Thứ Năm, 7 tháng 12, 2023

Vẫn nóng bỏng tính thời sự tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”

        Tháng 10-1947, tại Việt Bắc với bút danh XYZ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hoàn thành tác phẩm: Sửa đổi lối làm việc. Mục đích của tác phẩm là: Nâng cao trình độ lý luận, tư tưởng và tình cảm cách mạng, phẩm chất đạo đức, tác phong công tác của người cán bộ, năng lực lãnh đạo đáp ứng các yêu cầu mới của cách mạng. Những nội dung của tác phẩm là những căn dặn thiết thực của Người đối với mỗi đảng viên, cán bộ ngày nay.

Về công tác cán bộ

Hồ Chí Minh khẳng định: Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém. Theo Người: Có cán bộ tốt, việc gì cũng xongNgay từ khi chính quyền cách mạng nhân dân được thành lập, Hồ Chí Minh đã mời những nhân sĩ, học giả, trí thức của xã hội cũ ra làm việc và tham gia vào công tác chính quyền. Tất cả những ai có chuyên môn, cần dùng vào lĩnh vực nào nếu có nhiệt tâm đều được trọng dụng. Đồng thời với đào tạo và rèn luyện đội ngũ cán bộ cần kiệm liêm chính, chí công vô tư làm công bộc cho dân, Hồ Chí Minh kêu gọi các ngành, các cấp và địa phương tìm và tiến cử nhân tài kiến quốc. Người nhắc nhở: Trong các ngành hoạt động của chúng ta, nào chính trị, kinh tế, nào quân sự, văn hóa, chắc không thiếu những người có năng lực, có sáng kiến. Nhưng vì cách lãnh đạo của ta còn kém, thói quan liêu còn nồng cho nên có những người như thế cũng bị dìm xuống, không được cất nhắc. Muốn tránh khỏi sự hao phí nhân tài, chúng ta cần phải sửa chữa cách lãnh đạo. Thí dụ: Bắt buộc cán bộ trong mỗi ngành phải thiết thực báo cáo và cất nhắc nhân tài.

Đối với phẩm chất đạo đức của người cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh nêu ra 5 tiêu chí ngắn gọn, súc tích, tiêu biểu của người cán bộ đảng viên gồm: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm. Phẩm chất đạo đức trên đã thể hiện khái quát các mối quan hệ xã hội của người cán bộ, đảng viên với Tổ quốc, với nhân dân, với đoàn thể và cá nhân.

Việc chọn người và thay người cũng là một khâu quan trọng trong công tác lãnh đạo. Hồ Chí Minh chỉ rõ: Chúng ta phải có kế hoạch, chính sách đối với cán bộ già, cán bộ trẻ. Già làm được việc gì thì giao việc ấy, không thì đối đãi thỏa đáng, cán bộ trẻ có tài, đức thì phải mạnh dạn đề bạt.

Về phương pháp làm việc và kiểm soát của người cán bộ lãnh đạo

Theo Hồ Chí Minh, cần áp dụng những phương pháp sau:

Phải quyết định mọi vấn đề cho đúng. Trước khi đưa ra bất kỳ một quyết định nào, người lãnh đạo không được quan liêu mà phải căn cứ vào thực tế, nắm chắc hoàn cảnh để xem xét quyết định của mình có hợp lý không. Tiếp theo đó cần phải áp dụng hiểu biết của mình một cách năng động. Sau khi nắm rõ tình hình cần tổ chức bàn bạc một cách kịp thời và dân chủ trong tập thể lãnh đạo. Khi tập thể lãnh đạo đã hoàn toàn thống nhất ý kiến, người lãnh đạo chủ yếu cần phải có lòng tin và quyết đoán đưa ra quyết định cuối cùng.

Phải tổ chức thi hành cho đúng. Công việc khó đạt kết quả tốt nếu chỉ có một người lãnh đạo quyết định. Muốn việc tiến triển tốt và hiệu quả, người lãnh đạo cần tổ chức được lực lượng, đóng vai trò hạt nhân đoàn kết tạo nên sức mạnh thành công.

Phải tổ chức kiểm soát. Người căn dặn: Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, muốn biết các nghị quyết có được thi hành hay không, muốn biết ai ra sức làm, ai làm cho qua chuyện, chỉ có một cách là khéo kiểm soát, vì vậy người lãnh đạo phải kiểm tra, kiểm soát thường xuyên.

Về nâng cao hiểu biết cả về lý luận và thực tiễn

Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn. Bác chỉ rõ: Có kinh nghiệm mà không có lý luận cũng như một mắt sáng, một mắt mờ, lý luận cốt áp vào công việc thực tế, lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông. Người cán bộ phải ra sức học tập lý luận, đồng thời luôn luôn biết tổng kết kinh nghiệm trong công tác. Phê bình và tổng kết kinh nghiệm là quy luật phát triển của cách mạng.

Về phương pháp tuyên truyền vận động quần chúng

Người căn dặn: Trước hết là nói, viết sao cho có hiệu quả để ai cũng dễ nghe, dễ hiểu. Đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên gắn với việc kiểm điểm, đánh giá và biện pháp giải quyết vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng đảng của các cấp.

Theo Hồ Chí Minh, sửa đổi lối làm việc sẽ giúp phát huy ưu điểm, khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, yếu kém trong lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn của đảng cầm quyền. Đội ngũ cán bộ, đảng viên làm việc đúng hơn, khéo hơn, đạt hiệu quả cao hơn.

70 năm đã trôi qua nhưng tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” vẫn nóng hổi tính thời sự. Chúng ta đang tích cực thực hiện 2 nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII), Nghị quyết Trung ương 6, khóa XII với nhiều nội dung về công tác tổ chức, cán bộ, đảng viên. Những nội dung trong tác phẩm của Bác là căn cứ để Đảng ta có những quyết sách đúng đắn, phù hợp, xây dựng Đảng vững mạnh, tiếp tục đưa nước ta ngày một phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh.

Sưu tầm

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỮ "TRÍ"

        Trong tác phẩm ''Sửa đổi lối làm việc'' của Bác Hồ được Người viết để dùng làm tài liệu huấn luyện cán bộ, Đảng viên, Từ tháng 10 – 1947, tức là từ 73 năm về trước, ta tiếp nhận được Tư tưởng Hồ Chí Minh về chữ “Trí”. 

        “Trí vì không có việc tư túi nó làm mù quáng cho nên đầu óc trong sạch, sáng suốt. Dễ hiểu lý luận. Dễ tìm phương hướng. Biết xem người, biết xét việc. Vì vậy mà biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho đoàn thể, biết vì đoàn thể mà cất nhắc người tốt, đề phòng người gian''. 

        Đây là cách tiếp cận thật sự mới mẻ đến tận gốc rễ, cũng tức là từ thực tiễn hoạt động và giao tiếp ứng xử để nhận biết cái trí của cán bộ đảng viên, để mỗi cán bộ đảng viên học tập rèn luyện cái trí cho chính mình. Theo Hồ Chí Minh, trí không chỉ là trí thức, hiểu biết sách vở lý luận mà là trí tuệ với sự sáng suốt. Sự sáng suốt gắn liền với sự trong sạch. Do vậy trí và đức gắn liền làm một; sáng suốt là không mù quáng, để không mù quáng thì phải trong sạch tức là không đục - bẩn. Muốn vậy thì phải ''không có việc tư túi'', tức là không để cho suy nghĩ và hành động ứng xử của mình bị chi phối bởi những tính toán cá nhân nhằm chiếm đoạt của công. 

        ''Tư túi'' theo Từ điển tiếng Việt là một khẩu ngữ, có nghĩa là ''Lấy của công làm của riêng một cách lén lút''. Khi đã ''tư túi”; thì đầu óc sẽ bị vẩn đục, không trong sạch, do vậy không còn sáng suốt nữa và vì thế sẽ không ''Dễ hiểu lý luận'', ''Dễ tìm phương hướng. Biết xem người, biết xét việc làm việc có lợi, tránh việc có hại… cất nhắc người tốt, để phòng kẻ gian”. Đó chính là những công việc gắn liền với chức trách của mỗi cán bộ Đảng viên: bàn luận, hoạch định chủ trương đường lối, tổ chức và lãnh đạo quần chúng thực hiện, phát triển lực lượng đội ngũ... 

        Trí như vậy là từ học tập hiểu biết đến hành động, quan hệ với người với việc, với đồng chí, đồng bào, với người tốt và với cả kẻ gian, kẻ thù địch. Trí cũng là ''chí công vô tư”, trước sau như một đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc, của nhân dân lên trên hết, cũng tức là ''Không có việc tư túi”. 

