Thứ Tư, 1 tháng 5, 2024

HẾT LÒNG HẾT SỨC PHỤNG SỰ TỔ QUỐC, PHỤC VỤ NHÂN DÂN

 Bác Hồ muôn vàn kính yêu của chúng ta đã đi xa, nhưng di sản tư tưởng, đạo đức, phong cách Người để lại vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn to lớn, là kim chỉ nam dẫn đường cho cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi. Trong đó, tư tưởng về nêu cao thái độ, trách nhiệm hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, Nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên có giá trị to lớn đối với mọi giai đoạn cách mạng.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ Nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Bác của chúng ta là tấm gương sáng ngời, lời nói luôn gắn liền với hành động, lý luận đi đôi với thực tiễn, đã nói là làm. Việc nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân đã được Người thực hiện trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng. Mặc dù Người đã đi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng tư tưởng, đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh vẫn mãi mãi dẫn đường chỉ lối cho các thế hệ cán bộ, đảng viên tiếp bước noi theo, học tập.
Người luôn yêu cầu cán bộ, đảng viên, phải nêu cao trách nhiệm trước Đảng, Chính phủ, trước Nhân dân và trước nhiệm vụ, công việc được giao, dù là việc to hay việc nhỏ. Theo Hồ Chí Minh, tinh thần trách nhiệm “Là khi Đảng, Chính phủ, hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công. Làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy, v.v… là không có tinh thần trách nhiệm”.
Thấm nhuần tinh thần đó, Người luôn suy nghĩ, tìm tòi, đổi mới trong công việc, không cứng nhắc, bảo thủ, đóng khung, cố chấp, mà rất linh hoạt, mềm dẻo khi xử lý, giải quyết từng vấn đề, sự việc cụ thể. Một ví dụ để minh chứng cho nhận định trên: Khi dự thảo công văn cho Bác, anh em giúp việc thường dựa vào các văn bản cũ đã được Người duyệt để làm theo. Không ngờ, có lần Người lại sửa khác đi. Anh em giúp việc có ý thanh minh: Thưa Bác, cháu thấy trong văn bản trước Bác đã thông qua một câu như vậy rồi ạ. Người nói, lần trước Bác chưa nghĩ ra, lần này Bác thấy phải sửa tiếp cho tốt hơn. Có thể thấy, phong cách làm việc của Người là luôn đổi mới, sáng tạo, không cứng nhắc, không chấp nhận tư duy lối mòn, kinh nghiệm chủ quan, mà hướng tới sự mới mẻ, hiệu quả để ngày càng đạt kết quả tốt hơn.
Trải qua hơn 35 năm đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Những thành tựu đó đã làm thay đổi bộ mặt đời sống Nhân dân, tiềm lực, vị thế nước ta trên trường quốc tế được nâng lên. Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập, trong đó, tinh thần trách nhiệm mà nhất là “bệnh sợ trách nhiệm” của một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay đang là vấn đề đáng suy ngẫm. Biểu hiện của bệnh sợ trách nhiệm như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu rõ: Người sợ trách nhiệm thường làm việc một cách cầm chừng cho “đủ bổn phận”, cốt sao không phạm phải khuyết điểm gì lớn. Vì luôn luôn lo sợ phải chịu trách nhiệm về những việc sẽ xảy ra, cho nên không muốn cải tiến công tác, không dám mạnh dạn thay đổi những cái không hợp lý, chỉ làm theo nếp cũ.
“Họ” thường rụt rè, do dự trong khi giải quyết công việc, không phát biểu rõ ràng, dứt khoát ý kiến riêng của mình, không dám quyết đoán những việc thuộc phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của mình. Muốn trốn tránh trách nhiệm cá nhân, đùn đẩy trách nhiệm lên trên, ỷ lại và chờ đợi một cách thụ động. “Họ” cũng thường lấy lý do làm việc tập thể, tôn trọng tập thể để dựa dẫm vào tập thể, ngại “va chạm” trong quan hệ với các đồng chí trong đơn vị, với cấp trên và cả với cấp dưới.
Nguồn gốc của bệnh sợ trách nhiệm như Hồ Chí Minh đã cảnh báo là do chủ nghĩa cá nhân: “Có lợi cho tôi thì tôi tích cực; không có lợi cho tôi thì tôi tiêu cực. Tôi muốn có địa vị cao, nhưng lại sợ trách nhiệm”. Chính vì luôn luôn tính toán cho lợi ích cá nhân, bo bo “bảo vệ” lấy cái cá nhân của mình mà mất cả dũng khí đấu tranh, thiếu hẳn tinh thần trách nhiệm nghiêm túc, tính kiên quyết, tính nguyên tắc trong khi giải quyết các vấn đề. Đảng ta thừa nhận: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa tiên phong, gương mẫu; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn diễn biến phức tạp. Tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi còn hình thức. Thực hiện trách nhiệm nêu gương, nhất là của người đứng đầu chưa tạo được sự lan tỏa sâu rộng”.
Thực trạng trên làm cho năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bị giảm sút; niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước bị xói mòn.
Để kịp thời khắc phục tình trạng này, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 về “Chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung”. Trong thời gian tới, để nâng cao ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
Một là, mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao ý thức, tinh thần trách nhiệm với công việc. Học và làm theo Bác không phải là bằng những điều cao siêu, to lớn, mà cần bắt đầu từ những lời nói, việc làm, bằng thái độ, cách ứng xử trong xử lý và giải quyết công việc hằng ngày. Đó là sự tự ý thức về trách nhiệm của mình trong công việc chung, là việc cố gắng, nỗ lực hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ ở cương vị công tác. Mỗi người cần thấm nhuần, khắc sâu lời Bác dạy: Cán bộ, đảng viên “là người đày tớ trung thành và tận tụy của Nhân dân”; “phục vụ Nhân dân là phục tùng chân lý”; “làm công bộc cho dân là một việc làm cao thượng”.
Học Bác về tinh thần trách nhiệm phục vụ Nhân dân cần xuất phát từ tinh thần tự giác, sự thôi thúc của con tim, từ danh dự và lương tâm của chính bản thân mỗi người. Làm việc với một niềm đam mê, hăng say, phấn khởi, tin tưởng, hạnh phúc, với mong muốn được cống hiến, đóng góp một phần nhỏ bé vào sự phát triển của cơ quan, đơn vị, tổ chức mà mình là thành viên, rộng hơn là của xã hội, đất nước, chứ không phải vì danh lợi, chạy theo thành tích. Cần nhận thức rõ rằng, trở thành một cán bộ, công chức, một đảng viên là niềm vinh dự, tự hào, nhưng cũng là trách nhiệm, nghĩa vụ to lớn. Vinh dự, trách nhiệm đó đòi hỏi mỗi người phấn đấu, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng, năng lực chuyên môn để hoàn thành tốt nhiệm vụ được tổ chức phân công, giao phó.
Học tập tinh thần trách nhiệm của Bác còn là việc phải luôn đau đáu, trăn trở với những tâm tư, suy nghĩ, mong mỏi của người dân và xã hội, muốn đóng góp sức lực nhỏ bé của mình vào việc xây dựng một xã hội tiến bộ, tốt đẹp hơn; nói đi đôi với làm, lý luận liên hệ với thực tiễn; biết thông cảm, thấu cảm, biết đau trước những khó khăn, mất mát của người dân; biết vui mừng, sẻ chia trước hạnh phúc, niềm vui của Nhân dân. Thấu hiểu và cảm thông với Nhân dân, xuất phát từ lợi ích của Nhân dân sẽ giúp mỗi cán bộ, đảng viên luôn tìm tòi, suy nghĩ để giải quyết công việc vừa ích nước, vừa lợi dân.
Hai là, trong xử lý và giải quyết công việc cần khắc ghi sâu sắc nguyên tắc lợi ích của Tổ quốc, của Nhân dân, của Đảng là tối thượng, bất khả xâm phạm, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Người cán bộ, đảng viên trước bất cứ công việc gì, dù ở cương vị, hoàn cảnh nào cũng phải luôn đặt lợi ích của Tổ quốc, của Nhân dân, của Đảng lên trước. Lợi ích của cá nhân, của bộ phận, của giai cấp phải phục tùng và không được làm tổn hại đến lợi ích dân tộc; đồng thời, linh hoạt, mềm dẻo, “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong thực hiện nguyên tắc này. Vì vậy, trong quá trình hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã giải quyết một cách đúng đắn, sáng tạo yêu cầu, đòi hỏi, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam; đoàn kết, tập hợp được sức mạnh của cả dân tộc làm nên thắng lợi vĩ đại trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc.
Để luôn đứng vững trên lập trường dân tộc, lấy quyền lợi của Tổ quốc và Nhân dân làm tối thượng, cần chống chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm, tư tưởng cục bộ, óc bè phái, kéo bè kéo cánh, như Người đã nhiều lần chỉ ra. Chủ nghĩa cá nhân “là một thứ vi trùng rất độc, một thứ rất gian giảo, xảo quyệt”. Do chủ nghĩa cá nhân mà ngại khó khăn, gian khổ, tham danh, trục lợi, thích địa vị, quyền hành, xa rời quần chúng, mất đoàn kết, kém tinh thần trách nhiệm,… Nó là nguyên nhân của mọi thói hư tật xấu, của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Do vậy, phải “kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân” - kẻ thù bên trong của mỗi chúng ta.
Ba là, học tập và làm theo Bác, mỗi cán bộ, đảng viên cần không ngừng rèn luyện về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, chuyên môn, nghiệp vụ. Trong một xã hội vận động và biến đổi nhanh chóng, đất nước hội nhập sâu rộng với thế giới đã và đang đặt ra yêu cầu, đòi hỏi rất cao về năng lực, chuyên môn, phẩm chất, đạo đức, bản lĩnh chính trị đối với mỗi người cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Do vậy, để tránh tụt hậu, đáp ứng được yêu cầu của công việc, tiến tới có đủ năng lực làm việc được trong môi trường quốc tế, không có cách nào khác, mỗi người cần có tinh thần cầu thị, không ngừng cố gắng, nỗ lực học tập, rèn luyện để tự hoàn thiện bản thân, ngày càng tiến bộ.
Mỗi cán bộ, đảng viên phải coi việc tự học tập, rèn luyện là nhiệm vụ tự thân, là chế độ, quy định bắt buộc. Học tập là con đường duy nhất để tiến bộ và phát triển. Học tập phải được coi là nghĩa vụ, là khát vọng, niềm say mê, nguồn vui để làm việc và làm người cán bộ, đảng viên tốt. Không học tập và rèn luyện sẽ bị tụt hậu, đào thải, không đáp ứng được yêu cầu về phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn. Do vậy, cần xác định học tập là công việc suốt đời, “còn sống là còn phải học”. Có nhiều cách học: học ở trường lớp, học đồng nghiệp, học trong sách vở, tự học. Nói tóm lại, muốn cán bộ, đảng viên công tác giỏi, muốn sự nghiệp đổi mới tiến lên, gặt hái được nhiều thành tựu năm sau to hơn năm trước thì trong nhiều việc cần làm ngay, cán bộ, đảng viên nhất định phải học Bác tinh thần trách nhiệm, tính kiên quyết, tính nguyên tắc, lòng dũng cảm, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám đổi mới sáng tạo vì Nhân dân, vì Tổ quốc. Đồng thời, phải thấm nhuần lời dạy của V.I.Lênin được Hồ Chí Minh nhắc đi nhắc lại nhiều lần: “Học, học nữa, học mãi”./.
ST

