Thứ Hai, 2 tháng 12, 2024

NHẬN DIỆN THÔNG TIN SAI TRÁI TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY

 

Thông tin sai trái trên không gian mạng là những thông tin không đúng sự thật, được phát tán trên không gian mạng, lan truyền đến các tầng lớp nhân dân nhằm xuyên tạc sự thật lịch sử, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chi Minh, chống phá chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bịa đặt, vu cáo, nói xấu lãnh tụ, chia rẽ đoàn kết nội bộ, tạo sự phân tâm trong xã hội, gieo rắc tâm lý hoài nghi, bi quan, dao động, mơ hồ, mất phương hướng chính trị của quân nhân.

Thông tin sai lạc sự thật do các thế lực thù địch, phản động đăng tải, phát tán trên không gian mạng. Đây là những thông tin đối lập với thông tin đúng đắn, phản ánh sai trải sự nghiệp lãnh đạo của Đảng, với âm mưu thâm độc, nhằm hướng lái tư duy, nhận thức của cộng đồng mạng đi ngược mục tiêu, lý tưởng, phương hướng, hành động cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Kẻ địch đăng tải, phát tán thông tin sai trái là nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng, vai trò lãnh đạo của Đảng và thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Thông tin sai trái trên không gian mạng biểu hiện trên 3 nhóm cơ bản sau:

Nhóm thứ nhất, những thông tin sai trái tác động, thúc đầy suy thoái về tư tưởng, chính trị:

Thông tin xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Thông tin thổi phồng khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở.

Thông tin bôi đen chế độ xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Thông tin xuyên tạc tư tưởng, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chi Minh, hạ bệ uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, bôi nhọ làm mất uy tín cán bộ.

Thông tin kích động, đánh lạc hướng dư luận, trộn lẫn đảng sai gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ.

Thông tin bóp méo sự thật, gây phân tâm tư tưởng trong xã hội, xuyên tạc lịch sử, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.

Thông tin cổ súy, đề cao chủ nghĩa cá nhân, phủ nhận vai trò của tập thể. Thông tin truyền bả tư tưởng phương Tây tự do, thực dụng.

Thông tin cổ súy giá trị đồng tiền.

Nhóm thứ hai, những thông tin sai trái tác động, thúc đẩy suy thoái về đạo đức, lối sống:

Thông tin truyền bá sản phẩm văn hóa xấu độc, đồi trụy.

Thông tin quảng bá lối sống tư bản, đề cao lối sống thực dụng ích kỷ, cực đoan.

Thông tin đề cao lối sống tư lợi, gian lận bất chấp luật pháp. Thông tin cổ suý lối sống phô trương, háo danh, thành tích.

Thông tin truyền bả lối sống hưởng thụ, cá nhân chủ nghĩa.

Thông tin cổ vũ phong cách sống nhanh, vô trách nhiệm.

Thông tin kích động lòng tham, cổ súy lối sống vô cảm.

Thông tin truyền bá văn hóa phẩm phản động, chỉ vẽ lôi sống mưu mô, xảo quyệt. Thông tin bôi nhọ truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam.

Nhóm thứ ba, những thông tin sai trái thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ:

Thông tin cổ sủy tư tưởng, hành động chống đổi.

Thông tin kích động tâm trạng phản loạn.

Thông tin thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, vu cáo lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Thông tin gieo rắc tâm lý bất mãn, gây hoài nghi.

Thông tỉnh phủ nhận, xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang.

Thông tin kích động bi quan, bất bình, móc nối, tập hợp lực lượng chống phá Đảng và Nhà nước.

Thông tin sai lệch, xuyên tạc lịch sử, một chiều về chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước.

Thông tin cổ suý quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan, văn hoá, nghệ thuật tự do, lệch lạc, biến thái.

Thông tin chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thông tin sai trái trên không gian mạng có tính truyền tải nhanh, gần như tức thì. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng không gian mạng để truyền bá những thông tin xấu độc, những bài viết với ngôn ngữ, luận điệu kích động, bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, phủ nhận thành tựu công cuộc đổi mới, thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ ta trên mọi lĩnh vực.

Thông tin sai trái trên không gian mạng có diện tham chiếu rộng, dễ tạo hiệu ứng xã hội theo chiều rộng và chiều sâu. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng không gian mạng tác động đến mọi tầng lớp nhân dân, làm ô nhiễm môi trường thông tin xã hội, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; ảnh hưởng tiêu cực đến tư tưởng chính trị, dư luận xã hội, gây hoang mang, dao động, làm giảm sút lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thông tin sai trái trên không gian mạng rất khó quản lý và kiểm soát. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng không gian mạng để tuyên truyền văn hóa phẩm đồi trụy, lối sống thực dụng gây ảnh hưởng trực tiếp đến đạo đức, lối sống, nhân cách của cá nhân và cộng đồng xã hội: Đạo đức xã hội bị băng hoại, văn hóa dân tộc bị tầm thường hóa, mất bản sắc, văn hóa xã hội bị đổ vỡ. Từ đó, tác động mạnh đến chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh, quốc phòng...; dẫn đến mất phương hướng lựa chọn các giá trị, lối sống và niềm tin của một bộ phận không nhỏ những người thường xuyên tiếp cận với không gian mạng.

TÔN VINH GIÁ TRỊ DANH HIỆU BỘ ĐỘI CỤ HỒ LÀ HỢP VỚI Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN

 


Danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ là danh hiệu cao quý mà nhân dân ta dành tặng cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội-những người con từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu vì nhân dân mà phục vụ. Bằng cách trao tặng danh xưng Bộ đội Cụ Hồ, nhân dân ta đã thể hiện sự tôn vinh, tình thương yêu và niềm tin sâu sắc nhất của mình đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ đã trở thành một giá trị văn hóa quân sự Việt Nam nói riêng, một giá trị độc đáo của văn hóa Việt Nam nói chung mà còn là hình mẫu của con người Việt Nam trong thời đại mới, để các thế hệ kế tiếp noi theo.

MỌI SỰ XUYÊN TẠC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỀU TRỞ NÊN LẠC LÕNG, KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN

 MỌI SỰ XUYÊN TẠC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỀU TRỞ NÊN LẠC LÕNG, KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN 


Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng ta khẳng định là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và cách mạng Việt Nam.


Tuy nhiên, thực hiện âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch và đối tượng cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất không ngừng xuyên tạc, bôi nhọ nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là khi Đảng chủ trương đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người.


Sự xuyên tạc, bịa đặt thâm độc 


Âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch là nhằm “hạ bệ thần tượng”,  thay đổi tình cảm của dân tộc với lãnh tụ Hồ Chí Minh; tạo tâm lý hoang mang, dao động, thiếu tin tưởng vào tư tưởng Hồ Chí Minh; sâu xa là nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo nên “khoảng trống” về tư tưởng để thực hiện “chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”. 


