Thứ Tư, 3 tháng 1, 2024

Chống phá Đảng và đường lối, chủ trương của Đảng của cac sthees lực thù địch

 Chống phá Đảng và đường lối, chủ trương của Đảng; phủ nhận những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử dưới sự lãnh đạo của đảng về mọi mặt: chính trị, kinh tế- hội, văn hoá, quốc phòng, an ninh, đối ngoại hợp tác QT….

Lập luận của chúng là không thể làm trái quy luật mà phải đi đúng quy luật, không được bỏ qua chế độ tư bản được mà là phải “phát triển chủ nghĩa tư bản dưới sự lãnh đạo của Đảng”, muốn giải quyết các vấn đề xã hội phải làm theo chủ nghĩa xã hội dân chủ. Chúng rêu rao rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn con đường sai, không thể có chủ nghĩa xã hội. Không ít kẻ đã tuyên truyền, xuyên tạc rằng chủ nghĩa xã hội chính là bước quá độ từ nghèo nàn, lạc hậu tiến tới chủ nghĩa tư bản, những ước mơ của chủ nghĩa xã hội chính chủ nghĩa tư bản đã thực hiện rồi, rằng người ta có thể dễ dàng tìm thấy ở chủ nghĩa tư bản những lời giải đáp đầy đủ những vấn đề đặt ra trong cuộc sống loài người.

Chúng tập trung đánh vào các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ. Vu cáo Đảng Cộng sản chiếm quyền của dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền, “độc đoán, đảng trị”, thực hiện sự chuyên chính của một Đảng. Dựa vào một số “cải cách” ở các nước tư bản và nhất là dựa vào mô hình xã hội - dân chủ Thụy Điển, Phần Lan, chúng cho rằng từ chủ nghĩa tư bản tiến lên chủ nghĩa xã hội không nhất thiết phải thông qua cách mạng xã hội mà để phát triển tự nhiên thông qua việc mở rộng dân chủ, đấu tranh nghị trưởng để nhân dân tự lựa chọn chế độ mới.

Về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân chúng cho rằng giai cấp công nhân là đội ngũ có học vấn thấp, đa phần lãnh tụ của giai cấp công nhân là những người được đào tạo không cao cho nên giỏi lắm cũng chỉ có thể lật đổ chế độ cũ, chứ không thể lãnh đạo toàn dân xây dựng một xã hội mới tốt đẹp, nhất là trong thời đại khoa học phát triển. Chúng lập luận, nếu giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử là người “đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản” xây dựng một xã hội mới thì tại sao ở các nước tư bản phát triển có công nhân đông, chất lượng cao thì lại không thực hiện vai trò lãnh đạo của mình? Đảng Cộng sản Việt Nam không thể là Đảng của giai cấp công nhân được vì nó có rất ít tính công nhân mà mang đậm tính nông dân, chịu ảnh hưởng nặng nề của chủ nghĩa phong kiến. Với những điều kiện như trên, Đảng Cộng sản Việt Nam không thể lãnh đạo, xây dựng được chủ nghĩa xã hội đích thực ở Việt Nam, 

Nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và bôi nhọ lãnh đạo, chúng còn cho rằng “Đảng đã hoàn thành nhiệm vụ trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, hiện nay phải để lực lượng khác lãnh đạo đất nước thì đất nước mới phát triển được, cứ để Đảng lãnh đạo, đất nước còn lạc hậu”.

Chúng còn đánh vào công tác đối ngoại của Việt Nam, xuyên tạc cho rằng Việt Nam “mơ hồ và không rõ ràng” đối với cuộc xung đột Nga – Ukraine chúng ta  đã bỏ phiếu trắng đối với Nghị quyết “Lên án Nga xâm lược Ukraine và yêu cầu Nga chấm dứt chiến tranh” do Đại Hội đồng bảo an Liên hợp quốc tổ chức vào ngày 02 tháng 3 năm 2022…..

Chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. Trước hết là tập trung chống phá Chủ nghĩa Mác - Lênin.

 Ngoài việc phũ nhận những giá trị, bản chất khoa học của chủ nghĩa Mác chúng tập trung đánh vào tác phẩm “Tuyên ngôn Đảng cộng sản” vì chúng biết đây chính là tác phẩm nền tảng cho cho chủ nghĩa Mác-lênin ra đời. Chúng cho rằng nội dung của tác phẩm này chỉ là ý tưởng hão huyền, ngông cuồng và hiện nay càng lạc lõng vì chủ nghĩa tư bản không chỉ tồn tại, phát triển mà còn bền vững hơn; rằng hiện nay trong xã hội tư bản không còn quan hệ chủ thợ; rằng giai cấp công nhân và những ông chủ tư sản ngày nay đã hòa hợp trở thành tiền đề cho nhau cùng phát triển; rằng Cách mạng tháng Mười là dích dắc của lịch sử, là cuộc bạo động phản dân chủ, đã hết tác dụng,… Cứ như vậy chúng mù quáng tung ra đủ thứ lý luận nhằm bác bỏ chủ nghĩa Cộng sản như: du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử, chỉ mang đến tai họa vì Chủ nghĩa Mác - Lênin là tư tưởng ngoại lai không phù hợp với truyền thống dân tộc nên cần xóa bỏ, cứ lý thuyết nào đúng thì theo,…

Bên cạnh Chủ nghĩa Mác-lênin chúng còn điên cuồng chống phá,  phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng liên tục “đổi chiều, chuyển hướng”; một mặt chúng đề cao tuyệt đối giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh từ đó cho rằng Việt Nam chỉ cần tư tưởng Hồ Chí Minh chứ không cần Chủ nghĩa Mác; đưa chủ nghĩa Mác vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử…. Mặt khác chúng lại phủ nhận nhiều giá trị quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh; xuyên tạc, bôi nhọ về đời tư của chủ tịch và cho rằng Hồ Chí Minh chỉ là người dân tộc chủ nghĩa….

