác khuyên: “Theo Bác thì chú cứ sáng tác thế nào cho đông đảo cán bộ, chiến sĩ và nhân dân thích là được”.
Câu nói giản dị của Bác đã có sức gợi mở lớn đối với Đỗ Nhuận. Một lần, ông cùng Đại đội 267, Tiểu đoàn 54 (nay là Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 102) hành quân lên Điện Biên Phủ. Lúc đó, không ai biết mình có vinh dự được tham gia Chiến dịch Trần Đình (mật danh của Chiến dịch Điện Biên Phủ). Bộ đội hành quân mà không biết sẽ tập kết ở đâu. Họ cùng nhau bàn luận, phán đoán ý đồ tác chiến của cấp trên. Bỗng một người trong tốp nói: "Thôi, khỏi cần biết, đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi". Thế là câu nói tình cờ ấy trở thành tứ thơ để Đỗ Nhuận phát triển thành ca từ bài “Hành quân xa”. Và bài hành khúc nổi tiếng đã tập trung và làm nổi rõ chủ đề tư tưởng "đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi". Có thể nói đây là một sáng tác mẫu mực cho thể hành khúc. Bài hát được viết ở thể một đoạn gồm bốn câu nhạc rất cân đối, vuông vức. Âm vực toàn bài được khống chế trong vòng một quãng 8 là quãng lý tưởng đối với quảng đại quần chúng vì dễ hát. Tuy vậy, do cách sắp đặt các vòng hòa âm và giai điệu có sự biến động ít nhiều về tiết tấu mà bài hát giản dị nhưng vẫn phong phú về màu sắc, không bị đơn điệu.
Nhạc sĩ Đỗ Nhuận sinh năm 1922, quê ở Cẩm Bình, Hải Dương. Ông là Tổng thư ký Hội Nhạc sĩ Việt Nam khóa I và II, được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về âm nhạc. Ca khúc đầu tiên ông sáng tác là "Trưng Vương". Sau Cách mạng Tháng Tám, ngay khi Nam Bộ kháng chiến (23-9-1945) ông đã viết ca khúc "Tiếng súng Nam Bộ". Ca khúc "Đoàn lữ nhạc" của ông cũng được phổ biến rộng rãi trên cả nước. Bên cạnh ca khúc “Hành quân xa”, ông còn có nhiều bài hát nổi tiếng về Chiến thắng Điện Biên Phủ như: “Giải phóng Điện Biên”, “Trên đồi Him Lam”, “Chiến thắng Tây Bắc”.../.
ST


TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

 Tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống tham nhũng không chỉ “là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá” của Đảng và dân tộc ta mà còn cung cấp những cơ sở khoa học và kinh nghiệm thực tiễn sâu sắc trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nhiều quốc gia trên thế giới. Người không chỉ bắt đúng bệnh, đưa ra đúng phác đồ điều trị, mà còn kê các phương thuốc đặc trị chứng bệnh tham nhũng của cán bộ, đảng viên.

Chủ nghĩa cá nhân - “bệnh mẹ” đẻ ra tham nhũng
Bệnh tham nhũng trong cán bộ, đảng viên được Hồ Chí Minh diễn đạt trong một thuật ngữ chung nhất là tham ô. Người chỉ rõ bản chất của tham ô là hành vi “lấy của công làm của tư. Là gian lận, tham lam”, “tham ô là trộm cướp”. “Của công” chính là tài sản của nhân dân, do nhân dân đóng góp, phục vụ mục đích chung là giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước. Bất cứ hành vi nào lấy “của công” làm “của tư” cũng đều là hành vi tham ô... Trong “Thư gửi UBND các kỳ, tỉnh, huyện và làng, Người đã chỉ ra 6 “lầm lỗi rất nặng nề” của cán bộ cần phải ra sức sửa chữa đó là: Trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, kiêu ngạo. Trong đó, Người đặc biệt cảnh báo và lên án hành vi “lấy của công dùng vào việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức...”.