Các đối tượng khi xuyên tạc, bôi nhọ tư tưởng Hồ Chí Minh thường tập trung vào: Thứ nhất, chống phá tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là nền tảng tư tưởng của Đảng. Thứ hai, xuyên tạc những tư tưởng cụ thể trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, chẳng hạn như: Không có tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, hoặc có tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội nhưng chỉ là những lý thuyết giáo điều; tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là “tư biện, lý thuyết, ảo tưởng, phi thực tế”... Thứ ba, xuyên tạc về bản chất và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh, như: Tư tưởng Hồ Chí Minh là “sai lầm, là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của đất nước”; tư tưởng Hồ Chí Minh đã “lỗi thời, lạc hậu”, đề nghị Đảng, Nhà nước Việt Nam cần thay đổi bằng hệ tư tưởng mới...


Để xuyên tạc, xóa bỏ tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch đã dùng nhiều thủ đoạn thâm độc, tinh vi, xảo quyệt. Chúng thường lập luận dựa trên những nguồn thông tin không rõ nguồn gốc, những hình ảnh đã photoshop hoặc cắt xén. Hoang đường hơn, chúng còn dựng lên những câu chuyện hoàn toàn bịa đặt, những nhân chứng giả, bằng chứng giả và đưa ra những quy kết về Chủ tịch Hồ Chí Minh đầy tính tư biện.


Các thế lực thù địch thường sử dụng các diễn đàn công khai như tổ chức các hội thảo, tọa đàm, trao đổi, phỏng vấn... Đặc biệt, lợi dụng xu thế toàn cầu hóa, sự bùng nổ của truyền thông, chúng triệt để lợi dụng vùng “lãnh thổ đặc biệt” là không gian mạng với hàng nghìn trang mạng xã hội, trong đó có nhiều trang giả mạo các cá nhân, tổ chức có uy tín, núp dưới danh nghĩa tôn giáo, bảo vệ môi trường, dân sinh để thu hút người đọc, qua đó lan truyền những nội dung chống phá....


Sự thật là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta kỷ nguyên rực rỡ trong lịch sử vinh quang của dân tộc Việt Nam, đó là kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Trong suốt thời gian qua, vận dụng đúng đắn, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng giành được những thắng lợi vẻ vang.


Tình cảm mà nhân dân Việt Nam ở trong và ngoài nước dành cho Người là điều không thể phủ nhận. Không những vậy, những cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được ghi nhận bởi Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), của các chính khách, giới nghiên cứu quốc tế, từ các nước xã hội chủ nghĩa cho đến tư bản chủ nghĩa... Do vậy, mọi sự xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh đều trở nên lạc lõng, không thể chấp nhận.


Bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay


Nhận thức về vị trí, vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặt nhiệm vụ bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng của Người ở vị trí quan trọng. Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đó, xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn, chúng ta cần thực hiện một số giải pháp sau:


Một là, nâng cao nhận thức về nội dung, bản chất và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh; nhận thức toàn diện về nội dung, bản chất và giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần củng cố niềm tin, trau dồi bản lĩnh chính trị, cung cấp cơ sở luận cứ đấu tranh mạnh mẽ, hiệu quả và sắc bén nhằm làm thất bại những chiêu bài xuyên tạc, bóp méo sự thật về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trái lại, nhận thức chưa đúng đắn, toàn diện có thể dẫn tới việc đấu tranh trở nên mơ hồ, thiếu căn cứ, kém hiệu quả. Do vậy, chúng ta cần tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh với những phương pháp, cách thức sáng tạo và phù hợp hơn.


Đổi mới cách thức tổ chức các hội thảo và tọa đàm khoa học về Chủ tịch Hồ Chí Minh theo hướng chú trọng đến trao đổi, thảo luận có định hướng, gắn với những vấn đề thực tiễn trong nước và thế giới. Bên cạnh những sản phẩm có tính “hàn lâm”, nghiên cứu chuyên sâu, cần nhiều sản phẩm có tính “thường thức” với cách thể hiện giản dị, ngắn gọn, sinh động, hấp dẫn, dễ nhớ, dễ hiểu, nhất là đối với lớp trẻ. 


Giảng dạy về cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh cần được coi trọng ở tất cả các cấp. Trường học, các cơ sở đào tạo, nhất là hệ thống trường Đảng cần tập trung đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy, khắc phục tư tưởng ngại học, lười học, học mà không vận dụng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Cần đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thực chất hơn nữa; cần có chế độ kiểm tra, giám sát việc học tập, thưởng-phạt công minh, đưa vào tiêu chí hoàn thành nhiệm vụ hằng năm của cán bộ, đảng viên...


Hai là, đẩy mạnh và triển khai các hướng nghiên cứu mới về Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nghiên cứu làm sáng rõ những vấn đề về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là góp phần bảo vệ và phát triển tư tưởng của Người, nhất là khi các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng một số "khoảng trống" trong tư tưởng và tiểu sử Hồ Chí Minh để tuyên truyền xuyên tạc và bịa đặt. Hơn nữa, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng giống như Chủ nghĩa Mác, là một học thuyết mở. Sức sống của một tư tưởng mở nằm ở những chỉ dẫn có tính nguyên lý. Do vậy, trong việc học tập, chúng ta phải bảo đảm nguyên tắc vận dụng sáng tạo và phát triển, bổ sung tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn trong nước và thế giới hiện nay.


Để bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh, một số hướng nghiên cứu cần được thực hiện, đó là: Tiếp tục hướng nghiên cứu cơ bản nhằm làm rõ những quan điểm, tư tưởng có giá trị bền vững, phản ánh quy luật vận động của xã hội, tiếp tục “soi đường” cho cách mạng Việt Nam; những quan điểm, tư tưởng trước kia đúng đắn nhưng hiện nay đã bị thực tiễn vượt qua, cần được thay đổi hoặc bổ sung, phát triển; những quan điểm, tư tưởng đúng đắn, phù hợp nhưng chưa được hiểu đúng và đủ, hoặc vận dụng chưa đúng, chưa phù hợp dẫn đến chưa hiệu quả... 


Đẩy mạnh hướng nghiên cứu vận dụng nhằm định hướng giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra gắn với các ngành, các lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội. Tiếp tục hướng nghiên cứu nhằm khẳng định giá trị, ý nghĩa của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, nhất là những giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới...


