Thứ Ba, 3 tháng 12, 2024

 

ĐẬP TAN LUẬN ĐIỆU TRƠ TRẼN “LIÊN MINH QUÂN SỰ MỸ – NHẬT – PHI VÀ SỰ CÔ ĐƠN NGUY HIỂM CỦA VIỆT NAM”

Một trong các sự kiện thu hút sự quan tâm của dư luận toàn thế giới trong tháng 4 năm 2024 vừa qua chính là sự kiện ngày 11/4/2024 diễn ra Hội nghị thượng đỉnh lần đầu tiên giữa lãnh đạo ba nước Mỹ – Nhật Bản – Philippines. Hội nghị đã thảo luận nhiều nội dung quan trọng về hợp tác giữa các bên liên quan, trong đó có vấn đề về liên minh quân sự giữa Mỹ, Nhật Bản và Philippines.

Bình luận về sự kiện này, trên trang mạng “quyenduocbiet”, Nguyên Anh đã đăng bài viết tựa đề “Liên minh quân sự Mỹ – Nhật – Phi và sự cô đơn nguy hiểm của Việt Nam”. Bài viết, viện cớ sự liên minh quân sự giữa ba nước Mỹ, Nhật, Philippines để phê phán chủ trương không tham gia liên minh quân sự của Việt Nam là “sự cô đơn nguy hiểm”. Từ đó, “khuyên” Việt Nam cần thực hiện liên minh quân sự với Mỹ. Nguyên Anh còn cho rằng, điều kiện tiên quyết để trở thành “đồng minh của Mỹ” là: “Việt Nam bắt buộc phải là một quốc gia không cộng sản”. Thực chất đây là những luận điệu trơ trẽn, nhằm xuyên tạc, công kích chính sách quốc phòng “4 không” của Việt Nam, nhất là chủ trương “không tham gia liên minh quân sự”Đồng thời phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công tác đối ngoại quốc phòng. Cần khẳng định rằng, Việt Nam chủ trương “không tham gia liên minh quân sự” là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp và sáng suốt; là điều kiện quan trọng để giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước, bởi lẽ:

Thứ nhất, quan điểm nhất quán xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta là xây dựng sức mạnh quốc phòng dựa trên sức mạnh tổng hợp của cả nước, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa; củng cố, tăng cường nền quốc phòng toàn dân, sức mạnh quân sự để xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới. Chính sách quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Đồng thời, phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc, kiên quyết không “trông chờ” sự “bảo hộ” của bất cứ một thế lực nào.

Thứ hai, thực tiễn cho thấy, các cuộc chiến tranh và xung đột trên thế giới gần đây, nhất là trường hợp xung đột giữa Nga và Ukraina,… chỉ ra, một trong những nguyên nhân và “ngòi nổ” của nó là chính sách đối nội và đối ngoại thiếu sự nhất quán của chính phủ các nước đó. Chính phủ và ngay cả một bộ phận nhân dân các nước này luôn trông chờ sự “cứu giúp” từ thế lực bên ngoài hoặc dựa hẳn vào một liên minh quân sự với các quốc gia khác. Hậu quả để lại cho nhân dân các nước đó là sự phá hỏng không gian kinh tế – xã hội, bị chiến tranh tàn phá và luôn phải đối mặt với nguy cơ bất ổn, kéo lùi sự phát triển của đất nước. Điều này cho thấy sự hiện hữu những vấn đề về “lợi bất cập hại”, “hại” sẽ nhiều hơn “lợi” trong tham gia liên minh quân sự, để rồi đánh mất độc lập, tự chủ trong quan hệ quốc tế, tự chuốc thêm kẻ thù, tự đưa quốc gia, dân tộc mình vào tình thế “nguy hiểm”.

Thứ ba, thành công của Việt Nam trong giữ vững chủ quyền, độc lập, bảo vệ lợi ích của quốc gia – dân tộc những năm qua chính là thành công của xây dựng nền quốc phòng, an ninh độc lập, tự chủ, tự cường; và thực hiện thắng lợi đường lối “đa dạng hóa, đa phương hóa” quan hệ đối ngoại. Thành tựu đó đã khẳng định: Chủ trương không tham gia liên minh quân sự là đúng đắn và phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay khi hòa bình, hợp tác, phát triển đang là xu thế chủ đạo và chủ trương đối ngoại của Việt Nam là đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn tốt, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ quốc phòng với hơn 100 quốc gia, bao gồm 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các cường quốc trên thế giới. Hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và các nước ngày càng đi vào chiều sâu với các nội dung, lĩnh vực hợp tác thiết thực, phù hợp với điều kiện, nhu cầu và lợi ích của ta và các nước đối tác, tập trung vào các lĩnh vực như trao đổi, tham vấn, đối thoại, đào tạo, hợp tác quân binh chủng, công nghiệp quốc phòng, quân y, cứu hộ – cứu nạn, tuần tra chung biên giới trên bộ, trên biển, giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới; chủ động tham gia và tổ chức đăng cai các hội thao quân sự quốc tế…Những kết quả quan trọng trên đây là cơ sở để chúng ta tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Thứ tư, không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đối ngoại quốc phòng là vấn đề có tính nguyên tắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Công tác đối ngoại quốc phòng là một bộ phận trong hoạt động đối ngoại của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng. Mọi hoạt động hợp tác quốc phòng đều phải bám sát quan điểm, chủ trương, phương châm, mục tiêu, nội dung, phương thức mà Đảng xác định. Sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động này được cụ thể hóa thông qua vai trò quản lý của Nhà nước, trực tiếp là Bộ Quốc phòng và chỉ huy các cấp trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Với ý nghĩa đó, hợp tác quốc phòng trong tình hình hiện nay chính là: “thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại” trên tinh thần “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Đồng thời, mọi hoạt động hợp tác quốc phòng đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng. Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng giữ quyền độc tôn lãnh đạo hoạt động đối ngoại quốc phòng; quyền lãnh đạo đó không san sẻ, chia sẻ cho các lực lượng, tổ chức chính trị – xã hội khác.

Như vậy, cả lý luận và thực tiễn cho thấy, “luận điệu” của Nguyên Anh thực chất là một âm mưu thâm độc núp bóng vỏ bọc “bảo vệ chủ quyền lãnh thổ” nhưng lại nhằm chống phá đất nước, chúng ta cần phải đề cao cảnh giác, chủ động phát hiện vạch trần, đấu tranh kiên quyết, không để bị lừa gạt, gây tổn hại đến lợi ích quốc gia – dân tộc.

 

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA ĐÀO TĂNG DỰC - VẤN ĐỀ CẦN LÊN ÁN

Thời gian gầy đây, trên nhiều diễn đàn phản động đã đồng loạt phát tán bài viết Sách lược cải tổ hệ thống quân đội (The Armed Forces) của Đào Tăng Dực. Bài viết có nội dung xuyên tạc mối quan hệ gắn bó giữa Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, kêu gọi “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là những luận điệu nguy hiểm, trực tiếp chống phá việc thực hiện chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại của Đảng, Nhà nước ta.