XÂY DỰNG CÁC ĐƠN VỊ CƠ SỞ TRONG QUÂN ĐỘI VỮNG MẠNH VỀ CHÍNH TRỊ THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, qua đó góp phần xây dựng Quân đội trưởng thành về mọi mặt, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó. Hiện nay, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc, xây dựng Quân đội trong tình hình mới đòi hỏi cần xây dựng các đơn vị cơ sở - tổ chức nền tảng của Quân đội ngày càng vững mạnh về chính trị, góp phần xây dựng các đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI VỮNG MẠNH VỀ CHÍNH TRỊ THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH.
Trung thành, vận dụng sáng tạo những nguyên lý xây dựng Quân đội kiểu mới của chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt lên hàng đầu vấn đề xây dựng Quân đội về chính trị, xây dựng và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc, làm cho Quân đội ta luôn là lực lượng chính trị trung thành và tin cậy của Đảng, của Nhà nước và của Nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng xây dựng Quân đội về chính trị, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở xây dựng các mặt khác. Với quan điểm “chính trị trọng hơn quân sự”, Người khẳng định: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại. Quân đội ta là quân đội nhân dân. Nhân dân có Đảng lãnh đạo, Đảng có chính cương, chính sách. Đã là quân đội nhân dân thì phải học chính sách của Đảng”.
Người đặc biệt quan tâm chăm lo xây dựng bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc cho Quân đội, xem đó là nội dung cốt lõi, công cụ chắc chắn nhất để xây dựng thành công và bảo đảm cho Quân đội luôn là lực lượng chính trị tin cậy của Đảng; xứng đáng là Quân đội của dân, do dân và vì dân. Người cho rằng, muốn cho Quân đội trở thành một đội quân vô địch thì Đảng phải đặc biệt coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, làm cho cán bộ, chiến sĩ “có lập trường vững chắc, lập trường quân đội của nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát cô đọng, đầy đủ nhất những vấn đề có tính nguyên tắc và nội dung cơ bản xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Cán bộ và chiến sĩ thương yêu nhau như ruột thịt, chia ngọt sẻ bùi. Quân và dân như cá với nước, đoàn kết một lòng, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau. Quân đội ta có tinh thần yêu nước chân chính, lại có tinh thần quốc tế vô sản cao cả”.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị cần phải củng cố, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Cần phải tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, làm cho cán bộ, chiến sĩ có lập trường kiên định, vững vàng, hoàn thành trách nhiệm với Tổ quốc và nhân dân. Người chỉ ra rằng: “Phải tăng cường công tác chính trị, luôn luôn nâng cao trình độ chính trị và giác ngộ giai cấp của bộ đội ta; phải bảo đảm sự chấp hành chính sách của Đảng và Chính phủ; phải triệt để giữ gìn kỷ luật tự giác về mặt quân sự và về mặt chính trị. Vì vậy, cần phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong Quân đội và phải thực hiện dân chủ trong bộ đội”.
Người luôn coi trọng việc xây dựng sự đoàn kết, thống nhất, thực hành dân chủ và kỷ luật nghiêm minh trong Quân đội, coi đó là nguồn sức mạnh của mọi thành công. Bên cạnh đó, Người coi trọng việc xây dựng, củng cố, tăng cường mối quan hệ gắn bó “máu thịt” giữa Quân đội với nhân dân, bảo đảm cho Quân đội là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Người nhắc nhở: “Mình đánh giặc là vì dân. Nhưng mình không phải là "cứu tinh" của dân, mà mình có trách nhiệm phụng sự nhân dân. Tất cả quân nhân phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu... Muốn vậy, bộ đội phải giúp đỡ dân, thương yêu dân... Dân như nước, quân như cá”.
Bên cạnh đó, Người yêu cầu cần chú trọng giáo dục tinh thần đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc, giữa quân đội ta với quân đội các nước anh em, xây dựng tinh thần quốc tế vô sản trong sáng cho cán bộ, chiến sĩ, tích cực tham gia thực hiện nhiệm vụ quốc tế với tinh thần “giúp bạn tức là mình tự giúp mình”.
XÂY DỰNG CÁC ĐƠN VỊ CƠ SỞ TRONG QUÂN ĐỘI VỮNG MẠNH VỀ CHÍNH TRỊ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU TRONG TÌNH HÌNH MỚI
Suốt 80 năm qua, quán triệt sâu sắc, vận dụng đúng đắn, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội, Quân đội nhân dân Việt Nam đã cùng với nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, làm nên những chiến thắng vẻ vang, xứng đáng là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Trong giai đoạn hiện nay, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có những diễn biến nhanh chóng, khó lường; xung đột quân sự, tranh chấp biển đảo, chạy đua vũ trang ngày càng phức tạp. Đối với nước ta, sau gần 40 năm đổi mới, đất nước chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Tuy nhiên, nước ta vẫn đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau. Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “phi chính trị hóa quân đội”. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, xây dựng Quân đội đang đặt ra nhiều vấn đề mới. Mặt trái của kinh tế thị trường, sự tác động đa chiều của khoa học công nghệ, internet, mạng xã hội cùng những tiêu cực, tệ nạn xã hội tác động không nhỏ tới tư tưởng của các bộ, chiến sĩ ở các đơn vị trong Quân đội.
Ngày 24/11/2023, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 44-NQ/TW về "Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới", trong đó xác định: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống”. Do đó, trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, xây dựng các đơn vị cơ sở trong quân đội vững mạnh về chính trị là một yêu cầu khách quan, là một đòi hỏi cấp bách đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc và của Quân đội.
Theo Hướng dẫn số 1773/HD-CT ngày 21/10/2022 của Tổng cục Chính trị quân đội nhân dân Việt Nam, thực hiện tiêu chuẩn 1 “vững mạnh về chính trị” trong xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, nội dung, chỉ tiêu xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị bao gồm: 1) Về chính trị tư tưởng: Cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; giữ vững phẩm chất đạo đức, lối sống của người quân nhân cách mạng; có ý chí quyết tâm cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. 2) Cấp ủy, tổ chức đảng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, cơ quan chính trị, cán bộ chính trị hoàn thành tốt nhiệm vụ. 3) Đội ngũ cán bộ bảo đảm số lượng, chất lượng, cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; cán bộ làm công tác cán bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ. 4) Thực hiện tốt công tác bảo vệ an ninh, dân vận và chính sách. 5) Các tổ chức quần chúng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; hội đồng quân nhân vững mạnh, hoạt động có hiệu quả. 6) Thực hiện có hiệu quả hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ; chấp hành nghiêm chế độ, nền nếp công tác đảng, công tác chính trị.
5 GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM
Một là, tăng cường sự lãnh đạo chặt chẽ, toàn diện của các cấp ủy và tổ chức đảng đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội về chính trị ở đơn vị cơ sở. Toàn bộ hoạt động ở đơn vị đặt dưới sự lãnh đạo chặt chẽ, thống nhất của cấp ủy và tổ chức đảng. Do đó, cần thường xuyên củng cố, kiện toàn cấp ủy, tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đủ số lượng, chất lượng cao, cơ cấu hợp lý, phân công, phân cấp rõ ràng cho từng cấp ủy viên, bảo đảm sự lãnh đạo chặt chẽ của cấp ủy và tổ chức đảng. Không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng trong Quân đội; đẩy mạnh phòng, chống mọi biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên ở đơn vị cơ sở.
Hai là, tiếp tục cụ thể hóa nội dung, đa dạng hóa hình thức, biện pháp xây dựng các đơn vị cơ sở vững mạnh về chính trị. Các đơn vị cần căn cứ vào các nghị quyết, chỉ thị, quy định, hướng dẫn của cấp trên, đặc điểm, yêu cầu, nhiệm vụ của đơn vị, từ đó xây dựng kế hoạch xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu”. Xác định cụ thể những nội dung, biện pháp tiến hành trên các mặt: chính trị tư tưởng; xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chính trị, cán bộ chính trị; công tác bảo vệ an ninh, dân vận, chính sách; xây dựng tổ chức quần chúng, hội đồng quân nhân; thực hiện chế độ, nền nếp công tác đảng, công tác chính trị... Các tổ chức, các lực lượng cần quán triệt, cụ thể hóa theo chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm thiết thực, dễ nhớ, dễ hiểu, dễ làm, tạo được sự cuốn hút, hấp dẫn đối với mọi quân nhân trong đơn vị.
Ba là, không ngừng nâng cao chất lượng công tác đảng, công tác chính trị ở các đơn vị cơ sở. Thực hiện có hiệu quả Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”, thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức giáo dục chính trị, pháp luật phù hợp với từng đối tượng, từng loại hình đơn vị. Nâng cao hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền, văn hóa, văn nghệ, thi đua khen thưởng. Đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Kết hợp chặt chẽ giữa thực hiện tốt Cuộc vận động với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các phong trào thi đua, các cuộc vận động bằng nhiều mô hình, cách làm sáng tạo, phù hợp, hiệu quả. Xây dựng sự đoàn kết giữa cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị và xây dựng mối quan hệ đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế. Tích cực đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, phòng chống chiến lược “diễn biến hòa bình”, âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.
Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ vừa đáp ứng yêu cầu xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh về chính trị. Các cấp ủy cần tiếp tục làm tốt các khâu, các bước trong công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đủ về số lượng, cơ cấu hợp lý, bảo đảm chất lượng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao của đơn vị. Đồng thời, cần phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu các cấp trong xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh về chính trị. Chính ủy, chính trị viên cần thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh về chính trị. Kịp thời biểu dương gương người tốt, việc tốt và nhắc nhở, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc trong quá trình triển khai thực hiện nghị quyết của đảng ủy.
Năm là, phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng, hội đồng quân nhân trong xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh về chính trị hiện nay. Các cấp ủy, cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị cần tạo điều kiện thuận lợi để mỗi cán bộ, đoàn viên, hội viên phát huy tốt năng lực, trách nhiệm của bản thân trong thực hiện nhiệm vụ. Mặt khác, phát huy và mở rộng dân chủ, động viên và tạo điều kiện thuận lợi để họ tích cực tham gia đóng góp ý kiến vào các hoạt động của đơn vị, nhất là hoạt động xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh về chính trị./.
St

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 


        Đấu tranh phản bác các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, cấp thiết đối với tất cả các lực lượng, các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và quần chúng. Vì vậy, cần thường xuyên giáo dục, quán triệt cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức đầy đủ, sâu sắc về thực hiện chính sách dân tộc và tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta; luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, kiên quyết đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch; tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa giai đoạn hiện nay.