Nhận diện đúng để hành động mạnh mẽ, thiết thực, hiệu quả

 

Sự suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là quá trình diễn ra ở một bộ phận cán bộ, đảng viên do không chịu tu dưỡng, rèn luyện, bị chủ nghĩa cá nhân và những tham muốn vật chất cùng những tác động tiêu cực khác chi phối mà trở thành những người hư hỏng không còn giữ được phẩm chất cách mạng của người cộng sản. Sự tha hóa đó có tác động xấu đến việc giữ gìn, bồi đắp bản chất cách mạng của Đảng, đánh mất uy tín chính trị trước nhân dân và là thách thức lớn đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ.

Cần nhận diện rõ sự suy thoái dẫn đến "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Đó là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, không tin vào con đường xã hội chủ nghĩa, không phấn đấu vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc; hành động trái với Cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, phụ họa, tiếp tay cho các thế lực thù địch chống lại Đảng, Nhà nước; mang nặng chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, vụ lợi, tham nhũng, lãng phí, tha hóa về lối sống, nhân cách; vô trách nhiệm, quan liêu, xa dân, vô cảm trước những khó khăn của nhân dân. Những biểu hiện đó biến những cán bộ lãnh đạo, quản lý thành những "quan cách mạng" mà Bác Hồ đã nghiêm khắc phê phán.


 

NHẬN DIỆN CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN CHỦ TRƯƠNG “KHƠI DẬY KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC PHỒN VINH, HẠNH PHÚC” CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

Chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” được Đại hội XIII của Đảng đề ra thể hiện tầm nhìn chiến lược và quyết tâm chính trị rất cao của Đảng ta, với mục tiêu đến năm 2045 đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị ra sức xuyên tạc, bóp méo, hòng phủ nhận chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng ta. Chúng rêu rao thiếu căn cứ rằng, đó là một “khẩu hiệu trống rỗng”, “nặng tính duy tâm, siêu hình”, rằng “khát vọng” là yếu tố tinh thần; do vậy, khi Đảng Cộng sản Việt Nam nhiều lần đề cập và nhấn mạnh đến thành tố “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” trong Văn kiện Đại hội XIII (từ chủ đề Đại hội, quan điểm chỉ đạo, mục tiêu tổng quát, định hướng phát triển, nhiệm vụ trọng tâm, đột phá chiến lược) thì có nghĩa là đã tuyệt đối hóa yếu tố tinh thần cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nên đây là một quan điểm “duy tâm, siêu hình, đi ngược lại lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử”. Chúng suy diễn rằng, chủ trương của Đảng ta là “phi thực tế, phản khoa học”; là biểu hiện “chủ quan, nóng vội, duy ý chí”; là “ảo vọng viển vông, hão huyền”, “không có tính khả thi”; rêu rao rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ “đánh trống bỏ dùi”, không có kế hoạch và biện pháp triển khai cụ thể, hữu hiệu....

Trong khi đó, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, tình hình thế giới biến động rất nhanh, phức tạp, khó đoán định. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; cuộc xung đột giữa Nga và U-crai-na tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; lạm phát thế giới tăng cao, xu hướng tăng lãi suất, thắt chặt chính sách tiền tệ, tài khóa và hậu quả của đại dịch COVID-19 dẫn đến suy giảm tăng trưởng kinh tế toàn cầu; rủi ro tài chính, tiền tệ, mất an ninh năng lượng, lương thực... đang hiện hữu. Ở trong nước, áp lực lạm phát tăng cao; nhiều vấn đề tồn đọng kéo dài cần được giải quyết; dịch bệnh, thiên tai, bão lũ diễn biến phức tạp, gây nhiều thiệt hại cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của nhân dân. Lợi dụng tình hình đó, các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị kích động tâm lý bi quan, mơ hồ, chán chường, giảm niềm tin, thiếu quyết tâm của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân trong hiện thực hóa chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng. Chúng thường dùng thủ đoạn thông qua “gửi thư”, “trao đổi”, “góp ý” kiến nghị vào dịp Đại hội Đảng, Hội nghị Trung ương, kỳ họp Quốc hội, phiên họp Chính phủ...,  nhằm thổi phồng những yếu kém về kinh tế - xã hội, hạ thấp thành quả công cuộc đổi mới, khoét sâu vào tình trạng tham nhũng, tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Chúng triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội, các báo, đài phản động nước ngoài, các hình thức truyền thông mới, nhằm tuyên truyền chống phá trong một “thế trận” có “kịch bản” theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, “góp gió thành bão”; tung thông tin xấu, độc dưới dạng “thật như giả”, “giả như thật”; dựng lên các video clip, phóng sự có giao diện giống một số báo, đài chính thống để đưa tin, giật tít, “câu view”, nhằm đánh trúng tâm lý tò mò của nhiều người. Chúng sử dụng một số phát biểu hằn học, thiếu thiện chí của một số chính trị gia, học giả “diều hâu” phương Tây; những luận điệu sặc mùi phản động của các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị và các nhân vật ở trong nước đã bị xử lý kỷ luật vì suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”... để tuyên truyền chống phá, xuyên tạc chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Luận cứ phản bác các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trước các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng ta, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần hết sức tỉnh táo, cảnh giác cao và nhận thức rõ những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm, thâm độc của các thế lực thù địch. Chúng ta có đủ luận cứ để khẳng định rằng, chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng ta là đúng đắn, khoa học trên cơ sở nhận thức biện chứng tầm quan trọng của khát vọng phát triển đất nước; đánh giá khách quan cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước. Chủ trương đó đã được thảo luận rộng rãi, với sự thống nhất cao trong Đảng, sự đồng thuận của toàn dân; có tính khả thi cao với những mục tiêu, tầm nhìn, kế hoạch và biện pháp thực hiện cụ thể. Những kết quả đạt được qua hơn hai năm đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng là minh chứng, hiện thực sống động, chứng minh chủ trương đó đang đi vào cuộc sống một cách vững chắc, đầy thuyết phục; cụ thể là:

Thứ nhất, khát vọng phát triển đất nước có vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt.

