Thứ Tư, 4 tháng 12, 2024

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TINH THẦN PHỤNG SỰ TỔ QUỐC, PHỤC VỤ NHÂN DÂN CỦA NHÀ GIÁO TRONG GIÁO DỤC SINH VIÊN SƯ PHẠM HIỆN NAY

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, phẩm chất đạo, tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân của nhà giáo được Người đặt lên hàng đầu. Bài viết góp phần làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân của nhà giáo, từ đó đề xuất giải pháp vận dụng tư tưởng của Người vào việc tăng cường công tác giáo dục ý thức chính trị, đạo đức cho sinh viên sư phạm trong điều kiện hiện nay.

 

 Hiện nay, tuyệt đại đa số đội ngũ nhà giáo Việt Nam có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với Tổ quốc, với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân; có phẩm chất đạo đức cách mạng, nỗ lực phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức nghề nghiệp và chuyên môn; tích cực tham gia các hoạt động của nhà trường; nêu cao tinh thần trách nhiệm với công việc, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp “trồng người”.

 

Bên cạnh đó, trong đội ngũ nhà giáo vẫn còn những giáo viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, thậm chí vi phạm chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp; chưa thật tích cực nâng cao năng lực chuyên môn. Về vấn đề này, Đảng ta chỉ rõ: “Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp”.

 

Chính vì vậy, trong quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo, một trong những nhiệm vụ hàng đầu hết sức quan trọng và cấp bách là nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo ngay từ các nhà trường sư phạm. Muốn vậy, mỗi nhà giáo trong các trường sư phạm cần thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức nhà giáo, trước hết là tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, từ đó vận dụng tư tưởng của Người vào nâng cao hiệu quả công tác giáo dục ý thức chính trị, đạo đức cho sinh viên sư phạm.

 

2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân của nhà giáo.

 

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn quan tâm sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Người chỉ rõ: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, giáo dục - đào tạo mang lại cho dân tộc ta một sức mạnh để xây dựng đất nước sánh vai với các cường quốc năm châu. Trong sự nghiệp giáo dục - đào tạo, đội ngũ nhà giáo giữ vai trò quyết định. Để hoàn thành sứ mệnh cao cả và vinh quang của mình, đội ngũ nhà giáo phải toàn diện, có đủ cả đức và tài, “hồng” và “chuyên”, trong đó đức là gốc. Theo Hồ Chí Minh, đạo đức nhà giáo là sự nhận thức và thực hành các quan điểm, nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội mang tính đặc thù của nghề sư phạm, quy định thái độ và hành vi ứng xử của nhà giáo trong nhà trường và đời sống xã hội, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước.

 

Phát huy truyền thống văn hiến của dân tộc, Hồ Chí Minh luôn đề cao phẩm chất của trí thức, nhà giáo, là tinh thần trách nhiệm với Tổ quốc, với nhân dân. Người cho rằng, mục đích của Đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên, của người trí thức mới không có gì khác là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Vì vậy, Người phê phán mạnh mẽ chính sách giáo dục thực dân, chế độ văn hóa nô dịch. Người đòi hỏi mỗi nhà giáo phải xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân và tinh thần trách nhiệm phục vụ nhân dân: “Trước hết phải ra sức tẩy sạch ảnh hưởng giáo dục nô dịch của thực dân còn sót lại, như: Thái độ thờ ơ đối với xã hội, xa rời đời sống lao động và đấu tranh của nhân dân; học để lấy bằng cấp, dạy theo lối nhồi sọ. Và cần xây dựng tư tưởng: Dạy và học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Nhà trường phải gắn liền với thực tế của nước nhà, với đời sống của nhân dân. Thầy giáo và học trò, tùy hoàn cảnh và khả năng, cần tham gia những công tác xã hội, ích nước lợi dân”.