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc về Chiến thắng 30/4/1975.

 


Gần nửa thế kỷ đã trôi qua nhưng cứ mỗi dịp 30/4, khi nhân dân cả nước kỷ niệm, ôn lại những trang sử hào hùng của dân tộc thì trên mạng xã hội, các thế lực thù địch, đối tượng phản động, cơ hội chính trị tái diễn điệp khúc xuyên tạc về tầm vóc, ý nghĩa lịch sử của đại thắng mùa xuân năm 1975 cũng như bản chất cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta. Họ luôn mang tư tưởng “uất hận, tiếc nuối” về quá khứ, về sự sụp đổ của một chế độ mà họ tôn vinh khi mỗi dịp tháng Tư.

CHỐNG BIỂU HIỆN CƠ HỘI VỀ CHÍNH TRỊ TRONG ĐẢNG NHIỆM VỤ CẤP BÁCH, THƯỜNG XUYÊN

 


Cơ hội chính trị bao hàm nhiều đối tượng khác nhau ở trong và ngoài Đảng nhưng đều mang điểm chung là có nhận thức và hành động đi ngược lại lợi ích của Đảng, Nhà nước và toàn thể dân tộc Việt Nam. Trong đó, những biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng ở nước ta hiện nay ngày càng phức tạp, tinh vi và nguy hiểm. Đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị là một nhiệm vụ cấp bách, một nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

PHÁT BIỂU CỦA THƯỢNG TƯỚNG TRỊNH VĂN QUYẾT TẠI LỄ KHAI MẠC CUỘC ĐUA XE ĐẠP “VỀ ĐIỆN BIÊN PHỦ - 2024, CÚP BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN”!

         Báo Quân đội nhân dân Điện tử trân trọng đăng toàn văn bài phát biểu của Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam tại Lễ khai mạc Cuộc đua xe đạp “Về Điện Biên Phủ-2024, Cúp Báo Quân đội nhân dân”!
Kính thưa đồng chí Đỗ Tiến Sỹ, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam!

Thưa các vị đại biểu khách quý, huấn luyện viên, vận động viên, trọng tài cuộc đua!

Thưa đồng bào, đồng chí!

Hôm nay, trong không khí hào hùng của cả nước kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, chiến thắng đã đi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa của thế kỷ XX, mãi là thiên sử vàng chói lọi, vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX, tại Thủ đô Hà Nội nghìn năm văn hiến, thành phố vì hòa bình, trái tim của cả nước, tôi rất vui mừng đến dự Lễ khai mạc và thi đấu chặng 1, Cuộc đua xe đạp “Về Điện Biên Phủ - 2024, Cúp Báo Quân đội nhân dân” đúng vào ngày kỷ niệm 138 năm Quốc tế Lao động 1-5. Thay mặt lãnh đạo Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, tôi chúc mừng các vị đại biểu khách quý, huấn luyện viên, vận động viên, trọng tài đã tới dự và tham gia cuộc đua rất ý nghĩa này, chúc các quý vị sức khỏe và thành công.

Thưa các quý vị, đồng bào, đồng chí!

Thực hiện chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương và Ban Chỉ đạo Trung ương các ngày lễ lớn và lịch sử quan trọng trong 3 năm 2023 - 2025, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam đã giao Báo Quân đội nhân dân chủ trì, phối hợp với Liên đoàn Xe đạp - Mô tô thể thao Việt Nam và các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan tổ chức Cuộc đua xe đạp “Về Điện Biên Phủ - 2024, Cúp Báo Quân đội nhân dân”.

Đây là hoạt động có ý nghĩa chính trị, xã hội sâu sắc nhằm khơi dậy tinh thần yêu nước, đại đoàn kết, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, tri ân, đền ơn đáp nghĩa đối với đồng bào, đồng chí đã anh dũng hy sinh, đóng góp để làm nên chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu”. Cuộc đua còn là sự kiện thể thao truyền thống để duy trì và thúc đẩy phong trào thể dục, thể thao nói chung, bộ môn đua xe đạp trong cả nước nói riêng không ngừng phát triển theo mục tiêu đã xác định.

Lãnh đạo Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực và tinh thần trách nhiệm vì cộng đồng của Báo Quân đội nhân dân trong những năm qua. Cùng với các hoạt động thiết thực, từ năm 2004 đến nay, Báo Quân đội nhân dân đã chủ trì, phối hợp với Liên đoàn Xe đạp - Mô tô thể thao Việt Nam và các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan tổ chức thành công 4 cuộc đua xe đạp về Điện Biên Phủ, Cúp Báo Quân đội nhân dân, để lại nhiều dấu ấn và tạo được uy tín cao về chuyên môn cùng với các hoạt động tri ân đầy ý nghĩa.

Để chuẩn bị Cuộc đua xe đạp “Về Điện Biên Phủ - 2024, Cúp Báo Quân đội nhân dân” lần này, thời gian qua, Báo Quân đội nhân dân đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan tích cực chuẩn bị mọi mặt. Cuộc đua có sự tham gia của 10 đội đua xe đạp hàng đầu Việt Nam sẽ tạo ra sự đua tranh với những màn tranh tài quyết liệt, hấp dẫn từ các đội đua và các vận động viên hàng đầu, hứa hẹn sẽ mang đến cho người hâm mộ nhiều bất ngờ lý thú.

Để cho cuộc đua thành công tốt đẹp, xứng tầm với vị thế và ý nghĩa đã đề ra, tôi yêu cầu Ban chỉ đạo, Ban tổ chức, trọng tài cuộc đua luôn quán triệt và thực hiện nghiêm mục đích, yêu cầu, quy chế, quy định, nhiệm vụ được giao, đề cao trách nhiệm, nỗ lực hết mình, làm tròn nhiệm vụ chỉ đạo, tổ chức điều hành cuộc đua thật khoa học, công tâm, công bằng, nhịp nhàng, chính xác, hiệu quả, an toàn, thiết thực.

Từng vận động viên, huấn luyện viên nêu cao tinh thần đoàn kết, trung thực, cao thượng, tự tin, không bỏ cuộc, thi đấu và cống hiến hết mình với ý chí nhanh hơn, mạnh hơn, cao hơn, hướng tới sự phát triển lành mạnh của thể thao nước nhà và vì người hâm mộ.

Cùng với các cuộc đua tranh quyết liệt trên hành trình, Ban tổ chức và các lực lượng tham gia chuẩn bị chu đáo và tổ chức chặt chẽ, hiệu quả các hoạt động tri ân thật nghĩa tình, sâu sắc tại các địa phương đã xác định, qua đó tiếp tục truyền thêm ngọn lửa anh hùng cách mạng, khích lệ thế hệ trẻ và các tầng lớp nhân dân, cán bộ, chiến sĩ tiếp tục phấn đấu giành nhiều kết quả cao hơn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Với tinh thần đó, một lần nữa chúc các quý vị đại biểu, khách quý sức khỏe, hạnh phúc.

Chúc các vận động viên, huấn luyện viên chỉ đạo và thi đấu đạt thành tích cao nhất trong cuộc đua.

Chúc Cuộc đua xe đạp “Về Điện Biên Phủ - 2024, Cúp Báo Quân đội nhân dân” lần thứ 5 thành công tốt đẹp, để lại nhiều dấu ấn tốt đẹp trong lòng người hâm mộ, đồng bào, đồng chí cả nước, quân và dân các tỉnh Tây Bắc.
Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí và các bạn!
Ảnh: Thượng tướng Trịnh Văn Quyết phát biểu tại lễ khai mạc.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ QUYỀN DÂN TỘC!

         Một điểm đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân quyền là chú trọng thực hành mối quan hệ biện chứng giữa quyền con người, quyền cộng đồng và quyền dân tộc, trong đó tôn trọng, bảo vệ, thực hiện và thúc đẩy quyền con người là cơ sở bảo đảm quyền cộng đồng, quyền dân tộc, bởi “nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”!

Thực tế trong thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay) cho thấy, việc thực hành quan điểm này của Hồ Chí Minh đã tạo cơ sở dân chủ, dân quyền cho việc xem xét, giải quyết đúng đắn mối quan hệ qua lại giữa việc tôn trọng, bảo vệ, thực hiện và thúc đẩy quyền bình đẳng, tương trợ, đoàn kết của mọi người và của các cộng đồng lớn nhỏ (giới, dân tộc, tôn giáo…) với việc bảo đảm quyền dân tộc Việt Nam theo hướng hài hòa giữa đổi mới, ổn định và phát triển.

1. Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân nhằm thúc đẩy bảo đảm dân chủ, dân quyền và phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Hiện nay, việc bảo đảm quyền dân tộc gắn với bảo đảm dân chủ, dân quyền đứng trước yêu cầu phải nắm bắt, điều tiết được những thách thức mới đang đặt ra ngày càng lớn khi vấn đề nhân quyền được đề cập ngày càng nhiều hơn thay vì chỉ được giới hạn trong quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân như trước đây. Do đó, để bảo đảm quyền dân tộc phải “phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện tốt hơn quyền làm chủ của Nhân dân” thông qua các giải pháp:

Triển khai mạnh mẽ Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 nhằm thực hiện có hiệu quả trên thực tế cơ chế: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Tạo động cơ khuyến khích cho người dân tham gia thực hành dân chủ trực tiếp ở cơ sở. Mặc dù pháp luật Việt Nam không cho phép bỏ phiếu đại diện, song trên thực tế hiện tượng này khá phổ biến. Từ đó gây ảnh hưởng tiêu cực đến quyền công dân, nhất là của phụ nữ và thanh niên trong gia đình. Muốn vậy cần tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể thức bầu cử dân chủ theo hướng không chạy theo thành tích để hạn chế tối đa hoặc xóa bỏ những hiện tượng này.