Ba là, nâng cao hiệu quả và kiên quyết đấu tranh phản bác sự xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước hết, cần nhận diện một cách chính xác sự xuyên tạc (âm mưu, thủ đoạn, nội dung, động cơ, hình thức) và mức độ tác động đến xã hội của từng loại xuyên tạc để có phương pháp đấu tranh phù hợp và xử lý một cách kiên quyết. Phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, đảng viên-lực lượng nòng cốt trong cuộc đấu tranh tư tưởng này; duy trì và phát huy tác dụng của các nhóm chuyên gia, các đội xung kích tại các cơ quan, đơn vị, nhất là những cơ quan nghiên cứu và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh.


Xây dựng hệ thống luận cứ, luận điểm đấu tranh vững chắc, cung cấp cứ liệu và tư liệu đầy đủ, lập luận một cách chặt chẽ, logic, bẻ gãy từ gốc sự bịa đặt, sai trái, thù địch, phản động. Đa dạng hóa các hình thức đấu tranh; tích cực kiểm soát có hiệu quả các trang mạng độc hại, chấn chỉnh những phát ngôn thiếu trách nhiệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Kiên quyết và xử lý nghiêm minh đối với những phần tử chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ; chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh.


Bốn là, kết hợp đấu tranh phản bác các quan điểm xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh với công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Cần tiếp tục đấu tranh mạnh mẽ, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí hiệu quả hơn nữa.


Cùng với đó là xây dựng được đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược có tâm, có tầm, có đức, có tài, thực sự tiêu biểu về mọi mặt, luôn tiên phong, gương mẫu trong công tác, góp phần quan trọng vào xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng khẳng định: “Thế giới sẽ còn đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn sống mãi”. Mọi sự xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh cần được kiên quyết đấu tranh loại bỏ./.

QUY ĐỊNH MỚI VỀ ĐĂNG KÝ CƯ TRÚ CHO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VÀ XÓA ĐĂNG KÝ THƯỜNG TRÚ, TẠM TRÚ

 QUY ĐỊNH MỚI VỀ ĐĂNG KÝ CƯ TRÚ CHO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VÀ XÓA ĐĂNG KÝ THƯỜNG TRÚ, TẠM TRÚ 


Việc đăng ký cư trú cho người chưa thành niên; hồ sơ, thủ tục xóa đăng ký thường trú, tạm trú được quy định trong Nghị định số 154/2024/NĐ-CP, ngày 26/11/2024, quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú (sau đây gọi tắt là Nghị định 154/2024/NĐ-CP)


Về việc đăng ký cư trú cho người chưa thành niên, Điều 7 của Nghị định 154/2024/NĐ-CP quy định:


1. Trường hợp người chưa thành niên đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú tại nơi thường trú, nơi tạm trú của cha, mẹ hoặc cha hoặc mẹ thì cha hoặc mẹ hoặc người giám hộ thực hiện kê khai, xác nhận ý kiến vào Tờ khai thay đổi thông tin cư trú.


Trường hợp người chưa thành niên đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú tại nơi thường trú, nơi tạm trú không phải là nơi thường trú, nơi tạm trú của cha, mẹ hoặc người giám hộ thì cha hoặc mẹ hoặc người giám hộ thực hiện kê khai, xác nhận ý kiến vào Tờ khai thay đổi thông tin cư trú. Trường hợp người chưa thành niên được Tòa án quyết định giao cho cha hoặc mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng thì người được giao chăm sóc, nuôi dưỡng kê khai, xác nhận ý kiến vào Tờ khai thay đổi thông tin cư trú.


2. Trong thời hạn tối đa 60 ngày, kể từ ngày người chưa thành niên được đăng ký khai sinh thì cha hoặc mẹ hoặc chủ hộ hoặc người giám hộ có trách nhiệm thực hiện thủ tục đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, khai báo thông tin về cư trú cho người chưa thành niên. Trường hợp cha, mẹ của người chưa thành niên có nơi thường trú nhưng không phải nơi đang thực tế sinh sống thì người chưa thành niên được đăng ký thường trú tại nơi thường trú của cha, mẹ.


3. Trường hợp cha, mẹ của người chưa thành niên không có cả nơi thường trú, nơi tạm trú thì thực hiện khai báo thông tin về cư trú cho người chưa thành niên theo quy định tại Điều 4 Nghị định này.


4. Trường hợp đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú lần đầu cho người chưa thành niên theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này thì cơ quan đăng ký cư trú không phải thực hiện kiểm tra, xác minh điều kiện về tính hợp pháp của chỗ ở và tình trạng cư trú.


Về hồ sơ, thủ tục xóa đăng ký thường trú, Điều 9 của Nghị định 154/2024/NĐ-CP quy định:


1. Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày hộ gia đình có người thuộc diện xóa đăng ký thường trú thì người thuộc diện xóa đăng ký thường trú hoặc đại diện hộ gia đình có trách nhiệm thực hiện thủ tục xóa đăng ký thường trú.


2. Hồ sơ xóa đăng ký thường trú gồm: Tờ khai thay đổi thông tin cư trú và giấy tờ, tài liệu chứng minh thuộc một trong các trường hợp xóa đăng ký thường trú.


3. Người thực hiện thủ tục nộp 1 hồ sơ bằng phương thức trực tuyến, trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính công ích đến cơ quan đăng ký cư trú.


4. Trường hợp người bị đề nghị xóa đăng ký thường trú chưa có thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc thông tin về người đó trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư không đầy đủ, chính xác thì cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm thu thập, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.


5. Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ thì cơ quan đăng ký cư trú thực hiện xóa đăng ký thường trú đối với công dân và cập nhật việc xóa đăng ký thường trú vào Cơ sở dữ liệu về cư trú, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.


6. Trường hợp người thuộc diện xóa đăng ký thường trú hoặc đại diện hộ gia đình không thực hiện thủ tục xóa đăng ký thường trú thì cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm kiểm tra, xác minh, lập biên bản về việc công dân, đại diện hộ gia đình không thực hiện thủ tục xóa đăng ký thường trú và thực hiện xóa đăng ký thường trú đối với công dân.


7. Cơ quan, đơn vị quản lý người học tập, công tác, làm việc trong lực lượng vũ trang nhân dân có văn bản đề nghị cơ quan đăng ký cư trú trên địa bàn đóng quân xóa đăng ký thường trú đối với người thuộc đơn vị mình quản lý. Văn bản đề nghị cần nêu rõ họ, chữ đệm và tên khai sinh; ngày, tháng, năm sinh; số định danh cá nhân hoặc chứng minh nhân dân 9 số của người thuộc trường hợp xóa đăng ký thường trú; lý do đề nghị xóa đăng ký thường trú.