Thực tiễn cho thấy, Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, Đảng Cộng sản Việt Nam có vinh dự lớn lao trở thành Đảng cầm quyền. Thắng lợi của của cuộc cách mạng đó là biểu tượng của trí tuệ, bản lĩnh, sức sáng tạo phi thường và “tư cách của một Đảng cách mệnh chân chính”. Tuy nhiên, nước nhà giành được độc lập chưa lâu, chính quyền cách mạng non trẻ lại phải đối mặt với những khó khăn, thách thức to lớn của giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm; tình cảnh đất nước hiểm nghèo “ngàn cân treo sợi tóc”. Bên cạnh tập trung giải quyết những nhiệm vụ cấp bách của chính quyền dân chủ, nhân dân, Đảng ta lại phải đối phó với giặc nội xâm còn nguy hại hơn đó là chủ nghĩa cá nhân. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể, “miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”. Người khẳng định, chủ nghĩa cá nhân là bệnh mẹ đẻ ra trăm thứ bệnh con nguy hiểm; một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm khác. Trong số những căn bệnh do chủ nghĩa cá nhân gây ra, tham nhũng là căn bệnh nguy hiểm nhất, là “hành động xấu xa nhất, tội lỗi, đê tiện nhất”. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trộm cắp tiền bạc của Nhân dân, tổn hại kinh tế của Chính phủ, cũng là mật thám, phản quốc, nếu không phải là tệ hơn nữa”. Người cũng nhắc lại lời cảnh báo của V. I. Lênin: “Không xử bắn lũ ăn của đút lót… đó là một điều xấu hổ cho những đảng viên cộng sản, cho những người cách mạng… Phải lập tức đề nghị một đạo luật để trừng trị những vụ hối lộ (ăn hối lộ, tặng hối lộ, và những cách hối lộ khác)”. Không phải ngẫu nhiên mà người đứng đầu Đảng và Chính phủ lại dám thẳng thắn phê phán gay gắt như thế đối với những khuyết điểm, sai lầm của cán bộ, đảng viên. Hồ Chí Minh hiểu rất rõ rằng, đây là những lỗi lầm đặc biệt nghiêm trọng, có hại cho dân, cho nước cần phải ra sức kiên trì sửa chữa. Đặc biệt, sự phê phán không chỉ bằng văn thư hành chính nội bộ mà còn công khai lên báo chí công luận, như để tự phê bình, tự kiểm điểm trước nhân dân. Việc chỉ ra đích danh tham ô là hành vi “trộm cướp”, “là mật thám, phản quốc” đủ để quần chúng thấy rõ quan điểm, thái độ của Đảng ta không chấp nhận sự tồn tại của những hành vi ấy trong đời sống chính trị của Đảng và toàn dân. Đồng thời. là sự khởi đầu cho việc hình thành một lối sống văn hóa trong Đảng, một tập quán chính trị tiến bộ và là tiêu chí quan trọng của một đảng “là đạo đức, là văn minh” - đã là cán bộ, đảng viên phải trong sạch, phải nói không với tham nhũng.
Hồ Chí Minh không chỉ dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, chỉ rõ thực trạng tham nhũng bằng thái độ kiên quyết không “giấu giếm khuyết điểm” mà quan trọng hơn Người đặt niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi tất yếu trong cuộc đấu tranh đó. Đó là niềm tin cách mạng và khoa học chứ không phải là “ý niệm tuyệt đối” trong giáo lý tôn giáo; thể hiện ý chí quyết tâm sửa chữa khuyết điểm, sai lầm, chỉ ra con đường và biện pháp diệt trừ tham nhũng. Bởi vì, đó là danh dự, lương tâm của những người cộng sản, nếu không làm được như vậy thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Tuy nhiên, cũng cần bàn thêm ở đây, để đấu tranh diệt trừ tham nhũng mà không gây ra hoang mang cho những cán bộ dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm và thức tỉnh cán bộ đảng viên “cải tả quy chính”, theo Hồ Chí Minh phải hết sức thận trọng, bình tĩnh, tỉnh táo và mưu lược. Nghĩa là, phải có chiến lược phòng chống tham nhũng cụ thể, xác định rõ quyết tâm, kiện toàn tổ chức, bố trí lực lượng, định ra phương pháp, phương tiện đấu tranh, tuyệt nhiên không phải là hành động tự phát, nhất thời. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Ắt phải có chuẩn bị, kế hoạch, tổ chức, ắt phải có lãnh đạo và trung kiên”. Trên cơ sở nhận diện đúng nguyên nhân nảy sinh tham nhũng, Hồ Chí Minh đã chỉ ra đúng “phác đồ điều trị” để phòng, chống tham nhũng.