Thứ nhất, Đào Tăng Dực lớn tiếng cho rằng: công an giữ một vai trò vượt trội quân đội trong hệ thống quyền lực đảng CSVN. Luận điệu này xuất phát từ góc nhìn thiển cận, phân tích một cách vô căn cứ của Đào Tăng Dực về lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Nó là sự tiếp nối, cố súy cho những âm mưu, thủ đoạn chia rẽ Quân đội nhân dân với Công an nhân dân của các thế lực thù địch. Mục đích là hướng tới tạo sự nghi kị, hiềm khích, gây bất ổn trong nội bộ Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, từng bước làm suy giảm động lực, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân. Trước luận điệu nham hiểm này, chúng ta cần nhận thức rõ, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là thành phần trọng yếu, lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mối quan hệ giữa Quân đội nhân dân với Công an nhân dân là quan hệ đồng chí, đồng đội, cùng chung mục tiêu, lý tưởng chiến đấu. Mối quan hệ này được tạo dựng, hun đúc từ truyền thống đoàn kết, yêu nước của dân tộc Việt Nam, từ quá trình giáo dục, rèn luyện của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh; được thử thách, kiểm nghiệm trong quá trình đấu tranh cách mạng của nhân dân ta. Thực tiễn đã chứng minh, “Công an và Quân đội là hai cánh tay của nhân dân, của Đảng, của Chính phủ”, luôn chung sức, chung lòng, đồng tâm hiệp lực, đoàn kết, phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ, kề vai sát cánh, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Tuy nhiên, do tính chất nhiệm vụ của mỗi lực lượng, nên tổ chức, biên chế của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân có những nét khác biệt. Nhưng đó không phải là căn cứ để đánh giá lực nào là quan trọng hơn trong bộ máy quyền lực của Nhà nước. Nói công an giữ một vai trò vượt trội quân đội như Đào Tăng Dực là lộng ngôn, nói càn, phản khoa học. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phân tích: Nhiệm vụ của Quân đội và Công an không thể rời nhau được vì nó đều có mục đích chung là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ trị an cho nhân dân… Quân đội chuyên chống kẻ địch bên ngoài, Công an chủ yếu chống kẻ địch bên trong. Hai nhiệm vụ đó không tách rời nhau được và cũng không thể phân chia máy móc. Ghi nhớ lời dạy của Đại tướng, mỗi chúng ta cần chủ động nâng cao nhận thức, luôn cảnh giác đấu tranh vạch rõ bản chất của những luận điệu xuyên tạc, muốn chia rẽ mối quan hệ gắn bó khăng khít giữa Quân đội nhân dân với Công an nhân dân.

Thứ hai, mượn cớ “thảo luận về vai trò của người quân nhân”, Đào Tăng Dực lớn tiếng kêu gọi “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam. Tiếp nối mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, Đào Tăng Dực kêu gọi mỗi quân nhân Quân đội nhân dân Việt Nam phải trung thành với tổ quốc, đứng về phía dân tộc, đối lập với mọi hình thức độc tài, quyết tâm đập tan mọi định chế độc tài. Những lời lẽ “hoa mĩ” đó của Đào Tăng Dực không che dấu được ý đồ kêu gọi tách Quân đội nhân dân Việt Nam ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; làm cho quân đội “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, mất phương hướng, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, suy yếu về chính trị, tiến tới bị vô hiệu hóa. Luận điệu của y – một lần nữa “nối giáo” cho âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, muốn làm “biến chất” Quân đội nhân dân Việt Nam – một đội quân vốn từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng, trở thành một đội quân đi ngược lại lợi ích của Đảng, của nhân dân; từ đó dễ bề chuyển hóa chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của quân đội đã chỉ rõ: Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam là nguyên tắc bất biến, nhất quán, xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Ngay từ đầu, Đảng đã tổ chức và xác lập sự lãnh đạo của mình đối với quân đội, là lực lượng lãnh đạo duy nhất, quyết định bản chất cách mạng, sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của quân đội; bảo đảm cho mọi hoạt động của quân đội giữ đúng “con đường chính trị”, “phục tùng nhiệm vụ chính trị” của Đảng, của nhân dân. Dưới sự lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội ta luôn vững vàng về chính trị, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; cùng với nhân dân làm nên những chiến thắng huy hoàng: tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công, đánh thắng hai đế quốc lớn là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, thống nhất đất nước, làm tròn nghĩa vụ quốc tế, và làm nòng cốt cho toàn dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Thực tiễn lịch sử đã phản ánh sâu sắc sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn về vai trò duy nhất lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, không thế lực nào có thể xuyên tạc, phủ nhận. Những ý kiến “thảo luận”, “đề nghị cải tổ” hệ thống, để quân đội không chỉ trung thành với tổ quốc, đứng về phía dân tộc mà còn đối lập với mọi hình thức độc tài, đập tan mọi định chế độc tài… của Đào Tăng Dực chỉ là “bổn cũ soạn lại” hòng phủ nhận, xóa bỏ nguyên tắc Đảng tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội ta.

Tóm lại, nội dung bài viết của Đào Tăng Dực hàm chứa nhiều nội dung xấu độc, thể hiện rõ mưu đồ chống phá sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bài viết này, một lần nữa phản ánh rõ bộ mặt phản động, bất chấp đúng – sai, luôn hằn học trước sự phát triển của đất nước của Đào Tăng Dực. Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân ta cần nêu cao cảnh giác, tích cực đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước, trà đạp lên lợi ích quốc gia – dân tộc của Đào Tăng Dực và các thế lực thù địch, phản động./.

 

VIỆT NAM BIỂU TƯỢNG CỦA HẠNH PHÚC TOÀN CẦU DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN

Vừa qua, trên trang Facebook: Việt Tân, Thomas Nguyễn có bài viết: “Hãy đồng hành cùng tôi làm chính trị” cho rằng, dưới sự lãnh đạo của độc tài Cộng sản Việt Nam, đất nước đang đi thụt lùi trên tất cả các lĩnh vực, người dân ngày càng cùng cực và bị mất nhân quyền. Từ đó, kêu gọi thiết lập chế độ đa đảng, xoá bỏ chế độ độc đảng ở Việt Nam. Thực tế, Thomas Nguyễn đang cố tình xuyên tạc, phủ nhận thành tựu đổi mới và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thứ nhất, lịch sử hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc khỏi ách xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975) bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam còn có các Đảng phái khác. Năm 1946, ngoài Đảng Cộng sản, còn có hai đảng khác là Việt Nam Quốc dân đảng, Việt Nam Cách mạng Đồng Minh Hội. Tuy nhiên, về thực chất lãnh đạo cách mạng Việt Nam vẫn chỉ có Đảng Cộng sản, còn hai đảng Việt Quốc và Việt Cách “theo đuôi Tưởng” không hề đứng về lợi ích dân tộc. Cho đến khi quân Tưởng rút khỏi Việt Nam, hai đảng này cũng ra đi theo quân Tưởng, trên vũ đài chính trị chỉ còn lại duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Sau đó, bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam cũng tồn tại hai đảng khác là Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam. Cả hai đảng này đều ủng hộ, thừa nhận vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sau này cũng tự nguyện giải tán. Như vậy, Việt Nam đã từng có chế độ đa đảng, nhưng chính lịch sử cách mạng và nhân dân Việt Nam đã phủ định. Vì thế, Điều 4, Hiến pháp năm 2013, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và cả xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Như vậy, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và toàn thể Nhân dân Việt Nam khẳng định, thừa nhận: “Đảng Cộng sản Việt Nam độc tôn lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà không cần sự tồn tại của nhiều đảng, nhất thiết không cần và không thể chấp nhận đa đảng đối lập như các thế lực thù địch mong muốn”.