Thực tiễn lịch sử xã hội loài người chứng minh, sự hình thành, phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc phụ thuộc trước hết vào khát vọng sinh tồn và vươn lên của cộng đồng dân tộc đó. Trong lúc thuận lợi, đặc biệt là khi gặp khó khăn, thách thức thì sức mạnh của tinh thần, của ý chí giữ vai trò hết sức quan trọng. Khát vọng phát triển của một dân tộc là nguồn năng lượng nội sinh to lớn và sức mạnh vô địch; là một trong những động lực trọng tâm của một quốc gia - dân tộc trên con đường đi tới tương lai.

Đối với Việt Nam, khát vọng phát triển đất nước thật sự là sức mạnh nội sinh phi thường, cội nguồn tạo nên những kỳ tích trong suốt hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Thời trung đại, Việt Nam đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược của phong kiến phương Bắc, giữ vững nền độc lập dân tộc, bắt nguồn từ khát vọng về độc lập, chủ quyền quốc gia. Trong thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã đập tan ách áp bức, bóc lột của đế quốc, phong kiến; đánh thắng các thế lực xâm lược hùng mạnh, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Những chiến công oanh liệt đó khởi nguồn từ khát vọng mãnh liệt của dân tộc được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát thành chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Hiện nay, khát vọng phát triển đất nước giàu mạnh, hùng cường là một động lực quan trọng thúc đẩy dân tộc ta vươn lên, quyết tâm khắc phục đói nghèo, lạc hậu, vượt qua bẫy thu nhập trung bình, nguy cơ tụt hậu về kinh tế... để phát triển trong giai đoạn mới.

Rõ ràng, Đảng ta không tuyệt đối hóa vai trò động lực của khát vọng phát triển đất nước, mà xác định đây là một trong những động lực cho tiến trình đổi mới, phát triển; là động lực thúc đẩy chứ không thể thay thế vai trò cơ sở, nền tảng quyết định của yếu tố kinh tế, vật chất, kỹ thuật.

Thứ hai, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước trên cơ sở đánh giá đúng cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước.

Khát vọng phát triển đất nước bắt nguồn từ niềm tin vững chắc vào cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước ta sau hơn 35 năm đổi mới. “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước”.

Một trong những dấu ấn nổi bật nhất là việc Việt Nam thực hiện thắng lợi “mục tiêu kép” trong giai đoạn đại dịch COVID-19 bùng phát dữ dội (từ cuối năm 2019): Vừa tập trung phòng, chống, kiểm soát tốt dịch bệnh, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Việt Nam được truyền thông quốc tế ca ngợi là “mảnh đất tiềm năng” (theo Forbes), “bình minh đang lên” (theo báo Nga), “ngôi sao sáng” (theo Asia Times), “phép màu châu Á” (theo New York Times),... 

Thứ ba, chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” thể hiện rõ sự thống nhất giữa “ý Đảng” với “lòng Dân”.

Trong quá trình chuẩn bị các văn kiện trình Đại hội XIII, các tiểu ban đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan ở Trung ương và địa phương tổ chức gần 60 hội nghị, hội thảo, tọa đàm; thành lập 50 đoàn đi khảo sát thực tế; tổ chức tọa đàm với một số tổ chức quốc tế, 2 đoàn đi khảo sát, nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài. Các tiểu ban đã tiến hành 20 phiên họp để thảo luận, thông qua Đề cương và các dự thảo văn kiện. Bộ Chính trị đã họp nhiều lần để cho ý kiến hoàn thiện Đề cương và các dự thảo văn kiện trình xin ý kiến Ban Chấp hành Trung ương tại các Hội nghị Trung ương 10, 11, 14 và 15 khóa XII. Các dự thảo báo cáo đã được chỉnh lý, sửa chữa nhiều lần và gửi xin ý kiến rộng rãi của các đại biểu Quốc hội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhiều tổ chức, cơ quan, đoàn thể... Bộ Chính trị đã quyết định công bố công khai toàn văn các dự thảo Báo cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng để lắng nghe ý kiến rộng rãi của nhân dân; đã có hàng triệu lượt ý kiến đóng góp vào dự thảo các văn kiện; các ý kiến đóng góp được tổng hợp trong tài liệu dài 1.410 trang.

Văn kiện được đánh giá là có quá trình chuẩn bị “rất công phu, chu đáo, bài bản, qua nhiều lần, nhiều vòng, từng bước hoàn thiện, có nhiều đổi mới quan trọng về nội dung và phương pháp. Quán triệt sâu sắc nguyên tắc kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn, giữa kiên định  đổi mới, giữa kế thừa  phát triển, trên cơ sở phát huy dân chủ rộng rãi, dự thảo các văn kiện đã thực sự là sản phẩm kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, thể hiện rõ sự thống nhất giữa “ý Đảng, lòng Dân”, hòa quyện cùng quyết tâm và ý chí phát triển của dân tộc”. Các ý kiến, đề xuất tâm huyết, trách nhiệm, kết tinh trí tuệ, ý chí và sức sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, thể hiện mong muốn đất nước ta ngày càng phát triển phồn vinh; nhân dân ta ngày càng ấm no, hạnh phúc; dân tộc ta ngày càng cường thịnh, trường tồn. Tất cả điều đó chứng minh rõ tính khoa học, khách quan, dân chủ của các đánh giá, mục tiêu, nhiệm vụ trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng.