Mặt khác, cần mở rộng các hình thức tiếp xúc cử tri của các đại biểu HĐND cấp tỉnh và đại biểu Quốc hội. Bên cạnh đó, cần tăng cường vai trò giám sát của mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể, báo chí. Tổ chức đảng phải coi trọng việc thường xuyên giám sát, quản lý cán bộ, đảng viên trong thực hiện dân chủ ở cơ sở. Do vậy, cần khuyến khích việc tạo thêm các kênh tiếp xúc giữa cử tri với đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND tỉnh, thành phố thông qua các đường dây nóng, mạng xã hội (Zalo, Facebook...) nhằm tăng cường sự tham gia đối thoại và lòng tin của người dân.

Tăng cường sự tham gia của cơ quan, doanh nghiệp trong thực hiện dân chủ ở cơ sở. Hiện nay, nhiều cơ quan và doanh nghiệp chưa quan tâm thích đáng đến việc thực hiện Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022. Đây là một hạn chế không nhỏ, dẫn đến việc không đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của Luật này để có sự tham gia tích cực của người dân trong việc thúc đẩy thực hiện dân chủ ở cơ quan, doanh nghiệp như trong công tác tiếp dân, tiếp cận thị trường… Do vậy, cần phối hợp thực hiện dân chủ ở cơ sở một cách đồng bộ, cả ở cấp xã lẫn tại cơ quan, doanh nghiệp.

2. Thúc đẩy mối quan hệ bình đẳng bằng pháp luật giữa công dân và Nhà nước, xã hội trong thể chế nhà nước pháp quyền.

Để thiết lập quan hệ bình đẳng giữa công dân với Nhà nước và xã hội bằng thể chế pháp quyền cần thực hiện các giải pháp sau:
Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp quyền của Nhà nước, đặc biệt thể chế hóa nghĩa vụ của Nhà nước trong bảo đảm công lý, quyền con người, quyền công dân. Quy định đầy đủ, cụ thể và rõ ràng hơn về quyền và nghĩa vụ của các cơ quan Nhà nước, của các chức danh, chức vụ của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, nhất là hoàn thiện thể chế bảo đảm và những ràng buộc pháp lý về chế độ chịu trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trước công dân, nhất là khi có hành vi gây thiệt hại cho công dân trong thi hành công vụ, ở cả 3 phương diện: Cơ quan, tổ chức; cán bộ, công chức, viên chức và văn bản quản lý hành chính của cơ quan, tổ chức. Hoàn thiện thể chế pháp quyền về phản biện xã hội, giám sát xã hội, nhằm tăng cường vai trò của các tổ chức chính trị xã hội, nhất là truyền thông đại chúng (báo chí, mạng in-tơ-nét), trong việc kiểm tra, giám sát các cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, để phát hiện những vi phạm trong các mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân và giữa công dân với Nhà nước, nhằm góp phần bảo đảm công lý, công bằng xã hội, quyền con người, quyền công dân.

Tăng cường giáo dục, nâng cao ý thức, trách nhiệm trước công dân cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Đề cao trách nhiệm bảo đảm các quyền con người, quyền công dân và thái độ dám chịu trách nhiệm trong thi hành nhiệm vụ, công vụ; chống hiện tượng khi phải chịu trách nhiệm lại tìm cách “chạy trách nhiệm”, né tránh, đùn đẩy. Yêu cầu về dám chịu trách nhiệm phải được đề cao thành một “Danh dự công vụ”.

Đề cao vai trò, trách nhiệm của các tổ chức đảng và đảng viên trong lãnh đạo xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân và giữa công dân với Nhà nước. Tăng cường công tác kiểm tra của các cấp ủy, xử lý nghiêm minh đối với đảng viên vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của nhà nước về quan hệ giữa Nhà nước với công dân và giữa công dân với Nhà nước.

Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp quyền của công dân. Một nhiệm vụ quan trọng hiện nay là phải thể chế hóa các quyền hiến định của công dân trong Hiến pháp năm 2013 trên cả 2 tư cách: quyền con người và quyền công dân, để các quyền này thực sự được bảo đảm trong thực tế cuộc sống theo hướng: Các cá nhân cũng như pháp nhân của luật, tức là cả trong và ngoài Nhà nước đều bình đẳng trước pháp luật; đều có thể đối lập tranh cãi một cách bình đẳng với các quyết định của cơ quan công quyền. Tạo lập sự gắn kết hữu cơ giữa quyền tự do dân chủ của công dân với chủ nghĩa hợp hiến. Muốn vậy, hệ thống quy phạm pháp luật phải được thực thi sao cho công dân cả trong và ngoài Nhà nước đều phải có trách nhiệm với Nhà nước; đồng thời Nhà nước phải thực hiện nghĩa vụ bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong cả hoạt động của Nhà nước và trong cả hoạt động của xã hội. Hoàn thiện và cụ thể hóa các quy phạm pháp luật về quyền con người, quyền công dân theo hướng công dân được làm những gì mà pháp luật không cấm. Từ đó xác định cụ thể quyền và nghĩa vụ của công dân trong quan hệ với Nhà nước, cả với tư cách người dân và cả với tư cách cán bộ, công chức, viên chức nhà nước.

Xây dựng và thực hiện cơ chế trách nhiệm qua lại giữa Nhà nước và công dân theo nguyên tắc pháp quyền.
Trước đây, việc thực hiện cơ chế trách nhiệm qua lại giữa Nhà nước và công dân thông qua pháp chế XHCN; còn hiện nay đã chuyển sang thể chế pháp quyền. Điểm tương đồng giữa pháp chế XHCN và thể chế pháp quyền là: Đòi hỏi Nhà nước phải có một hệ thống pháp luật ngày càng hoàn chỉnh. Pháp chế XHCN yêu cầu Nhà nước và công dân, kể cả công dân là cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, phải tuân thủ nghiêm túc pháp luật. Thể chế pháp quyền nhấn mạnh nguyên tắc mọi cơ quan nhà nước phải được đặt dưới pháp luật. Cả hai đều yêu cầu bảo vệ nghiêm ngặt pháp luật, đấu tranh chống tình trạng vi phạm pháp luật và coi trọng hệ thống định chế tư pháp để xét xử các hành vi vi phạm.

Trong việc bảo đảm quyền công dân và nhân quyền thì thể chế pháp quyền, một mặt, nhấn mạnh vai trò và nghĩa vụ của hệ thống hành pháp, tư pháp nhiều hơn là nhấn mạnh vai trò của cơ quan lập pháp như trong pháp chế XHCN, bảo đảm sự phản biện của người dân với tư cách là “đối trọng” không thể thay thế, trước những quy định không công bằng của Nhà nước. Chỉ như vậy mới “bảo đảm pháp luật vừa là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội, vừa là công cụ để nhân dân làm chủ, kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước”.

3. Tích cực, chủ động thiết lập hệ thống thông tin nhằm giải quyết hiệu quả những vấn đề về quan hệ giữa quyền con người, quyền cộng đồng và quyền dân tộc mới nảy sinh trong thực tiễn quản trị của Nhà nước và xã hội.         

Về cung cấp thông tin. Do thông tin là cơ sở để tăng cường mối quan hệ giữa chính quyền và công dân, nên chính quyền có thể cung cấp thông tin bị động hoặc thông tin chủ động cho công dân; và có thể sử dụng các sản phẩm thông tin qua kênh trực tiếp và có kiểm soát hoặc các kênh độc lập để cung cấp thông tin.

Về tham vấn công dân. Chính quyền gửi yêu cầu về việc lấy ý kiến và tiếp nhận ý kiến đóng góp của công dân đối với các nội dung liên quan đến hoạch định chủ trương, chính sách công. Việc tham vấn công dân tạo ra mối quan hệ hai chiều giữa chính quyền và công dân. Thông tin phản hồi từ các công dân có thể chứa đựng những thông tin có giá trị cho chính quyền và xã hội, ví dụ các kiến nghị chính sách mới hoặc những điều chỉnh chủ trương, chính sách công.

Về tham gia tích cực của tổ chức, cá nhân công dân. Công dân giữ vai trò đề xuất các phương án về chủ trương, chính sách công, còn việc chịu trách nhiệm về xây dựng chủ trương, chính sách công và quyết định cuối cùng thuộc về chính quyền hoặc tổ chức xã hội. Thu hút công dân tham gia vào hoạch định chủ trương, chính sách công là mối quan hệ hai chiều giữa chính quyền, xã hội và công dân dựa trên nguyên tắc đối tác. Nhà nước, tổ chức xã hội căn cứ vào tình hình thực tế và mục tiêu thu hút sự tham gia của công dân trong hoạch định chủ trương, chính sách công để lựa chọn một trong ba cấp độ nêu trên./.
Môi trường ST.

NĂM THÁNG SẼ QUA ĐI, CHIẾN THẮNG 30/4 MÃI MÃI ĐI VÀO LỊCH SỬ DÂN TỘC!