Tự phê bình và phê bình - “thang thuốc hay nhất”, “thang thuốc thánh” để phòng, chống tham nhũng
Trong tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam cũng như trong quan niệm của Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam không đơn thuần là một Đảng chính trị, thực hiện các chức năng tổ chức, lãnh đạo giai cấp mà Đảng luôn là một cơ thể sống hoàn chỉnh, có đạo đức và trí tuệ - Đảng là “đạo đức, là văn minh”. Vai trò lãnh đạo của Đảng là to lớn, tổ chức của Đảng là chặt chẽ, kỷ luật, đường lối của Đảng là sáng suốt, đúng đắn; đảng viên của Đảng là những người ưu tú nhất song không phải là Đảng không có những sai lầm, khuyết điểm. Tuy nhiên, những sai lầm, khuyết điểm của Đảng là có thể khắc phục, sửa chữa được, vì Đảng có chủ nghĩa Mác - Lênin soi đường, xác định rõ tôn chỉ mục đích là phục vụ nhân dân, đặc biệt là có phê bình và tự phê bình. Tự phê bình và phê bình giống như chiếc gương soi, như người bạn đồng hành, soi đường, chỉ lối cho mỗi cán bộ, đảng viên trong mỗi bước đi để tránh “vết xe đổ” của chính mình và của người khác. Lãnh tụ thiên tài Hồ Chí Minh đã sớm nhận ra quy luật ấy. Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định mục đích tự phê bình và phê bình là để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ, giữ gìn đoàn kết và thống nhất trong nội bộ. Hồ Chí Minh khẳng định, tự phê bình và phê bình chính là “thang thuốc hay nhất”, “thang thuốc thánh” để phòng, chống tham nhũng. Để tự phê bình và phê bình đem lại kết quả phải “khéo dùng cái vũ khí sắc bén” ấy, để không bị kẻ xấu lợi dụng vào việc công kích, nói xấu, triệt hạ nhau. Khi gặp khó khăn thì tự phê bình và phê bình để thống nhất tư tưởng, ý chí và hành động, dũng cảm vượt qua khó khăn. Khi thuận lợi thì tự phê bình và phê bình, để nhận rõ thách thức ở phía trước, không chủ quan “ngủ quên trên vòng nguyệt quế”. Khi mắc khuyết điểm, sai lầm, kể cả tội lỗi xấu xa, đê tiện nhất thì “Phê bình và tự phê bình như uống thuốc xổ. Xổ rồi thì phải uống thuốc bổ. Tháo xe đạp ra chùi cho sạch bụi, lúc lắp vào phải cho dầu mỡ, xe mới chạy được”. Tự phê bình và phê bình là một vấn đề rất nhạy cảm, đụng chạm đến từng cá nhân và tổ chức. Tâm lý của con người là thích được khen hơn bị chê. Mọi người dễ cho rằng tự nói ra khuyết điểm, tự nhận khuyết điểm nghĩa là tự thừa nhận sự non kém của mình. Điều này dễ liên lụy đến uy tín, chức tước, địa vị và thứ bậc nghề nghiệp, vì “người ta hay có lòng tự ái. Thừa nhận cái sai, cái dốt, cái kém của mình, thì sợ mất thể diện, mất uy tín, mất địa vị”. Vì vậy, Hồ Chí Minh cho rằng muốn tự phê bình và phê bình căn bệnh tham ô đòi hỏi phải có hai yếu tố đặc biệt quan trọng đó là thái độ và phương pháp đúng.
Thứ nhất, thái độ đúng là yếu tố rất quan trọng giúp ngăn ngừa tham nhũng ngay khi nó còn trong trứng nước, thể hiện ở tinh thần cầu thị, lắng nghe, thấu hiểu, cảm thông chia sẻ, dũng cảm, kiên trì đấu tranh trên tình đồng chí thương yêu, giúp đỡ nhau. Nếu thái độ không đúng dễ dẫn đến bao che, giấu giếm khuyết điểm, dễ gây hiềm khích, mất đoàn kết, mất niềm tin đối với đồng chí mình. Nó càng đặc biệt nguy hại khi tự phê bình và phê bình hành vi tham ô bị lợi dụng làm bình phong cho ai đó vì mưu đồ cá nhân, vì lòng hẹp hòi, đố kỵ, hòng hạ bệ đồng chí mình gây mất đoàn kết nội bộ, làm hoang mang mất niềm tin trong nhân dân. Do đó, tự phê bình và phê bình “phải ráo riết, và phải lấy lòng thân ái, lấy lòng thành thật, mà ráo riết phê bình đồng chí mình. Hai việc đó phải đi đôi với nhau”. Hồ Chí Minh cũng lưu ý, thái độ khoan dung, nhân ái cần phù hợp với từng đối tượng cụ thể, với tính chất mức độ của khuyết điểm, sai lầm, tuyệt đối không được cào bằng; phải kiên quyết xét rõ công - tội, không thiên tư, thiên vị. Với những cán bộ, đảng viên biết ăn năn, hối cải, Đảng cần khoan dung, độ lượng tạo cơ hội cho họ sửa chữa khuyết điểm, sai lầm. Quan điểm trên không chỉ thể hiện bản chất nhân văn của Đảng Cộng sản Việt Nam mà còn khơi gợi ý thức tự giác ở mỗi cán bộ, đảng viên trong tu dưỡng, rèn luyện bản thân.
Thứ hai, phương pháp đúng - đây là vấn đề mấu chốt nhất cần phải có. Theo Hồ Chí Minh, phương pháp hiệu quả nhất đó là phải được duy trì thường xuyên và trên cơ sở đề cao trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên. Trong bài “Tự phê bình”, Hồ Chí Minh căn dặn: “Ngày nào cũng phải ăn cho khỏi đói, rửa mặt cho khỏi bẩn, thì ngày nào cũng phải tự phê bình cho khỏi sai lầm”. Trong sinh hoạt, mỗi cán bộ, đảng viên phải chỉ ra cho đồng chí mình những tác hại, nguyên nhân dẫn đến khuyết điểm sai lầm. Đồng thời, phải thường xuyên quan tâm hướng dẫn, động viên, kiểm tra, theo dõi quá trình sửa chữa khuyết điểm, sai lầm của đồng chí, đồng nghiệp. Hồ Chí Minh đặc biệt phê phán các biểu hiện hình thức, thiếu nhất quán “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, “nói không đi đôi với làm”, “nói một đàng làm một nẻo”, nặng về hô hào khẩu hiệu, bệnh thành tích… sẽ làm giảm hiệu quả, đôi khi phản tác dụng của việc tự phê bình và phê bình. Để đề cao trách nhiệm nêu gương theo Người cần phải chú trọng nêu gương trong Đảng trước, nhất là trách nhiệm nêu gương của cán bộ cao cấp. Người chỉ rõ: “Muốn tự phê bình và phê bình có kết quả, cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cao cấp phải làm gương trước”. Bởi vì, “uy tín của người lãnh đạo là ở chỗ mạnh dạn thực hiện tự phê bình và phê bình, biết học hỏi quần chúng, sửa chữa khuyết điểm để đưa công việc ngày càng tiến bộ chứ không phải ở chỗ giấu giếm khuyết điểm và e sợ quần chúng phê bình”.