8. Trong thời hạn 1 ngày làm việc, kể từ ngày Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư tiếp nhận thông tin phản ánh về người thuộc trường hợp bị xóa đăng ký thường trú quy định tại khoản 1 Điều 24 Luật Cư trú, cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm kiểm tra, xác minh, thực hiện xóa đăng ký thường trú đối với công dân và cập nhật việc xóa đăng ký thường trú vào Cơ sở dữ liệu về cư trú, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.


9. Sau khi thực hiện việc xóa đăng ký thường trú, cơ quan đăng ký cư trú thông báo bằng văn bản giấy hoặc bản điện tử hoặc hình thức điện tử khác cho người bị xóa đăng ký thường trú hoặc đại diện hộ gia đình.


Về hồ sơ, thủ tục xóa đăng ký tạm trú, Điều 10 của Nghị định 154/2024/NĐ-CP quy định:


1. Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày hộ gia đình có người thuộc diện xóa đăng ký tạm trú thì người thuộc diện xóa đăng ký tạm trú hoặc đại diện hộ gia đình có trách nhiệm thực hiện thủ tục xóa đăng ký tạm trú.


2. Hồ sơ xóa đăng ký tạm trú gồm: Tờ khai thay đổi thông tin cư trú và giấy tờ, tài liệu chứng minh thuộc một trong các trường hợp xóa đăng ký tạm trú.


3. Người thực hiện thủ tục nộp 1 hồ sơ bằng phương thức trực tuyến, trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính công ích đến cơ quan đăng ký cư trú.


4. Trường hợp người bị đề nghị xóa đăng ký tạm trú chưa có thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc thông tin về người đó trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư không đầy đủ, chính xác thì cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm thu thập, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.


5. Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ thì cơ quan đăng ký cư trú phải xóa đăng ký tạm trú đối với công dân và cập nhật việc xóa đăng ký tạm trú vào Cơ sở dữ liệu về cư trú, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.


6. Trường hợp hộ gia đình chỉ có 1 người hoặc người thuộc diện xóa đăng ký tạm trú hoặc đại diện hộ gia đình không thực hiện thủ tục xóa đăng ký tạm trú thì cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm kiểm tra, xác minh, lập biên bản về việc công dân, đại diện hộ gia đình không thực hiện thủ tục xóa đăng ký tạm trú và thực hiện xóa đăng ký tạm trú đối với công dân.


7. Cơ quan, đơn vị quản lý người học tập, công tác, làm việc trong lực lượng vũ trang nhân dân có văn bản đề nghị cơ quan đăng ký cư trú trên địa bàn đóng quân xóa đăng ký tạm trú đối với người thuộc đơn vị mình quản lý. Văn bản đề nghị cần nêu rõ họ, chữ đệm và tên khai sinh; ngày, tháng, năm sinh; số định danh cá nhân hoặc Chứng minh nhân dân 9 số của người cần xóa đăng ký tạm trú; lý do đề nghị xóa đăng ký tạm trú.


8. Trong thời hạn 1 ngày làm việc, kể từ ngày hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư tiếp nhận thông tin quy định tại khoản 1 Điều 29 Luật Cư trú thông qua kết nối, chia sẻ, đồng bộ dữ liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, cơ sở dữ liệu khác do cơ quan, tổ chức quản lý, cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm kiểm tra, xác minh, thực hiện xóa đăng ký tạm trú đối với công dân và cập nhật việc xóa đăng ký tạm trú vào Cơ sở dữ liệu về cư trú, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.


9. Sau khi thực hiện việc xóa đăng ký tạm trú, cơ quan đăng ký cư trú thông báo bằng văn bản giấy hoặc bản điện tử hoặc hình thức điện tử khác cho người bị xóa đăng ký tạm trú hoặc đại diện hộ gia đình.

Tinh gọn và tinh nhuệ

 Tinh gọn và tinh nhuệ

*****

Cán bộ “cốt tinh, không cốt đông” là quan điểm nhất quán của Đảng ta trong xây dựng đội ngũ cán bộ. Do vậy, việc tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị phải song hành cùng tinh nhuệ đội ngũ cán bộ. Đây là khâu “then chốt của then chốt” trong cuộc cách mạng, tạo sự thay đổi về chất trong hoạt động của hệ thống chính trị.


Cuộc cách mạng tinh giản bộ máy không có nghĩa là cắt giảm một cách cơ học, mà loại bỏ những vị trí không cần thiết, giảm những công việc không hiệu quả, từ đó tập trung nguồn lực cho những lĩnh vực then chốt, đồng thời lựa chọn những con người thực sự xứng đáng và phù hợp. Một bộ máy của hệ thống chính trị mạnh mẽ và hiệu quả không phải do số lượng và quy mô mà chủ yếu do chất lượng hoạt động.

Chất lượng ấy không thể nhìn vào những cán bộ yếu kém chọn cơ quan nhà nước là “vùng trú ẩn an toàn” và những cán bộ tiêu cực, nhũng nhiễu, "hành dân", "hành doanh nghiệp", có lợi ích cá nhân thì mới làm, cố tình làm chậm công việc, xin ý kiến lòng vòng, đổ lỗi cho thể chế, đổ lỗi cho sợ trách nhiệm...

Chất lượng hoạt động của bộ máy phải phụ thuộc vào khâu tổ chức bộ máy khoa học và những cán bộ vận hành bộ máy được lựa chọn, đào tạo bài bản, có chất lượng tốt cả đạo đức và trí tuệ vượt trội, thật sự gương mẫu -thà ít mà tốt.

Do vậy, ngoài “sàng lọc” thật kỹ những cán bộ đang đương chức thì Đảng, Nhà nước phải “chiếu cầu hiền tài” là con em đất Việt trên thế giới, quy tụ về chung tay phát triển đất nước. Đồng thời, tiếp tục nâng chuẩn đầu vào đối với đội ngũ cán bộ, đặc biệt là người đứng đầu. Có đội ngũ cán bộ thật sự "tinh nhuệ", bộ máy sẽ vận hành đồng bộ, khoa học, hiệu quả.

Lạc quan cách mạng - năng lượng tinh thần tích cực của Bộ đội Cụ Hồ

 Lạc quan cách mạng - năng lượng tinh thần tích cực của Bộ đội Cụ Hồ

*****

Tinh thần lạc quan là một trong những phẩm chất ưu việt có tính đặc trưng của Bộ đội Cụ Hồ. Đại tướng Pháp Marcel Bigeard khi viết hồi ký vẫn chưa xóa hết ấn tượng kinh ngạc về đối phương. Đó là hình ảnh “những ngươi lính dẻo dai có thể đi bộ 50km trong đêm tối bằng sức của một bát cơm, trên những đôi giày ba-ta và hát vang trên đường ra trận”. Nỗi kinh ngạc đó đồng thời hàm chứa một phát hiện sinh động về phẩm chất lạc quan của bộ đội ta.