 

Hồ Chí Minh chỉ ra bản chất khác biệt và tính ưu việt của nền giáo dục XHCN so với nền giáo dục trong xã hội cũ. Theo đó, động cơ của nhà giáo không phải là mục đích kinh tế thuần túy, mà là giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu giáo dục của nhân dân, vì hạnh phúc của đồng bào. Đội ngũ nhà giáo phải là những người lấy việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân làm lẽ sống, làm lý tưởng và mục tiêu phấn đấu trong suốt cuộc đời dạy học của mình.

 

Không chỉ trong môi trường sư phạm mà trong mọi công việc nói chung, đội ngũ nhà giáo trực tiếp đóng góp vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc; tham gia lao động sản xuất, hòa mình với các tầng lớp nhân dân, tuyên truyền chính trị, văn hóa, pháp luật cho nhân dân, áp dụng các tri thức khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Người chỉ dẫn các nhà giáo, trí thức phải “minh minh đức tức là chính tâm. Thân dân tức là phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết”.

 

Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang đó, Hồ Chí Minh đòi hỏi các nhà giáo phải xứng đáng với danh hiệu “kỹ sư tâm hồn”. Trước hết, nhà giáo phải xây dựng cho mình tinh thần hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân với lương tâm nghề nghiệp trong sáng, yêu nghề, yêu trường, hết lòng thương yêu, chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ; không ngừng trau dồi đạo đức cách mạng, tu dưỡng và rèn luyện nhân cách, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để phục vụ và cống hiến cao nhất cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo, vì sự phát triển đất nước, vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân.

 

Người căn dặn cán bộ, giáo viên: “Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý. Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân - tức là phục tùng chân lý”. Trong rèn luyện đạo đức, Người luôn nhắc nhở các nhà giáo phải liêm khiết, trung thực, biết đặt lợi ích của đất nước lên trên lợi ích cá nhân; làm việc hết sức mình, làm việc có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, nhà giáo cũng phải quán triệt, thực hiện tốt đường lối giáo dục của Đảng, chấp hành nghiêm các quy định của Nhà nước về giáo dục - đào tạo, các quy định của ngành cũng như pháp luật nói chung.​

 

Để hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, Hồ Chí Minh đặt ra những yêu cầu cụ thể mà đội ngũ thầy, cô giáo và những người làm công tác giáo dục cần thực hiện: “Thầy và trò phải luôn luôn nâng cao tinh thần yêu Tổ quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, tăng cường tình cảm cách mạng đối với công nông, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, triệt để tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sẵn sàng nhận bất kỳ nhiệm vụ nào mà Đảng và nhân dân giao cho”.

 

Theo Hồ Chí Minh, để hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, nhà giáo cần rèn luyện các đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Trong hoàn cảnh đất nước và ngành giáo dục còn nhiều khó khăn, Hồ Chí Minh cho rằng, mỗi nhà giáo cũng như mọi công dân yêu nước cần phát huy cao độ tinh thần tự lực, tự cường, vượt mọi khó khăn, gian khổ. Người chỉ rõ: “Nước ta còn nghèo. Muốn sung sướng thì phải có tinh thần tự lực cánh sinh, cần cù lao động… Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta”. Đặc biệt, trong lĩnh vực giáo dục, Hồ Chí Minh đòi hỏi toàn ngành giáo dục nói chung và mỗi nhà giáo nói riêng: “Cần nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, cần kiệm xây dựng nhà trường, thực hiện tốt phương châm nhà trường gắn chặt với xã hội, học đi đôi với hành”.

 

Tinh thần trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân nói riêng và đạo đức cách mạng nói chung của nhà giáo đối lập với chủ nghĩa cá nhân. Để đội ngũ nhà giáo góp phần tích cực nhất vào sự nghiệp phát triển giáo dục - đào tạo, Hồ Chí Minh căn dặn và yêu cầu mỗi người phải luôn cảnh giác, kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, trau dồi đạo đức cách mạng, phấn đấu vì nước, vì dân. Trong ngành giáo dục, để chống chủ nghĩa cá nhân, khi làm bất kỳ việc gì, mỗi nhà giáo phải nghĩ đến lợi ích chung trước, lợi ích riêng sau, tất cả vì sự nghiệp trồng người, vì học sinh thân yêu, phải thành tâm tu dưỡng để xứng đáng là “người trí thức của giai cấp công nhân, hết lòng hết sức phục vụ công nông, góp phần xứng đáng và vẻ vang vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”.