Việc tự phê bình và phê bình hành vi tham ô phải gắn liền với những điều kiện cụ thể, phù hợp với đặc điểm, hoàn cảnh của từng cá nhân trên từng cương vị công tác. Ở mỗi đơn vị, trong từng hoàn cảnh, nội dung, cách thức tiến hành phải phù hợp với điều kiện khi thực hiện tự phê bình và phê bình. Những cán bộ, đảng viên có tinh thần cầu thị sẽ thấy việc tự phê bình và phê bình là thang thuốc hay để trị bệnh tham ô. Còn đối với những trường hợp suy thoái, nhất là tha hóa, biến chất thì việc phê bình không còn nghĩa lý gì. Do vậy, chỉ phê bình thôi chưa đủ mà cần kết hợp với các biện pháp khác, nhất là việc kiểm soát quyền lực.
Kiểm soát quyền lực - “thanh bảo kiếm nhiệm màu” phòng, chống tham nhũng
Trong điều kiện đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm vấn đề kiểm soát quyền lực khi trao cho cán bộ, đảng viên. Bởi vì, “Cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”. Do đó, nếu tổ chức việc kiểm tra cho chu đáo thì cũng như có ngọn đèn “pha” bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm và khuyết điểm, bao nhiêu cán bộ chúng ta đều thấy rõ. Có thể nói rằng: chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra”. Theo Hồ Chí Minh, muốn kiểm soát quyền lực phải có hai điều: “Một là việc kiểm soát phải có hệ thống, phải thường xuyên làm. Hai là, người đi kiểm soát phải là những người rất có uy tín”.
Để kiểm soát quyền lực thì việc lựa chọn cán bộ phụ trách kiểm tra, giám sát, kiểm soát là yêu cầu quan trọng bậc nhất. Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải chú trọng lựa chọn những người biết đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết, phải có tinh thần “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” và “ít lòng tham muốn vật chất”, không vì cảnh nghèo mà thay lòng đổi dạ sinh ra bất liêm. Vì lợi ích của Đảng tức là lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc. Theo Người, đây chính là căn cứ quan trọng bậc nhất trong đánh giá, lựa chọn cán bộ đảm trách công tác kiểm tra, giám sát. Đồng thời, phải lựa chọn những người có đủ uy tín, kinh nghiệm, năng lực trình độ để lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực. Không phải gặp việc gì, gặp ai cũng có thể phái đi kiểm tra, giám sát, kiểm soát được. Do đó, Hồ Chí Minh cho rằng: cán bộ phụ trách công tác kiểm tra trước hết phải là người lãnh đạo và “người lãnh đạo cần phải có một nhóm cán bộ nhiều kinh nghiệm và giàu năng lực để giúp mình đi kiểm tra”. Trong công tác kiểm tra, người lãnh đạo cần chú trọng xây dựng một đội ngũ cán bộ thực hiện nhiệm vụ kiểm tra và phải chịu trách nhiệm đối với công tác kiểm tra của mình. Đồng thời, Hồ Chí Minh phê phán rất nghiêm khắc những người lãnh đạo, cán bộ kiệm tra mắc bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy: “đầy túi quần thông cáo, đầy túi áo chỉ thị” mà công việc vẫn không chạy”.