         Cách đây 49 năm (1975 - 2024), khi thời cơ tổng công kích vào thành lũy cuối cùng của chính quyền Sài Gòn đã điểm, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch quyết chiến chiến lược mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Sau gần 4 ngày tổng tiến công và nổi dậy, trưa ngày 30/4/1975, quân và dân ta làm chủ thành phố Sài Gòn - Gia Định, bắt giữ và buộc Tổng thống chính quyền Sài Gòn phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, đánh dấu sự chấm hết của chế độ thực dân mới, mà đế quốc Mỹ đã dày công xây dựng bị sụp đổ hoàn toàn. Đây là sự kiện trọng đại trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta nửa cuối thế kỷ XX, có ý nghĩa lịch sử và tầm vóc thời đại sâu sắc!
Sau khi Hiệp định Paris “Về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” được ký kết (27/01/1973), nhận thấy tương quan so sánh lực lượng đã hoàn toàn nghiêng về phía ta, ngày 7/01/1975, Bộ Chính trị họp “Bàn về tình hình và nhiệm vụ cuộc chống Mỹ, cứu nước” hạ quyết tâm lịch sử: Giải phóng miền Nam. Bộ Chính trị nhận thấy quân Mỹ khó có khả năng quay lại tham chiến tại miền Nam và nhất trí thông qua phương án giải phóng miền Nam trong hai năm 1975 - 1976, đồng thời chọn chiến trường Tây Nguyên làm hướng tiến công chủ yếu và xác định: “Chúng ta phải cố gắng cao nhất để thắng gọn trong năm 1975. Điều đó là một khả năng hiện thực”[1].
Để kiểm chứng nhận định trên, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Đường số 14 - Phước Long, diễn ra từ ngày 13/12/1974 đến ngày 6/01/1975. Qua đòn trinh sát chiến lược này, Bộ Chính trị đã họp bổ sung quyết tâm giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975. Đặc biệt, sau những thắng lợi liên tiếp của các đòn tiến công chiến lược, ngày 31/3/1975, Bộ Chính trị nhận định: “Cách mạng nước ta đang phát triển với nhịp độ một ngày bằng hai mươi năm”. Do vậy, Bộ Chính trị quyết định: Chúng ta phải nắm vững thời cơ chiến lược, quyết tâm thực hiện tổng tiến công và nổi dậy, kết thúc thắng lợi chiến tranh giải phóng trong thời gian ngắn nhất. Tốt hơn cả là bắt đầu và kết thúc trong tháng 4 năm nay, không để chậm”[2].
Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đã đoàn kết một lòng, nỗ lực cao độ, tạo thành sức mạnh “triều dâng thác đổ” như thế chẻ tre, tiến hành thắng lợi Chiến dịch Hồ Chí Minh - trận quyết chiến chiến lược quyết định cuối cùng với quân thù. Chỉ trong một thời gian ngắn, với tinh thần “một ngày bằng hai mươi năm”, cùng lực lượng áp đảo, với một khối lượng lớn vật chất hậu cần đã có mặt ở khu vực tập kết, sẵn sàng tổng tiến công vào nội đô Sài Gòn. Chiến dịch Hồ Chí Minh đã diễn ra và kết thúc thắng lợi vào ngày cuối cùng của tháng Tư (30/4/1975), theo đúng nhận định của Bộ Chính trị. Sau gần 4 ngày tổng tiến công và nổi dậy, quân và dân ta đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, non sông thu về một mối.
Chiến thắng 30/4/1975 của dân tộc ta vô cùng vẻ vang oanh liệt, là thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thắng lợi của đường lối và phương pháp cách mạng của Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) - Đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - Đường lối chiến tranh nhân dân: Toàn dân, toàn diện, tự lực, tự cường; vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối, phương pháp cách mạng và đường lối chiến tranh nhân dân độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo và đã lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện linh hoạt, sáng tạo bảo đảm thành công đường lối đó; giải quyết đúng đắn các mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp; giữa độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội; giữa lợi ích dân tộc và lợi ích quốc tế; động viên toàn dân, toàn quân đoàn kết tham gia kháng chiến và kiến quốc, tạo nên sức mạnh tổng hợp của dân tộc và thời đại, đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đến thắng lợi hoàn toàn. Hơn nữa, chiến thắng 30/4/1975 còn là thắng lợi của nền văn hoá Việt Nam được xây đắp từ tinh hoa văn hoá của 54 dân tộc anh em trên đất nước ta, đã trải qua hàng nghìn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, vươn lên tự khẳng định sức sống trường tồn. Đó là nền văn hoá bắt nguồn từ lòng yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu đất nước, yêu độc lập, tự do, hòa bình; từ lòng nhân ái, trọng chính nghĩa, ghét gian tà, thấm đượm chủ nghĩa nhân văn cao cả và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam; cởi mở tiếp thu những tinh hoa của nhiều nền văn hoá thế giới. Nền văn hoá ấy ngày càng được bồi đắp và không ngừng phát huy lên tầm cao mới - Nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đó là cội nguồn sức mạnh vĩ đại của ý chí và trí tuệ Việt Nam, của bản lĩnh, lòng quả cảm và cốt cách Việt Nam, tạo nên sức sống mãnh liệt của nền văn hiến Việt Nam.
Đồng thời, chiến thắng 30/4/1975 thể hiện sự hội tụ sức mạnh của toàn dân tộc, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân. Đó là sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, với sự hy sinh to lớn của đồng bào, chiến sĩ cả nước, với tinh thần: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”; “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” và khí phách: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai”; là thắng lợi của khát vọng hòa bình, độc lập dân tộc, tự do và thống nhất non sông của dân tộc Việt Nam.
Đại tướng Văn Tiến Dũng - Nguyên Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam thời chống Mỹ, cứu nước đã khẳng định với các nhà báo và học giả phương Tây rằng: “Một lần nữa tôi muốn nói rõ rằng nguồn gốc mọi thắng lợi của chúng tôi là sức mạnh của cả một dân tộc vùng lên làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình trong thời đại ngày nay”[3].
Hiện nay, trên một số phương tiện thông tin đại chúng, website và mạng xã hội xuất hiện những luận điệu xuyên tạc lịch sử, phủ nhận tầm vóc, ý nghĩa của Chiến thắng 30/4/1975; xuyên tạc bản chất, tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta; hạ thấp tầm vóc của chiến thắng, cho rằng chiến thắng 30/4/1975 không thể gọi là một chiến thắng vẻ vang, mà chỉ là một kết quả tất nhiên khi Mỹ thay đổi chính sách đối ngoại, rút quân, cắt viện trợ, bỏ rơi chính quyền và quân đội Sài Gòn... Tuy nhiên, thực tiễn lịch sử đã bác bỏ những luận điệu sai trái đó, vì cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam là cuộc chiến đấu chính nghĩa nhằm đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Thắng lợi vĩ đại 30/4/1975 là kết quả của cả một quá trình đấu tranh anh dũng, kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam. Do đó, chiến thắng 30/4/1975 thuộc về dân tộc Việt Nam, Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại; thắng lợi của sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè, các lực lượng tiến bộ và yêu chuộng hòa bình trên thế giới, đúng như Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (tháng 12/1976) đã khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tình thời đại sâu sắc”[4].
Trong giai đoạn cách mạng mới, dù tình hình quốc tế, khu vực luôn có những diễn biến phức tạp, khó lường; sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế vẫn còn nhiều thách thức, khó khăn phải vượt qua nhưng tầm vóc, ý nghĩa và giá trị của chiến thắng 30/4/1975 - Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước mãi trường tồn. Đó vừa là niềm tự hào, là động lực và để lại nhiều kinh nghiệm quý báu đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay./. 
………………………………..
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 36, Nxb CTQG, Hà Nội, 2004, tr.10.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 36, Nxb CTQG, Hà Nội, 2004, tr.95 - 96.
[3] Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Văn Tiến Dũng, Nguyễn Cơ Thạch: Vì sao Mỹ thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1986, tr..48.
[4] Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (12/1976). Dẫn theo Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 37 (1976), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.471./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG: TINH THẦN CỦA CÁC QUÂN NHÂN THỂ HIỆN KHÍ PHÁCH OAI HÙNG DÂN TỘC!

     Đại tướng Phan Văn Giang khẳng định, tinh thần, khí thế và hành động mẫu mực của bộ đội và dân quân tự vệ tham gia nhiệm vụ diễu binh, diễu hành trong Lễ kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ sẽ góp phần thể hiện khí phách oai hùng, truyền thống quật cường đấu tranh anh dũng chống ngoại xâm của dân tộc!

Nhằm động viên các lực lượng thực hiện nhiệm vụ diễu binh, diễu hành kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/2024), Đại tướng Phan Văn Giang - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng vừa có thư động viên cán bộ, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng; cán bộ, chiến sĩ dân quân tự vệ thực hiện nhiệm vụ quan trọng này.

Thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Đại tướng Phan Văn Giang gửi tới toàn thể cán bộ, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng; cán bộ, chiến sĩ dân quân tự vệ thực hiện nhiệm vụ diễu binh, diễu hành tại lễ kỷ niệm lời thăm hỏi ân cần và lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

Theo Đại tướng Phan Văn Giang, trong thời gian qua, Tiểu ban diễu binh, diễu hành và cán bộ, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng; cán bộ, chiến sĩ dân quân tự vệ đã phát huy phẩm chất tốt đẹp và truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân, Dân quân tự vệ Việt Nam anh hùng, nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, sẵn sàng hy sinh, gian khổ của chiến sĩ Điện Biên năm xưa; đoàn kết, sáng tạo, tích cực chủ động, vượt qua khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chỉ huy, chuẩn bị, tổ chức huấn luyện, luyện tập, hợp luyện diễu binh, diễu hành và cơ động lực lượng, phương tiện đến thành phố Điện Biên đảm bảo chặt chẽ, an toàn tuyệt đối.

Trong thư, Đại tướng Phan Văn Giang nêu: Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng ghi nhận, biểu dương, đánh giá cao thành tích, nỗ lực của các đồng chí. Những ngày tới là thời gian có ý nghĩa quyết định đến kết quả thực hiện nhiệm vụ, tôi mong rằng, các đồng chí tiếp tục nêu cao niềm vinh dự, tự hào, đã cố gắng, quyết tâm rồi hãy cố gắng, quyết tâm hơn nữa, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hợp luyện, sơ duyệt, tổng duyệt và diễu binh, diễu hành tại Lễ kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ; xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

“Tinh thần, khí thế và hành động mẫu mực của các đồng chí sẽ góp phần thể hiện khí phách oai hùng, truyền thống quật cường đấu tranh anh dũng chống ngoại xâm của dân tộc ta; về hình ảnh đất nước, con người Việt Nam tươi đẹp và sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, đóng góp xứng đáng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới”, Đại tướng Phan Văn Giang viết./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: “LỰC LƯỢNG 04” VÀ NỖI KINH HOÀNG CỦA BỌN PHẢN ĐỘNG FULRO!

     Sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, Nam - Bắc sum họp một nhà, non sông thu về một mối. Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ dã tâm chia cắt đất nước, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc. Trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, bọn phản động FULRO được “hà hơi tiếp sức” nổi dậy chống phá chính quyền, gây tội ác với nhân dân…
Trước tình hình đó, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 04-CT/TW, ngày 27/2/1977 về việc thành lập “Lực lượng 04” nhằm tổ chức lực lượng tham gia giải quyết vấn đề FULRO. Tham gia “Lực lượng 04” là những thanh niên trẻ, khỏe, có nhiệt huyết, có cảm tình với cách mạng ở các buôn làng Tây Nguyên với nhiệm vụ đặc biệt: Tìm và diệt FULRO. Sau thời gian được huấn luyện về vũ khí, võ thuật và kỹ năng vận động quần chúng, họ được tăng cường cho các đơn vị Công an địa phương.