Một thuộc tính tinh thần tích cực của Bộ đội Cụ Hồ

Lạc quan là một phẩm chất tư tưởng, một dạng cảm xúc tâm lý, song cũng có thể ngưng đọng, kết tinh trên bình diện tư tưởng, như một cách nhìn cuộc sống, một quan điểm, lập trường một khía cạnh của thế giới quan. Người lạc quan là người có thiên hướng nhìn nhận và đánh giá sự vật theo chiều hướng tích cực, khả thi, đi tới một tương lai tốt đẹp. Các nhà tâm lý học đã hình dung và mô tả kết quả nhìn nhận thế giới của người lạc quan (optimista) và người bi quan (pesimista). Trước một cốc nước đầy, người bi quan chỉ nhìn thấy lưng cốc nước bên trong, còn người lạc quan luôn thấy cả cốc nước tràn đầy. Bi quan gắn liền với thái độ yếm thế, buồn bã, chán đời.

Lạc quan gắn liền với tâm trạng vui vẻ, sống vượt thoát khỏi áp lực của những hoàn cảnh khó khăn, nguy hiểm, thậm chí có thể chủ động nhìn thế giới bằng cái nhìn khôi hài, hóm hỉnh. Tiếng cười như vũ khí của kẻ mạnh. Người bi quan có thể nhìn người lạc quan như những kẻ mộng du, ngây thơ dễ dãi và ảo tưởng. Ngược lại, ở một thái cực khác, người lạc quan có thể coi người bi quan như những kẻ yếu đuối, khó tính và chán đời.

Ngay từ những năm đầu thành lập, Bộ đội Cụ Hồ là tập thể các chàng lính trẻ, tuy được trang bị thô sơ, nghèo khó nhưng cuộc sống thật vui tươi, luôn rộn rã tiếng cười. Bài thơ “Nhớ” của Hồng Nguyên viết đầu thời kỳ chống thực dân Pháp có đoạn: “Chúng tôi đi/ Nắng mưa sờn mép ba lô/ Tháng năm bạn cùng thôn xóm/ Nghỉ lại lưng đèo/ Nằm trên dốc nắng/ Kỳ hộ lưng nhau ngang bờ cát trắng/ Quờ chân tìm hơi ấm đêm mưa/ - Đằng nớ vợ chưa?/- Đằng nớ?/ - Tớ còn chờ độc lập!/ Cả lũ cười vang bên ruộng bắp/ Nhìn o thôn nữ cuối nương dâu”.

Hình ảnh người lính trong bài thơ “Nhớ” thể hiện sinh động một đặc điểm cơ bản của Bộ đội Cụ Hồ. Đó là đức tính chất phác, giản dị, yêu đời. Hai tiếng “độc lập” mà người lính nhắc đến trong thơ không chỉ có ý nghĩa giới hạn về thời gian-ngày độc lập mà còn là khái niệm chỉ rõ mục tiêu, lý tưởng của người cầm súng.

Tinh thần lạc quan của người lính không phải là một hiện tượng tâm lý bề ngoài, trang trí cho chân dung anh bộ đội, mà là một thuộc tính tinh thần tất yếu, bắt nguồn từ bản chất bên trong của Quân đội nhân dân Việt Nam. Khác với quân đội các thời đại trước, phần lớn mang tính công cụ của một dòng họ, một triều đại phong kiến, chỉ thống nhất lực lượng và trở thành sức mạnh dân tộc khi chống giặc ngoại xâm, Bộ đội Cụ Hồ là quân đội của nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Tất nhiên quân đội nước nào, thời đại nào cũng chỉ có một nguồn tuyển quân duy nhất là nhân dân lao động.

Thời phong kiến cũng như thời kháng chiến chống thực dân Pháp, người lính phần lớn vẫn là những người nông dân cầm giáo rồi cầm súng. Sự khác biệt ở đây, là vượt lên tính chất lý lịch, người lính Cụ Hồ ra đi từ nhu cầu, nguyện vọng trong lòng dân. Tính nhân dân của Quân đội nhân dân Việt Nam là tính nhân dân tự giác. Điểm xuất phát, sự ra đời của Quân đội chúng ta không dừng lại ở bình diện xã hội, hành chính, mà có tính văn hóa sâu xa.

Trước hết, tinh thần lạc quan của người lính Cụ Hồ bắt nguồn từ tinh thần lạc quan truyền thống của nhân dân lao động. Đó là sự lạc quan, yêu đời, được tích lũy, kế thừa qua hàng ngàn đời nay của người lao động. Tinh thần lạc quan của người lính Việt Nam hôm nay ít nhiều mang tính dân gian và tính dân tộc. Đặc tính đó, nếu không có, dân tộc Việt Nam không thể tồn tại, không thể “vượt thoát” khỏi những âm mưu thôn tính và đồng hóa dai dẳng của ngoại xâm.

Tuy vậy, yếu tố quyết định cho sự lạc quan của người lính Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh chủ yếu bắt nguồn từ niềm tin sâu xa vào lý tưởng mà mình theo đuổi. Người lính tin vào sự chiến thắng tất yếu, cuối cùng, có tính quy luật của lịch sử. Sự lạc quan đó không dừng lại ở cấp độ cảm xúc, tâm lý cá nhân, mà được thiết lập trên cơ sở của sự nhận thức lý trí. Sự lạc quan không đồng nghĩa với những biểu hiện cảm xúc vui vẻ, đồng nhất với tiếng cười. Nếu không có cơ sở vững chắc của tư duy lý tính, lạc quan có thể trở thành sự huyễn tưởng hoặc chỉ là một cảm thức lãng mạn. Được hình thành trên nền tảng của lý trí và niềm tin, tinh thần lạc quan có thể kết tinh vững chãi như một lập trường, một chủ nghĩa lạc quan. Đó là chủ nghĩa lạc quan cách mạng.

Năm 1966 trong một trận đánh ở chiến trường Thủ Dầu Một-Nam Bộ, có 11 chiến sĩ của Trung đoàn Bình Giã nhận nhiệm vụ xuyên rừng, tỏa đi nhiều phía đánh lạc hướng kẻ thù, tạo thời cơ cho đơn vị rút lui. Sau nhiều ngày đánh lạc hướng địch, chính các chiến sĩ, đến lượt mình, cũng bị lạc vào rừng sâu, hết lương ăn, hết phương tiện liên lạc, đói, bệnh, lần lượt hy sinh cho đến 3 người cuối cùng. Sau đó, chúng ta đã tìm thấy 3 cánh võng buộc chụm đầu và hài cốt 3 chiến sĩ cùng lá thư viết chung của 3 chiến sĩ “gửi lại mai sau”.