Song song với việc lựa chọn cán bộ, để đảm bảo công tác kiểm tra, kiểm soát quyền lực thực sự là “thanh bảo kiếm nhiệm màu” trong phòng, chống tham nhũng đòi hỏi phải có phương pháp đúng, nghĩa là kiểm tra, kiểm soát phải có hệ thống và sát thực tiễn. Mục đích của việc kiểm tra, kiểm soát quyền lực nói chung, trong đấu tranh phòng chống tham nhũng nói riêng là “để giúp họ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm”, tuyệt nhiên không phải là hành động “bới bèo ra bọ, quét nhà ra rác” rồi tìm cách hạ uy tín, hạ bệ nhau. Đối tượng kiểm tra theo Hồ Chí Minh bao gồm: Kiểm tra nhân viên công tác và kiểm tra việc chấp hành thực tế công tác - mấu chốt của toàn bộ công tác, của toàn bộ chính sách hiện nay là ở đấy, vẫn ở đấy và chỉ có ở đấy. Trong quá trình kiểm tra không nên chỉ căn cứ vào các báo cáo, mà phải sâu sát thực tiễn đi đến tận nơi. Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, hiệu quả công việc chính là thước đo đánh giá kết quả sử dụng quyền lực ủy thác. Thông qua công tác kiểm tra để xem những nghị quyết đó đã thực hành được đến đâu, có những sự khó khăn trở ngại gì, nhân dân có ra sức tham gia hay không. Trên cơ sở đó vừa phát huy ưu điểm, phát hiện cái mới, cái tốt hơn nhằm điều chỉnh phương thức lãnh đạo sát hợp hơn; đồng thời, ngăn ngừa, khắc phục những biểu hiện quan liêu, xa dân, không sâu sát thực tiễn trong tác phong công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.
Ngoài ra, để kiểm tra, kiểm soát quyền lực không chỉ dựa vào lực lượng chuyên trách mà quan trọng nhất cần phải dựa vào tai mắt của nhân dân. Trên thực tế, hầu hết các vụ việc tham nhũng đều do nhân dân phát hiện và tố giác. Muốn phát huy vai trò của nhân dân trong kiểm tra, kiểm soát quyền lực, theo Hồ Chí Minh, Đảng phải giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân; phải công khai mọi hoạt động của Nhà nước; phải hình thành các thiết chế dân chủ để mọi người dân “biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”. Đây chính là cơ sở để người dân tham gia kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước, của mọi cán bộ, đảng viên trong Nhà nước. Trên cơ sở đó, các hành vi tham nhũng dù tinh vi đến đâu cũng không thể che mắt nhân dân. Cán bộ phụ trách công tác kiểm tra phải thường xuyên gần gũi dân, lắng nghe dân, bảo vệ dân và học hỏi dân để phát hiện tiêu cực, kịp thời ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng.
Trên cơ sở kết quả kiểm tra cần phải công khai trừng trị cán bộ, đảng viên đã tha hóa, biến chất, suy thoái để răn đe, cảnh tỉnh và nêu gương “tự chỉnh đốn” trước quần chúng. Theo Hồ Chí Minh, Đảng không dũng cảm cắt bỏ ung nhọt, sâu bệnh sẽ rất khó để phòng ngừa tham nhũng. Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh bác đơn xin ân giảm án tử hình của Đại tá, Cục trưởng Cục Quân nhu Trần Dụ Châu được coi là điển hình của tinh thần “thượng tôn” pháp luật, đức trị kết hợp với pháp trị - thực sự có sức mạnh răn đe đối với những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, tha hóa quyền lực vào thời điểm lúc bấy giờ.
Giáo dục đạo đức công dân – “chất đề kháng hữu hiệu” để phòng, chống tham nhũng
Đạo đức công dân là những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh nhận thức, hành vi của công dân trong quan hệ với Nhà nước, nó được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống, sức mạnh của dư luận xã hội và pháp luật. Hồ Chí Minh coi giáo dục đạo đức công dân là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách để ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng. Bởi vì, đạo đức công dân chính là nền tảng tinh thần định hướng, dẫn dắt công dân hướng tới những giá trị dân chủ mới, đề kháng với những biểu hiện phi dân chủ, ngăn chặn, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực trong bộ máy nhà nước, nhất là tệ quan liêu, tham nhũng. Nó được thể hiện ở hai khía cạnh: tạo ra môi trường chính trị - xã hội trong sạch, lành mạnh và tạo ra sức đề kháng từ bên trong để ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng.
Xét ở khía cạnh thứ nhất, bản chất của đạo đức công dân chính là việc đề cao trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân với nhà nước. Với tư cách là người chủ quyền lực, khi đạo đức công dân được nâng cao họ sẽ sáng suốt lựa chọn những đại biểu ưu tú để “ủy thác quyền lực”, tránh hiện tượng trao nhầm quyền lực dẫn đến các hành vi tham nhũng và các căn bệnh xấu xa, hư hỏng khác. Đồng thời, nó tạo ra dư luận xã hội tích cực mà ở đó các hành vi tham nhũng bị phát hiện, theo dõi, lên án và phê phán kích liệt vì tham nhũng là ăn cắp, là “tội lỗi đê tiện nhất”. Hồ Chí Minh khẳng định: “...nhân dân lại có nhiệm vụ giúp đỡ Chính phủ, theo đúng kỷ luật của Chính phủ và làm đúng chính sách của Chính phủ, để Chính phủ làm tròn phận sự mà nhân dân đã giao phó cho”. Mặt khác, trong xã hội dân chủ, chuẩn mực đạo đức công dân quan trọng nhất đó là “tuân theo pháp luật nhà nước”, thể hiện ở tinh thần “thượng tôn pháp luật”, không ai được phép đứng trên hoặc đứng ngoài pháp luật. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”. Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng thúc đẩy mọi công dân tham gia đấu tranh phòng chống tham nhũng. Theo đó, kể từ nay, bất cứ ai, dù giữ cương vị gì trong nhà nước, nếu phạm phải tham nhũng thì đều bị nghiêm trị.