Từng một thời sát cánh cùng lực lượng Công an tham gia truy quét FULRO, ông Ksor Luih (nguyên Bí thư Đảng ủy xã Ia Khươl, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai) vẫn còn nhớ như in những tháng ngày đầy gian khổ, vất vả nhưng cũng hết sức vinh quang ấy. Câu chuyện bắt đầu bằng những thước phim quay chậm về ký ức của người đàn ông dân tộc Gia Rai này, một con người đã trải qua biết bao thăng trầm khi sát cánh cùng “Lực lượng 04” vào sinh, ra tử chống lại phản động FULRO.

Ông Ksor Luih từng là lính trinh sát Trung đoàn 95B rồi chuyển về công tác ở Tỉnh đội. Năm 1980, ông về làm Phó Chủ tịch UBND xã Ia Khươl. Thời điểm này, xã Ia Khươl đang là điểm “nóng” hoạt động FULRO. Bọn chúng tìm cách dụ dỗ, bắt ép một số người dân đi theo, lập hành lang hoạt động, xây dựng lực lượng cốt cán nhằm chống phá chính quyền. Người dân đi làm rẫy gần rừng phải có lực lượng dân quân hay du kích cắt cử thành từng nhóm thay phiên bảo vệ. Trước tình hình trên, năm 1982, “Lực lượng 04” của xã được thành lập, do ông Ksor Luih phụ trách.

Ông Ksor Luih nhớ lại: “Đó là trận đấu súng nghẹt thở giữa “Lực lượng 04” và bọn phản động FULRO vũ trang vào một buổi chiều đầu tháng 8/1985. Sáng hôm đó, khi xã đang tổ chức đại hội Đảng thì có một người dân vừa bị FULRO bắn hụt, hớt hải chạy về báo tin. Ngay lập tức, mình cùng hàng chục anh em trong “Lực lượng 04” xách súng tìm đường lên núi theo sự chỉ dẫn của người dân. Lần theo dấu vết, đến chiều thì nhóm của mình phát hiện lán trại FULRO với khoảng 6 đến 7 tên. Lúc này, mình ra ám hiệu cho anh em tập kích bất ngờ. Tuy nhiên, khi giơ nòng súng ngắm chuẩn 1 tên trong nhóm rồi bóp cò nhưng súng không nổ. Cuộc tập kích bị lộ, 2 bên bắn nhau dữ dội. Bọn FULRO sử dụng cả súng phóng lựu M79 điên cuồng chống trả. Sau một hồi đấu súng ác liệt, nhóm của mình đã tiêu diệt được 1 tên. Những tên còn lại vội vàng rút chạy lên núi”.

Đối với Đại tá Lê Hữu Lành, nguyên Phó trưởng Phòng An ninh dân tộc Công an tỉnh Đắk Nông, khi nhắc đến “Lực lượng 04”, ông trầm ngâm nhớ lại: “Có trực tiếp tham gia chiến đấu cùng “Lực lượng 04” thì mới thấu hiểu được những gian khổ, hy sinh mà họ đã trải qua như thế nào. Điều ấn tượng của tôi đối với anh em là sự hăm hở, nhiệt huyết, không quản ngại khó khăn, gian khổ, nhiều khi đi truy quét FULRO trong rừng sâu phải ăn cá khô, lá bép hàng tháng trời, sốt rét đến rụng hết cả tóc nhưng chỉ cần nghe lệnh là họ tức tốc lên đường ngay”.

Thời đó, khi đang còn là một cán bộ của Công an huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk, Lê Hữu Lành là người trực tiếp chỉ huy một nhóm “Lực lượng 04” gồm 47 đồng chí đã tổ chức nhiều trận đánh lớn nhỏ, tiêu diệt hàng trăm tên phản động FULRO vũ trang, thu về rất nhiều vũ khí, đạn dược. Nhưng với ông, trận đấu súng nghẹt thở giữa “Lực lượng 04” và bọn phản động FULRO tại xã Phú Xuân, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk vào một ngày đầu tháng 4/1984 không thể nào quên.

Hôm đó, từ nguồn tin báo của quần chúng cho biết, một toán FULRO hơn 20 tên do Đại úy Y Ba (một ZG trưởng của lực lượng FULRO tại huyện Krông Năng) cầm đầu từ rừng ra đang tổ chức cướp phá tại một làng của người đồng bào Êđê trên địa bàn xã. Nhận lệnh chiến đấu từ cấp trên, “Lực lượng 04” lúc đó gần 30 người dưới sự chỉ huy của đồng chí Lành đã nhanh chóng tới hiện trường tổ chức đánh chặn.

“Thấy lực lượng vũ trang của ta đến, chúng đã điên cuồng chống trả, nhưng với bản lĩnh của những người lính được đào tạo bài bản, sau hơn 1 giờ đấu súng ác liệt, ta tiêu diệt được 5 tên FULRO cộm cán, thu giữ 5 khẩu AR15 và 1 khẩu M79. Riêng tên Đại úy Y Ba bị thương bỏ trốn vào rừng, ta tiếp tục truy đuổi và đến sáng hôm sau thì bắt sống được hắn khi đang tìm đường bò ra một đầm lầy để uống nước”, Đại tá Lành kể.

Cùng chung tâm trạng, ông Lê Chí Quyết, nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk, nguyên Phó Ban Chỉ đạo 04 tỉnh Đắk Lắk lúc bấy giờ cho hay, những năm đầu sau giải phóng, tỉnh Đắk Lắk nói riêng, vùng Tây Nguyên nói chung, tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội diễn biến hết sức phức tạp.

“Tại Đắk Lắk, điểm “nóng” về hoạt động của FULRO thời gian đó tập trung tại K61 (thuộc địa bàn các huyện Cư M’gar, Ea Súp, Buôn Đôn, thị xã Buôn Hồ và huyện Krông Búk). Được sự tiếp tay của bọn phản động lưu vong, cùng với các loại vũ khí chiếm được sau chiến tranh, FULRO hoạt động hết sức manh động, chúng liên tục tập kích vào các buôn, làng để cướp bóc, giết hại nhân dân”, ông Quyết nhớ lại.

Ngay sau khi có Chỉ thị 04 của Bộ Chính trị, Ban Chỉ đạo 04 tỉnh Đắk Lắk nhanh chóng được thành lập. Để thực hiện được mục tiêu này, Ban Chỉ đạo 04 cùng với các cấp chính quyền và lực lượng vũ trang xắn tay giải quyết các vấn đề về đời sống ở các buôn làng, kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của dân. Từ đó, ở các buôn làng, đồng bào các dân tộc tại chỗ đã tự nguyện kết nghĩa, phối hợp với Bộ đội, Công an và các ban, ngành, đoàn thể cùng quyết tâm chống lại tội ác của FULRO.

“Qua đó, lực lượng Công an của ta phát hiện hàng chục cơ sở ngầm của chúng, kêu gọi nhiều tướng, tá, binh lính FULRO ra hàng. Trong đó có thể kể đến nhóm sĩ quan, binh lính cộm cán FULRO gồm 9 tên do “Thiếu tướng” Nay Gúh cầm đầu đã tự nguyện ra đầu hàng để hưởng sự khoan hồng. Sau khi được cảm hóa, giáo dục, Nay Gúh cùng những người này đã nhận thức lỗi lầm, trở về với gia đình và đến nhiều buôn làng tố cáo tội ác của FULRO, phát động quần chúng nâng cao cảnh giác với bọn chúng”, ông Quyết kể.

Cũng theo ông Lê Chí Quyết, mặc dù điều kiện sinh hoạt và công tác khó khăn, thiếu thốn trăm bề, nhưng nhờ tinh thần kiên quyết đấu tranh của các lực lượng, đặc biệt là “Lực lượng 04”, ta đã đạt được nhiều thành quả quan trọng.

“Từ năm 1977 - 1987, thực hiện nghị quyết của các kỳ Hội nghị Công an toàn quốc, các kế hoạch của Bộ Nội vụ, Cục nghiệp vụ, Công an các địa phương Tây Nguyên đã thực hiện nhiều chuyên án giải quyết vấn đề FULRO (khoảng 55 chuyên án). Một số chuyên án lớn qua đấu tranh đã giúp Cơ quan An ninh đánh giá, hiểu rõ hơn nội tình của FULRO, tạo những bước ngoặt trong quá trình đấu tranh, giải quyết vấn đề FULRO trên toàn địa bàn Tây Nguyên. Đến tháng 10/1992, FULRO buộc phải đầu hàng UNTAC (cơ quan quyền lực lâm thời của Liên hợp quốc tại Campuchia), chấm dứt 17 năm hoạt động chống phá cách mạng”, nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk nhớ lại.

Giờ đây, nhiều đồng chí tham gia “Lực lượng 04” người đã qua đời, người còn lại thì già yếu. Hằng năm, Công an các địa phương đều tổ chức gặp mặt, tặng quà như một sự tri ân đối với những đóng góp, hy sinh to lớn của lực lượng này trong cuộc chiến chống lại FULRO.

“Dù chúng tôi không mang quân hàm và nhiều người trong số đó cũng không được hưởng chế độ gì, tuy nhiên, điều khiến chúng tôi cảm thấy vinh dự, tự hào là vẫn có nhiều người thấu hiểu được những gian khổ, hy sinh mà chúng tôi đã trải qua và động viên, chia sẻ. Được vậy, chúng tôi cũng không cần gì thêm”, ông Ksor Luih tự hào nói./.
Ảnh: Ông Ksor Luih tự hào kể về những chiến công của “Lực lượng 04” .

Ảnh: Ông Lê Chí Quyết, nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk bên những hình ảnh, kỷ vật về “Lực lượng 04”.
Yêu nước ST.

 

Phát triển du lịch trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam

(LLCT) - Năm 2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1671/QĐ-TTg ngày 30-11-2018 phê duyệt “Đề án tổng thể ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực du lịch giai đoạn 2018-2020, định hướng đến năm 2025”, trong đó ưu tiên phát triển du lịch số, du lịch thông minh(1). Theo đó, chuyển đổi số trong ngành du lịch là việc chuyển dịch mô hình truyền thống sang mô hình hiện đại dựa trên nền tảng số và chuỗi giá trị số dựa trên dữ liệu. Chuyển đổi số, khách hàng sẽ được nâng cao trải nghiệm du lịch theo mô hình mới trên không gian số. Bài viết khái quát tiềm năng và lợi thế trong phát triển du lịch và những đóng góp của ngành du lịch trong phát triển kinh tế; khái quát quan điểm và chính sách phát triển du lịch Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số.