Bức thư có đoạn: “Chúng tôi sẽ chết ung dung thư thái như đã từng sống mãnh liệt mà thư thái với công việc chúng tôi đã làm... Chúng tôi mong được ghi nhận rằng, chúng tôi đã từng sống, chiến đấu và chết trong một mùa xuân giữa đất trời như trăm ngàn cái chết của người Việt Nam chân chính cho Tổ quốc và dân tộc sống còn... Hay trong trường hợp đến 50, 100 năm nữa, thư này mới tới những người có thể gọi là thế hệ mai sau, thì cho phép chúng tôi gửi lời chào xã hội chủ nghĩa...Và hơn thế nữa cho gửi lời chào niềm nở nhất đến những con người ở những vì sao xa xôi, những người bạn mới giữa các hành tinh”.

Tâm trạng của 3 chiến sĩ nối tay nhau chấp bút viết một lá thư chung trước lúc qua đời là một biểu hiện của chủ nghĩa lạc quan cách mạng cao cả nhất. 3 chiến sĩ hy sinh âm thầm trong rừng sâu là một câu chuyện bi tráng, đồng thời cũng là một bi kịch lạc quan. Chính tinh thần lạc quan cách mạng đã làm cho họ tuy chết về thể xác nhưng trở nên bất tử và là sự chiến thắng tuyệt đối về phương diện tinh thần.

Nguồn lực tinh thần nội sinh, tạo nên sức mạnh chiến đấu

Không phải bất cứ quân đội nước nào cũng có được tư tưởng lạc quan như Quân đội nhân dân Việt Nam. Quân đội ở nhiều nơi, nhiều lúc chỉ thực thi nhiệm vụ theo chức năng của một công cụ bạo lực, phục vụ cho một nhóm lợi ích hay tập đoàn thống trị nào đó. Có thể coi quân đội đó như một cỗ máy đánh thuê chuyên nghiệp, nhiều khi tham chiến chỉ để trả nợ chính phủ hoặc đem lại nguồn tài chính nhất định cho nhà nước.

Ngược lại, Quân đội nhân dân Việt Nam là một lực lượng vũ trang chỉ chiến đấu, hy sinh cho một mục tiêu cao cả và duy nhất là độc lập, tự do dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Đó cũng là một đội quân cách mạng, chiến đấu bằng lý tưởng cách mạng, vì chiến thắng và thành công của chủ nghĩa xã hội. Lý tưởng đó đã tạo nên lòng tin và tinh thần lạc quan trước sự vận động và phát triển của lịch sử nhân loại.

Khi định danh bộ đội Việt Nam là Bộ đội Cụ Hồ là chúng ta nhận ra có sự tương đồng hay sự ảnh hưởng sâu xa từ nhân cách đạo đức Hồ Chí Minh tới Quân đội nhân dân Việt Nam, trong đó có tư tưởng lạc quan cách mạng. Trong những tháng ngày bị quân Tưởng Giới Thạch cầm tù, với cảm giác khổ sở “nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại” Bác vẫn lạc quan tin tưởng vào cơ hội “nhà lao mở cửa ắt rồng bay”, vì “Trong ngục giờ đây mờ mịt tối/ Ánh hồng trước mặt đã bừng soi”. 

Vì vậy có thể nói, tư tưởng lạc quan đã trở thành phẩm chất xuyên suốt lịch sử 80 năm ra đời và phát triển của Quân đội chúng ta. Mỗi người lính Cụ Hồ không thể không mang trong lòng mình phẩm chất lạc quan cách mạng của vị lãnh tụ kính yêu đã khai sinh ra Quân đội.

Cũng xuất phát từ lý do trên, mà ngay sau khi thành lập, trong kháng chiến chống thực dân Pháp, dấu chân hành quân của chiến sĩ Vệ quốc quân giống như tín hiệu của mùa xuân, tín hiệu của sự hồi sinh cuộc sống: “Anh về cối lại vang rừng/ Chim kêu quanh mái gà mừng dưới sân/ Anh về sáo lại ái ân/ Đêm trăng hò hẹn trong ngần tiếng ca” (Tố Hữu). Nhờ sự lạc quan mà trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, anh giải phóng quân mới “Xẻ dọc trường sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai” (Tố Hữu); những chàng lính lái xe không kính mới “nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”, những người lính trẻ vào mặt trận mới cảm thấy “Giữa chiến trường nghe tiếng bom rất nhỏ” (Phạm Tiến Duật).

Niềm tin chiến thắng và tinh thần lạc quan cách mạng đã biến tất cả người lính trở thành ca sĩ. Họ là ca sĩ của đồng đội và khi cần giữ bí mật, họ vẫn hát, tiếng hát nội tâm, trở thành ca sĩ của riêng mình. Họ luôn cảm thấy “Bác kính yêu đang cùng chúng cháu hành quân” (Huy Thục). Hình ảnh Bác như ngọn đèn thắp sáng niềm tin suốt hai cuộc chiến tranh yêu nước trường kỳ. Ca hát trên tinh thần “tiếng hát át tiếng bom” và sinh hoạt văn hóa, văn nghệ nội bộ đơn vị đã trở thành nhu cầu và biểu hiện rõ rệt của tinh thần lạc quan Quân đội.

Lạc quan là một khái niệm có nội hàm khá linh động, vì có nhiều cấp độ lạc quan. Một niềm vui bất chợt, nhất thời cũng là một biểu hiện lạc quan, nhưng chỉ ở cấp độ cảm xúc, cảm tính. Tư tưởng lạc quan là hình thái lạc quan có ý nghĩa lý trí, mang tính hệ thống, hình thành và phát triển trên cơ sở nhận thức lý tính. Tuy nhiên tư tưởng lạc quan cũng không phải nhất thành bất biến mà có sự vận động phát triển, thậm chí lụi tàn nếu thiếu sự rèn luyện, bồi dưỡng, giáo dục và không ngừng nâng cao tri thức về đời sống xã hội và tăng cường hoạt động thực tiễn.

Suốt 80 năm qua, phẩm chất lạc quan của Bộ đội Cụ Hồ đã trở thành một trong những nguồn lực tinh thần nội sinh, tạo nên sức chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tư tưởng lạc quan cách mạng của Quân đội vừa là động lực thúc đẩy vừa là kết quả hình thành từ sự rèn luyện cá nhân và sự bồi dưỡng, giáo dục của Đảng. Tư tưởng lạc quan cũng là một trong những yếu tố cắt nghĩa một cách thuyết phục vì sao dưới ngọn Quân kỳ Quyết thắng, Quân đội ta đã vượt qua mọi thử thách lớn lao của lịch sử, đi hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, góp phần to lớn vào công cuộc cách mạng giành độc lập, tự do, thống nhất hai miền, bảo đảm cho đất nước đi tới một tương lai nhân dân hạnh phúc, dân tộc phồn vinh.  