        “Trí” trong tác phẩm ''Sửa đổi lối làm việc'' của Hồ Chí Minh là một trong năm ''tính tốt là đạo đức cách mạng của cán bộ đảng viên Nhân - Nghĩa - Trí - Dũng - Liêm; Trí cũng là Liêm vì không có việc “tư túi” trí cũng là dũng vì "biết làm việc có lợi; tránh việc có hại cho đoàn thể''' trí đạt trên nền tảng của lòng nhân nghĩa. Vì theo lời Bác thì người hội viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết đoàn thể, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. Mình đã chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ ngày càng ít, mà những tính tốt như sau, ngày càng thêm''. 

        Chủ tịch Hồ Chí Minh khuyên bảo, giáo dục cán bộ đảng viên về chữ Trí, chữ Nhân, chữ Nghĩa, chữ Dũng, chữ Liêm; hơn thế chính Người đã tự mình không ngừng học tập rèn luyện từ thuở thiếu thốn cho đến lúc đi xa sau khi đã trọn vẹn 79 mùa xuân./.

Sợ dòng họ mình "lép vế" (?)

        Học xong trung cấp nông nghiệp, Mạnh chỉ có nguyện vọng về làm việc tại quê nhà. Quyết định của chàng trai thật đáng quý, bởi ở miền quê này, các thanh niên trưởng thành đều tìm cách “tung cánh bay xa”, những ngày thường ở quê chỉ toàn người già, trẻ nhỏ.

Lâu nay, việc tìm người làm cán bộ thôn thật khó, nguồn chủ yếu là người đã nghỉ hưu. Vì vậy, việc Mạnh học xong, quyết định trở về quê hương làm ăn khiến nhiều đồng chí cán bộ thôn rất mừng.

Về quê, Mạnh được bầu vào Ban Chấp hành chi đoàn thôn. Khi Bí thư chi đoàn đi xuất khẩu lao động ở Nhật Bản thì Mạnh lại được bầu làm thủ lĩnh chi đoàn. Với kỹ năng “tay trái” học được ở trường, nhất là việc tổ chức các phong trào hoạt động của tuổi trẻ, Mạnh tiến hành củng cố chi đoàn về tổ chức và đẩy mạnh các hoạt động. Chưa đầy 6 tháng, từ trạng thái “ngủ quên”, chi đoàn đã bừng tỉnh với nhiều hoạt động phong phú, bổ ích. Việc chung-việc riêng, hoạt động phong trào và tư duy kinh tế nông nghiệp của Mạnh đều rất nổi. Những ai có góc nhìn tích cực thì đều tin tưởng, ủng hộ, khích lệ Mạnh.

Những tưởng từ “bó đũa” đã chọn được “cột cờ”! Nhưng không, đã mấy lần chi ủy, chi bộ họp về việc kết nạp Mạnh vào Đảng và chọn làm nguồn trưởng thôn (thay thế người đương nhiệm tuổi đã cao), mà chẳng lần nào Mạnh được quá bán, chẳng lần nào thành công. Trong các cuộc họp đó, những ý kiến ủng hộ Mạnh chỉ là số ít, còn những ý kiến ngược lại thì áp đảo với đủ lý do: Rằng, mới chỉ có bề nổi chứ chưa có chiều sâu; rằng, có nhiệt tình nhưng còn thiếu chín chắn; rằng, để làm được trưởng thôn thì cần phải học hỏi, tích lũy nhiều, nhiều nữa...

Điều dễ nhận ra là những ý kiến không ủng hộ Mạnh đều của các đảng viên thuộc một dòng họ lớn trong thôn (chiếm hơn 2/3 đảng số chi bộ). Thực tế những đảng viên của dòng họ này không đồng ý kết nạp Mạnh vào Đảng và chọn làm nguồn trưởng thôn chỉ đơn giản vì cậu Bí thư chi đoàn không có họ với mình. Những đảng viên có họ số đông này đã rỉ tai nhau không ủng hộ Mạnh, thậm chí khi họp dòng họ còn đưa ra bàn: Cố gắng chờ một người của dòng họ đang phiêu bạt làm ăn nơi xa trở về để làm trưởng thôn kiêm bí thư chi bộ. Họ mình to nhất làng thì không thể để người của dòng họ khác làm lãnh đạo, khiến họ mình bị "lép vế" (?).

Tư tưởng ích kỷ tiểu nông và ứng xử không vì tập thể, không khách quan như trên là xa rời văn hóa Đảng, gây mất đoàn kết, là biểu hiện của tính cục bộ. Ở góc độ khác, đó còn là cách nhìn phiến diện, tiêu cực, làm cho những người trẻ mất động lực phấn đấu, gây hậu quả tai hại cho cả tập thể và cá nhân, nhất là ảnh hưởng xấu đến công tác xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, về công tác tạo nguồn, xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở. Điều hết sức nguy hại nữa là những tư tưởng, hành động tiêu cực nêu trên chính là cái cớ để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng, từ đó thổi phồng, kích động nhằm chống phá Đảng ta, chế độ ta, gây "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.

Do đó, mỗi đảng viên đều phải nêu cao tính Đảng, thực hiện đúng những nguyên tắc trong sinh hoạt Đảng, bảo đảm nhìn nhận và giải quyết vấn đề thật công tâm, khách quan, vì sự phát triển của tập thể-như thế mới là người văn minh, tiến bộ. Đặc biệt, đảng viên phải thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình, không tham gia những cuộc họp họ tộc can thiệp vào công việc của chi ủy, chi bộ và của chính quyền các cấp mà nội dung trái với cả pháp luật và đạo lý; đồng thời lựa lời khuyên giải, góp ý, thuyết phục những người thân quen bỏ tư tưởng, suy nghĩ tiêu cực, thiển cận, cục bộ.

Sưu tầm

Dựng chuyện "bưng bít thông tin"

“Giả đui để điêu” chính là bản chất của những thế lực chống đối, cố tình phớt lờ sự thật. Đối với Hà Nội, những thành phần chống phá cách mạng đang áp dụng chiêu thức này để trắng trợn quy chụp: “Hệ thống chính trị Hà Nội đang cố bưng bít khi để xảy ra những sai phạm nghiêm trọng”. Mới đây nhất, lợi dụng việc Hà Nội đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng, nhất là sau vụ cháy chung cư mini ở quận Thanh Xuân, họ lại ra sức thêu dệt, đặt điều.

Dễ nhận rõ, từ một vụ cháy thương tâm, các thế lực chống phá đã tìm mọi thủ đoạn, chiêu trò tấn công vào tâm lý người dân hòng gây hoang mang, bức xúc trong dư luận. Họ đặt điều rằng: Hà Nội có phải thành phố đáng sống? Tại sao giữa lòng Thủ đô vẫn tồn tại những chung cư mini ổ chuột? Nguy hiểm hơn, bằng thủ đoạn xảo quyệt, các lực lượng thù địch chủ ý cắt ghép, nhào nặn những thông tin với mục đích hướng lái dư luận tư duy theo ý đồ vạch sẵn.

Việc rõ mười mươi mà người dân Thủ đô đều biết, đó là ngay sau khi vụ cháy nghiêm trọng xảy ra tại chung cư mini ở phố Khương Hạ, đồng chí Bí thư Thành ủy Hà Nội thay mặt Ban Thường vụ Thành ủy có văn bản chỉ đạo việc kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 3 tổ chức đảng liên quan. Phần việc kịp thời, nghiêm túc, trách nhiệm này nhằm làm rõ trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, xem xét, xử lý theo quy định đối với các tổ chức đảng, đảng viên có liên quan khi để xảy ra vụ việc đáng tiếc. Như vậy, luận điệu “bưng bít sai phạm” mà các thế lực chống đối rêu rao lại chính là sự thể hiện rõ nét cho thói giả đui, giả điếc của các phần tử theo chủ nghĩa xét lại.

Không riêng vụ việc này, thời gian qua, Thành ủy Hà Nội đặc biệt quan tâm, coi trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát; chỉ đạo tăng cường công tác kiểm tra, giám sát theo tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” nhằm siết chặt kỷ luật, kỷ cương và thực hiện nghiêm Điều lệ Đảng đối với cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.

Trong nửa đầu nhiệm kỳ 2020-2025, Ủy ban Kiểm tra các cấp trong Đảng bộ TP Hà Nội đã kiểm tra 3.542 lượt tổ chức đảng, 992 đảng viên; giám sát 2.212 lượt tổ chức đảng, 1.098 đảng viên. Ủy ban Kiểm tra Thành ủy và Ủy ban Kiểm tra các cấp kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 317 lượt tổ chức đảng và 758 đảng viên, kết luận 122 tổ chức đảng và 332 đảng viên có vi phạm, phải thi hành kỷ luật 17 tổ chức đảng và 236 đảng viên. Điển hình là đã kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với các tổ chức đảng cấp dưới có liên quan trong việc lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện phòng, chống dịch Covid-19. Công tác thi hành kỷ luật đảng viên và tổ chức đảng được cấp ủy, Ủy ban Kiểm tra các cấp xem xét giải quyết kịp thời, đồng bộ, xử lý kỷ luật về Đảng đồng thời với xử lý kỷ luật về chính quyền, bảo đảm nghiêm minh. Cấp ủy, Ủy ban Kiểm tra cấp ủy đã thi hành kỷ luật 28 tổ chức đảng và 2.377 đảng viên.