Thứ hai, thành tựu của sự nghiệp cách mạng sau gần 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng đã khẳng định, Việt Nam đã đạt được những thành tựu vô cùng quan trọng và thật đáng tự hào trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh… được cộng đồng quốc tế ghi nhận, sức mạnh tổng hợp quốc gia tăng lên. Việt Nam được cả thế giới mến phục, coi là biểu tượng của sự ổn định chính trị, tinh thần chiến thắng đói nghèo, đề cao giá trị, nhân nghĩa trong thế kỷ XXI, chưa bao giờ Việt Nam có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Ngày 11/10/2022, với 145 phiếu ủng hộ, Việt Nam là một trong 14 thành viên trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Đây là lần thứ hai Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Điều đó, khẳng định uy tín và vị thế của Việt Nam trong thực hiện nhân quyền, bảo vệ nhân quyền không chỉ trong nước mà còn đối với cộng đồng quốc tế, được quốc tế khẳng định và thừa nhận. Theo Báo cáo Hạnh phúc Toàn cầu của Liên hợp quốc công bố, năm 2021 Việt Nam đứng thứ 79/149 trong bảng xếp hạng; năm 2022 Việt Nam đứng thứ 77/150 trong bảng xếp hạng, tăng 2 bậc so với năm 2021; năm 2023 Việt Nam đứng thứ 65/150 trong bảng xếp hạng, tăng 12 bậc so với năm 2022; năm 2024, Việt Nam đứng thứ 54/150, tăng 11 bậc so với năm 2023. Kết quả này, là sự thừa nhận của Liên hợp quốc, nên các thế lực thù địch không thể xuyên tạc. Vì vậy, cần khẳng định rằng, người dân Việt Nam ngày càng hạnh phúc, ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.

Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành tựu đổi mới ở Việt Nam và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản ngày càng bộc lộ rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, đi ngược lại với Hiến pháp và nguyện vọng, lợi ích lâu dài, chính đáng của nhân dân Việt Nam. Mỗi chúng ta cần nêu cao tinh thần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn./.

 

Vạch trần sự xuyên tạc về “Tự diễn biến”, “Tự chuyển hóa” của Hoàng Lan Mộc Châu

Trái ngược với việc Đảng, Nhà nước Việt Nam đang quyết liệt hành động đề ngăn ngừa, khắc phục những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, chế độ, trên trang “Vietnamthoibao”, Hoàng Lan Mộc Châu đã đăng tải bài viết: “Nguyễn Tất Thành ông tổ tự chuyển hóa, tự diễn biến” với mục đích xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời xuyên tạc chủ trương phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của Đảng Cộng sản Việt Nam, nên cần vạch trần và đấu tranh bác bỏ.

Hoàng Lan Mộc Châu đã đánh tráo khái niệm khi mô tả quá trình đi tìm được cứu nước và hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” một cách thuần túy, “tự nhiên”. Y cho rằng: “Người tự diễn biến, tự chuyển hóa đầu tiên, nhiều nhất và tích cực nhất là Nguyễn Tất Thành”, nhưng để minh chứng cho luận điệu này, xuyên suốt trong bài viết của Y chỉ là những lý lẽ đơn giản như “Nguyễn Tất Thành (NTT) tự chuyển biến, tự thay tên đổi họ rất nhiều lần” hoặc “NTT liên tục thay đổi, tự diễn biến, tự chuyển hóa, mang nhiều bộ mặt khác nhau” và “chuyển biến liên tục, từ nơi này qua nơi khác”. Sự mô tả này, rõ ràng là những chuyển biến, chuyển hóa mang tính cơ học, Hoàng Lan Mộc Châu đã cố tình lấp liếm sự chuyển hóa về chất của Hồ Chí Minh trong quá trình tìm đường cứu nước, hoạt động cách mạng. Nghiêm trọng hơn, Y dựa vào những công việc mà Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh đã làm như phụ bếp, cào tuyết để nói xấu, bôi nhọ hình ảnh của Người, nhất là các hoạt động cách mạng của Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh tại nước Pháp, nước Anh với những lời lẽ miệt thị, xuyên tạc. Đây là điều không thể chấp nhận được!

Bởi vì, quá trình đi tìm đường cứu nước, cứu dân, giải phóng dân tộc và hoạt động cách mạng của Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh là quá trình chuyển biến, chuyển hóa về chất từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản, từ một thanh niên thành người chiến sĩ cách mạng. Điều này, đã được chứng minh qua thực tiễn hoạt động của Hồ Chí Minh và được tái hiện ở cuốn sách “Hành trình theo chân Bác” của tác giả Trần Đức Tuấn được Nhà xuất bản Trẻ tái bản năm 2016 và “Bản đồ Hành trình 30 năm tìm đường cứu nước của Bác Hồ” được kế thừa từ chính tác phẩm trên. Bên cạnh đó, nhân dịp kỷ niệm 110 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911/5-6-2021) còn có nhiều tác phẩm, ấn phẩm bàn về cuộc đời, sự nghiệp, cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó, nổi bật là cuốn sách ảnh “Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh: Hành trình cứu nước” của Đỗ Hoàng Linh chủ biên, do Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông phối hợp với Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch tổ chức xuất bản bằng 4 thứ tiếng Việt, Anh, Nga, Trung Quốc. Những tác phẩm, ấn phẩm trên đều được bạn đọc Việt Nam và bạn đọc quốc tế ghi nhận với hàng trăm bức ảnh tư liệu, tài liệu, bút tích quý giá tái hiện lại quá trình hoạt động của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Đây là những bằng chứng thép ghi lại quá trình chuyển hóa về chất thành người chiến sĩ cộng sản của Hồ Chí Minh.

Như vậy, quá trình tìm đường cứu nước và hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bởi, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà Đảng Cộng sản Việt Nam đề cập được hiểu là quá trình tự biến đổi về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo chiều hướng tiêu cực, dẫn tới những hành động đi ngược lại, thậm chí chống lại quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Nguy hiểm hơn, hành động đó, dẫn đến phủ định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó, việc phòng, chống những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã được Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII nêu rõ trong Nghị quyết số 04-NQ/TW ban hành ngày 30 tháng 10 năm 2016. Mỗi người dân Việt Nam cần nêu cao cảnh giác trước những luận điệu lợi dụng ngôn ngữ để suy diễn, xuyên tạc hạ thấp, bôi nhọ uy tín, hình ảnh của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước nói chung, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói riêng như Hoàng Lan Mộc Châu và những kẻ như Y trên không gian mạng./.