Thứ tư, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước được thể chế hóa thành mục tiêu, tầm nhìn và kế hoạch, chương trình cụ thể.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Nói Đại hội XIII không phải chỉ cho đến năm 2026 (giai đoạn 2021 - 2026) mà phải có tầm nhìn chiến lược dài hơn, nhìn lại cả quá khứ và hướng tới tương lai”. Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc đã được Đảng, Nhà nước cụ thể hóa, thể chế hóa thành mục tiêu, chỉ tiêu, chương trình, kế hoạch cụ thể, với lộ trình và bước đi phù hợp với điều kiện thực tế.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định “những dấu mốc phát triển quan trọng của đất nước ta trong những thập niên sắp tới: - Đến năm 2025: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. - Đến năm 2030: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. - Đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”.

Giai đoạn hiện nay, Việt Nam xác định chỉ tiêu: tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân khoảng 7%/năm; GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đến năm 2030 đạt khoảng 7.500 USD; chỉ số phát triển con người (HDI) duy trì trên 0,74; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35% - 40%(10)

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh các nhiệm vụ đột phá sau: 1- Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; 2- Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; 3- Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại.

Đưa đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc là cả một quá trình cải biến toàn diện và sâu sắc, diễn ra trên tất cả lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội; vì vậy, để hoàn thành thắng lợi sự nghiệp vĩ đại này, cần huy động sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại bằng những kế hoạch, biện pháp cụ thể của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành trong từng giai đoạn.

Thứ năm, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước bước đầu được minh chứng với kết quả sinh động của đất nước từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay.

Hơn hai năm đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, trong bối cảnh tình hình trong nước và thế giới có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, nhất là phải chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch COVID-19, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nỗ lực phấn đấu, hoàn thành ở mức cao nhất các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, đạt được nhiều kết quả quan trọng, khá toàn diện.

Báo cáo triển vọng kinh tế năm 2023 của Viện Nghiên cứu kinh tế Trung ương (CIEM) đưa ra 2 kịch bản: Ở kịch bản 1, tăng trưởng kinh tế năm 2023 có thể đạt mức 6,47%; xuất khẩu tăng 7,21% và thặng dư thương mại đạt 5,64 tỷ USD; lạm phát sẽ ở mức 4,08%. Ở kịch bản 2, tăng trưởng kinh tế năm 2023 sẽ tích cực hơn, lên mức 6,83%; xuất khẩu tăng 8,43% và thặng dư thương mại đạt 8,15 tỷ USD; lạm phát sẽ được kiểm soát ở mức 3,69%.

Một tín hiệu lạc quan nữa là mặc dù phải đối diện với những khó khăn, thách thức, nhưng Đảng, Nhà nước vẫn tiếp tục quan tâm phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội. Việt Nam đã ứng phó, kiềm chế, kiểm soát được dịch bệnh, từng bước chuyển sang trạng thái “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19”. Cơ chế, chính sách nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh đã được triển khai đồng bộ, góp phần tích cực tiếp tục bảo đảm an sinh xã hội và đời sống nhân dân trong “trạng thái bình thường mới”.

Quốc phòng - an ninh tiếp tục được củng cố, tăng cường; chủ quyền quốc gia, môi trường hòa bình, ổn định tiếp tục được giữ vững, tạo thuận lợi cho phát triển đất nước. Hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục được mở rộng, triển khai đồng bộ, toàn diện, linh hoạt, hiệu quả. Vị thế, uy tín quốc tế của nước ta ngày càng được nâng cao, đóng góp tích cực, hiệu quả, trách nhiệm vào việc giữ vững hòa bình, hợp tác phát triển và tiến bộ trên thế giới.

 

Để ngăn chặn, đầy lùi tình trạng suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"

 Để ngăn chặn, đầy lùi tình trạng suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã đề ra các giải pháp căn bản. Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, tự phê bình, phê bình thường xuyên với hiệu quả thiết thực. Chú trọng cơ chế chính sách, chế tài tổ chức và quản lý cán bộ. Tăng cường công tác kiểm tra, thực hiện nghiêm kỷ luật Đảng và pháp luật của Nhà nước. Nêu cao vai trò giám sát của nhân dân, của Mặt trận và các tổ chức chính trị-xã hội.

Những giải pháp căn bản cần được cụ thể hóa thể hiện trong chính sách, thể chế để thực hiện tốt hơn cơ chế kiểm soát quyền lực. Các tổ chức đảng kiểm tra, kiểm soát quyền lực đối với từng cán bộ được giao trọng trách. Tăng cường kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan làm chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, đề cao người đứng đầu cần được thực hiện nghiêm túc. Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng phải gắn liền với sự tự tu dưỡng, rèn luyện của từng cán bộ, đảng viên.

Chú trọng thực hiện tốt Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Cần coi trọng nêu gương những đảng viên, cán bộ tận tụy, có trách nhiệm, thật sự vì nước, vì dân. Trong Đảng và xã hội ta còn rất nhiều người giỏi và tốt, làm sao để cái tốt đẩy lùi cái xấu, cái tiêu cực. Cần cảnh giác với sự kích động, phá hoại của các thế lực thù địch.