Khái niệm cách mạng xã hội chủ nghĩa

 


Trong lịch sử loài người đã diễn ra những cuộc cách mạng xã hội khác nhau. Đó là phương thức căn bản để thay thế chế độ xã hội này bằng chế độ xã hội khác tiến bộ hơn, phù hợp với trình độ và nhu cầu phát triển của lịch sử. Cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng xã hội do giai cấp công nhân lãnh đạo, nhằm giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và con người khỏi sự áp bức, bóc lột và bất công, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới. Cách mạng xã hội chủ nghĩa thường được hiểu theo hai góc độ:

Theo nghĩa hẹp: Cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc cách mạng chính trị do giai cấp công nhân thông qua chính đảng của mình, lãnh đạo quần chúng nhân dân lao động đấu tranh lật đổ nhà nước tư sản, giành chính quyền và thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản. Theo nghĩa hẹp, cách mạng xã hội chủ nghĩa gắn với giai đoạn đấu tranh giành chính quyền của giai cấp công nhân nhằm lật đổ quyền thống trị của giai cấp tư sản và kết thúc khi giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động giành được chính quyền, thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản - nhà nước của dân, do dân, vì dân.

Theo nghĩa rộng, cách mạng xã hội chủ nghĩa là quá trình cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diện, triệt để, lâu dài do giai cấp công nhân lãnh đạo thông qua chính đảng của mình nhằm lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, từng bước cải tạo xã hội tư bản chủ nghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Như vậy, theo nghĩa rộng cách mạng xã hội chủ nghĩa bao gồm cả việc giành chính quyền về tay giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả quá trình giai cấp công nhân, quần chúng nhân dân lao động tiến hành cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Quá trình này kết thúc khi xã hội cộng sản chủ nghĩa tạo lập được vững chắc, vận động và phát triển trên cơ sở của chính nó. Đây là một quá trình đấu tranh lâu dài của mỗi quốc gia dân tộc và của cả loài người.

Cách mạng xã hội chủ nghĩa chính là con đường cách mạng, khoa học để thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu cách mạng xã hội chủ nghĩa theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp.

Trách nhiệm của đội ngũ cán bộ ngành quân sự cơ sở hiện nay


Trước những diễn biến nhanh chóng khó dự báo của tình hình an ninh chính trị - xã hội trên thế giới, khu vực và những thuận lợi, khó khăn trong nước, đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ ngành quân sự cơ sở nói riêng cần có bản lĩnh chính trị vững vàng, đoàn kết, thống nhất cao, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao; tin tưởng vào chế độ xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta lựa chọn là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại.

Thường xuyên học tập, rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, năng lực chuyên môn nghiệp vụ. Phát huy trách nhiệm, khả năng thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nền quốc phòng toàn dân kết hợp với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh, kiên trì thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tích cực tuyên truyền làm cho các tầng lớp nhân dân nhận rõ nhiệm vụ xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hiện nay, là một sự nghiệp vô cùng khó khăn, phức tạp, lâu dài, nhưng đó là con đường hợp quy luật, hợp lòng dân. Chủ động, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 

  

Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

 


Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố hàng đầu quyết định đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Quan điểm chỉ đạo về Chiến lược phát triển tổng thể của đất nước, Đảng ta xác định: “... phát triển kinh tế - xã hội là trọng tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”[1]. Như vậy, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là một trong những phương hướng hết sức quan trọng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay. Thực hiện phương hướng này, cần quan tâm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận; kiện toàn, đổi mới tổ chức bộ máy và tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; đổi mới công tác cán bộ, tăng cường rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên về phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân; đổi mới công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng…

Trên đây là những phương hướng cơ bản có tính nguyên tắc, bảo đảm cho đất nước vững bước và thành công trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, chúng ta phải nắm vững, quán triệt và thực hiện tốt trong suốt thời kỳ quá độ, cũng như trong mỗi chặng đường cụ thể.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 33 - 34.

Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội

 


Phương hướng này quán triệt quan điểm, nguyên tắc: Xây phải đi đôi với chống. Xây dựng đất nước là nhiệm vụ quan trọng, xuyên suốt, song chúng ta không lơ là mất cảnh giác trước âm mưu của các thế lực thù địch, các thế lực ngoại bang đang tìm mọi thủ đoạn phá hoại sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta. Những hoạt động gây mất trật tự, an ninh, an toàn trong nước, không chỉ cản trở sự phát triển của xã hội mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Thực hiện phương hướng này, cho phép đất nước ta luôn tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; nâng cao cảnh giác, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, đẩy lùi các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Có nền kinh tế phát triển cao, nền văn hóa tiên tiến là đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

 


Xây dựng nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp là quan điểm nhất quán của Đảng hướng tới xây dựng một xã hội phát triển, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Đây là điều kiện suy đến cùng làm cho chủ nghĩa xã hội chiến thắng hoàn toàn chủ nghĩa tư bản.

Lực lượng sản xuất hiện đại mà nhân dân ta xây dựng đó là lực lượng sản xuất dựa trên hệ thống công nghệ mới với khoa học công nghệ hiện đại tạo ra năng suất lao động rất cao, bảo vệ môi trường sinh thái, hàm lượng tri thức trong mỗi sản phẩm chiếm tỷ lệ ngày càng cao. Đồng thời, phát triển lực lượng sản xuất hiện đại phải dựa trên quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp, bảo đảm sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc dân và đem lại những tiến bộ thật sự cho xã hội.

Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là đặc trưng quan trọng, thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng ta về phát triển một xã hội toàn diện, hài hòa. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc - tạo thành nền tảng tinh thần của xã hội.

Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, hiện đại, tiếp thu có chọn lọc những giá trị, tinh hoa văn hóa nhân loại; đồng thời kế thừa, phát triển giá trị bản sắc văn hóa của dân tộc, tạo nên sự thống nhất trong đa dạng. Sự kết hợp hài hòa những giá trị tiên tiến, hiện đại với những giá trị mang đậm bản sắc dân tộc, làm cho văn hóa trở thành sức mạnh nội sinh quan trọng của sự phát triển đất nước.

Tất cả vì con người, cho con người, chăm lo xây dựng con người và phát triển con người toàn diện (đức, trí, thể, mỹ) thể hiện tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng. Đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có người xã hội chủ nghĩa”[1]. Trong chủ nghĩa xã hội, hệ giá trị phản ánh nhu cầu chính đáng, nguyện vọng thiết thực của con người là: Có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 123.