 

ĐỪNG THẤY QUYẾT TÂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT MAN MÀ “BẺ LƯỠI” ĐỂ THỰC HIỆN MƯU ĐỒ ĐEN TỐI

Hiện nay, dư luận xã hội nói chung và quốc tế nói riêng đang rất quan tâm đến công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Đây là quyết tâm chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm làm trong sạch bộ máy của Đảng và Nhà nước; quyết tâm loại bỏ những cán bộ, đảng viên suy thoái về phẩm chất đạo đức, đi ngược lại với lợi ích của Đảng và Nhân dân. Sự quan tâm đó, thể hiện niềm tin của Nhân dân và cộng đồng quốc tế vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà Nước ta. Ở chiều ngược lại, đó chính là thể hiện sự cam kết của Đảng và Nhà nước ta trước Nhân dân và cộng đồng quốc tế về công tác phòng, chống tham nhũng, được đưa ra trong các văn kiện của Đảng và cam kết của Việt Nam với thế giới.

Vậy mà trên trang “Viettan”, bút danh Việt Tân có bài viết với tiêu đề : “Nhận định của chủ tịch Đảng Việt Tân về tình trạng đấu đá trên thượng tầng lãnh đạo Cộng sản Việt Nam”. Thực chất, đây là những giọng điệu mà các thế lực thù địch, phản động vẫn thường dùng để chống phá cách mạng Việt Nam như “Bureau CTM Media – Âu châu”, “Việt Nam Thời Báo”, “Danlambao.com”….Qua đọc nội dung bài viết Của Việt Tân, có đôi điều suy nghĩ sau:

Thứ nhất, người được gọi là “chủ tịch Đảng Việt Tân” và ai đó lấy bút danh Việt Tân của bài viết, cần “tìm đọc” thêm để “hiểu cho đúng” về tham nhũng

Tham nhũng là một vấn nạn của xã hội, bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới cũng đều có vấn nạn này. Lênin từng khẳng định: “tham nhũng gắn bó hữu cơ với sự tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nước và quyền lực công…”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng chỉ rõ ba căn bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu là những “thứ giặc nội xâm” bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân mà ra. Đảng Cộng sản Việt Nam nhận diện: Tham nhũng là một quốc nạn, một trong bốn nguy cơ làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; công tác phòng, chống tham nhũng được xác định là cuộc đấu tranh lâu dài, khó khăn và phức tạp. Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII khẳng định “Thực hiện quyết liệt, nghiêm minh, có hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng”. Quan điểm trước sau như một của Đảng ta là sai phạm đến đâu thì xử lý đến đó, không có “vùng cấm”, “không có ngoại lệ”

Cho nên, người xưng là “chủ tịch Đảng Việt Tân” và bút danh Việt Tân cho rằng: Từ khi lên giữ chức Tổng bí thư tại đại hội 11 vào tháng 1 năm 2011 cho đến nay, Nguyễn Phú Trọng chỉ tập trung vào một việc là “đốt lò” trên danh nghĩa “củng cố lòng tin của người dân vào chính  quyền và sự lãnh đạo của đảng”, nhưng những gì diễn ra qua các cuộc truy tố và phanh phui trên mặt báo về tên tuổi của những “củi khô, củi tươi” thì thực chất cho thấy đây là cuộc sát phạt của ộng Trọng nhắm vào các đối thủ chính trị của mình để “tập trung quyền lực và uy thế”…Thật là lực cười và bỉ ổi với những luận điệu suy diễn vô căn cứ. Trong khi đó công cuộc phòng, chống tham nhũng ở Việt nam đang được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, cộng đồng quốc tế đánh cao cao. Như giáo sư Dennis McCornac (ĐH Loyola Maryland, Mỹ) cho rằng, rõ ràng là mọi chuyện đã có chuyển biến khi luật pháp nghiêm minh hơn. Hiện giới đầu tư nước ngoài tin tưởng rằng Việt Nam đang quyết tâm đẩy mạnh chống tham nhũng, tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, không còn nhũng nhiễu, hối lộ. Còn Ông Miguel Chanco, chuyên gia ASEAN của tổ chức nghiên cứu Economist Intelligence Unit (Anh) cho rằng, công cuộc chống tham nhũng tại Việt Nam, sẽ làm đầu tư nước ngoài và các hạng mục đầu tư tiếp tục tăng ở mức mạnh và ổn định kể từ đầu năm 2016, thời điểm Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đẩy mạnh công cuộc này.

Thứ hai, Việt Tân đã suy diễn và vạch ra bốn nguy cơ đe dọa Niệt Nam; trong đó có nguy cơ: CSVN mất khả năng đối phó với những tác động khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang đè nặng lên đời sống hàng triệu người dân lao động.

Vậy hãy xem sự “tiên tri” của “chủ tịch Đảng Việt Tân” và bút danh Việt Tân có chính xác không? Tại Nghị quyết số 82/NQ-CP ngày 05/6/2024 về Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 5 năm 2024 nêu rõ, tình hình kinh tế – xã hội tháng 5 tiếp tục xu hướng phục hồi tích cực và tốt hơn tháng 4; tính chung 05 tháng đầu năm 2024 đạt kết quả tốt hơn cùng kỳ năm 2023 trên hầu hết các lĩnh vực. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, thúc đẩy tăng trưởng cả 3 khu vực, các cân đối lớn được bảo đảm. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 5 tháng tăng 4,03% so với cùng kỳ. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng khá, tổng vốn đăng ký 5 tháng đạt hơn 11 tỷ USD, tăng 2% so với cùng kỳ, trong đó vốn đăng ký mới tăng 50,8%, vốn thực hiện đạt 8,25 tỷ USD, tăng 7,8% (cao nhất so với cùng kỳ trong 05 năm qua). Công tác an sinh xã hội được thực hiện hiệu quả, việc làm, sinh kế và đời sống người dân tiếp tục được nâng lên. Nhiều tổ chức quốc tế tiếp tục đánh giá tích cực, dự báo lạc quan về tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong năm 2024.

Những con số trên, cho thấy Việt Tân cần hiểu rằng: tham nhũng và chống tham nhũng, ở mọi thời và muôn đời vốn không bao giờ cũ. Đó là vấn đề song hành cùng với sự tồn tại và phát triển của mọi quốc gia. Điều quan trọng là quốc gia đó có đủ quyết tâm, có đủ kiên trì để hạn chế, tiến tới xóa bỏ nạn quan liêu, tham nhũng hay không mà thôi. Vì vậy, mỗi người dân Việt Nam hãy đề cao cảnh giác, tỉnh táo, quyết không mắc mưu và kiên quyết đấu tranh vạch trần bản chất của những kẻ phản động như Việt Tân./.

 

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN MỐI QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT NAM VÀ CAMPUCHIA

Việt Nam và Campuchia là hai nước láng giềng thân thiết gần gũi có quan hệ truyền thống, gắn bó từ lâu đời. Điều này, đã trở thành tài sản chung vô giá của cả hai dân tộc và tiếp tục được nhân dân hai nước dày công vun đắp. Ngày nay, cho dù tình hình thế giới và khu vực có nhiều thay đổi, nhưng Việt Nam và Campuchia vẫn đã và đang duy trì quan hệ hợp tác chặt chẽ, đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trên nhiều lĩnh vực.