Tính riêng trong 9 tháng năm 2023, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội triển khai 2 cuộc kiểm tra (đối với 62 tổ chức đảng, 10 đảng viên) theo kế hoạch năm 2023 và 2 cuộc kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm (đối với 4 tổ chức đảng). Trong đó, Ban Thường vụ Thành ủy kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với Ban cán sự đảng UBND thành phố nhiệm kỳ 2011-2016 và nhiệm kỳ 2016-2021 trong việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với các dự án, gói thầu do Công ty Cổ phần Tiến bộ quốc tế AIC và các doanh nghiệp thuộc “hệ sinh thái” AIC thực hiện từ năm 2011 đến 2021; kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với Ban Thường vụ Quận ủy Thanh Xuân, Đảng ủy Công an quận Thanh Xuân, Đảng ủy phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, nhiệm kỳ 2015-2020 và 2020-2025 trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Trung ương và thành phố về công tác phòng cháy, chữa cháy.

Các quận, huyện, thị ủy và đảng ủy trực thuộc Thành ủy cũng đã kiểm tra đối với 92 lượt tổ chức đảng và 91 đảng viên; đảng ủy cơ sở và chi bộ kiểm tra đối với 603 lượt tổ chức đảng và 291 đảng viên. Nội dung kiểm tra tập trung vào việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp và các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, các chương trình công tác của Thành ủy.

Không dừng lại ở đó, Hà Nội còn chủ trương đẩy mạnh kiểm tra, giám sát vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đặc biệt chú trọng kiểm tra, giám sát ở những lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm, dễ xảy ra vi phạm, khuyết điểm, tham nhũng, tiêu cực, như công tác quản lý dự án, đất đai, quản lý quy hoạch, quản lý đô thị, trật tự xây dựng, công tác cán bộ, công tác kê khai tài sản, thu nhập; kiểm tra, giám sát đối với tổ chức đảng và đảng viên có dấu hiệu mất đoàn kết, buông lỏng lãnh đạo, quản lý, rơi vào suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ để kịp thời nhắc nhở, giáo dục, ngăn chặn vi phạm.

Như vậy, tự thân những kết quả vừa dẫn chứng đã trả lời thuyết phục cho câu hỏi: Liệu tổ chức đảng các cấp ở Đảng bộ TP Hà Nội có sợ trách nhiệm, có chủ ý bưng bít thông tin như những đối tượng phản động cố tình rêu rao?

Hạ bệ cán bộ - giấc mộng phù du

Quy kết trách nhiệm trong việc “kìm hãm sự phát triển của Thủ đô”, đổ lỗi cho người đứng đầu và đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là việc đào sâu, đánh lái dư luận về các vụ việc vi phạm của người đứng đầu thành phố trước kia, các phần tử chống đối tung ra luận điệu lừa đảo, giật tít câu view trên các trang mạng cá nhân và đưa ra những suy diễn vô căn cứ, kêu gọi người dân Hà Nội đấu tranh để thanh trừng đội ngũ cán bộ.  

Thực tiễn thời gian qua, TP Hà Nội thực hiện chủ trương quyết liệt đổi mới công tác cán bộ, trong đó chú trọng phát huy vai trò người đứng đầu, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Không phải là những chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, kết luận... nằm trên bàn giấy mà được khẳng định bằng những việc làm cụ thể, tạo chuyển biến đột phá trên nhiều mặt.

Nói về vai trò người đứng đầu, bà Bùi Thị Thanh ở tổ dân phố Du Nghệ (thị trấn Quốc Oai, huyện Quốc Oai) còn nguyên sự xúc động khi nhớ lại lần gặp và được đồng chí Đinh Tiến Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội trực tiếp chỉ đạo giải quyết nguyện vọng. Bà Thanh bộc bạch: “Ngày 11-7-2023, tôi được mời lên trụ sở Ban Tiếp công dân UBND TP Hà Nội gặp đồng chí Bí thư Thành ủy để trình bày đơn. Tôi là vợ liệt sĩ, gia đình không có nhà ở, phải đi ở nhờ hơn 6 năm. Tại buổi làm việc, đồng chí Bí thư Thành ủy trực tiếp lắng nghe nguyện vọng của tôi, nghiên cứu hồ sơ và nghe lãnh đạo huyện Quốc Oai báo cáo về phương án giải quyết”. Chỉ đạo giải quyết vụ việc đó, đồng chí Bí thư Thành ủy giao các cơ quan liên quan hoàn thiện nhanh các thủ tục để giao đất cho gia đình bà Thanh trước ngày 27-7-2023, bảo đảm đúng quy định. Thực hiện chỉ đạo trên, UBND thị trấn Quốc Oai tổ chức tạm giao đất trên thực địa cho bà Bùi Thị Thanh với diện tích 43,7mtại tổ dân phố Du Nghệ.

Không riêng trường hợp bà Bùi Thị Thanh, cấp ủy, người đứng đầu các cấp trong thành phố chủ động lãnh đạo, chỉ đạo và trực tiếp tiếp dân, đối thoại, lắng nghe, xử lý kiến nghị của bà con. Nửa đầu nhiệm kỳ 2020-2025, đồng chí Bí thư Thành ủy tổ chức 24 buổi đối thoại và tiếp công dân, chỉ đạo giải quyết triệt để những vụ việc tồn đọng, kéo dài, phức tạp, nhận được sự đồng thuận cao. 9 tháng năm 2023, bí thư các quận, huyện, thị ủy tổ chức 273 cuộc tiếp hơn 3.000 lượt công dân, tiếp nhận hơn 2.500 đơn, thư. Bí thư các xã, phường, thị trấn tiếp gần 2.100 cuộc với hơn 6.700 lượt công dân... Các cấp ủy, ngành của thành phố công khai lịch tiếp công dân định kỳ của lãnh đạo; tổ chức đối thoại, vận động, thuyết phục công dân để giải quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền, tạo bước chuyển biến tích cực trên nhiều lĩnh vực, củng cố niềm tin trong nhân dân. So với cùng kỳ năm 2022, số vụ khiếu kiện đông người, đơn, thư trên địa bàn Hà Nội giảm khoảng 15%.

Bên cạnh tăng cường tiếp xúc, kịp thời giải quyết nguyện vọng chính đáng của người dân, TP Hà Nội quyết liệt đổi mới toàn diện, nâng cao chất lượng công tác cán bộ. Mới đây, Chủ tịch UBND thành phố ký văn bản chỉ đạo các địa phương, đơn vị, yêu cầu kiên quyết khắc phục tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, đồng thời thay thế hoặc điều chuyển sang công việc khác đối với cán bộ, công chức không dám làm, không dám tham mưu, đề xuất, không dám chịu trách nhiệm; giao Sở Nội vụ có trách nhiệm tham mưu với UBND thành phố kịp thời rà soát, thay thế hoặc điều chuyển sang công việc khác đối với cán bộ, công chức năng lực yếu, trì trệ, không dám làm và không đáp ứng yêu cầu công việc được giao.

Nhiệm kỳ 2020-2025, Thành ủy Hà Nội tiếp tục xác định công tác cán bộ là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, sớm ban hành, triển khai Nghị quyết chuyên đề về “Tập trung xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025 và những năm tiếp theo". Đây là nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Thành ủy về công tác cán bộ với mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của thành phố có tư duy, khát vọng đổi mới; năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị, ứng phó với tình huống khó khăn, phức tạp phát sinh và nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Thủ đô trong giai đoạn mới. Đồng thời tập trung rà soát, ban hành đồng bộ 15 quy chế, quy định về công tác cán bộ, đổi mới các khâu công tác cán bộ theo hướng khoa học, công khai, dân chủ, sát thực tiễn hơn.

Thường trực Thành ủy đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai nhiều cách làm mới, giải pháp đột phá để nâng cao chất lượng công tác đánh giá cán bộ. Ban Thường vụ Thành ủy ban hành Quyết định số 3814-QĐ/TU, thực hiện chấm điểm hằng tháng đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong toàn hệ thống chính trị của Thủ đô, trọng tâm là lấy năng suất, hiệu quả công việc làm thước đo để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao. Các cơ quan, ban, ngành, địa phương triển khai đánh giá, phân loại mức độ hoàn thành công việc của cán bộ theo từng tuần, tháng, quý, gắn với cơ chế khen thưởng, xử phạt công khai. Nhờ đó tạo sự chuyển biến mạnh về trách nhiệm, kỷ cương, kỷ luật công vụ của cán bộ, góp phần vào kết quả hoàn thành mục tiêu tổng quát của thành phố.