Xét ở khía cạnh thứ hai, cán bộ, đảng viên của Đảng là người thực hiện chức năng kép, vừa là người thừa hành quyền lực ủy thác của nhân dân vừa là những “công dân đứng đắn”, “công dân tốt”, “công dân kiểu mẫu”. Theo Hồ Chí Minh: sự tha hóa đạo đức của đối tượng này thể hiện rõ rằng họ “Chẳng những không làm tròn nhiệm vụ của người cán bộ, mà còn không làm tròn bổn phận của người công dân; đã đặt lợi ích riêng của cá nhân lên trên lợi ích chung của Nhà nước”. Người luôn căn dặn cán bộ, đảng viên toàn Đảng: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. Do đó, việc tu dưỡng đạo đức công dân, biểu hiện cao nhất ở tuân thủ tính nghiêm minh của pháp luật chính là chất đề kháng hữu hiệu giúp cán bộ, đảng viên “không muốn tham nhũng” và “không dám tham nhũng”. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đề cao trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Mọi hành vi bất liêm sẽ dễ dàng bị phát hiện, bị tố giác nếu cán bộ, đảng viên không đề cao nghĩa vụ và trách nhiệm công dân của mình. Trách nhiệm nêu gương của những “công dân kiểu mẫu” không chỉ thể hiện trong công tác mà còn biểu hiện sinh động trong sinh hoạt hàng ngày ở gia đình và nơi cư trú. Dự luận cũng đồng tình theo quan điểm: “Bộ mặt đạo đức thực sự của con người biểu hiện trong cách sống ở gia đình. Người ích kỷ nhỏ nhen và độc đoán trong gia đình không thể là một công dân chân chính”. Càng gần dân, cọ sát với dân càng học hỏi được ở nhân dân nhiều điều hay, nhiều kiến thức của cuộc sống bổ ích và chắc chắn sẽ càng vì dân, tránh xa các hành vi tham nhũng.
Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước đạt được những thành tựu to lớn, “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay”. Tuy nhiên, sự nghiệp đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức không nhỏ. Tình trạng “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống”, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” từ chỗ chỉ là “một bộ phận” đã lây lan sang “một bộ phận không nhỏ” cán bộ, đảng viên; làm sói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng…
Thực tế, trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, “đã thi hành kỷ luật 2209 cán bộ, đảng viên có liên quan đến tham nhũng; trong đó có 113 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý cả đương chức và nghỉ hưu”. Quyết tâm của Đảng ta trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng được thể hiện rõ trong lời phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Chính phủ với địa phương: “Chúng ta rất nhân văn, nhân đạo, nhân ái, nhân tình; không thích thú gì khi phải kỷ luật đồng chí, đồng đội của mình, trái lại rất khổ tâm, đau xót. Nhưng vì sự tiến bộ chung, vì để mong nhiều người không mắc sai phạm, chúng ta phải kỷ luật; kỷ luật một vài người để cứu muôn người”.
Quan điểm “kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng” được thể hiện rõ trong phát biểu của người đứng đầu Đảng: “Tinh thần là phải tiếp tục làm, làm quyết liệt, làm tập trung, dứt điểm những việc đang dở dang, những khâu còn yếu, những địa bàn trọng điểm. Toàn Đảng, toàn Dân quyết tâm. Không có chuyện dừng lại hay ngập ngừng. Mà cũng không thể ngừng lại được. Đây là yêu cầu của cách mạng, yêu cầu, tình cảm của Nhân dân, mong muốn của Đảng ta. Phải khẳng định quyết tâm ấy. Còn trong chúng ta có ai dao động, ngập ngừng thì tự giác báo cáo, xin tự thôi đi!”.
Lịch sử nhân loại đã có hàng nghìn năm bàn đến nạn tham nhũng dưới các chế độ nhà nước, với nhiều tên gọi khác nhau. Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, cha ông ta còn lưu truyền một lễ hội quan trọng thường được tổ chức dịp đầu năm - Lễ hội “Thề không tham nhũng”. Điều đó nói lên rằng, cũng giống như phần còn lại của thế giới, nhân dân Việt Nam không bao giờ chấp nhận hành vi tham nhũng trong đời sống xã hội. Đồng thời, cũng cho thấy tính chất khó khăn, phức tạp, lâu dài, gian khổ của cuộc đấu tranh ấy. Bằng những tư tưởng đúng đắn, sáng tạo, độc đáo, tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống tham nhũng đã, đang và mãi mãi là kim chỉ nam định hướng cho toàn Đảng và toàn dân tộc trong cuộc “chiến đấu khổng lồ” nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, để Đảng ta thực sự xứng đáng với sứ mệnh thiêng liêng, cao cả và vĩ đại - là “người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân”./.