Thế nhưng, vừa qua nhân Kỷ niệm 57 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam và Campuchia (24/6/1967 – 24/6/2024) trên các trang mạng xã hội đã xuất hiện nhiều bài viết có nội dung xuyên tạc mối quan hệ ngoại giao Việt Nam và Campuchia. Đáng chú ý, trên trang BBC Tiếng việt có bài viết với tiêu đề: “Việt  Nam và Campuchia còn là “láng giềng đặc biệt” sau 57 năm thiết lập quan hệ ngoại giao”? Trong đó, họ đưa ra một số lập luận, quan điểm thực hư lẫn lộn hoặc giả cách đưa ra một số luận điểm có tính chất hoài nghi, mơ mồ, không rõ ràng, nào là quan hệ Việt Nam và Campuchia vẫn còn tồn tại một số vấn đề vướng mắc về phân định đường biên giới; vấn đề người Việt Nam sống không quốc tịch cùng tâm lý cực đoan; có tâm lý cho rằng Kampuchea Krom từng thuộc Vương quốc Kampuchea, chủ quyền người Khmer trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam; tuyên bố hòn đảo Phú Quốc mà người Khmer gọi là Koh Tral là thuộc về Campuchia; siêu dự án kênh đào Phù Nam Techo của Campuchia làm bùng lên căng thẳng giữa hai quốc gia…

Những luận điệu của BBC hay của các đối tượng thù địch, phản động tung tin, vẽ ra các “thuyết âm mưu” suy đến cùng điều có cùng bản chất và cùng chung mục đích kích động đối lập, thù hằn dân tộc, phá hoại mối quan hệ Việt Nam và Campuchia, châm ngòi xung đột giữa hai quốc gia. Bởi lẽ, với những kẻ chỉ muốn gây rối, phá hoại, chúng chỉ có thể đưa ra những thông tin không được kiểm chứng, sai sự thật nhằm tạo sự hoài nghi, gây hoang mang dư luận xã hội, làm giảm sút niềm tin của nhân dân Việt Nam vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, phá hoại mối quan hệ truyền thống gắn bó giữa đất nước và nhân dân Việt Nam và Campuchia. Đây là một chiêu bài đã quá cũ!

 Chúng ta khẳng định rõ rằng, Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam luôn trân trọng mối quan hệ với nước bạn Campuchia. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Việc đặt quan hệ ngoại giao giữa hai nước chúng ta là biểu tượng rực rỡ của mối tình hữu nghị, thân thiết, đoàn kết chiến đấu. Đó là một sự kiện lịch sử quan trọng giữa Việt Nam và Campuchia. Một nhân tố tích cực trong việc gìn giữ hòa bình ở Đông Dương và Đông Nam Á. Ngày nay cũng như ngày mai, hai nước chúng ta mãi mãi là người bạn thân thiết.

Trong nhiều năm qua, quan hệ Việt Nam và Campuchia đã không ngừng được củng cố và phát triển trên mọi lĩnh vực, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định, hợp tác trong khu vực và trên thế giới. Quan hệ chính trị giữa hai nước tiếp tục phát triển tốt đẹp, lãnh đạo cấp cao hai nước duy trì các chuyến thăm tiếp xúc và trao đổi dưới nhiều hình thức. Hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư giữa hai nước nói chung và giữa các tỉnh biên giới nói riêng đạt được kết quả tích cực. kim ngạch thương mại hai nước vẫn tăng trưởng mạnh mẽ, trong năm 2023, kim ngạch thương mại Việt Nam và Campuchia đã đạt gần 9 tỷ USD. Hai bên nhất trí phấn đấu đạt mốc kim ngạch thương mại song phương 20 tỷ USD trong thời gian tới. Đến nay, Việt Nam có 205 dự án đầu tư còn hiệu lực ở Campuchia với tổng vốn đăng ký đạt 2,94 tỷ USD, đứng đầu ASEAN và là một trong 5 nước có đầu tư trực tiếp lớn nhất tại Campuchia. Đặc biệt, Campuchia đứng thứ 2 trong số 79 quốc gia, vùng lãnh thổ mà Việt Nam có đầu tư ra nước ngoài.[1]

Hợp tác về quốc phòng, an ninh ngày càng thực chất hiệu quả, là một trong những trụ cột quan trọng trong quan hệ hai nước. Hai bên luôn khẳng định, không cho phép bất kỳ một thế lực thù địch nào sử dụng lãnh thổ của mình để gây phương hại cho an ninh của nước kia. Trên cơ sở các hiệp ước, hiệp định và thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai nước, các cơ quan chính quyền và nhân dân địa phương biên giới hai bên đang phối hợp tích cực triển khai công tác phân giới cắm mốc trên đất liền. Hai bên đã ký 2 văn kiện pháp lý ghi nhận việc phân giới cắm mốc và đang tiếp tục đàm phán, giải quyết một số điểm còn lại để xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

Các lĩnh vực hợp tác về giáo dục, đào tạo, văn hóa, y tế, viễn thông… cũng được Chính phủ hai nước luôn tạo điều kiện thuận lợi cho kiều dân hai nước sinh sống trên lãnh thổ của nhau, phù hợp với pháp luật của mỗi nước. Việt Nam cấp hàng trăm suất học bổng dài hạn cho sinh viên Campuchia sang học tại Việt Nam. Hai nước cũng thường xuyên tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ, nhất là ở các địa phương giáp biên giới. Việt Nam thường xuyên tổ chức các đoàn bác sĩ tình nguyện sang khám, chữa bệnh và cấp thuốc miễn phí cho nhân dân Campuchia.v.v.

Như vậy, tình đoàn kết, hữu nghị truyền thống và quan hệ hợp tác toàn diện tốt đẹp giữa Việt Nam – Campuchia đã và đang không ngừng được củng cố, phát triển theo phương châm: “Láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định rõ: Cho dù tình hình thế giới và khu vực có những đổi thay, song trước sau như một, Việt Nam luôn coi trọng và sẽ làm hết sức mình cùng với Campuchia giữ gìn, vun đắp mối quan hệ Việt Nam và Campuchia mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững”. Qua đó, tiếp tục khẳng định, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn trân quý, gìn giữ và coi trọng việc phát triển tình hữu nghị giữa hai quốc gia. Những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động về mối quan hệ Việt Nam  và Campuchia là hết sức thâm độc, nguy hại, chúng ta cần nêu cao tinh thần cảnh giác, nhận diện kịp thời và kiên quyết đấu tranh, phản bác.

 

Vạch trần luận điệu xuyên tạc của Việt Tân về nhân quyền ở Việt Nam

Vừa qua, trên trang “Viettan”, cái gọi là Đảng Việt Tân đăng tải bài viết “Vận động cho nhân quyền Việt Nam tại Quốc hội Hoa Kỳ” xuyên tạc về tình hình nhân quyền tại Việt Nam.