 

3. Giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân của nhà giáo trong giáo dục sinh viên sư phạm.

 

Định hướng xây dựng và nâng cao hiệu quả công tác giáo dục thế hệ trẻ, trong đó có sinh viên sư phạm - những nhà giáo, những “kỹ sư tâm hồn” tương lai, Đảng ta chỉ rõ: “Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Để vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân của nhà giáo nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục sinh viên sư phạm một cách hiệu quả và thiết thực, cần thực hiện đồng bộ, có chất lượng nhiều giải pháp.

 

Một là, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

 

Thực hiện Kết luận số 01-KL/TW ngày 18-5-2021 của Bộ Chính trị khóa XIII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” là một trong những biện pháp quan trọng để khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm lành mạnh nền đạo đức xã hội, tạo động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới, trong đó có đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo. Để vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân của nhà giáo, cùng với công tác đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức chuyên môn, việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là giải pháp tác động trực tiếp đến trí tuệ và tình cảm, lý trí và niềm tin, nhận thức và hành động đối với mỗi sinh viên sư phạm trên bước đường đào tạo để trở thành những nhà giáo tương lai.

 

Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cần tiếp tục tổ chức thực hiện một cách toàn diện, song có trọng tâm, trọng điểm, sát với yêu cầu giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức nhà giáo nói chung, giáo dục sinh viên sư phạm nói riêng. Bản thân các giảng viên và đội ngũ cán bộ quản lý trong nhà trường phải đi đầu, là tấm gương sáng về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để sinh viên noi theo.

 

Trong quá trình học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh, mỗi sinh viên sư phạm cần ý thức đầy đủ, sâu sắc rằng, việc nâng cao ý thức chính trị, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách của mình không chỉ bằng nhận thức, mà bằng cả trái tim đầy nhiệt tình, nhiệt huyết của tuổi trẻ, của nhà giáo dục tương lai. Mỗi sinh viên phải xây dựng kế hoạch phấn đấu, đề ra nội dung, biện pháp cụ thể, thiết thực, phù hợp, khả thi, đồng thời phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, năng lực sáng tạo, ý chí quyết tâm, không ngừng học tập, rèn luyện bằng những hành động cụ thể, có kết quả cụ thể; sống có tình, có nghĩa, có tấm lòng nhân ái để hoàn thiện lối sống, nhân cách của bản thân và trở thành người cán bộ, giáo viên tương lai vừa “hồng”, vừa “chuyên” như lời căn dặn và mong muốn của Hồ Chí Minh.

 

Kết hợp chặt chẽ giữa học với làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong thực hiện nhiệm vụ học tập, tu dưỡng trong nhà trường và trong các hoạt động xã hội. Thực hiện đồng bộ, kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống” trong nhà trường; “xây” là tổ chức tốt các phong trào thi đua, động viên sinh viên thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập và rèn luyện; “chống” là đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong sinh viên, xử lý nghiêm những sai phạm để răn đe, cảnh tỉnh, giáo dục chung. Các trường sư phạm đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương pháp, hình thức học tập, tuyên truyền về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong sinh viên; đẩy mạnh việc phát hiện, bồi dưỡng, biểu dương, tuyên truyền, nhân rộng các tấm gương, điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

 

Hai là, nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy các môn lý luận chính trị.

 

Việc trang bị cho sinh viên kiến thức các môn lý luận chính trị, cụ thể là các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, giúp sinh viên có được một thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng, hiểu được nền tảng tư tưởng và đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, trên cơ sở đó sinh viên nâng cao ý thức chính trị, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp của mình. Có được bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp trong sáng, thì trước những tác động tiêu cực do mặt trái của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế, các nhà giáo tương lai mới hoàn thành tốt trách nhiệm vẻ vang trong sự nghiệp “trồng người” của mình và là tấm gương lan tỏa, giáo dục lý tưởng, đạo đức cách mạng cho các thế hệ học sinh noi theo. Để nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy các môn lý luận chính trị, cần xây dựng, rèn luyện và củng cố cho sinh viên có được tác phong nghiên cứu khoa học sáng tạo, độc lập, phát triển tư duy lý luận, gắn lý luận với thực tiễn và khả năng vận dụng các kiến thức tiếp thu được vào công việc dạy học sau này.