 

ĐẤU TRANH THỦ ĐOẠN “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG - VĂN HÓA

Hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa đối với nước ta trong những năm qua được thể hiện trên các thủ đoạn và nội dung chủ yếu như xuyên tạc bôi nhọ, đả kích bản sắc văn hóa dân tộc, đặc biệt là truyền thống văn hóa, văn nghệ cách mạng, lối sống xã hội chủ nghĩa - những giá trị tinh thần của chế độ xã hội chủ nghĩa. Chúng ra sức truyền bá văn hóa, lối sống tư sản phương Tây vào nước ta, đây là lối sống thực dụng, vụ lợi, cá nhân sùng bái đồng tiền, dâm ô trụy lạc… kích thích sự phục hồi phát triển lối sống mê tín dị đoan, tôn thờ chủ nghĩa hữu thần, tìm hiểu, móc nối, mua chuộc, kích động trí thức, văn nghệ sĩ có tư tưởng bất mãn, thù địch, cơ hội,... Qua đó, lôi kéo vào con đường chống lại Đảng, Nhà nước và nhân dân. Tìm cách thao túng, lũng đoạn, chi phối các cơ quan, tổ chức văn hóa, văn nghệ làm cho văn hóa, văn nghệ đi chệch định hướng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, chúng cũng ra sức phá vỡ, đẩy lùi lý luận chủ nghĩa Mác Lênin  tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng, đời sống tinh thần của xã hội. Đồng thời, chúng tăng cường đả kích, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước và mục tiêu, con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng và dân tộc ta đã lựa chọn. Chúng cho rằng con đường đó không còn phù hợp với quy luật của lịch sử, làm cho đất nước không thể phát triển và đòi Việt Nam từ bỏ con đường đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tác động của “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa ở nước ta trong những năm qua thể hiện trên những phương diện chủ yếu như sau:

          Phá hoại nn tảng tư tưởng của Đảng và Nhà nước ta, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Lợi dụng sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, các thế lực thù địch đã tấn công quyết liệt vào nền tảng tư tưởng của Đảng, Nhà nước ta là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; đả kích đường lối cách mạng của Đảng, lái cách mạng Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.

`Chúng kích động, lôi kéo những phần tử bất mãn trong nội bộ Đảng, nội bộ Nhà nước ta để làm nòng cốt chuyển hóa từ bên trong, kích động tâm lý hoài nghi dẫn đến phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hộiThực tế đã có một bộ phận nhân dân trong đó có một số cán bộ, đảng viên đã dao động, giảm lòng tin đối với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như con đường mà Đảng và dân tộc ta đã lựa chọn. Một số kẻ cơ hội xét lại đã tung ra những bài viết xuyên tạc, vu khống, bác bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Những việc làm ấy đã gây hoang mang, hoài nghi cho không ít người. Bằng cách đó, chúng muốn thúc đẩy tự diễn biến từ bên trong xã hội taTrước hết là tự diễn biến về nhận thức, tư tưởng, từ đó dẫn đến những tự diễn biến về các mặt khác.

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề nhân quyền để phá hoại về tư tưởng đối với Việt Nam, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của chúng ta, đặt điều kiện hòng ép ta thỏa hiệp, nhượng bộ về chính trị, thay đổi đường lối của ta, đi theo qu đạo của chúng; núp dưới chiêu bài dân chủnhân quyền để tuyên truyền kích động dư luận thế giới cô lập Việt Nam, gieo rắc sự nghi ngờ của công dân Việt Nam đối với Nhà nước; kích động và khơi dậy sự phản kháng của những kẻ bất mãn, những phần tử cơ hội, thoái hóa biến chất, những người trước đây cng tác với chế độ cũ, hiện đang còn ở Việt Nam để chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn ra sức vu khống, xuyên tạc chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo, dân tộc; chính sách đối với văn nghệ sĩ. Âm mưu của chúng là tạo ra những lực lượng chống đối ngầm trong nội bộ nhân dân ta. Nếu không được vạch trần, ngăn chặn, nó có khả năng làm rối loạn xã hội, tạo cơ hội cho “diễn biến hòa bình phát triển.

Trong lĩnh vực văn hóa, kẻ thù tập trung phá hoại truyền thống văn hóa dân tộc, văn hóa cách mạng, các chuẩn mực đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa. Chúng tìm mọi phương thức để các sản phẩm văn hóa độc hại xâm nhập sâu vào nước ta.

Chúng sử dụng các sản phẩm văn hóa đồi trụy, phản động để đầu độc quần chúng nói chung, đặc biệt là thế hệ thanh thiếu niên ở nước ta nói riêng, làm chuyển đổi giá trị thẩm mỹ, thị hiếu nghệ thuật, chuyển đổi các thang bậc giá trị xã hội theo chiều hướng xấu; âm mưu biến thế hệ trẻ thành công cụ và lực lượng xã hội chủ yếu trong thủ đoạn “diễn biến hòa bình của chúng.

Ngoài ra, “diễn biến hòa bình còn tác động xấu đến đạo đức, lối sống nhân dân ta, đó là sùng ngoại, coi thường giá trị văn hóa của dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân, ích kỉ, ham muốn làm giàu không chính đáng, ham muốn quyền lực cực đoan… đã và đang phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc ta. Khuynh hướng này hết sức nguy hiểm, có sức phá hoại mạnh, tác động trực tiếp đến tư tưởng, đạo đức, lối sống của nhân dân ta và về lâu dài sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nền tảng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Tóm lại, nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn tinh vi xảo quyệt của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa đối với Việt Nam hiện nay là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Điều đó đòi hỏi các cấp, các ngành tích cực, chủ động đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa trong tình hình mới một cách thường xuyên, liên tục và không khoan nhượng. Đây là yêu cầu, nhiệm vụ cấp bách và là trách nhiệm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

 

 

 

 

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH LUẬN ĐIỆU “THAM NHŨNG, THA HÓA, BIẾN CHẤT LÀ CÁI “PHỔ BIẾN” VÀ “TẤT YẾU” CỦA CHẾ ĐỘ ĐỘC ĐẢNG”

 Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam có nhiều thời kỳ phát triển rực rỡ nhưng hiếm thấy thời kỳ nào vị thế của dân tộc lại có được như bây giờ. Qua 36 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện, đem đến sức vóc mới, tiếp sức cho chúng ta tiến những bước vững chắc trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Thành công đó là minh chứng hùng hồn về sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và sự tin tưởng tuyệt đối của toàn dân, toàn quân ta với Đảng để đồng lòng, chung sức xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng vững mạnh, hùng cường.