Bài viết dẫn lời của một số dân biểu liên bang Hoa Kỳ có những hành động “lên án hoàn toàn và toàn diện” Việt Nam vi phạm nhân quyền khi “bỏ tù các nhà báo độc lập, những người bảo vệ nhân quyền, các tín hữu tôn giáo và nhà bất đồng chính kiến ở Việt Nam”. Vì thế, “Việt Tân quyết định vận động nhân quyền cho Việt Nam” bằng cách “chia sẻ” hay “kêu gọi” các dân biểu liên bang Hoa Kỳ tiến hành “hỗ trợ và giải cứu các tù nhân lương tâm, các nhà hoạt động dân chủ tại Việt Nam”. Thực chất của những luận điệu trên là xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam, đổi trắng thay đen với những kẻ vi phạm pháp luật, chống phá cách mạng. Thực tế đã bác bỏ những luận điệu trên.

Thứ nhất, Việt Tân là tổ chức khủng bố, luôn có những hành động chống phá Việt Nam.

Theo thông báo của Bộ Công an, Tổ chức phản cách mạng lưu vong “Việt Tân” là tên viết tắt của cái gọi là “Việt Nam canh tân cách mạng đảng”, trụ sở chính đặt tại 2530 đường Berryessa 234 San Jose, California, Hoa Kỳ và “Văn phòng 2” tại Bangkok, Thái Lan. Tổ chức này có cơ quan tuyên truyền là báo “Kháng chiến”; đài “Việt Nam kháng chiến” và “Chân trời mới”. Từ khi thành lập năm 1981 đến nay, tổ chức này đã có nhiều hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, nhiều đối tượng đã bị bắt giữ, xét xử nhưng chúng vẫn không từ bỏ dã tâm chống phá cách mạng Việt Nam. Trong những năm gần đây, lợi dụng mạng xã hội, chúng thường xuyên đăng tải những tài liệu xuyên tạc toàn diện về tình hình Việt Nam, vu khống Đảng, Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền, tự do tín ngưỡng, tôn giáo…. Ngày 4/10/2016, căn cứ pháp luật Việt Nam và quốc tế, Bộ Công an đã đưa “Việt Tân” vào danh sách các tổ chức khủng bố, chống Nhà nước Việt Nam. Vì thế, Việt Tân không phải là tổ chức đại diện cho tiếng nói của nhân dân Việt Nam mà chỉ là lũ “Việt gian” hại nước, hại dân. Việc chúng “vận động nhân quyền cho Việt Nam” chỉ là thủ đoạn chống phá Việt Nam một cách trơ trẽn, lố bịch, bị dư luận lên án, bác bỏ.

Thứ hai, mọi công dân vi phạm pháp luật đều phải bị xử lý.

Mỗi quốc gia trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, đều có hệ thống pháp luật bảo vệ quyền con người và quyền công dân, trừng trị những hành động xâm phạm, chống phá loài người nói chung, trong mỗi quốc gia nói riêng. Mọi công dân đều phải tuân thủ pháp luật, nếu ai vi phạm sẽ có các chế tài xử lý. Việt Tân đã đổi trắng thay đen, coi những kẻ vi phạm pháp luật ở Việt Nam là những “tù nhân lương tâm”, các nhà “hoạt động dân chủ”, “nhân quyền” hay “tự do tôn giáo”. Pháp luật Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm quyền con người cho công dân song, cũng kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh những kẻ hại nước, hại dân, chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những kẻ mà Việt Tân và đồng bọn rêu rao là “tù nhân lương tâm” và kêu gọi quốc tế can thiệp để “hỗ trợ và giải cứu” thì dư luận đều biết rõ. Họ là những kẻ lợi dụng tự do dân chủ, ngôn luận, báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo hay vì trục lợi mà đã bán rẻ lương tâm, vi phạm pháp luật; đi ngược lại với đạo đức xã hội, truyền thống, văn hóa tốt đẹp của dân tộc, thậm chí chống lại loài người. Họ không vì con người, vì dân tộc, vì nhân dân, vì độc lập, tự do, hạnh phúc mà chỉ vì tư lợi cá nhân, mưu đồ xấu xa phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá hoại cuộc sống bình yên của nhân dân. Họ đã bị pháp luật xử lý thích đáng, dư luận đồng tình. Vì thế, việc họ kêu gọi quốc tế “giải cứu” những đối tượng này thật là lố bịch, thực chất chỉ là luận điệu xuyên tạc, phá hoại của lũ “Việt gian” mà thôi.

Bài viết “Vận động cho nhân quyền Việt Nam tại Quốc hội Hoa Kỳ” đã xuyên tạc trắng trợn tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Chúng ta cần tỉnh táo, cảnh giác, vạch trần và đấu tranh bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của chúng./.

 

 

Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Vừa qua trên trang “Rfatiengviet”, Đài RFA phỏng vấn của một số đối tượng cơ hội, bất mãn với chính quyền và nhân dân Việt Nam liên quan đến bài báo “An ninh văn hóa trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay” được đăng trên Tạp chí Tuyên giáo. Trong đó chúng cho rằng “Đây là một quan niệm xuất phát từ tinh thần toàn trị của chế độ, ở một nước mà văn hóa phải dựa trên quan điểm cực đoan…”, và cho rằng “văn hóa Việt Nam là một văn hóa ngoại lai…”. Đây là những luận điệu hoàn toàn sai trái, mục đích nhằm tuyên truyền những sản phẩm xấu độc vào đời sống nhân dân, từng bước hủy hoại sức sống của văn hóa dân tộc, đồng thời phủ nhận những giá trị vốn là nền tảng văn hóa tinh thần dân tộc.

Chúng ta có thể khẳng định rằng: Văn hóa là sự kết tinh những gì là cao quý nhất, tốt đẹp nhất gắn liền với hoạt động sáng tạo của con người, được tiếp nối qua nhiều thế hệ, trở thành truyền thống bền vững, thành bản sắc dân tộc, thành mục tiêu và động lực phát triển xã hội.

Lịch sử xã hội loài người cho thấy, văn hóa có vai trò quan trọng đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Nhờ có văn hóa, mỗi quốc gia, cộng đồng xã hội, trong sự phát triển của mình, giữ được bản sắc, định hướng phát triển, tránh sự “hòa tan” vào các quốc gia dân tộc khác. Trong bài “Quyết tâm chấn hưng và xây dựng thành công một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Văn hóa là hồn cốt của Dân tộc… Văn hóa còn thì Dân tộc còn”.

Trong những năm gần đây, toàn cầu hóa, sự phát triển của công nghệ thông tin cùng nhiều nhân tố khác, đã tác động tới sự phát triển văn hóa của mỗi quốc gia, cộng đồng xã hội. Một mặt, các quá trình này tạo ra những nhân tố tích cực, làm gia tăng sự phát triển ổn định và bền vững về văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc. Mặt khác, chúng cũng làm nảy sinh những vấn đề văn hóa trong các cộng đồng quốc gia, dân tộc đó. Đó là sự xói mòn bản sắc dân tộc, chệch hướng phát triển của quốc gia,.. Tất cả những điều này gây tác động trở lại đối với sự phát triển văn hóa nói riêng, các lĩnh vực khác của đời sống xã hội nói chung … Nhiều nước trên thế giới, do ảnh hưởng xấu của lĩnh vực văn hóa mà có sự phát triển thiếu bền vững, làm cho tính cố kết cộng đồng giảm sút và trong chừng mực nào đó, làm nảy sinh những mâu thuẫn, xung đột trong cộng đồng.