 

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân của nhà giáo, quán triệt quan điểm của Đảng ta, mỗi sinh viên sư phạm cần xác định đúng mục đích sống và làm việc của mình là phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc: “phải luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”… Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

 

Trong quá trình học các môn lý luận chính trị, sinh viên các trường sư phạm cần xây dựng tình cảm sâu sắc của mình với Đảng quang vinh, với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và với dân tộc Việt Nam anh hùng, để từ đó phát huy cao nhất tinh thần trách nhiệm của mình, trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Đặc biệt, bằng các hành động cụ thể, sinh viên tham gia bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ thành quả cách mạng mà nhân dân dân ta đã giành được, nỗ lực cống hiến sức mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 

Ba là, tăng cường giáo dục đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

 

Phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân xuất phát từ sự trân trọng những giá trị tốt đẹp trong đạo đức truyền thống của dân tộc và - đến lượt mình - đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc thúc đẩy mọi người phải nâng cao tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả công tác giáo dục cho sinh viên nói chung, sinh viên sư phạm nói riêng, một trong những nhiệm vụ hết sức cần thiết là cần tăng cường giáo dục đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc cho sinh viên. Về vấn đề này, Đảng ta đã khẳng định: “Chú trọng hơn giáo dục đạo đức, nhân cách, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ”.

 

Trong hệ thống giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam, chủ nghĩa yêu nước là tiêu điểm, giá trị cốt lõi, tạo thành động lực tinh thần to lớn trong cuộc sống của con người Việt Nam. Lòng yêu nước xuất phát từ tình yêu đối với đất nước, là lòng trung thành và khát vọng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, trở thành chủ nghĩa yêu nước mang đậm nét đặc sắc, cốt cách của dân tộc và con người Việt Nam. Đó là tinh thần đấu trạnh bất khuất vì độc lập dân tộc, ý chí tự lực, tự cường, tự hào, tự tôn dân tộc đã được hun đúc từ nghìn đời nay trong sự nghiệp đấu tranh dựng nước và giữ nước của nhân dân ta.

 

Hiện nay, yêu nước thể hiện ở khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; ở tinh thần lao động tự giác, sáng tạo, cống hiến, hy sinh, xả thân quên mình cho Tổ quốc; ở việc thực hiện tốt trách nhiệm công dân đối với đất nước, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng đất nước “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Chính vì thế, việc giáo dục lòng yêu nước cho sinh viên sư phạm hiện nay là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng để mỗi sinh viên sư phạm ý thức đúng đắn hơn về nghề nghiệp mà mình đã lựa chọn, yêu người và yêu nghề hơn, có trách nhiệm và tận tụy hơn với công việc, hoàn thiện nhân cách, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức của nhà giáo.

 

Thực hiện lời dạy của Hồ Chí Minh về tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân của nhà giáo, mỗi sinh viên sư phạm phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể, cá nhân và xã hội, nghĩa vụ và quyền lợi, luôn đặt lợi ích của tập thể, của đất nước, của dân tộc lên trên hết và trước hết. Muốn vậy, ngay trong quá trình học tập, sinh viên cần tôn trọng, dũng cảm đấu tranh bảo vệ chân lý; tích cực tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; thấy đúng phải ủng hộ, thấy sai phải phê phán, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí; chống lại những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; phê phán những quan điểm sai trái, thù địch; chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng và những biểu hiện tiêu cực khác.

 

Bốn là, phát huy tốt vai trò của các tổ chức đoàn, hội sinh viên.