Thực tiễn phát triển của Thủ đô là minh chứng cho vai trò người đứng đầu cùng năng lực của đội ngũ cán bộ các cấp thời gian qua. Những thành quả, bài học kinh nghiệm của các nhiệm kỳ trước đã và đang được đội ngũ cán bộ, người đứng đầu thành phố vận dụng, phát huy hiệu quả. Song hành với chu trình đó, những hạn chế, tồn tại trong công tác cán bộ được cả hệ thống chính trị thành phố thẳng thắn nhìn nhận, tìm giải pháp khắc phục, kiên quyết xử lý cán bộ, đảng viên sai phạm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ.

Chẳng gì qua được tai mắt của nhân dân, nhất là khi thành phố chủ trương phát huy vai trò của người dân trong tham gia giám sát, đánh giá cán bộ bằng nhiều kênh khác nhau. Vậy nên thủ đoạn bôi nhọ đội ngũ cán bộ để kích động người dân biểu tình, chống đối Đảng, chính quyền Hà Nội vẫn chỉ là âm mưu hèn hạ, là giấc mộng phù du mà thôi!

QUÂN ĐỘI TA LÀ QUÂN ĐỘI CỦA NHÂN DÂN

       Quân đội ta là Quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Vì vậy, dòng đầu tiên trên trang đầu tiên của Tờ báo Quân đội nhân dân - Cơ quan của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng - Tiếng nói của Lực lượng vũ trang và nhân dân Việt Nam có viết: Vì nhân dân phục vụ! 

      Điều ấy thật sâu sắc, ý nghĩa thật thiêng liêng, phản ánh rõ bản chất, truyền thống tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” - “Bộ đội của dân”. Cùng với việc thực hiện tốt chức năng là đội quân chiến đấu, Quân đội ta còn thực hiện tốt chức năng là đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất. Đó là tài sản tinh thần vô giá được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ gìn giữ, nâng niu, trao truyền lại cho đời sau với niềm tin, lòng tự hào và sức mạnh kỳ diệu nhất để chúng ta hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, nhân dân tin tưởng ủy thác, giao phó.

       Vì vậy, hướng về cội nguồn, về cộng đồng, chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân đã quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân vận; luôn chủ động đề ra các biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện hiệu quả các hoạt động kết nối “ý Đảng - lòng dân” thành một khối thống nhất; tích cực giúp đỡ nhân dân xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới; phòng, chống thiên tai, dịch bệnh; cứu hộ, cứu nạn với nhiều nội dung, hình thức phong phú, cách làm hay, mô hình mới, sáng tạo, phát huy rất tốt tác dụng, hiệu quả; được Đảng, Nhà nước và nhân dân đánh giá cao; hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” lan tỏa mạnh mẽ trong thời kỳ mới.

      Cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn chủ động, tích cực làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, giúp nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, tham mưu với cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền địa phương nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở; tham gia xây dựng, củng cố, kiện toàn và nâng cao năng lực lãnh đạo của các tổ chức đảng; quản lý, điều hành của chính quyền và mọi hoạt động của các ban, ngành, cơ quan, đoàn thể ở địa phương - nơi đơn vị đóng quân, thực hiện tốt Chương trình Đại đoàn kết toàn dân tộc./.

Kế bẩn chết chìm trong bánh vẽ ảo tưởng

Xoay quanh câu chuyện TP Hà Nội triển khai xây dựng đường Vành đai 4-Vùng Thủ đô với những công việc đang tiến triển, trong quá trình triển khai thực hiện, mới đây, trên các trang mạng xã hội xuất hiện luận điệu quy chụp, nói xấu hệ thống chính trị, kêu gọi dừng lại việc xây dựng con đường, tránh gây lãng phí.

Đường Vành đai 4 là một trong những dự án nhận được sự đồng thuận lớn nhất của người dân. Sự ủng hộ của nhân dân được thể hiện rất cụ thể, đó là tự giác, tự nguyện, chủ động bàn giao mặt bằng cho thành phố, ngay cả khi phần đất đó liên quan đến phần mộ của người thân, dòng họ. Nhiều hộ dân tự nguyện giao đất nông nghiệp để thực hiện dự án xây dựng nghĩa trang phục vụ di dời các phần mộ nằm trên diện tích đất giải phóng mặt bằng. Anh Vũ Xuân Định ở xã Tân Dân (Sóc Sơn, Hà Nội) khẳng định: “Tôi nắm rõ thông tin về dự án đường Vành đai 4 và ủng hộ chủ trương vì sự phát triển của huyện, thành phố. Khi biết xã gặp khó khăn trong việc tìm địa điểm xây dựng nghĩa trang nhằm di dời các phần mộ, tôi cùng 10 hộ khác sẵn sàng giao diện tích đất nông nghiệp đang canh tác để phục vụ công tác này. Thời điểm ấy, chúng tôi chưa nhận một đồng tiền đền bù nào, nhưng không ai có ý kiến hay dị nghị gì. Tất cả đều đồng lòng vì việc chung”.

Với sự đồng tình ủng hộ cao của người dân, đến tháng 10-2023, Hà Nội bàn giao trên 90% mặt bằng thi công dự án đường Vành đai 4 và phấn đấu hoàn thành vào cuối năm nay. Sở dĩ công tác giải phóng mặt bằng diễn ra nhanh chóng, vượt kế hoạch đề ra, có nguyên nhân quan trọng từ sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị trong tuyên truyền, vận động, nhất là thực hiện đúng chính sách, pháp luật, bảo đảm quyền lợi chính đáng tốt nhất cho người dân trong diện thu hồi đất. Chủ trương của Hà Nội rất đáng ghi nhận, được người dân đồng tình, đó là thành phố dành những vị trí thuận lợi và phù hợp để tái định cư cho bà con. Khi người dân di dời sẽ được đến vị trí tốt hơn, đẹp hơn nơi ở cũ.

Một nguyên nhân không kém phần quan trọng là bà con thấy được chủ trương đúng đắn, tạo tiền đề phát triển toàn diện cho Vùng Thủ đô khi dự án hoàn thành và đưa vào khai thác sử dụng. Việc phát triển đường Vành đai 4 không chỉ giải quyết vấn đề của riêng Hà Nội mà sẽ giải quyết vấn đề liên vùng Thủ đô. Tác động của dự án đường Vành đai 4 không chỉ kết nối ở trong TP Hà Nội mà còn kết nối các tỉnh trong Vùng Thủ đô. Về mặt kinh tế, khi có đường Vành đai 4 sẽ tạo ra tính chất liên kết Vùng Thủ đô, các tỉnh lân cận. Quan trọng hơn, con đường kết nối được sự phát triển của Hà Nội với Vùng Thủ đô và mở rộng không gian phát triển cho Hà Nội. Như vậy, không chỉ Hà Nội là cực phát triển mà cực phát triển lan tỏa thành các điểm trong vùng. Hơn ai hết, người dân Hà Nội luôn mong mỏi dự án triển khai bảo đảm tiến độ để không lỡ hẹn với những cơ hội ở phía trước.

Không chỉ dự án đường Vành đai 4, nhiều công trình, dự án lớn của Thủ đô là tâm điểm chống phá của các thế lực thù địch. Cụ thể như nhiều đối tượng từng tập trung chống phá chủ trương mở rộng địa giới hành chính Hà Nội cách đây hơn 15 năm; bôi nhọ chủ trương của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố về việc chuyển cây xanh trên đường Phạm Văn Đồng để mở rộng đường Vành đai 3; phủ nhận chủ trương của Hà Nội về xây dựng các thành phố vệ tinh, hệ thống cầu bắc qua sông Hồng, hay gần đây là dự án thành phố thông minh...

Sự đồng tình ủng hộ của người dân trước những chủ trương, quyết sách phát triển Thủ đô chính là lời hồi đáp cho những người rắp tâm phá hoại. Như vậy, những đòn tấn công vô vọng cùng thủ đoạn “hiến kế ngược” chẳng khác nào trò cười cho thiên hạ và tự chết chìm trong bánh vẽ ảo tưởng do chính bản thân họ bày ra.

TRÁCH NHIỆM CỦA MỖI ĐẢNG VIÊN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

         Mạng xã hội Facebook ở nước ta phát triển nhanh, rộng, thu hút nhiều người tham gia... tỷ lệ đảng viên sử dụng facebook khá cao. Ai cũng có tài khoản Facebook, nhiều người còn sở hữu 2, 3 tài khoản. 