Bằng nhiều cách thức khác nhau, các thế lực thù địch không ngừng truyền bá lối sống, văn hóa ngoại lai, tư tưởng coi trọng vật chất, chạy theo lợi ích cá nhân, mưu đồ khiến người dân Việt Nam bị tha hóa, mất kết nối với các giá trị vốn là nền tảng văn hóa tinh thần dân tộc.

Nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc mà Đảng ta chủ trương xây dựng và phát triển là “nền văn hóa yêu nước và tiến bộ”, với nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với mục tiêu tất cả vì con người, vì tự do, hạnh phúc và sự phát triển phong phú, toàn diện cho mỗi con người Việt Nam trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên. Bản sắc dân tộc cần được giữ gìn, phát huy của nền văn hóa ấy là những giá trị bền vững, những tinh hoa được vun đắp qua hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Đó là lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc; tinh thần cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã – Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, biết hy sinh vì sự nghiệp dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Đó còn là sự tế nhị trong giao tiếp và giản dị trong đời sống.

Vì lẽ đó, an ninh văn hóa, với tư cách một lĩnh vực của an ninh quốc gia, đã nhận được nhiều sự quan tâm chú ý của quốc gia, dân tộc. Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, an ninh văn hóa cũng ngày càng được quan tâm, chú ý. Qua đó, nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng luôn được các tầng lớp nhân dân trân trọng, noi theo. Lối sống tốt đẹp của dân tộc, các giá trị văn hóa truyền thống được kế thừa, phát huy; nhiều di sản văn hóa được bảo tồn; tinh hoa văn hóa nhân loại được đón nhận.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng chỉ rõ “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc…”

Nghị quyết Trung ương 9 khoá XI (2014), xác định “xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Văn kiện Đại hội XII nhấn mạnh tư tưởng chỉ đạo: Xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học; Làm cho văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ mục đích, phương hướng và nhiệm vụ của sự nghiệp chấn hưng, phát triển văn hóa và con người Việt Nam nhằm khơi dậy mạnh mẽ niềm tự hào dân tộc và khát vọng phát triển để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu phát triển bền vững, vừa là nguồn sức mạnh nội sinh, văn hóa “phải soi đường cho quốc dân đi”.

Để bảo đảm an ninh văn hóa trong tình hình mới, đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, mà trước hết là nâng cao nhận thức về vị trí và vai trò của văn hóa trong phát triển ổn định và bền vững đất nước. Muốn như vậy, cần phải lấy con người làm trung tâm. Nâng cao tầm hiểu biết của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, đảng viên về văn hóa sẽ giúp tạo ra “vắc-xin đề kháng” mạnh mẽ chống lại các tác nhân độc hại xâm nhập từ bên ngoài. Chính vì vậy, để giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại, hoàn thành mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thì bên cạnh việc phát tiển văn hóa cần phải bảo đảm an ninh văn hóa.

Do vậy, cần tuyên truyền, lan tỏa mạnh mẽ hơn nữa những yếu tố nòng cốt trong định hướng phát triển văn hóa của Đảng và Nhà nước để người dân thấm nhuần, từ đó có ý thức điều chỉnh hành vi ứng xử phù hợp, đồng thời tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động nhằm xuyên tạc những giá trị tốt đẹp của văn hóa Việt Nam, về an ninh văn hóa Việt Nam./.

 

CUỐN SÁCH “XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC” CỦA CỐ TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG KHÔNG PHẢI LÀ SỰ ÁP ĐẶT TƯ TƯỞNG CÁ NHÂN

Gần đây, việc xuất bản cuốn sách “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã bị các thế lực thù địch tung ra nhiều bài viết xuyên tạc, chống phá. Điển hình trên trang “Bbc” đã có bài viết với tiêu đề: “Tổng Bí thư tiếp tục ra sách: Truyền bá “Tư tưởng Nguyễn Phú Trọng”?”, nội dung bài viết cho rằng đây là một nỗ lực để áp đặt tư tưởng cá nhân hoặc nói cách khác là “tư tưởng Nguyễn Phú Trọng” lên xã hội Việt Nam. Những quan điểm này, không chỉ thiếu căn cứ mà còn thể hiện sự hiểu biết sai lầm hoặc cố tình xuyên tạc mục đích của cuốn sách cũng như vai trò của Tổng Bí thư.

Thứ nhất, cuốn sách khẳng định vai trò của văn hóa trong sự nghiệp phát triển đất nước, không phải là sự áp đặt tư tưởng cá nhân

Cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là một tài liệu quý giá giúp định hướng phát triển văn hóa đất nước. Bản thân Tổng Bí thư đã nhiều lần khẳng định rằng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực phát triển kinh tế và là cơ sở để xây dựng và củng cố hệ thống chính trị. Trong lời giới thiệu cuốn sách, Tổng Bí thư nhấn mạnh rằng mục tiêu của ông là “kế thừa và phát triển những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, kết hợp với tinh hoa văn hóa nhân loại”

Việc các lãnh đạo viết sách để truyền bá tư tưởng không phải là điều mới mẻ hay không cần thiết. Trên thế giới, các lãnh đạo từ nhiều quốc gia khác nhau đã từng xuất bản các tác phẩm để chia sẻ tầm nhìn, triết lý và chiến lược của họ. Điển hình là cuốn “The Audacity of Hope” của Barack Obama hay “The Art of the Deal” của Donald Trump, những tác phẩm này đều nhằm mục đích chia sẻ tầm nhìn của tác giả và không bị chỉ trích là áp đặt tư tưởng cá nhân.

Thứ hai, cuốn sách nhấn mạnh vào giá trị văn hóa dân tộc và sự phát triển bền vững, không phải là công cụ để tôn sùng cá nhân

Một trong những luận điểm quan trọng của cuốn sách là sự nhấn mạnh vào việc xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến nhưng vẫn giữ gìn được bản sắc dân tộc. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn khẳng định rằng văn hóa là “hồn cốt của dân tộc”, và việc phát triển văn hóa phải dựa trên cơ sở tôn trọng và phát huy các giá trị truyền thống.

Ngoài ra, cuốn sách cũng đặt ra mục tiêu phát triển bền vững thông qua việc xây dựng một xã hội dựa trên các giá trị văn hóa. Tổng Bí thư đã chỉ ra rằng văn hóa không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực cho sự phát triển kinh tế và xã hội. Đây không phải là một luận điểm mới, mà là sự tiếp nối của các chính sách văn hóa đã được Đảng Cộng sản Việt Nam theo đuổi từ lâu. Ví dụ, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đã khẳng định rằng “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội.”