 

Từ khi ra đời đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã giữ vững bản chất của tổ chức chính trị - xã hội, luôn là lực lượng xung kích, là trường học XHCN của tuổi trẻ. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Sinh viên Việt Nam là hai tổ chức quan trọng trong việc giáo dục chính trị, đạo đức cho sinh viên. Vì vậy, để vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân của nhà giáo, các tổ chức này cần phát huy hơn nữa vai trò của mình trong việc tổ chức các hoạt động tập thể, với những hình thức đa dạng, thiết thực thu hút sinh viên tham gia nhằm nâng cao nhận thức chính trị, rèn luyện phẩm chất đạo đức cho sinh viên. Nêu cao vai trò của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên trong việc tổ chức các buổi sinh hoạt ngoại khóa và hoạt động ngoài giờ học trên lớp thật sự hấp dẫn, có ý nghĩa thiết thực giúp sinh viên có thêm sự hiểu biết về thực tiễn, hình thành tinh thần đoàn kết, lòng nhân ái, tính tích cực xã hội và các năng lực tổ chức hoạt động giáo dục, qua đó giáo dục đạo đức nhà giáo, giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp cho sinh viên.

 

Tăng cường vai trò của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên trong xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh, văn hóa, thân thiện, bổ ích, góp phần hình thành niềm tin, tình cảm, lý tưởng cách mạng, nâng cao khả năng độc lập, sáng tạo trong suy nghĩ, hình thành thế giới quan, nhân sinh quan khoa học, cách mạng, phát triển nhân cách, phẩm chất đạo đức, có năng lực hòa nhập vào cộng đồng xã hội sau này. Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên cần giúp đỡ, tạo điều kiện cho các đoàn viên ưu tú được giác ngộ, nhận thức về Đảng, rèn luyện, phấn đấu để được kết nạp vào Đảng cũng là động lực thúc đẩy sinh viên phấn đấu, nâng cao ý thức chính trị và phẩm chất đạo đức trong thời gian học tập ở trường.


 * Tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân của nhà giáo chứa đựng những giá trị sâu sắc mà ngày nay cần tiếp tục nghiên cứu kỹ, quán triệt và vận dụng trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo, trong đó có việc nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho sinh viên sư phạm. Để xây dựng đội ngũ nhà giáo tương lai có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức cách mạng và đạo đức nghề nghiệp trong sáng đòi hỏi nhiều yếu tố; cùng với sự tự giác tu dưỡng, rèn luyện của bản thân mỗi sinh viên sư phạm, tổ chức đảng, lãnh đạo nhà trường, Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên trong các trường sư phạm cần tổ chức thực hiện tốt việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tăng cường việc giáo dục về lý luận chính trị, đạo đức cho sinh viên./.

THƯỢNG TƯỚNG LÊ HUY VỊNH KIỂM TRA CÔNG TÁC CHUẨN BỊ BAY CHÀO MỪNG TRIỂN LÃM QUỐC PHÒNG QUỐC TẾ VIỆT NAM 2024

Chiều 3-12, Thượng tướng Lê Huy Vịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã kiểm tra công tác chuẩn bị cho nhiệm vụ bay chào mừng tại Triển lãm Quốc phòng Quốc tế Việt Nam 2024 tại Trung đoàn Không quân 927, Sư đoàn Không quân 371, Quân chủng Phòng không-Không quân.

Thượng tướng Lê Huy Vịnh biểu dương tinh thần nỗ lực, cố gắng luyện tập, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ bay chào mừng Triển lãm Quốc phòng Quốc tế Việt Nam 2024 của cán bộ, chiến sĩ toàn đơn vị; đặc biệt lưu ý công tác huấn luyện và bảo đảm an toàn trong quá trình chuẩn bị cho nhiệm vụ của các máy bay SU-30MK2.

Đơn vị đã tổ chức huấn luyện bay theo kịch bản lễ khai mạc, bảo đảm vũ khí trang bị, qua các lần kiểm tra hợp luyện giữa các lực lượng đều bảo đảm khớp theo kế hoạch và an toàn tuyệt đối.