        Chúng ta thấy bên cạnh một số đảng viên tự tin  đăng tải, chia sẻ thông tin, hình ảnh từ các trang chính thống thể hiện quan điểm, ý kiến cá nhân của mình về một vấn đề nào đó... thì vẫn còn không ít người thờ ơ, phớt lờ cả những vấn đề nóng mà xã hội đang quan tâm. Vậy thì vai trò của đảng viên ở đâu trên không gian mạng này?... "thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không lên án" đang tồn tại ở nhiều cơ quan, đơn vị... cả trên mạng xã hội: Họ lặng lẽ vào mạng, dò, tìm, đọc... rồi lặng lẽ rút lui như chưa hề hay biết.

        Với những bài hay, tích cực, nguồn chính thống, đàng hoàng... cũng không thấy chia sẻ, bình luận, thích bài. Với các thông tin tiêu cực, bức xúc, tệ nạn xã hội đang nóng hổi cũng chẳng thấy có biểu hiện gì! Đúng là một thái độ dửng dưng, vô cảm đến lạ lùng.

        Chúng ta thường nghĩ: Đã là đảng viên thì ít ra cũng phải nhận thức được thông tin nào đúng, sai, tích cực, tiêu cực. Khi thấy hay, đúng, nguồn rõ ràng... thì cũng nên “thích”, “thả tim”, “thương thương”. Hay gõ vài chữ động viên, cổ vũ nhau chứ? Còn thấy sai lệch, hay nghi ngờ độ chính xác thì cũng nên “ngạc nhiên”, “buồn” hoặc “phẫn nộ” chứ? 

        Xem, đọc rồi lặng lẽ cho qua khác nào đồng tình, ủng hộ thông tin xấu độc... bởi mặc nhiên: “Làm thinh là nhất trí” mà!

        Thiết nghĩ, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải thể hiện rõ trách nhiệm của mình đối với xã hội, đất nước; phải có tinh thần chiến đấu trên không gian mạng; phải là những nhân tố, những "tương tác viên" tích cực trong xây dựng mối đoàn kết toàn dân, bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam ngay trên không gian mạng./.

LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA NGÀY THÀNH LẬP QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM (22/12/1944-22/12/2023)

 

 

Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội kiểu mới, quân đội nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục và rèn luyện. Tên gọi “Quân đội nhân dân” là do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt với ý nghĩa “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ”.

 Tháng 12/1944, lãnh tụ Hồ Chí Minh ra Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Chỉ thị nhấn mạnh: “Tên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân nghĩa là chính trị quan trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền..., đồng thời nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc...”.

Ngày 22/12/1944, tại khu rừng giữa tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (nay là xóm Nà Sang, xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập gồm 34 chiến sĩ, biên chế thành 3 tiểu đội, do đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy. Đây là đơn vị chủ lực đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng và là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. 

Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân do đồng chí Hoàng Sâm được cử làm Đội trưởng, đồng chí Xích Thắng (Dương Mạc Thạch) làm Chính trị viên. Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân có chi bộ Đảng lãnh đạo. Chỉ có 34 người, với 34 khẩu súng các loại nhưng đó là những chiến sĩ kiên quyết, dũng cảm trong các đội du kích Cao - Bắc - Lạng, Cứu quốc quân,... là con em các tầng lớp nhân dân bị áp bức, họ có lòng yêu nước, chí căm thù địch rất cao, đã siết chặt họ thành một khối vững chắc, không kẻ thù nào phá vỡ nổi. Sau lễ thành lập, đội tổ chức một bữa cơm nhạt không rau, không muối để nêu cao tinh thần gian khổ của các chiến sĩ cách mạng, đội tổ chức “đêm du kích” liên hoan với đồng bào địa phương để thắt chặt tình đoàn kết quân dân.

Thực hiện Chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh: “Trong một tháng phải có hoạt động. Trận đầu nhất định phải thắng lợi”, 17 giờ ngày 25/12/1944 (ngay sau ngày thành lập), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã mưu trí, táo bạo, bất ngờ đột nhập và đồn Phai Khắt (đóng tại tổng Kim Mã, châu Nguyên Bình, nay thộc xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng) và sáng ngày 26/12/1944 lại đột nhập vào đồn Nà Ngần (đóng tại xã Cẩm Lý, châu Nguyên Bình, nay thộc xã Hoa Thám, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), giết hết hai tên đồn trưởng, bắt sống toàn bộ binh lính địch và thu tất cả vũ khí, quân trang, quân dụng. Chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần đã mở đầu cho truyền thống đánh chắc thắng, đánh trận đầu của quân đội ta.

Tháng 3/1945, Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng và ra Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Tháng 4/1945, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ, quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang cả nước (Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Cứu Quốc quân và các tổ chức vũ trang khác...) thành Việt Nam Giải phóng quân; đẩy mạnh tuyên truyền xung phong có vũ trang phá kho thóc của Nhật để cứu đói cho nhân dân; xây dựng các đội tự vệ vũ trang, du kích cứu quốc; phát động chiến tranh du kích, giải phóng từng vùng, mở rộng căn cứ địa cách mạng. Từ tháng 4/1945, cao trào kháng Nhật cứu nước, phong trào vũ trang khởi nghĩa, khởi nghĩa từng phần đã giành thắng lợi ở nhiều nơi. Ngày 15/5/1945, sau buổi lễ thống nhất tại Định Biên Thương, Định Hóa, Thái Nguyên, đồng chí Võ Nguyên Giáp trở thành Tư lệnh các lực lượng vũ trang thống nhất, mang tên Việt Nam Giải phóng quân.

Trên cơ sở đánh giá thời cơ và tình hình cách mạng trong nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng vũ trang cùng các tầng lớp nhân dân đồng loạt đứng dậy tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền. Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8/1945, cuộc Tổng khởi nghĩa của nhân dân ta đã giành thắng lợi hoàn toàn. Cách mạng Tháng tám năm 1945 thành công, Việt Nam Giải phóng quân được đổi tên thành Vệ Quốc quân. Năm 1946, Vệ Quốc quân đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam. Năm 1950, đổi tên thành Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ngày 22/12/1944, ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân – Đội quân chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam được lấy làm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. 

Lịch sử nhiều năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành của quân đội ta gắn liền với lịch sử đấu tranh anh dũng của dân tộc. Một đội quân được Đảng và Bác Hồ rèn luyện, đã từng là những đội tự vệ đỏ trong cao trào Xô Viết-Nghệ Tĩnh, đội du kích Bắc Sơn, Nam Kỳ, Ba Tơ, Cao Bắc Lạng, Cứu quốc quân đến Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Một đội quân lớp lớp cán bộ, chiến sĩ đã nối tiếp nhau bao thế hệ cầm súng chiến đấu, cùng toàn dân đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược hung bạo, giành lại độc lập thống nhất và bảo vệ vững chắc bờ cõi thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam XHCN và làm tròn nghĩa vụ quốc tế vẻ vang đối với cách mạng hai nước Lào và Cam-phu-chia anh em.

Năm 1989, theo chỉ thị của Ban bí thư Trung ương Đảng và quyết định của Chính phủ, ngày 22-12 hàng năm không chỉ là ngày kỷ niệm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam mà còn là ngày Hội quốc phòng toàn dân. Từ đó, mỗi năm, cứ đến ngày này, toàn dân Việt Nam lại tiến hành các hoạt động hướng vào chủ đề quốc phòng và quân đội, nhằm tuyên truyền sâu rộng truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc và phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, giáo dục lòng yêu nước, yêu CNXH, động viên mọi công dân chăm lo củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc. Các hoạt động như mít tinh, hội thảo, hội nghị đoàn kết quân dân, giáo dục truyền thống, biểu diễn văn nghệ, đại hội thanh niên, thi đấu thể thao, hội thao quân sự,... được diễn ra ở khắp làng, xã, cơ quan đoàn thể, cơ sở đơn vị... Những hoạt động của ngày hội như vậy nhằm động viên cán bộ, chiến sĩ không ngừng nâng cao cảnh giác, ra sức rèn luyện bản lĩnh chính trị và trình độ quân sự, không ngại gian khổ, vượt qua khó khăn, trong mọi hoàn cảnh để hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Phát huy thành tích to lớn đã đạt được trong những năm qua, Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục xây dựng theo hướng “Tinh, gọn, mạnh” đến năm 2025 và quân đội hiện đại vào năm 2030; tham gia xây dựng kinh tế đất nước và thực hiện tốt hơn chức năng làm nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, góp phần xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; bảo vệ hòa bình, ổn định, phát triển trong khu vực và trên thế giới, xứng đáng với tên gọi: Quân đội nhân dân Việt Nam./.