ST


KHẮC PHỤC NHỮNG BIỂU HIỆN LỆCH LẠC TRONG HỌC TẬP, NGHIÊN CỨU, VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng đã chỉ ra một trong 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay, đó là: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”.

Quán triệt và triển khai thực hiện chủ trương của Đảng, việc học tập, nghiên cứu và vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền nếp trong tổ chức thực hiện và đạt nhiều kết quả quan trọng, là cơ sở để thực hiện có hiệu quả công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Tuy nhiên, trong quá trình học tập, nghiên cứu và vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn một số biểu hiện nhận thức lệch lạc, thiếu đúng đắn về vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt này. Nguyên nhân là do một bộ phận cán bộ, đảng viên ngại học, lười học, lười nghiên cứu; trong nghiên cứu không có phương pháp khoa học, hoặc không nghiên cứu thấu đáo, nghiên cứu lý luận thiếu tính thực tiễn, minh họa đường lối, quan điểm nhưng chưa cắt nghĩa đủ độ sâu sắc với vấn đề thực tiễn đặt ra, dẫn tới hiểu và vận dụng không đúng tư tưởng Hồ Chí Minh. Loại ý kiến này-hoặc vô tình hay hữu ý-đều có thể tiếp tay cho các quan điểm thù địch, sai trái, cơ hội chính trị lợi dụng nhằm chống phá Đảng.
Để học tập, nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn cách mạng, thích ứng với tình hình mới và đạt hiệu quả thiết thực, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, cần khắc phục những sai lệch sau:
Thứ nhất, khắc phục tình trạng ngại học, lười học lý luận chính trị nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng; xem nhẹ lý luận, tuyệt đối hóa vai trò của kinh nghiệm.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những biểu hiện của bệnh ngại học, lười học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên, đó là: “Chỉ biết vùi đầu suốt ngày vào công tác sự vụ, không nhận thấy sự quan trọng của lý luận, cho nên còn có hiện tượng xem thường học tập hoặc là không kiên quyết tìm biện pháp để điều hòa công tác và học tập. Hoặc là sau một thời kỳ học tập tại chức có cán bộ phàn nàn trước những khó khăn của việc đọc tài liệu, khó khăn đào sâu suy nghĩ”.
Nhận thấy những nguy hại của căn bệnh lười học, ngại học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên, Đảng ta cũng đã chỉ rõ, lười học tập, lười suy nghĩ, không thường xuyên tiếp nhận những thông tin mới cũng là biểu hiện của sự suy thoái. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng đã chỉ ra một trong 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay, đó là: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Vì vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh, phải “khắc phục tình trạng lười học, ngại học lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên”.
Thứ hai, khắc phục biểu hiện tách rời lý luận với thực tiễn; không thấy sự thống nhất giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin.
Nghiên cứu lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta thấy rõ tư tưởng của Người có nguồn gốc lý luận chủ yếu từ Chủ nghĩa Mác-Lênin. Ngày 12-7-1946, trả lời phóng viên trong cuộc họp báo tại biệt thự Roayan Môngxô, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác”. Hồ Chí Minh không bao giờ đối lập hoặc “tách mình” ra khỏi quan điểm, lập trường tư tưởng C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin để đưa ra các quan điểm riêng, đúng như Người đã nói: “Cố gắng vận dụng những nguyên lý phổ biến của Chủ nghĩa Mác-Lênin trong hoàn cảnh cụ thể của nước mình”.
Chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc lý luận chủ yếu của sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, bởi vì Chủ nghĩa Mác-Lênin đã cung cấp cho Hồ Chí Minh thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học, cách mạng, đặc biệt là những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời, đặt nền tảng vững chắc cho những vấn đề có tính nguyên tắc về lập trường quan điểm và phương pháp chỉ đạo cách mạng. Những phạm trù cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh nằm trong những phạm trù cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Trên cơ sở nắm vững và quán triệt sâu sắc lập trường, quan điểm và phương pháp biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã tiếp thu những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây để hình thành tư tưởng của mình.
Bản chất của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là khoa học và cách mạng, “tuy hai mà một, tuy một mà hai”. Vì thế, những quan điểm tách rời Chủ nghĩa Mác-Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, không nhận thức được sự thống nhất giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin, hoặc đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh mà phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin đều sai trái, có dụng ý xấu.
Thứ ba, khắc phục khuynh hướng cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh “không phải là một hệ thống” mà chỉ là những quan điểm chỉ đạo thực tiễn của Người.
Cần phải khẳng định rằng “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam”, nghĩa là bao quát nhiều lĩnh vực, nhưng không phải tất cả mọi vấn đề đều gắn với tư tưởng Hồ Chí Minh. Ở đây cần hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh như là những tư tưởng chính trị theo nghĩa rộng, gồm tư tưởng về mục tiêu cách mạng: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; về mục đích cách mạng: Giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về lực lượng cách mạng: Toàn dân tộc lấy công-nông làm gốc; về tổ chức cách mạng: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận đoàn kết toàn dân; về phương pháp cách mạng: Động viên toàn dân, tổ chức toàn dân… Do đó, yêu cầu phương pháp luận khi nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trên bình diện tổng thể hay từng bộ phận là phải luôn luôn quán triệt mối liên hệ chặt chẽ giữa các yếu tố, các bộ phận khác nhau trong sự gắn kết tất yếu của hệ thống tư tưởng đó quanh hạt nhân cốt lõi là tư tưởng độc lập, tự do.