Nhấn mạnh ý nghĩa và tầm quan trọng của triển lãm được tổ chức vào dịp kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân, Thượng tướng Lê Huy Vịnh yêu cầu toàn đơn vị tiếp tục tập trung cao độ làm tốt công tác chuẩn bị cho nhiệm vụ trong ngày khai mạc triển lãm (19-12) sắp tới; chú trọng yếu tố con người, bảo đảm sức khỏe và nắm chắc tình hình tư tưởng, kịp thời động viên, khích lệ các phi công tham gia bay chào mừng trước, trong và sau khi thực hiện nhiệm vụ. Các thành viên biên đội SU-30MK2 thực hiện nhiệm vụ cần tuân thủ nghiêm kỷ luật trong quá trình huấn luyện bay, tận dụng tối đa hiệu quả các giờ bay, kể cả trong quá trình bay huấn luyện và bay nhiệm vụ. 

Về công tác bảo đảm kỹ thuật, yêu cầu đơn vị đưa ra các giải pháp kỹ thuật ở chế độ cao nhất, mức độ sâu hơn, toàn diện hơn, huy động các lực lượng tốt nhất để tham gia nhiệm vụ, lưu ý cần có giải pháp đặc biệt để chuẩn bị cho mọi tình huống, qua đó rèn luyện bản lĩnh và kỹ năng cho các phi công quân sự điều khiển SU-30MK2.

Báo cáo công tác chuẩn bị cho nhiệm vụ bay chào mừng triển lãm, Đại tá Nguyễn Quang Hải, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 927 cho biết, trên cơ sở kế hoạch bay chào mừng triển lãm, Trung đoàn đã triển khai xây dựng kế hoạch huấn luyện bay, kế hoạch học tập lý thuyết trước khi tham gia thực hành bay cho lực lượng phi công tăng cường của Trung đoàn Không quân 923, 935 khi cơ động đến Trung đoàn; tích cực, chủ động tổ chức bay hồi phục, đào tạo biên đội 3,4 chiếc SU-30MK2 cho các phi công, tổ bay dự kiến tham gia thực hiện nhiệm vụ.

Từ tháng 7-2024, đối với nhiệm vụ huấn luyện bay chào mừng triển lãm, Trung đoàn Không quân 927 đã tổ chức huấn luyện được 7 ban tại sân bay Kép, tổng 127 chuyến, trong đó bay huấn luyện tại sân bay Gia Lâm được 6 ban, 56 chuyến. Lực lượng phi công tham gia nhiệm vụ gồm 18 đồng chí.

Đại tá Nguyễn Quang Hải khẳng định, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn xác định, tham gia bay chào mừng triển lãm là niềm vinh dự, tự hào, toàn đơn vị đã xây dựng quyết tâm cao nhất để hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Theo Đại tá Nguyễn Văn Thiện, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 371, ngay từ đầu năm 2024, Sư đoàn đã lựa chọn phi công, tổ chức học tập, triển khai đồng bộ công tác huấn luyện để chuẩn bị cho nhiệm vụ bay chào mừng Triển lãm Quốc phòng Quốc tế Việt Nam 2024.

Công tác huấn luyện được tiến hành theo 3 phương án bay tùy theo điều kiện thời tiết, khí tượng, gồm: Thời tiết tốt, có mây che tầm nhìn và thời tiết xấu. Các phi công tham gia đều bảo đảm trình độ, tiếp tục tích cực huấn luyện sẵn sàng cho ngày khai mạc triển lãm./.


TRUNG TƯỚNG TRƯƠNG THIÊN TÔ KIỂM TRA CÔNG TÁC CHUẨN BỊ GẶP MẶT CÁN BỘ CẤP CAO QUÂN ĐỘI NGHỈ HƯU, NGHỈ CÔNG TÁC KHU VỰC PHÍA NAM

 

Chiều ngày 3/12, Đoàn công tác của Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam do Trung tướng Trương Thiên Tô, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam làm trưởng đoàn đến kiểm tra công tác chuẩn bị gặp mặt đại biểu nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước và cán bộ cấp cao Quân đội nghỉ hưu, nghỉ công tác khu vực phía Nam nhân kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2024), 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 - 22/12/2024).