 

CHIÊU TRÒ "THAO TÚNG TÂM LÝ", DẮT MŨI DƯ LUẬN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG

 

 

“Thao túng tâm lý” là một trong những thủ đoạn chống phá tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, phản động, tác động tiêu cực đến đời sống tinh thần của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Do vậy, nhận diện và phòng, chống thủ đoạn “thao túng tâm lý” có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng tâm lý, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động hiện nay.

Nhiều biểu hiện tinh vi của thủ đoạn “thao túng tâm lý”

Với mục tiêu làm mục ruỗng tâm lý xã hội, đảo lộn đời sống tâm lý, tinh thần của nhân dân, các thế lực thù địch, phản động sử dụng nhiều chiêu trò, thủ đoạn tinh vi, ở mọi lúc, mọi nơi, len lỏi vào từng người, từng nhóm xã hội nhằm “lung lạc” nhận thức, “gặm nhấm” tình cảm, điều khiển ý chí và hành động, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. “Thao túng tâm lý” là một thủ đoạn điển hình như vậy.

“Thao túng tâm lý” là cách thức tác động tâm lý nhằm ảnh hưởng, chi phối, kiểm soát nhận thức, cảm xúc, hành vi của người khác theo một mục đích nào đó. Nhờ triệt để lợi dụng các quy luật, đặc điểm tâm lý, cách thức này có thể kiểm soát, điều khiển tâm lý con người diễn biến theo chiều hướng nhất định. Cơ chế “thao túng tâm lý” diễn ra theo nhiều kênh tác động khác nhau, nhưng phổ biến nhất vẫn là kênh thông tin. Bằng số lượng, nội dung và cách đưa thông tin đến người tiếp nhận, có thể kiểm soát, điều khiển được nhận thức, cảm xúc, hành vi của người đó.

Ở nước ta, theo thống kê, đến nay có khoảng 77 triệu người dùng mạng xã hội (MXH), tương đương 78,1% dân số, chiếm 97,8% dân số từ 13 tuổi trở lên, trong đó người dùng Facebook là 70,4 triệu người. Theo đó, các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng cơ chế “thao túng tâm lý” và đặc tính của MXH để thao túng, kiểm soát tâm trí con người. Có thể chỉ ra một số cách thức của thủ đoạn “thao túng tâm lý” mà các thế lực thù địch, phản động đã và đang tiến hành.

Đưa thông tin sai sự thật, xuyên tạc, bịa đặt. Thông qua các trang web, blog, các trang MXH như: Facebook, Zalo, YouTube, TikTok... chúng ra sức tuyên truyền, bịa đặt về các phe phái trong Đảng, nhất là lợi dụng công cuộc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc, hòng hạ uy tín của cán bộ, phá vỡ khối đoàn kết trong Đảng, sự đồng thuận của xã hội, chia rẽ Đảng với nhân dân. Chúng thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây rối an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Giả mạo thông tin. Chúng lập những tài khoản giả mạo trên MXH, website giả mạo các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo một số bộ, ngành, địa phương, những người có uy tín, nhân vật nổi tiếng trong xã hội, qua đó đưa tin bịa đặt, gieo rắc sự hoài nghi trong xã hội, nhất là trước những vấn đề nhạy cảm.

Lèo lái thông tin. Chúng sử dụng các website, dịch vụ thư điện tử (e-mail) và các trang MXH để lèo lái thông tin. Cách thức tiến hành của chúng thường là tổng hợp tin tức từ các báo chính thống để tạo ra sự khách quan, sau đó cài những thông tin xấu độc theo tỷ lệ tăng dần cả về số lượng và mức độ bịa đặt, bóp méo sự thật. Cùng với đó là những phân tích, bình luận tưởng như khách quan nhưng thực chất là tạo ra “bẫy thông tin” khiến người tiếp nhận dễ bị dẫn dắt theo mưu đồ xấu của chúng.

Tung tin đồn, gây kích động, chia rẽ. Lợi dụng những sự kiện nhạy cảm liên quan đến các vấn đề phân định biên giới, lãnh thổ, tranh chấp Biển Đông, ô nhiễm môi trường, hay những vấn đề liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng, công tác cán bộ... chúng tung tin thất thiệt trên các trang MXH gây hoang mang trong dư luận, tạo nên sự hiểu nhầm của người dân, sự hoài nghi vào cấp ủy, chính quyền các cấp. Các tin đồn tác động mạnh vào cảm xúc, kích động những nhóm đối tượng thiếu hiểu biết hoặc hiểu biết chưa đầy đủ để tạo sức mạnh chống phá.

Tác động tiêu cực, hệ lụy khôn lường

Một là, tác động đến nhận thức, quan điểm, lập trường chính trị. Do triệt để lợi dụng tính tò mò, tâm lý “thích giật gân” và các quy luật thuần tâm lý như: Cảm nhiễm, a dua, ám thị, bắt chước... thủ đoạn “thao túng tâm lý” dễ tác động đến nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Trước những thông tin xuyên tạc, bịa đặt đến dồn dập, những phân tích, bình luận xuất hiện như “nấm mọc sau mưa” dễ đưa người khác vào trạng thái hỗn loạn thông tin. Trạng thái đó khiến nhận thức của con người có thể đi từ phân vân đến hoài nghi, mơ hồ, từ đó dễ làm xói mòn quan điểm, lập trường chính trị.

Hai là, tác động đến cảm xúc, thái độ và niềm tin. Thông tin xuyên tạc, bịa đặt thường liên quan trực tiếp đến nhu cầu, lợi ích, nguyện vọng của người dân và lợi dụng tác động của dư luận xã hội nên thủ đoạn “thao túng tâm lý” dễ tác động đến cảm xúc, thái độ, niềm tin của quần chúng nhân dân. Dưới tác động của thủ đoạn “thao túng tâm lý”, thái độ của con người có thể chuyển biến từ hoài nghi, hoang mang, dao động đến bất bình, phẫn nộ, phản đối, thậm chí là chống đối, bất hợp tác, mất niềm tin.

Ba là, tác động đến hành vi, hành động. Khi đã kiểm soát được nhận thức, cảm xúc, thái độ, thủ đoạn “thao túng tâm lý” còn trực tiếp kích thích, thúc đẩy những hành vi, hành động tiêu cực của con người. Các thế lực thù địch, phản động thường xuyên tổ chức đăng tải, tán phát các thông tin, tài liệu, hình ảnh, video phỏng vấn theo hướng kích động những nhân sĩ, trí thức trong nước có tư tưởng bất mãn chính trị. Đối với quần chúng nhân dân, chúng triệt để lợi dụng bộ phận thiếu hiểu biết, thiếu thông tin hoặc bị kẻ xấu lôi kéo, mua chuộc, nhất là dân tộc ít người, đồng bào tôn giáo nhẹ dạ, cả tin bị chúng kích động, lừa gạt, thúc ép buộc tham gia các cuộc tụ tập gây rối, biểu tình, tạo thành “lực lượng đối trọng”, gây áp lực với hệ thống chính trị các cấp.

Tạo “bức tường thành” vững chắc phòng, chống thủ đoạn “thao túng tâm lý”

Mục tiêu của thủ đoạn “thao túng tâm lý” dù xem xét dưới góc độ nào: Tâm lý hay chính trị, trước mắt hay lâu dài, ngấm ngầm hay công khai đều mang tính chất phản nhân văn, đi ngược lại những giá trị tốt đẹp của con người. Thực chất đó là một trong những thủ đoạn của cuộc chiến tranh tâm lý, cuộc chiến chống lại con người.

Để phòng, chống có hiệu quả thủ đoạn này, giải pháp hàng đầu là quan tâm xây dựng sự vững vàng về tâm lý cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. “Vững vàng tâm lý” thể hiện ở kiến thức, quan điểm và niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ; là khả năng kịp thời nhận diện, phản bác thông tin xấu độc, bịa đặt, thủ đoạn tuyên truyền chính trị của kẻ thù; khả năng nắm vững quan điểm chính trị trong ứng xử các vấn đề xã hội. “Vững vàng tâm lý” hoàn toàn khác với các hiện tượng “đứng ngoài chính trị”, “thờ ơ chính trị”.

Từ thủ đoạn “thao túng tâm lý”, các thế lực thù địch luôn tiến công vào những nơi mà ý thức của con người mù mờ nhất, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực tâm lý xã hội và tâm lý cá nhân, đánh vào những nhu cầu, mong muốn, ước vọng không được thỏa mãn của con người. Để có được sự “vững vàng tâm lý”, cần hạn chế, thu hẹp đến mức nhỏ nhất những “mảnh đất màu mỡ” cho thủ đoạn này.