Nhân dân làm chủ là đặc trưng cơ bản của đặc trưng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 


Đặc trưng này chi phối và thể hiện trong toàn bộ hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội của Đảng và Nhà nước ta. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển đất nước. Đảng ta nhận thức rằng sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đó là sự nghiệp của mọi người dân yêu nước, bất kể đó là người Việt Nam ở trong nước hay định cư ở nước ngoài, các giai cấp, dân tộc, tôn giáo, các doanh nhân…

Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trên thực tế, trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân và được thực hiện trên thực tế ở tất cả các lĩnh vực thông qua hoạt động của Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, xuất phát từ nguyện vọng chính đáng và có sự tham gia ý kiến của nhân dân.

Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội

 


Đây là đặc trưng tổng quát, bao trùm, chi phối các đặc trưng khác. Đảng ta xác định, chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng phải thiết thực, cụ thể, phải làm sao cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; mọi người đều được hưởng quyền tự do, dân chủ, được sống cuộc đời hạnh phúc… Đồng thời, đây là khát vọng tha thiết của toàn thể nhân dân Việt Nam, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội mới mà nhân dân ta xây dựng.

Dân giàu, là một trong những tiêu chí cốt lõi của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thể hiện sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội qua phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, tạo nên nguồn của cải vật chất dồi dào, đời sống vật chất của nhân dân ngày càng nâng cao.

Nước mạnh, là một tiêu chí quan trọng nhằm đưa đất nước vươn lên sánh vai với các cường quốc năm châu. Sức mạnh quốc gia được nâng cao toàn diện trên tất cả các lĩnh vực xã hội. Quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; giữ vững môi trường hoà bình để phát triển đất nước; vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam tiếp tục được nâng cao.

Dân chủ, là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân.

Công bằng, đảm bảo toàn diện trên các lĩnh vực xã hội đối với nhân dân. Về kinh tế, thực hiện công bằng xã hội đối với các thành phần kinh tế, xóa bỏ những thành kiến thiên lệch trong sự đánh giá và đối xử với người lao động thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Về xã hội, từng bước hoàn thiện chính sách xã hội, làm tốt chính sách bảo trợ xã hội, xóa đói, giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách chênh lệch giàu nghèo. Về xây dựng hệ thống chính trị, công bằng xã hội phải được thể hiện trong từng hoạt động, từng chính sách phát triển.

Văn minh, xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội hiện đại, văn minh, giàu bản sắc dân tộc. Xây dựng một xã hội có sự tiếp thu những thành tựu của văn minh nhân loại kết hợp với sự kế thừa những giá trị tốt đẹp của truyền thống dân tộc.

Chủ nghĩa xã hội là một xã hội công bằng và hợp lý, do quần chúng nhân dân xây dựng nên.

 


Các dân tộc trong nư­­ớc đều bình đẳng, miền núi đ­ược giúp đỡ tiến kịp miền xuôi; luôn đoàn kết hữu nghị với các dân tộc trên thế giới. Thực hiện công bằng xã hội nhằm mang lại một xã hội tốt đẹp cho tất cả mọi người là mục tiêu hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chủ nghĩa xã hội là công bằng hợp lý: Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng. Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ chăm nom”[1]. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của nhân dân ta. Đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế đã trở thành chiến lược cách mạng của Đảng ta, gắn liền với những thắng lợi vẻ vang của dân tộc, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”[2].

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tin tưởng mãnh liệt vào sức mạnh của quần chúng nhân dân và tôn trọng, kính trọng nhân dân lao động. Người trích lại câu nói của V.I.Lênin: “Lênin nói: Chủ nghĩa xã hội là do quần chúng nhân dân tự mình xây dựng nên”[3], từ đó Người khẳng định: “Đó là công trình tập thể của quần chúng lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng ta[4]. Theo Người, chủ nghĩa xã hội không phải là cái gì cao xa mà cụ thể là ý thức lao động tập thể, ý thức kỷ luật, tinh thần thi đua yêu nước, tăng gia sản xuất cho hợp tác xã, tăng thu nhập cho xã viên, tinh thần đoàn kết tương trợ, tinh thần dám nghĩ, dám nói, dám làm, không sợ khó, ý thức cần kiệm. Và chính nhân dân là chủ thể, là động lực của sự nghiệp vĩ đại đó.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 404.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 628.

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 568.

[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 609.

Chủ nghĩa xã hội là một chế độ do nhân dân lao động làm chủ.

 


Nhà n­ước phải phát huy quyền làm chủ của nhân dân để huy động tính tích cực, sáng tạo của nhân dân vào sự nghiệp xây dựng đất n­­ước. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, đó là mục tiêu chính trị của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chủ nghĩa xã hội là chế độ chính trị dân chủ, do nhân dân lao động là chủ và làm chủ; Nhà nước là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhà nước có hai chức năng: Dân chủ với nhân dân phát huy quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của nhân dân; chuyên chính với kẻ thù của nhân dân, với thiểu số phản động chống lại lợi ích của nhân dân, chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa.

Giá trị dân chủ là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội được Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn đạt bằng một thứ ngôn ngữ bình dị: dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân[1], bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân[2]. Người chỉ rõ con đường và biện pháp phát huy quyền làm chủ của nhân dân qua thực hiện các hình thức dân chủ trực tiếp, nâng cao năng lực hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội của quần chúng; củng cố các hình thức dân chủ đại diện, tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, xử lý và phân định rõ chức năng của chúng.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 457.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 232.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội

 


Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội luôn thể hiện tính thống nhất biện chứng giữa các nhân tố: Kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và đạo đức. Theo Người, “xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”[1].

Theo cách tiếp cận riêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều quan niệm khác nhau về chủ nghĩa xã hội. Tiếp cận theo mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, Người đặt câu hỏi:Chủ nghĩa xã hội là gì”[2] và trả lời: “Chủ nghĩa xã hội nhằm làm cho đời sống nhân dân ngày càng sung sướng, ăn no, mặc ấm, được học hành, ốm đau có thuốc”[3]. Tiếp cận theo các mặt của xã hội: Về phân phối sản phẩm: “Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tất nhiên là trừ những người già cả, đau yếu và trẻ con[4]. Về lĩnh vực chính trị: “Nhà nước xã hội chủ nghĩa và dân chủ nhân dân chỉ lo làm lợi cho nhân dân, trước hết là nhân dân lao động, ngày càng tiến bộ về vật chất và tinh thần, làm cho trong xã hội không có người bóc lột người”[5].

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm tổng quát: “Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”[6]. Tư tưởng của Người về chủ nghĩa xã hội ngày càng được thể hiện rõ cả về lý luận và thực tiễn, một xã hội phát triển hài hòa trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, vì con người.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 438.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 399.

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 437.

[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 390.

[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 453.

[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 415.