Nhưng với mưu đồ chính trị, các thế lực thù địch đã và đang tìm mọi cách chống phá Đảng và chế độ ta. Khi các chiêu bài đòi “đa nguyên, đa đảng” đã hoàn toàn thất bại, họ lại dùng những thủ đoạn khác để thực hiện âm mưu đó. Trong lúc Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta kiên quyết đẩy mạnh công tác đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng tham nhũng, tha hóa, biến chất trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và từng bước đạt được những thành công, thì những thế lực chống đối lại đưa ra luận điệu: “tham nhũng, tha hóa, biến chất là cái “phổ biến” và “tất yếu” của chế độ độc đảng”. Đây vẫn là thủ đoạn xảo trá quen thuộc “lấy bé xé ra to”, lấy hiện tượng quy thành bản chất để phủ định tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn. Song, chúng ta có đầy đủ lý lẽ và chứng cứ thực tiễn để bác bỏ luận điệu này.

Thứ nhất, Đảng và Nhà nước ta nhận thức rõ sự nguy hại và đánh giá đúng thực trạng, tình hình tham nhũng, tha hóa, biến chất trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Tham nhũng và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, tha hóa, biến chất là những hiện tượng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Tham nhũng là một trong những biểu hiện của suy thoái, tha hóa, biến chất và nó là hiện tượng nghiêm trọng nhất. Sinh thời, khi nói về sự nguy hại của tham nhũng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gọi đó là “giặc nội xâm” và Người yêu cầu phải kiên quyết đấu tranh chống kẻ địch nguy hiểm này cùng với các căn bệnh khác như tha hóa, thoái hóa, biến chất. Còn Đảng ta xác định, tham nhũng cùng với tha hóa, biến chất là một trong những “nguy cơ lớn” đe dọa sự tồn vong của chế độ ta.

Nhận rõ sự nguy hại của tình trạng tham nhũng, tha hóa, biến chất của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tại các kỳ đại hội Đảng, nhất là những đại hội gần đây, Đảng ta đã luôn đặc biệt chú trọng đến nhiệm vụ phòng, chống các tệ nạn này. Văn kiện Đại hội X của Đảng nêu rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, giáo điều, bảo thủ, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức còn diễn ra nghiêm trọng”. Đại hội XI của Đảng nhận định: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng”. Đại hội XII của Đảng xác nhận: “Tình trạng tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng với biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp,... Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi”. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”, bệnh lãng phí, vô cảm, bệnh thành tích ở một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi”.

Những đánh giá của Đảng ta là rất nghiêm túc, khách quan, khoa học, đúng thực chất mức độ và tác hại của các hiện trạng tiêu cực vẫn đang diễn biến phức tạp. Có thể thấy rằng, việc xác định một bộ phận không nhỏ là sự đánh giá định tính nhưng rất chính xác (không nhỏ nghĩa là đã có con số đáng kể, có lớn nhưng chưa phải số đông, đáng kể nhưng vẫn là thiểu số, không phải đa số). Số liệu cụ thể cho thấy, năm 2022, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật đối với 38 tổ chức đảng, 166 đảng viên; đề nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư kỷ luật 19 tổ chức đảng, 43 đảng viên. Từ đầu nhiệm kỳ XIII đến nay đã thi hành kỷ luật 67 cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, trong đó có 07 Ủy viên Trung ương Đảng, 06 nguyên Ủy viên Trung ương Đảng. Với số lượng 67 trường hợp bị xử lý trong hàng nghìn cán bộ do Trung ương quản lý cũng như 07 trường hợp kỷ luật trong hàng trăm Ủy viên Trung ương thì không thể coi đó là “phổ biến”.

Thứ hai, Đảng và Nhà nước ta kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái, tha hóa, biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và đã đạt được những kết quả tích cực. Nhận thức rõ tham nhũng, tha hóa, biến chất trong một bộ phận cán bộ, đảng viên sẽ làm suy yếu Đảng, suy giảm quyền lực của Nhà nước và sói mòn lòng tin của Nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình chung của đất nước, Đảng và Nhà nước có quyết tâm chính trị cao trong việc phòng, chống các biểu hiện tiêu cực này. Bởi vậy, việc phòng, chống tham nhũng, tha hóa, biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên trở thành nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị.

Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994), Đảng ta đã xác định nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội khác là một trong bốn nguy cơ đối với Đảng. Các nhiệm kỳ tiếp theo, Đảng ta ban hành nhiều nghị quyết liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất. Đại hội XII của Đảng xác định nhiệm vụ trọng tâm: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, triệt để hơn, hiệu quả hơn. Kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi tham nhũng, lãng phí, bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng, lãng phí, không có vùng cấm, không có ngoại lệ”.

Cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống các tệ nạn này; các cơ quan chuyên trách được kiện toàn, đẩy mạnh hoạt động và phát huy hiệu quả. Cùng với những giải pháp quyết liệt trong nước, Việt Nam đã tham gia ký kết nhiều văn bản pháp lý quốc tế về phòng, chống tham nhũng. Với quyết tâm chính trị cao của Đảng và Nhà nước, sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận, hưởng ứng của nhân dân, công tác phòng, chống tham nhũng, tha hóa, biến chất đã đạt được những kết quả tích cực. Trả lời phỏng vấn Thông tấn xã Việt Nam nhân dịp đầu năm mới 2023, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: năm 2022, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã được Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, có nhiều điểm mới, đạt nhiều kết quả cụ thể, được cán bộ, đảng viên, nhân dân và dư luận quốc tế đồng tình ủng hộ, đánh giá cao. Tổng Bí thư cũng chỉ rõ: trước một số ý kiến cho rằng, nếu quá tập trung vào chống tham nhũng sẽ làm “nhụt chí”, “chùn bước” những người dám nghĩ, dám làm, sẽ làm “chậm sự phát triển đất nước”, nhưng thực tế đã chứng minh, chính nhờ làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, chúng ta giữ vững ổn định chính trị xã hội, phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng quan hệ đối ngoại, củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân và bạn bè quốc tế.

Thứ ba, tình trạng tham nhũng, tha hóa, biến chất về nhân cách là “quốc tế nạn” chứ không phải ở chế độ một đảng cầm quyền. Chúng ta biết, quy luật của tự nhiên và xã hội luôn có sự phát triển không đồng đều. Trong một khu rừng, cùng một loại cây hoặc muông thú đều có cá thể mạnh, yếu và khuyết tật; trong một cây rất tươi tốt cũng có cành mục, cành khô; trong đời sống xã hội bao giờ cũng có người tốt và kẻ xấu và tham nhũng, suy thoái, tha hóa nhân cách cũng vậy, ở chế độ nào cũng có, nhưng không thể là cái “phổ biến”, mà chỉ là hiện tượng mang tính xã hội, tồn tại ở tất cả các quốc gia khi quyền lực nhà nước bị thao túng, lợi dụng để trục lợi và được coi là “quốc tế nạn” ở mọi thể chế chính trị, là căn bệnh nan y đã có từ rất lâu trong lịch sử loài người. Như vậy, chế độ một đảng cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ tham nhũng, suy thoái, tha hóa, biến chất. Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế, tham nhũng là tệ nạn rất nhức nhối, xuất hiện ở nhiều quốc gia, trong đó nhiều nhất lại là ở các quốc gia có chế độ đa đảng do giai cấp tư sản lãnh đạo. Nhiều quốc gia không phải đảng cộng sản cầm quyền, như: Hàn Quốc, Malaysia, Colombia, Brazil, Ukraine,… tham nhũng xảy ra rất nghiêm trọng. Ngay cả Nghị viện châu Âu (EP) cũng vừa vướng vào bê bối tham nhũng, cụ thể: giới chức Bỉ ngày 11/12/2022 đã bắt 04 cá nhân với cáo buộc nhận tiền và quà từ một quốc gia vùng Vịnh. Trong số 04 người này có nghị sĩ Hy Lạp Evakaili là một trong 14 phó chủ tịch EP và Francisco Giogi, cố vấn của EP. Vừa qua, cựu nghị sĩ Ukraine Kostiantyn Zhevago bị bắt ở Pháp vì bị cáo buộc tham ô gần 200 triệu USD ở quê nhà; tháng 7/2022, Thủ tướng Anh Boris Johnson buộc phải từ chức vì bê bối về nhân cách, v.v.

Những luận chứng, luận cứ trên đã khẳng định: “tham nhũng, tha hóa, biến chất” là một hiện tượng mang tính xã hội, ở chế độ xã hội nào cũng có, không thể quy thành bản chất của chế độ độc đảng. Vì thế, luận điệu: tham nhũng, tha hóa, biến chất là cái “phổ biến” và “tất yếu” của chế độ độc đảng - một cách nhìn méo mó về lý luận, lệch lạc về thực tiễn, cần kiên quyết bác bỏ. Với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự quyết liệt trong điều hành của Nhà nước, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, cùng sự đồng thuận của nhân dân, chúng ta hoàn toàn tin tưởng cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tha hóa, biến chất nhất định sẽ đạt nhiều thắng lợi, sự nghiệp cách mạng của chúng ta nhất định thành công.

 

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI

CÁC TỔ CHỨC TÔN GIÁO TỰ XƯNG

 

Thời gian vừa qua, các tổ chức tôn giáo tự xưng như “Hội thánh đức chúa trời”, “Pháp môn diệu âm”, “Tâm linh Hồ Chí Minh”, “Pháp luân công”… có nhiều hoạt động tuyên truyền, lôi kéo người dân tham gia sinh hoạt tôn giáo trái pháp luật, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.

Các tôn giáo chính thống hiện nay gồm Công giáo, Phật giáo và các hệ phái Tin lành đã được Nhà nước công nhận, luôn tuân thủ quy định của pháp luật và phù hợp với phong tục tập quán của địa phương. Đội ngũ chức sắc, tín đồ tôn giáo đã phát huy truyền thống “tốt đời, đẹp đạo”, tích cực tham gia xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.