Trao đổi với đoàn, Đại tá Thái Thành Đức, Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu cho biết, sau khi nhận được kế hoạch của Bộ Quốc phòng, Cục Chính trị Quân khu đã chủ động tham mưu xây dựng kế hoạch, triển khai, hiệp đồng với các cơ quan, đơn vị làm tốt công tác chuẩn bị, phục vụ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tổ chức gặp mặt đại biểu cán bộ cao cấp Quân đội nghỉ hưu, nghỉ công tác khu vực phía Nam năm 2024. Các cơ quan, đơn vị có liên quan quán triệt kế hoạch, triển khai thực hiện cụ thể, chặt chẽ, nghiêm túc; chủ động phối hợp làm tốt công tác trang trí, luyện tập chương trình nghệ thuật chào mừng, bảo đảm an ninh, an toàn.

Kết luận buổi kiểm tra, Trung tướng Trương Thiên Tô đánh giá cao và biểu dương tinh thần, trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị. Đồng chí Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị yêu cầu, Cục Chính trị Quân khu tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị phối hợp làm tốt mọi công tác chuẩn bị, từ việc rà soát, nắm danh sách, trang trí khánh tiết, đón tiếp đại biểu, bố trí sơ đồ, vị trí ngồi, nơi ăn nghỉ, bảo đảm an ninh, an toàn, quân y, phương tiện đi lại; kịp thời phát hiện, xử trí các vấn đề phát sinh để buổi gặp mặt thành công tốt đẹp./.

XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG TÁC CHIẾN KHÔNG GIAN MẠNG THEO HƯỚNG “TINH, GỌN, MẠNH”

 Trong tình hình mới, không gian mạng (KGM) không chỉ là một chiến trường kỹ thuật số mà còn là một chiến trường chính trị tư tưởng quan trọng. Tác chiến KGM đã trở thành một phần không thể thiếu trong chiến lược xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình mới. Quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc của Đảng, nhất là Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên KGM, trong những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lực lượng tác chiến KGM theo hướng “tinh, gọn, mạnh”.

Lực lượng tác chiến KGM đã từng bước lớn mạnh, trưởng thành cả về tổ chức biên chế và chức năng, nhiệm vụ. Công tác huấn luyện, diễn tập, thực hành đấu tranh trên KGM được nghiên cứu, đổi mới, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, với nhiều cách làm sáng tạo, hiệu quả bảo đảm xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống trên KGM. Thế trận tác chiến trên KGM từng bước được gắn kết chặt chẽ với thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và được xây dựng cả về bề rộng, chiều sâu ngày càng vững chắc.

Để góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; xây dựng lực lượng Tác chiến KGM theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung biện pháp sau đây: Xây dựng lực lượng tác chiến KGM có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, có tinh thần sẵn sàng chiến đấu cao, đập tan mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch; tập trung xây dựng nguồn nhân lực tác chiến không gian mạng chất lượng cao cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại với phương châm “trung thành, kỷ luật, trí tuệ, hiệu quả”, làm nòng cốt, chuyên trách trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trên KGM và bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng trong Quân đội.

Bên cạnh đó, cần tập trung đổi mới, nâng cao chất lượng công tác huấn luyện, đào tạo, trình độ, khả năng chiến đấu cho lực lượng tác chiến KGM; đầu tư phát triển vũ khí trang bị, hạ tầng kỹ thuật hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tác chiến KGM; xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp, bảo đảm cho lực lượng tác chiến KGM luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao; tăng cường hợp tác quốc tế trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng tiềm lực cho tác chiến KGM, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./. 

TIẾP TỤC PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG ANH HÙNG CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

 

Chiều 3/12, tại Nhà Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội Trần Quang Phương gặp mặt Đoàn Cựu chiến binh tỉnh Thanh Hóa đã chiến đấu tại chiến trường Quảng Nam từ năm 1968-1975.