Thứ ba, việc truyền bá tư tưởng qua sách là một phần của chiến lược truyền thông hiện đại, không phải là hành động tôn sùng cá nhân

Trong thời đại kỹ thuật số, việc truyền bá tư tưởng và chính sách thông qua các phương tiện truyền thông hiện đại, bao gồm cả sách vở, là một phần quan trọng của chiến lược truyền thông. Việc xuất bản sách là cách để lãnh đạo có thể chia sẻ sâu rộng hơn về tầm nhìn và chiến lược của mình đối với đất nước, giúp người dân hiểu rõ hơn về định hướng phát triển. Điều này, không nên bị coi là hành động tôn sùng cá nhân mà là một phương tiện để giúp người dân hiểu rõ về chủ trương, chính sách của Đảng trong công cuộc phát triển đất nước.

Thay vì coi việc xuất bản sách của lãnh đạo là hành động mang tính cá nhân, chúng ta nên nhìn nhận vấn đề như một cách thức khẳng định quyền tự do thông tin và truyền thông. Tại Việt Nam, việc khuyến khích người dân tham gia vào các cuộc thảo luận về chính sách và định hướng phát triển là một phần quan trọng của chiến lược phát triển đất nước. Các cuộc thi tìm hiểu về sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hay các buổi hội thảo về cuốn sách đều nhằm mục đích này, giúp nâng cao nhận thức và khuyến khích sự tham gia của toàn xã hội.

Thứ tư, ngân sách dành cho việc xuất bản sách của Tổng Bí thư được quản lý minh bạch và nằm trong chính sách phát triển văn hóa, tư tưởng của Đảng.

Chúng ta đều nhận thức rõ việc đầu tư cho văn hóa, tư tưởng là đầu tư cho sự phát triển lâu dài của quốc gia. Việc xuất bản các cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được hỗ trợ từ ngân sách là hoàn toàn hợp lý và minh bạch. Ngân sách này không chỉ đơn thuần phục vụ cho việc in ấn sách mà còn bao gồm cả các hoạt động quảng bá, tuyên truyền nhằm lan tỏa những giá trị văn hóa, tư tưởng đến rộng rãi quần chúng. Việc sử dụng ngân sách nhà nước cho các hoạt động văn hóa và tư tưởng đã được quy định rõ ràng trong các chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước. Điều này, giúp củng cố nền tảng văn hóa tư tưởng, tạo ra động lực phát triển bền vững cho xã hội. Thông tin về chi phí và ngân sách đều được quản lý và giám sát chặt chẽ, đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong việc sử dụng. Sự đầu tư này nhằm mục đích phát triển văn hóa, giáo dục và tư tưởng, qua đó thúc đẩy sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước.

Vì vậy, những quan điểm chỉ trích cuốn sách “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là vô căn cứ và thiếu hiểu biết về vai trò thực sự của văn hóa trong sự nghiệp phát triển đất nước. Cuốn sách được xuất bản và phổ biến rộng rãi trong xã hội không phải là sự áp đặt tư tưởng cá nhân mà là một nỗ lực để truyền bá các giá trị văn hóa cốt lõi và định hướng phát triển bền vững cho quốc gia. Việc truyền bá tư tưởng qua sách là một phần của chiến lược truyền thông hiện đại, giúp tăng cường sự hiểu biết và tham gia của người dân vào quá trình phát triển quốc gia. Do đó, chúng ta phải luôn đề cao cảnh giác, tỉnh táo nhận diện rõ bản chất xấu xa và mục đích đen tối của các thế lực thù địch khi chúng tung ra những bài viết với những luận điệu xuyên tạc, chống phá, đánh lừa những người thiếu hiểu biết.

 NHỮNG LÃNH TỤ VĨ ĐẠI CỦA PHONG TRÀO CÔNG NHÂN VÀ CỘNG SẢN QUỐC TẾ

 

1. V. I. Lênin (1870 - 1924)

 

Vladimir Ilyich Lenin là một lãnh tụ của phong trào cách mạng vô sản Nga, là người phát triển học thuyết của Các Mác và Phriđơrich Ăngghen. Ông là người sáng lập ra Quốc tế Cộng sản; đồng thời lãnh đạo nhân dân Nga tiến hành Cách mạng tháng Mười Nga, thành lập ra Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới do Đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo (7/11/1917). Ông là trong 100 người có ảnh hưởng nhất đến toàn thế giới.

 

2. Hồ Chí Minh (1890 - 1969)

 

Hồ Chí Minh là người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam, người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, một chiến sĩ xuất sắc, một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc.

 

 Người đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành Cách mạng tháng Tám (1945), thành lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2/9/1945), nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Người được UNESCO vinh danh là "Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam", góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.

 

 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đề ra đường lối đúng đắn đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Người sáng lập ra Đảng Mácxít - Lêninnít ở Việt Nam, sáng lập ra Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, sáng lập ra các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam và sáng lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng Hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Người sáng lập ra chế độ Dân chủ Nhân Dân Việt Nam (nay là chế độ Dân Chủ XHCN Việt Nam), góp phần tăng cường đoàn kết quốc tế. Người là tấm gương sáng của tinh thần tập thể, ý thức tổ chức và đạo đức cách mạng.

 

3. Fidel Castro (1926 - 2016)

 

Fidel Castro – vị lãnh tụ huyền thoại của Cách mạng Cuba,Fidel Castro là biểu tượng của tinh thần chiến đấu ngoan cường, là lá cờ đầu của phong trào cách mạng Mỹ La-tinh.

 

Ông là người giải phóng nhân dân Cuba thoát khỏi ách thống trị độc tài của Đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai Baxtia. Ông là người sáng lập nên Đảng CS Cuba, Người sáng lập nên chế độ Dân chủ XHCN và Nhà nước Công nông đầu tiên ở Châu Mỹ. Ông là người bạn thân thiết của nhân dân Việt Nam, Người đã luôn ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta, cũng như cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía bắc chống Trung Quốc và chiến tranh biên giới Tây Nam chống Khmer đỏ Campuchia xâm lược.

 

Fidel không cho phép dựng tượng ông ở bất cứ đâu và đặt tên đường phố theo tên ông. Ông nói rằng không muốn có một sự tôn sùng cá nhân nào. Tuy nhiên, không ai bảo ai, hình ảnh và lời nói của ông ở khắp mọi nơi, trên đường phố, tên ông được hô vang ở bất cứ sự kiện lớn nào của đất nước. Hầu hết người dân Cuba, dù yêu mến ông hay không, gọi ông với cái tên thân thiết: “Fidel”.

 

 Tạp chí Time năm 2012 gọi Castro là 1 trong 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất mọi thời đại. Lãnh tụ Cuba Fidel Castro luôn là một nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn, một biểu tượng về một con người kiên cường đấu tranh cho tinh thần độc lập dân tộc và vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của con người.

 

Ông thuộc lớp các nhà cách mạng kiệt xuất của thế giới thứ ba từng cống hiến đời mình cho lý tưởng tự do và giải phóng dân tộc như Hồ Chí Minh, Nelson Mandela, Che Guevara… Fidel đã trở thành một người anh hùng, một nguồn cổ vũ tinh thần của những dân tộc nghèo đói và bị áp bức trên thế giới.

St