Nhận thức như vậy trong nghiên cứu và vận dụng sẽ tránh được các khuynh hướng sai lầm và xuyên tạc cho rằng không có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh mà chỉ một vài phát biểu ngắn gọn hoặc quan điểm chỉ đạo thực tiễn của Người; hoặc cái gì cũng quy về tư tưởng Hồ Chí Minh mà không hiểu tư tưởng của Người chỉ gắn với những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam.
Thứ tư, khắc phục khuynh hướng đơn giản hóa, tầm thường hóa hoặc đi sâu vào tầm chương trích cú, xa rời thực tiễn cách mạng.
Hồ Chí Minh là một nhà văn hóa lớn đạt đến sự hòa quyện nhuần nhuyễn lý trí với tình cảm, sự gắn kết rất tự nhiên giữa tâm hồn nhạy cảm của một nhà thơ, với bản lĩnh tinh nhạy của một chính khách và sự khoan hòa nhân ái của một lãnh tụ nhân dân. Trong ứng xử cũng như trong cách viết, cách trả lời nhà báo nước ngoài, cách diễn đạt những mệnh đề lý luận của Hồ Chí Minh có sự tinh tế nhuần nhuyễn của những đường nét triết lý phương Đông và văn hóa phương Tây, vừa dân tộc, vừa quốc tế. Đặc điểm nổi bật ấy tạo ra phong thái rất độc đáo của Hồ Chí Minh không trộn lẫn vào đâu được. Nhờ vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh đến với mọi tầng lớp nhân dân một cách dễ dàng vì nó gần gũi với cách cảm, cách nghĩ của họ, vừa rất truyền thống, vừa rất hiện đại.
Khi nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh thì vấn đề quan trọng là ở chỗ nhận ra đâu là nét đích thực của tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện qua việc làm, qua cách sống, qua lời nói, qua bài viết, qua sự nghiệp cách mạng của Người. Đừng cố tìm và không nên tìm ở Hồ Chí Minh cái gì cũng đều có sẵn, vì như vậy cũng vô hình trung là xuyên tạc, hạ thấp tư tưởng Hồ Chí Minh.
Thứ năm, đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa giáo điều; đồng thời bảo vệ, phát triển và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Sức sống mãnh liệt của Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng như tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ ở những nguyên lý, những quan điểm do các lãnh tụ nêu lên mà còn ở sự vận dụng sáng tạo, bảo vệ và phát triển của các thế hệ tiếp theo. Chính sự vận dụng sáng tạo, bảo vệ và phát triển đó làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trường tồn và ngày càng có sức mạnh to lớn.
Có thể thấy rằng, Hồ Chí Minh là một nhà lý luận-thực tiễn. Người xây dựng lý luận, vạch cương lĩnh, đường lối, chủ trương cách mạng và trực tiếp tổ chức, lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Và từ thực tiễn lãnh đạo cách mạng, Người tổng kết, bổ sung để hoàn chỉnh và phát triển, cho nên tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh luôn sáng tạo, không lạc hậu, giáo điều. Nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ căn cứ vào các tác phẩm, bài viết mà cần coi trọng hoạt động thực tiễn của Người, thực tiễn cách mạng dưới sự tổ chức và lãnh đạo của Đảng do Người đứng đầu.
Hơn nữa, Hồ Chí Minh có một phong cách nói và viết rất ngắn gọn không theo lối viết kiểu hàn lâm. Vì vậy, chỉ căn cứ vào bài viết, bài nói, tác phẩm của Người là chưa đầy đủ, mà phải thông qua quá trình hoạt động thực tiễn của Người. Vấn đề đặt ra là để phù hợp với chính những lời nói và việc làm của C.Mác, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh, trong nghiên cứu khoa học cũng như vận dụng vào hoạt động thực tiễn, chúng ta cần chú trọng giải quyết đúng đắn các mối quan hệ: Tuyệt đối trung thành, vận dụng sáng tạo, bảo vệ, phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội và xét lại, chủ nghĩa giáo điều.
Tư tưởng Hồ Chí Minh đã và đang soi đường cho Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trên con đường xây dựng đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Vì vậy, học tập, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh để nâng cao trình độ tư duy lý luận, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao đạo đức cách mạng, năng lực công tác, thực hiện tốt các nhiệm vụ cách mạng của Đảng và Nhà nước ta trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng. Điều đó đặt ra yêu cầu mới là tăng cường nghiên cứu, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh nhất thiết phải nắm vững bản chất khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho tư tưởng đó phù hợp, gắn bó sống động với công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước trong tình hình mới.