Hiện nay, chuyển đổi số là xu thế tất yếu trong mọi lĩnh vực, ngành nghề. Theo chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng tới năm 2030, Việt Nam sẽ trở thành quốc gia số, tiên phong thử nghiệm công nghệ và mô hình mới, tập trung xây dựng chính phủ số, kinh tế số và xã hội số, làm thay đổi căn bản, toàn diện về các mặt hoạt động của Chính phủ cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phương thức, cách sống, làm việc của người dân.

Thực tế cho thấy, chuyển đổi số đã và đang mang lại rất nhiều lợi ích cho Chính phủ, các doanh nghiệp và mỗi người dân. Áp dụng công nghệ số góp phần thúc đẩy mạnh mẽ quá trình cải cách thủ tục hành chính, thay đổi quy trình nghiệp vụ, thay đổi mô hình và phương thức hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước, giúp người dân được thuận lợi và nhanh chóng khi thực hiện các dịch vụ công.

Đối với doanh nghiệp, chuyển đổi số dùng dữ liệu và công nghệ để cắt giảm chi phí vận hành, tiếp cận được nhiều khách hàng hơn trong thời gian dài, lãnh đạo doanh nghiệp ra quyết định nhanh chóng và chính xác hơn nhờ hệ thống báo cáo kịp thời, tối ưu hóa được năng suất làm việc của nhân viên... Những điều này giúp tăng hiệu suất hoạt động và tính cạnh tranh của tổ chức, doanh nghiệp.

Đối với đời sống, chuyển đổi số giúp xóa bỏ khoảng cách địa lý, mang đến cơ hội bình đẳng cho người dân về tiếp cận dịch vụ, từ đó tạo ra những tiến bộ về chất lượng cuộc sống. Mọi người có thể sống khỏe mạnh hơn nhờ các cách thức chăm sóc y tế kịp thời, vui vẻ và an toàn hơn với các hình thức giải trí đa dạng. Phát triển du lịch cũng không nằm ngoài những tác động của bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay.

1. Tiềm nănglợi thế và những đóng góp của ngành du lịch trong phát triển kinh tế

Việt Nam tự hào với 24 di sản văn hóa vật thể, phi vật thể và thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận, trong đó có 08 di sản thiên nhiên và di sản văn hóa vật thể (Vịnh Hạ Long, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Hoàng thành Thăng Long, Thành nhà Hồ, Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, Khu danh thắng Tràng An), 12 di sản văn hóa phi vật thể (Nhã nhạc Cung đình Huế, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Dân ca Quan họ, Lễ hội Gióng, Ca Trù, Hát Xoan, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam, Dân ca Ví Giặm Nghệ Tĩnh, Nghi lễ kéo co, Đờn ca Tài tử Nam Bộ; Bài Chòi Trung Bộ); và 4 di sản tư liệu (Bia Tiến sỹ Văn Miếu Quốc Tử Giám, Mộc bản Triều Nguyễn, Châu bản Triều Nguyễn, Mộc bản Kinh Phật Thiền phái Trúc Lâm chùa Vĩnh Nghiêm tỉnh Bắc Giang)(2). Hệ thống di sản thu hút sự quan tâm tìm hiểu của nhiều ngành khoa học. Đây cũng là những điểm tham quan thu hút nhiều khách du lịch trong nước và quốc tế.

Việt Nam vinh dự được UNESCO công nhận 11 khu dự trữ sinh quyển thế giới, trong đó có 06 khu dự trữ sinh quyển ven biển và hải đảo gồm vùng ngập nước sông Hồng, rừng ngập mặn Cần Giờ, Cát Bà, Cà Mau, Cù Lao Chàm, vùng ven biển và hải đảo Kiên Giang, 03 khu dự trữ sinh quyển là miền Tây Nghệ An, Đồng Nai và Langbiang(3). Bên cạnh đó, Việt Nam có hơn 125 bãi biển trải dài từ Bắc đến Nam và được xếp hạng trong danh sách 12 quốc gia có các vịnh đẹp nhất thế giới. Không chỉ có thế mạnh ở vùng biển, Việt Nam còn có tiềm năng phát triển du lịch ở vùng đồng bằng, miền núi và trung du. Du lịch biển ở Việt Nam được phát triển mạnh vào mùa hè; vào mùa thu, mùa đông và mùa xuân thu hút khách du lịch tới các vùng núi Tây Nguyên, Tây Bắc với các điểm tham quan nổi tiếng như ruộng bậc thang mùa lúa chín ở Tây Bắc, đồi cỏ hồng ở Đà Lạt, mùa hoa muồng vàng ở Gia Lai, mùa hoa cải ở Mộc Châu(4),...

Về văn hóa ẩm thực, Việt Nam có nền ẩm thực đa dạng và phong phú. Mỗi miền là Bắc, Trung, Nam đều có bản sắc văn hóa và khẩu vị đặc trưng riêng trên từng món ăn. Chính nhờ sự đa dạng trong bản sắc văn hóa dân tộc, nền ẩm thực của Việt Nam đã vinh dự được lọt vào Top nhữngquốc gia có các món ăn đường phố ngon nhất thế giới.

Bên cạnh đó, Việt Nam đón hơn 18 triệu lượt khách quốc tế vào năm 2019 (tăng 16,2% so với năm 2018)(5). Giai đoạn 2015-2019, du khách quốc tế đến Việt Nam tăng từ 7,9 đến 18 triệu lượt (khoảng 2,3 lần) và có tốc độ tăng trưởng 22,7% mỗi năm. Nhờ vậy, Việt Nam liên tục nhận được các giải thưởng: Điểm đến hàng đầu châu Á 2 năm liên tiếp 2018-2019, Điểm đến ẩm thực hàng đầu châu Á 2019, Điểm đến văn hóahàng đầu châu Á 2019, Điểm đến di sản hàng đầu thế giới do World Travel Awards trao tặng; World Goft Awards cũng vinh danh Việt Nam là điểm đến Golf tốt nhất thế giới năm 2019(6).

Với những tiềm năng và lợi thế, ngành du lịch đã có những đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam:

Ngành du lịch của Việt Nam được xem là ngành kinh tế mũi nhọn bởi sự đóng góp tích cực vào nền kinh tế. Một trong những đóng góp nổi bật là sự đóng góp trực tiếp của du lịch vào GDP của Việt Nam: năm 2015, ngành du lịch đóng góp 6,3% GDP; năm 2016: 6,9%; năm 2017: 7,9%; năm 2018: 8,3% và năm 2019: 9,2%(7). Bên cạnh đó, du lịch còn thúc đẩy phát triển kinh tế của địa phương, đóng góp tích cực vào thu nhập của cả nước.

Du lịch địa phương phát triển giúp tăng nguồn thu ngân sách nhà nước, thí dụ như khoản nộp thuế từ các cơ sở du lịch và các doanh nghiệp du lịch kinh doanh thuộc quản lý trực tiếp của địa phương. Mặt khác, ở các địa phương có làng nghề truyền thống nổi tiếng, người dân tận dụng thế mạnh của họ để phát triển kinh tế bằng cách trưng bày và bán các sản phẩm thủ công. Việc này không chỉ đem lại thu nhập trong nước cho người dân, mà còn mang đến cơ hội để các sản phẩm Việt Nam tiếp cận đến du khách nước ngoài, từ đó tạo tiền đề cho xuất khẩu các sản phẩm thủ công mỹ nghệ... Thực hiện Quyết định 1671/QĐ- TTg ngày 30-11-2018 của Thủ tướng Chính phủ, Tổng cục Du lịch Việt Nam đã từng bước ứng dụng chuyển đổi số trong ngành du lịch. Đây được coi là nền tảng hình thành hệ sinh thái du lịch số, từ đó tạo điều kiện dễ dàng tiếp cận và phát triển du lịch số nhanh hơn. Có thể thấy, ngành du lịch Việt Nam đang dần thích ứng với xu hướng phát triển của thế giới một cách chuyên nghiệp và hiện đại. Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch số và du lịch thông minh.

Du lịch giúp thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Nhờ phát triển du lịch, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam được quảng bá rộng rãi đến các nhà đầu tư tiềm năng, từ đó đem lại đóng góp tích cực vào nền kinh tế đất nước(8). Có thể kể đến một số một số dự án lớn như Tập đoàn Banyan Tree (Xinhgapo) đã đầu tư 276 triệu USD để xây dựng khu nghỉ dưỡng 5 sao ở Thừa Thiên Huế, Tập đoàn Suncity Group (Macau) đã đầu tư khu nghỉ dưỡng phức hợp Hoiana (Hội An) với sân golf và nhà hàng đạt chuẩn cao. Bên cạnh hình thức đầu tư trực tiếp, hình thức liên doanh cũng đem lại lợi nhuận kinh tế cao. Đây là những đóng góp cho sự phát triển du lịch Việt Nam.

Du lịch góp phần quan trọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể, hộ gia đình. Đơn cử, một số gia đình dân tộc, trước đây chỉ có thu nhập từ nông nghiệp, nay nhờ du lịch, đã nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống. Một số địa phương miền núi phía Bắc với những ưu thế riêng về địa khí hậu đã nhận thấy tiềm năng du lịch ở nơi họ sống nên đã phát triển dịch vụ du lịch, cho khách du lịch trải nghiệm sống trong nhà sàn, học cách dệt vải... Hoạt động này không chỉ góp phần quan trọng trong lưu giữ và bảo tồn nét văn hóa truyền thống, mà còn góp phần phổ biến giá trị văn hóa của người Việt đến bạn bè quốc tế và tạo thu nhập cho phát triển kinh tế gia đình.

Du lịch góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển. Trên thực tế, du lịch cần có sự hỗ trợ liên ngành như bảo hiểm, xây dựng, dịch vụ ăn uống, vận tải, lưu trú,…để có thể đem đến cho khách du lịch trong và ngoài nước những trải nghiệm tốt nhất. Ngược lại, cũng nhờ có du lịch mà dịch vụ vui chơi giải trí, ăn uống có điều kiện phát triển, tạo ra cơ hội việc làm và nâng cao chất lượng đời sống của người dân địa phương.