Thực tế cho thấy, nếu không tích cực ngăn chặn, bài trừ tệ nạn và tiêu cực xã hội, làm lành mạnh môi trường xã hội hiện nay thì các nọc độc “thao túng tâm lý” sẽ lan truyền hết sức nhanh chóng. Đây chính là cơ hội cho thế lực thù địch, phản động lợi dụng, gieo rắc sự hoài nghi, dao động, hoang mang, bi quan, mất niềm tin trong nhân dân. Chúng đang chờ đợi quá trình “tự tha hóa”, “tự biến chất”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên để tiếp tục gia tăng những tác động “thao túng tâm lý”. 

Trong bối cảnh thời đại thông tin bùng nổ hiện nay, cần chủ động, kịp thời cung cấp, định hướng, kiểm soát thông tin và định hướng dư luận xã hội. Việc chậm trễ thông tin và sự thiếu chủ động trong việc định hướng dư luận xã hội đã làm nảy sinh ở quần chúng nhân dân những biểu hiện bất lợi về tâm lý, tư tưởng; ở mức độ đơn giản là những đồn đoán tùy tiện, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, làm giảm lòng tin của nhân dân vào luật pháp và bộ máy công quyền; ở mức độ phức tạp còn làm cho một số người có thái độ ngờ vực, thậm chí thay đổi quan điểm chính trị.

Vì vậy, trước những sự kiện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội... nhất là những sự kiện phức tạp, nhạy cảm thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận xã hội, các cơ quan chức năng cần thông tin kịp thời, chính xác cho công chúng và định hướng suy nghĩ, hành động theo hướng có lợi cho Đảng, Nhà nước và nhân dân. 

Việc làm cần thiết hiện nay là nâng cao hiệu lực, hiệu quả kiểm soát, quản lý thông tin, phòng, chống tin giả, tin đồn, thông tin xấu độc trên không gian mạng. Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng trong việc kiểm tra, xác minh, điều tra, truy vết và xác định các hành vi, đối tượng vi phạm các quy định về thông tin sai trái, xuyên tạc để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Giải pháp căn cơ là chăm lo xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Ngày nay, khi mục tiêu "đầu độc" và chiếm lĩnh tâm hồn con người đang và sẽ là mục tiêu chủ yếu của các thế lực thù địch, phản động thông qua thủ đoạn “thao túng tâm lý” thì việc xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh càng có ý nghĩa quan trọng. Môi trường văn hóa lành mạnh đủ sức chống lại những tác động của thủ đoạn “thao túng tâm lý” cần phải tạo được những rung động, những trạng thái cảm xúc tích cực ở đội ngũ cán bộ, đảng viên và người dân về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như những giá trị ưu việt của chế độ XHCN.

Cùng với đó, xây dựng lòng tự hào của mỗi người dân về nền văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, quán triệt và thực hiện tốt lời chỉ dẫn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc tổ chức ngày 24-11-2021 tại Hà Nội: “Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, văn minh gắn liền với đấu tranh không khoan nhượng với cái xấu, cái ác, phi văn hóa, phản văn hóa; bảo vệ những giá trị chân-thiện-mỹ.

Nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân; xây dựng đời sống văn hóa vui tươi, lành mạnh, hạnh phúc; khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển và hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, miền của đất nước”. Xây dựng chính sách phù hợp để khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư, sản xuất các sản phẩm có giá trị văn hóa, tinh thần phục vụ nhu cầu của nhân dân theo phương châm “lấy xây để chống”, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, "lấy tích cực để đẩy lùi tiêu cực"./.

Thứ Tư, 6 tháng 12, 2023

MỘT VIỆT NAM VỚI QUYỀN TỰ DO BÁO CHÍ MỞ RỘNG

 

Những năm qua, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm tạo điều kiện thuận lợi cho báo chí Việt Nam phát triển. Cùng với đó, sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước là hiện thực sinh động cho báo chí Việt Nam phát triển lớn mạnh cả về quy mô, tổ chức, lực lượng, phương tiện, công nghệ làm báo và sức ảnh hưởng, lan tỏa trong xã hội.

Về phương diện chính trị, pháp lý, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Báo chí vừa là tiếng nói của Đảng, của Nhà nước, của các đoàn thể, vừa là diễn đàn của nhân dân”; “xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại; thực hiện tốt quy hoạch, phát triển hệ thống báo chí, truyền thông”. Điều 25 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 hiến định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Theo Luật Báo chí 2016, công dân được tham gia vào các quy trình sáng tạo, sản xuất sản phẩm báo chí, tiếp nhận báo chí, ngôn luận trên báo chí theo quy định (Điều 11). Các cơ quan báo chí có trách nhiệm bảo đảm công dân thực hiện quyền tự do báo chí theo quy định (Điều 12). Về phần mình, cơ quan báo chí và nhà báo được hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ, không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng (Điều 13); được tạo mọi điều kiện tốt nhất để hoạt động nghề nghiệp. Không ai có quyền cản trở nhà báo khai thác và thể hiện thông tin theo đúng quy định của pháp luật (Điều 25).

Tất nhiên, cũng như ở mọi lĩnh vực, mọi quốc gia, tự do báo chí phải trong khuôn khổ chứ không phải là thứ tự do vô giới hạn, vô chính phủ, đứng ngoài pháp luật. Luật Báo chí 2016 quy định: “Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân” (Điều 13). Trách nhiệm của nhà báo và công dân trong thực hành tự do báo chí nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mọi tổ chức, cá nhân, góp phần xây dựng đất nước phát triển giàu mạnh (Điều 9).

Thực tiễn đã chứng minh, báo chí cách mạng Việt Nam ngày càng lớn mạnh, quyền tự do báo chí được bảo đảm. Tính đến hết năm 2022, Việt Nam có gần 41.000 người đang hoạt động trong lĩnh vực báo chí, với 18.000 người được cấp thẻ nhà báo. Các cơ quan, đoàn thể ở Trung ương và các địa phương có báo hoặc tạp chí; mọi giai cấp, tầng lớp, thành phần xã hội, các tổ chức xã hội-nghề nghiệp... đều có tờ báo, tạp chí chuyên biệt dành cho họ. Nhiều tờ báo đã chuyển đổi thành cơ quan báo chí đa phương tiện, đa loại hình, hiện diện trên môi trường internet. Các loại hình báo chí di động, báo chí mạng xã hội, báo chí trí tuệ nhân tạo... xuất hiện, thỏa mãn nhu cầu tiếp nhận đa giác quan (nghe-nhìn-đọc) ở mọi lúc, mọi nơi của công chúng. Đồng thời, các hình thức tương tác với công chúng được mở rộng. Mô hình truyền thông hai chiều tạo cơ hội để công chúng được bày tỏ chính kiến, quan điểm, nguyện vọng trước mọi vấn đề, sự việc đang diễn ra trong đời sống xã hội; được tham gia vào tiến trình giải quyết các vấn đề mà xã hội đang đặt ra như: Vấn đề bảo vệ môi trường; bảo vệ quyền trẻ em, quyền phụ nữ; chống biến đổi khí hậu; chống tham nhũng, tiêu cực xã hội...

Bên cạnh đó, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực báo chí phát triển. Hiện nay đã có gần 40 hãng truyền thông quốc tế có mặt tại Việt Nam, trong đó có nhiều hãng lớn như: CNN, Reuters, AP, AFP, Kyodo, Hãng thông tấn Asia (Hàn Quốc), Nhật báo kinh tế Aju (Hàn Quốc) và Hãng thông tấn Rossiya Segodnya (Nga)... Các cơ quan truyền thông quốc tế như: CNN, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg và hầu hết kênh truyền thông lớn thế giới đều đến được với công chúng Việt Nam dễ dàng, thuận tiện mà không có bất kỳ rào cản công nghệ hay pháp lý nào. Các nhà báo quốc tế được Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi để tác nghiệp. Nhiều nhà báo Việt Nam được Nhà nước tạo điều kiện đi học tập, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn, tác nghiệp báo chí tại nhiều quốc gia trên thế giới.

Với cơ sở chính trị, pháp lý đã khẳng định và thực tiễn đã chứng minh quyền tự do báo chí ở Việt Nam luôn được tôn trọng, bảo đảm. Điều này có ý nghĩa bác bỏ, phủ nhận những luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch về bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam.

Tự do báo chí ở Việt Nam là thực tiễn không thể phủ nhận, xuyên tạc. Việc bảo đảm tự do báo chí, tự do ngôn luận cũng là một trong những mục tiêu xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam; là đường lối lãnh đạo nhất quán của Đảng ở mọi kỳ, được bảo đảm bằng hệ thống Hiến pháp, pháp luật và được nhân dân đồng lòng ủng hộ. Với thực tế đó, nhà báo có đầy đủ cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn để đấu tranh hiệu quả chống luận điệu xuyên tạc về vấn đề tự do báo chí trên không gian mạng. Vì vậy, nhà báo phải mài sắc ngòi bút thành “vũ khí” sắc bén để đấu tranh trực diện, không khoan nhượng với những quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí./.

PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH VỀ VẤN ĐỀ TỰ DO BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM

 

Một trong những âm mưu, thủ đoạn chống phá dai dẳng của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam là xuyên tạc, phủ nhận những nỗ lực, thành quả của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận cho công dân. Ý đồ này không ngoài mục đích hạ thấp sứ mệnh của báo chí cách mạng, phủ nhận khuynh hướng tính chính trị của báo chí cách mạng phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước và sâu xa hơn, hòng làm thay đổi thể chế chính trị - xã hội ở Việt Nam.

Thời gian qua, các thế lực thù địch và một số cơ quan báo chí truyền thông phương Tây, các phần tử thiếu thiện chí, bất mãn chính trị đã lợi dụng không gian mạng để xuyên tạc về vấn đề tự do báo chí tại Việt Nam.

Những luận điểm được “nhai đi nhai lại” nhiều lần là quy kết, vu khống Việt Nam không có tự do báo chí thông qua cái gọi là “Bảng xếp hạng chỉ số tự do báo chí thường niên”, xếp báo chí Việt Nam luôn ở vị trí áp chót bảng. Bên cạnh đó, họ xuyên tạc Đảng, Nhà nước Việt Nam “quản” báo chí theo chế độ “đăng ký”, “bị kiểm duyệt”, “hà khắc”... Từ việc xuyên tạc sự nghiệp lãnh đạo, quản lý đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam về báo chí, nhiều tổ chức và trang mạng xã hội phản động kêu gọi thay đổi thể chế chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chính sách với những luận điệu xảo trá như: “Thể chế hiện nay không tạo môi trường để thay đổi báo chí được, mà phải thay đổi thể chế sâu rộng”; “Nhà nước phải cho phép báo chí tư nhân hoạt động”. Không những vậy, một số cơ quan truyền thông phương Tây thiếu thiện chí với Việt Nam như: BBC, RFI, RFA, VOA... và các hội nhóm, các cá nhân phản động trên YouTube, Facebook mỗi khi có sự kiện, vụ việc cụ thể liên quan đến báo chí lại la lối, suy diễn, xuyên tạc tình hình trong nước. Với sự cổ xúy, giúp sức của các tổ chức thù địch, một số đối tượng phản động trong nước tự đứng ra thành lập các hội nhóm phi pháp nhằm cổ xúy cho cái gọi là “tự do báo chí”, “xã hội dân sự” theo mưu đồ của chúng nhằm đối trọng với Đảng Cộng sản Việt Nam.

Có thể khẳng định, thông tin sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí như những mũi kim tiêm tẩm độc xuyên vào nhận thức, thái độ, làm thay đổi thế giới quan, nhân sinh quan của nhiều người. Một bộ phận người dân hoài nghi, bi quan về Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng nói chung và sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí nói riêng. Những thông tin sai lệch, xuyên tạc có thể làm chia rẽ, ly gián lòng người, làm phân tâm trong các giai tầng xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc...

Nguy hại hơn, các quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí Việt Nam còn tạo ra cái nhìn thiên lệch, thiếu thiện cảm của cộng đồng quốc tế về Việt Nam; thậm chí có thể ảnh hưởng tiêu cực đến đánh giá của các tổ chức quốc tế, các quốc gia về vấn đề nhân quyền và trình độ phát triển xã hội Việt Nam.

Những năm qua, nhiều tờ báo, đặc biệt là các tờ báo thuộc hệ thống báo Đảng, các cơ quan báo chí lớn như: Nhân Dân, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Tạp chí Cộng sản, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, nhiều báo Đảng địa phương, nhiều tạp chí khoa học đã đăng tải những bài viết phản ánh, phân tích, vạch trần âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, chế độ cũng như chống phá nền báo chí cách mạng của các thế lực thù địch. Nhiều báo đã mở các chuyên trang, chuyên mục: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới”, “Nhận diện sự thật”... lồng ghép đăng tải các bài viết khẳng định quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Nhiều bài báo đã mở chuyên mục kiểm chứng thông tin để đăng tải sự thật về các sự việc, sự kiện, vấn đề bị các thế lực thù địch xuyên tạc để người dân không hoang mang, dao động.

Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước sẽ gia tăng thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, xuyên tạc tự do báo chí ở Việt Nam với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Vì vậy, việc nhận diện, phản bác, đấu tranh chống thông tin sai lệch, xuyên tạc về tự do báo chí đòi hỏi nhà báo - với tư cách chủ thể thực thi trách nhiệm đưa tin, khởi tạo, định hướng dư luận tại cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, diễn đàn của nhân dân - phải nhập cuộc tích cực hơn để nhận diện sự thật, lẽ phải, kịp thời và kiên quyết phản bác mạnh mẽ, đập tan âm mưu của các thế lực thù địch, phản động, bất mãn chính trị.

Có thể khẳng định rằng, việc các cơ quan báo chí và đội ngũ nhà báo tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch về tự do báo chí ở Việt Nam vừa là trách nhiệm chính trị vừa là đạo đức, văn hóa nghề nghiệp nhằm góp phần cùng cả hệ thống chính trị bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đồng thời bảo vệ những giá trị, thành quả tốt đẹp của nền báo chí cách mạng Việt Nam đã được vun đắp, xây dựng gần một thế kỷ qua./.

CHIÊU TRÒ HƯỚNG LÁI NGƯỜI VIỆT CHẠY THEO NỀN DÂN CHỦ HỖN LOẠN, RÁCH NÁT, BĂNG HOẠI ĐẠO ĐỨC HIỆN NAY CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA PHƯƠNG TÂY

 

Ngày 20/11/2023, một số trang mạng có chia sẻ, đăng tải bài viết về cái gọi là tổ chức Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam đã bầu chọn được 3 ứng viên xứng đáng nhất cho cái gọi là “Giải Nhân Quyền Việt Nam năm 2023”.

Cũng như những năm trước, các đối tượng được “vinh danh” lần này cũng là những cái tên quen thuộc với các hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam và đang phải chấp hành những bản án nghiêm minh của pháp luật, đó là Trần Văn Bang, Y Wô Niê, và Lê Trọng Hùng. Cùng với đó, được biết lễ trao Giải năm nay sẽ được tổ chức tại TP Toronto, Canada, với sự họp tác của Ủy Ban Yểm Trợ Phong Trào dân Chủ Quốc Nội – Toronto, vào ngày 10/12/2023, nhân dịp kỷ niệm Ngày Quốc tế Nhân Quyền lần thứ 75.

Vốn dĩ, “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” là 1 tổ chức phản động thù địch do một số đối tượng người Việt lập ra ở Litte Sài gòn (Mỹ) vào năm 2002 với chiêu trò, thủ đoạn xuyên tạc, kích động người dân đòi chống phá chế độ nấp dưới vỏ bọc "dân chủ, nhân quyền".

Tính từ năm 2002 đến nay, tổ chức phản động này đã trao giải thưởng cho trên 60 cá nhân và 6 tổ chức với các hoạt động chống phá, thiếu thiện chí với Việt Nam như Nguyễn Văn Hải (blogger Điếu cày), Nguyễn Chính Kết, Trần Khải Thanh Thủy, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Cù Huy Hà Vũ, Tạ Phong Tần, Phạm Thị Đoan Trang, Nguyễn Văn Hoá, Nguyễn Năng Tĩnh, Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư, Đinh Thị Thu Thủy và Nguyễn Văn Túc…, trong đó năm 2022 cái gọi là “Giải thưởng Nhân quyền 2022” được chúng trao cho Nguyễn Tường Thuỵ, Trần Đức Thạch, Lưu Văn Vịnh.

Với năm 2023 này cũng không ngoại lệ khi bảng “thành tích” chống phá của Trần Văn Bang, Y Wô Niê, và Lê Trọng Hùng đã quá rõ ràng và đã được công khai trên các hệ thống báo chí, trang mạng thời gian qua. Trần Văn Bang bị tuyên phạt 8 năm t.ù về tội "làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống phá Nhà nước". Y Wô Niê đang chấp hành bản án phạt t.ù 04 năm tù giam về tội lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Còn Lê Trọng Hùng bị tuyên phạt 5 năm t.ù về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”

Vậy nên việc cổ vũ hay “tôn vinh” về cái gọi là “Giải Nhân Quyền Việt Nam năm 2023” cũng chỉ là chiêu trò, thủ đoạn phản động thao túng tâm lý, hướng lái xã hội Việt Nam chạy theo nền dân chủ nhân quyền hỗn loạn, "rách nát", băng hoại đạo đức hiện nay ở một số nước phương Tây, người theo dõi MXH và Nhân dân cần cảnh giác!./.