Tuy nhiên, trong những năm trở lại đây, các đối tượng hoạt động theo màu sắc tà đạo, tà giáo có nhiều hoạt động tuyên truyền, tán phát tài liệu nhằm quảng bá, lôi kéo người dân tham gia, tác động tiêu cực đến đời sống và hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng lành mạnh của nhân dân. Các tổ chức tôn giáo tự xưng này thường tập trung ở những nơi đông người để gây sự chú ý, phô trương thanh thế dưới hình thức làm từ thiện, rải tờ rơi, tặng tài liệu, rước lễ, luyện tập khí công. Cụ thể:

“Hội thánh của đức chúa trời” lôi kéo người tham gia chủ yếu là phụ nữ, người già và học sinh, sinh viên hoặc những người nhẹ dạ cả tin, có hoàn cảnh éo le, bất hạnh trong cuộc sống. Chúng thường rao giảng với luận điệu duy tâm, phản khoa học; phản bác những lời răn dạy của bố mẹ, anh chị em trong gia đình, trái với thuần phong mỹ tục. Đối với những ai có ý định bỏ ngang, chúng sẽ dùng những hình phạt như “nằm trong chảo dầu”, “bị đày đọa đau khổ” khi chết khiến nhiều người nhẹ dạ sợ hãi, nghe lời mà không dám bỏ. Bên cạnh đó, các đối tượng còn đưa ra những mức thưởng bằng vật phẩm hoặc tiền cho những người tham gia mời được thêm người vào Hội nhóm.

“Pháp luân công” tàng trữ, phát tán tài liệu “Chân Thiện Nhẫn”, “Pháp luân đại pháp”, “Năm bài công pháp”… để tuyên truyền với luận điệu nếu tập luyện Pháp luân công có thể điều trị bách bệnh, kể cả dịch bệnh Covid-19, không cần đến bệnh viện thì các bệnh cũng sẽ tự khỏi.

“Pháp môn diệu âm” trao quà từ thiện cho các đơn vị, cá nhân để ủng hộ, hỗ trợ. Thông qua đó, các đối tượng đã tán phát ảnh, đĩa DVD về Trần Tâm và Pháp môn diệu âm; tuyên truyền rằng gạo (trong các phần tặng quà) là gạo của “Minh sư Trần Tâm”, “Gạo của Thượng đế”, nếu ăn loại gạo này sẽ nhận được “dòng âm lưu của Thượng đế”, có nhiều sức khỏe vượt qua bách bệnh, thậm chí còn tuyên truyền thoát nạn diệt chủng Covid-19; các đối tượng còn quay phim, chụp ảnh phục vụ việc tuyên truyền, công khai hóa hoạt động Pháp môn diệu âm ở Việt Nam.

“Tâm linh Hồ Chí Minh” lợi dụng thân thế, sự nghiệp, niềm tin tôn kính của nhân dân ta đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh để lôi kéo, tuyên truyền người dân tham gia; chỉ cần nghe đĩa, đọc sách sẽ được linh ứng, linh truyền vào chén nước, uống hết nước sẽ khỏi tất cả các loại bệnh tật, kể cả bệnh ung thư. Mặc dù lấy tư tưởng, hình ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lừa gạt nhưng chúng không biết rằng trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao tinh thần tự do tín ngưỡng, bình đẳng giữa các tôn giáo, đồng thời kịch liệt lên án việc lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng để hành nghề mê tín dị đoan, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc và lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng để tư lợi.

Tất cả những tài liệu, video, tranh ảnh gọi là “giáo lý”, “giáo luật” của các tổ chức tôn giáo tự xưng trên đều không có nguồn gốc, không do tổ chức có tư cách pháp nhân phát hành. Hầu hết các tổ chức tôn giáo tự xưng khi đã lôi kéo được người tin theo sẽ chi phối, trói buộc bằng thần quyền, giáo luật, giáo lý trong đó có tư tưởng cố hữu tin nhất nhất làm theo lời “giáo chủ”. Đối tượng cầm đầu các tổ chức tôn giáo tự xưng đi tuyên truyền không xuất trình được bằng cấp, chứng chỉ đào tạo qua trường lớp về tôn giáo, thần học. Nghiêm trọng hơn, việc truyền bá các loại tà đạo trên cơ sở lợi dụng niềm tin của người dân là một phương thức lừa đảo tiền bạc, của cải do các đối tượng cầm đầu hầu hết xuất thân là lao động tự do, kinh doanh thua lỗ hoặc đã tham gia bán hàng đa cấp, không có công việc ổn định thực hiện.

Hoạt động của các tổ chức tôn giáo tự xưng, tà đạo trên đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng trong gia đình và xã hội, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội. Khi người dân tham gia đã bỏ học, bỏ làm để đi theo, gây mâu thuẫn gia đình (không sinh hoạt vợ chồng); gây xung đột văn hóa (phá bỏ bàn thờ tổ tiên) và có dấu hiệu lợi dụng giáo lý để lôi kéo, trục lợi, trích nguồn thu 10% để đóng góp vào tổ chức. Ngoài ra, chúng còn tuyên truyền mê tín dị đoan, như tận thế, không làm mà vẫn có ăn; thậm chí sớm về “thiên đường” để được hưởng sung sướng…

Trước hoạt động phức tạp về an ninh, trật tự của các tổ chức tôn giáo tự xưng, cơ quan chức năng, chính quyền các cấp đã tiến hành nhiều biện pháp để tuyên truyền, vạch rõ bản chất phản văn hóa và trái pháp luật của các tổ chức này; đồng thời giáo dục, vận động nâng cao nhận thức, cảnh tỉnh người dân trước các chiêu trò lôi kéo.

Người dân cần nâng cao cảnh giác, tuyệt đối không tham gia các hội nhóm phản khoa học, lợi dụng lòng tin để trục lợi. Với những tổ chức, cá nhân lợi dụng tự do tín ngưỡng để lôi kéo, ép buộc tham gia các hoạt động truyền bá tư tưởng lệch chuẩn, thiếu khoa học, gây bất ổn xã hội, đề nghị người dân khi phát hiện chủ động tố giác với cơ quan chức năng để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.