3. Quan điểm và chính sách phát triển du lịch của Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số

Hiện nay, chuyển đổi số là cụm từ khá phổ biến trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, hầu hết các lĩnh vực và ngành nghề đang được chuyển đổi số, du lịch cũng là một trong những ngành, lĩnh vực chuyển mình mạnh mẽ trong xu thế chuyển đổi số.

Chuyển đổi số trong ngành du lịch được xem là một quá trình chuyển đổi từ mô hình kinh doanh và tiếp thị truyền thống sang mô hình kinh doanh hiện đại hơn nhằm tập trung vào nâng cao trải nghiệm của khách hàng theo mô hình chuỗi giá trị số dựa trên dữ liệu(9). Đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực du lịch, chuyển đổi số không còn là một chiến lược tùy chọn mà đã trở thành một xu hướng không thể thiếu trong bối cảnh hiện nay. Nhờ chuyển đổi số, doanh nghiệp mới có khả năng cạnh tranh trên thị trường, cung cấp các giá trị mới để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng. Vì vậy, các doanh nghiệp thuộc ngành du lịch cần phải có chiến lược lâu dài để có thể thay đổi cách tư duy, cách thức hoạt động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và sự hỗ trợ tích cực của các bên liên quan.

Thực hiện Quyết định 1671/QĐ- TTg ngày 30-11-2018 của Thủ tướng Chính phủ, Tổng cục Du lịch Việt Nam đã từng bước ứng dụng chuyển đổi số trong ngành du lịch. Đây được coi là nền tảng hình thành hệ sinh thái du lịch số, từ đó tạo điều kiện dễ dàng tiếp cận và phát triển du lịch số nhanh hơn. Có thể thấy, ngành du lịch Việt Nam đang dần thích ứng với xu hướng phát triển của thế giới một cách chuyên nghiệp và hiện đại. Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch số và du lịch thông minh. Quyết định này cũng là tiền đề để hiện thực các nội dung về phát triển ngành du lịch theo chủ trương, đường lối của Đảng tại Văn kiện Đại hội XIII “Đẩy mạnh cơ cấu lại ngành du lịch, bảo đảm tính chuyên nghiệp, hiện đại và phát triển đồng bộ, bền vững và hội nhập quốc tế… Xây dựng, phát triển và định vị thương hiệu du lịch quốc gia gắn với hình ảnh chủ đạo, độc đáo, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc… Đến năm 2030, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đạt 47-50 triệu lượt, du lịch đóng góp khoảng 14-15% GDP và nâng tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP lên trên 50%”(10).

Nắm bắt được xu thế chuyển đổi số trong ngành du lịch, Tổng cục Du lịch đã xây dựng chiến lược nền tảng số quốc gia cho ngành du lịch(11). Cụ thể:

Một là, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số về du lịch; Hệ thống kết nối liên thông thông tin giữa cơ quan quản lý, địa phương và doanh nghiệp; Ứng dụng công nghệ số hỗ trợ du lịch an toàn và thông minh(13). Điển hình một số sản phẩm hỗ trợ cho khách du lịch như: ứng dụng Du lịch Việt Nam - Vietnam Travel, Phát hành Thẻ Du lịch thông minh, ứng dụng Nền tảng Quản trị và Kinh doanh du lịch. Tiêu biểu là ứng dụng Du lịch Việt Nam an toàn, một ứng dụng hữu ích trong và sau bối cảnh dịch bệnh Covid-19, là một nền tảng đa tiện ích, đem đến dữ liệu y tế về dịch bệnh ở điểm đến du lịch, cung cấp bản đồ số du lịch an toàn và thông tin các cơ sở dịch vụ an toàn.

Hai là, xây dựng các sản phẩm thông minh giúp đáp ứng nhu cầu của người dùng, ví dụ như hệ thống vé điện tử, bãi xe thông minh, hệ thống kiểm soát ra vào tự động và máy bán nước uống tự động(12). Các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực du lịch cũng đã kịp thời thích ứng trong giai đoạn chuyển đổi số. Một số các ứng dụng công nghệ đang phát triển như trí tuệ nhân tạo (AI) và chatbot, ứng dụng mobile, điểm đánh giá của khách hàng (rating and review).

Ba là, phủ sóng các ứng dụng về du lịch thông qua ứng dụng công nghệ thông tin trên cả nước(13). Hiện nay, các tỉnh, thành phố của Việt Nam đã đồng loạt triển khai ứng dụng số để kịp thời thích ứng với xu thế số. Tại Thành phố Hồ Chí Minh đã áp dụng các ứng dụng chuyển đổi số như: Cập nhật 366 tài nguyên du lịch lên nền tảng Google Map và Google Eart, phần mềm du lịch thông minh trên hệ điều hành iOS và Android, Cổng thông tin 1022 -  kênh giao tiếp giữa người dân và chính quyền thành phố, đưa các sản phẩm du lịch trên sàn giao dịch thương mại điện tử (Lazada, Traveloka, Shopee), tiến hành sử dụng công nghê 3D trong quảng bá du lịch để tái hiện hình ảnh thành phố, mang lại trải nghiệm sinh động để thu hút khách du lịch, tối ưu thời gian giải quyết thủ tục hành chính mức độ 4 tại Sở Du lịch.

Tại Hà Nội, các cơ quan chức năng cũng đã triển khai các ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động du lịch của Thành phố như bản đồ du lịch số, ứng dụng du lịch trên thiết bị thông minh, từ đó khách du lịch có thể dễ dàng tra cứu, tìm hiểu về các thông tin du lịch. Bên cạnh đó, Sở Du lịch Hà Nội đã liên kết hệ thống dữ liệu số hóa cho hơn 300 điểm đến du lịch. Các ứng dụng du lịch và cổng thông tin điện tử sẽ trở thành cổng thông tin đa phương tiện, nơi mà khách du lịch có thể tiếp cận thông tin một cách dễ dàng và hiệu quả hơn. Hơn nữa, nhiều cơ sở du lịch ở Hà Nội đã triển khai Audio Guide, một hệ thống thuyết minh tự động, giúp du khách quốc tế có thể chủ động tìm hiểu thông tin qua tai nghe bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau tại điểm tham quan.

Tại Đà Nẵng, Sở Du lịch thành phố Đà Nẵng cũng đã áp dụng ứng dụng thực tế ảo VR360 “Một chạm đến Đà Nẵng” vào năm 2021. Với ứng dụng số này, khách du lịch có thể dễ dàng khám phá Đà Nẵng với thuyết minh bằng hai ngôn ngữ Anh - Việt cùng hình ảnh 360 độ.

Có thể thấy, du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc quảng bá hình ảnh, văn hoá, lịch sử của Việt Nam đến bạn bè quốc tế. Nhờ vào sự phát triển của công nghệ số, doanh nghiệp Việt Nam có động lực để phát triển mạnh mẽ hơn, kinh tế của quốc gia cũng từ đó mà lớn mạnh hơn. Bước vào giai đoạn mới của tiến trình chuyển đổi số, Quyết định 411/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 sẽ là tiền đề và cơ sở để thúc đẩy các hoạt động của ngành du lịch Việt Nam. Theo đó, kế hoạch hành động và phát triển kinh tế số và xã hội số sẽ giúp cho ngành du lịch tập trung phát triển, đồng thời tạo làn sóng chuyển đổi số mạnh mẽ tại các doanh nghiệp du lịch cũng như phát triển các nền tảng kỹ thuật, công nghệ để kết nối cung cầu trong lĩnh vực này. Bên cạnh đó, nhu cầu về ứng dụng các kỹ thuật, công nghệ mới như dữ liệu lớn, trí thông minh nhân tạo cũng sẽ được triển khai mạnh mẽ hơn tại các cơ quan, tổ chức thực hiện quản lý, kinh doanh du lịch trên cả nước. Ví dụ, các doanh nghiệp du lịch sẽ triển khai chuyển đổi số trong các khâu quản lý, điều hành cũng như đón tiếp khách du lịch để họ có được các trải nghiệm trọn vẹn nhất. Các điểm đến cũng có các hoạt động chuyển đổi số để khách hàng có thể trải nghiệm từ xa trước khi quyết định điểm đến hay phát triển các hệ sinh thái về dịch vụ, mua sắm, ẩm thực… trên môi trường số.

Có thể nói rằng, với những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong thời gian qua và hành động, quyết tâm của ngành du lịch trong chuyển đổi số sẽ mang lại hiệu quả cao, khẳng định vị thế của ngành “công nghiệp không khói”, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của nước ta trong thời gian tới.

_________________

Ngày nhận bài: 26-4-2023; Ngày bình duyệt: 28-4-2023; Ngày duyệt đăng: 18-5-2023.

 

(1) Chính phủ: Quyết định 1671/QĐ-TTg về Phê duyệt “Đề án tổng thể ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực du lịch giai đoạn 2018-2020, định hướng đến năm 2015”, Hà Nội, ngày 30 -11 -2018.

 (2) Hà Văn Siêu: Di sản văn hóa với phát triển du lịch, https://www.vietnamtourism.gov.vn/post/26992ngày 26 -7 -2018.

(3) Vietnamplus: Khám phá 11 khu dự trữ sinh quyển thế giới ở Việt Nam, https://special.vietnamplus.vn/2021/09/24/kham-pha-11-khu-du-tru-sinh-quyen-the-gioi-o-viet-nam/, ngày 24-09-2021.

(4) Phúc Kha, Báo Thanh niên: Mùa lúa vàng ở Tây Bắc có gì đẹp mà thu hút nhiều khách check-in?, https://thanhnien.vn/mua-lua-vang-o-tay-bac-co-gi-dep-ma-thu-hut-nhieu-nguoi-den-check-in-, ngày 04-10-2022.

(5), (6), (7) Tổng cục Du lịch: Ấn tượng tăng trưởng du lịch Việt Nam trong bối cảnh khó khăn chung của khu vực và thế giới, https://vietnamtourism.gov.vn/post/30873, ngày 31-12-2019.

(8) Tổng cục Du lịch: Tốc độ tăng trưởng khách, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế,https://www.vietnamtourism.gov.vn/post/32527, ngày 9-7-2020.

(9), (11), (12), (13) Hồ Thị Bảo Nhung: Chuyển đổi số ngành du lịch Việt Nam trong bối cảnh đại dịch Covid-19https://tapchitaichinh.vn/chuyen-doi-so-nganh-du-lich-viet-nam-trong-boi-canh-dai-dich-covid-19.html, ngày 13-8-2022.

(10) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2021, tr.248-249.

ThS NGUYỄN MINH CHÂU

Tổng cục Thuế, Bộ Tài chính