Phát biểu tại buổi gặp mặt, đồng chí Trần Quang Phương nhấn mạnh, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân đang ra sức phấn đấu, thi đua lập thành tích kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân, hướng tới kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng tỉnh Quảng Nam, 65 năm Ngày hai tỉnh Thanh Hóa-Quảng Nam kết nghĩa.

Phó Chủ tịch Quốc hội mong muốn, các đại biểu cựu chiến binh tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng của Quân đội ta, giữ vững phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, tiếp tục cống hiến xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh.

Phó Chủ tịch Quốc hội biểu dương những kết quả hoạt động của Đoàn Cựu chiến binh tỉnh Thanh Hóa đã thường xuyên động viên nhau giữa đời thường, tham gia công tác xã hội tại khu dân cư, phát huy truyền thống đơn vị, quê hương Thanh Hóa kết nghĩa Quảng Nam.

Đồng thời mong muốn, các cựu chiến binh tiếp tục phát huy truyền thống, vận động các hội viên gương mẫu chấp hành đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, tham gia bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, cuộc sống của nhân dân ấm no, hạnh phúc.

Tại buổi gặp mặt, các cựu chiến binh đã chia sẻ kỷ niệm về những năm tháng chiến đấu; đồng thời khẳng định sẽ tiếp tục phát huy, giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ sau, luôn là tấm gương sáng để các thế hệ con cháu noi theo trong học tập, lao động, góp phần xây dựng quê hương, đất nước giàu mạnh./.

BẤT CHẤP ĐÚNG SAI, XUYÊN TẠC SỰ THẬT

 

Cha ông ta đã dạy, để làm người tử tế thì phải “học ăn, học nói, học gói, học mở”, “biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”, hay “lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”… Đó đều là những điều nhắc nhở về kỷ luật phát ngôn ngay trong các mối quan hệ xã hội. 

Đối với cán bộ, đảng viên, việc phát ngôn, Đảng ta đã có đầy đủ các quy định yêu cầu mọi đảng viên chấp hành, đó cũng là kỷ luật đảng. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ đã quy định rất rõ điều này, cũng nhằm ngăn ngừa tình trạng đảng viên suy thoái, rơi vào "tự diễn biến", "tự chuyển hóa”. Ở nhiều văn bản như Quy định số 37-QÐ/TW ngày 25/10/2021 về những điều đảng viên không được làm; Quy định số 69-QÐ/TW ngày 6/7/2022 về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm; Quy định số 144-QĐ/TW về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới đều quy định rất rõ việc phát ngôn của đảng viên. Tinh thần chung của các văn bản ấy đối với việc phát ngôn của đảng viên, đó là đảng viên không được nói, viết, làm trái hoặc không thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định, quy chế, quyết định của Đảng; không nói, viết, làm trái với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; không làm những việc mà pháp luật không cho phép. Chấp hành nghiêm kỷ luật, pháp luật, trong đó có kỷ luật, pháp luật về phát ngôn là yêu cầu nghiêm túc và cần thiết trong xã hội. Để làm tốt điều này, mỗi người nói chung, mỗi cán bộ, đảng viên nói riêng phải tự rèn mình, tự soi mình, sửa mình. 

Việc phát ngôn của mỗi người là yếu tố văn hóa, chấp hành kỷ luật phát ngôn là lối sống có văn hóa. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng gồm nhiều nội dung, trong đó chấp hành kỷ luật phát ngôn là một nội dung rất quan trọng./.

 

TỰ HÀO TRUYỀN THỐNG ANH HÙNG 80 NĂM QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM ANH HÙNG

                                               

 

          Kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2024) là dịp đặc biệt để chúng ta tự hào nhìn lại chặng đường vẻ vang của một quân đội từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu. Quân đội nhân dân Việt Nam không chỉ là lực lượng bảo vệ Tổ quốc mà còn là biểu tượng của ý chí độc lập, tinh thần tự cường và sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc.

      Ngày 22/12/1944, dưới sự chỉ đạo của lãnh tụ Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập tại khu rừng Trần Hưng Đạo, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, gồm 3 tiểu đội với 34 chiến sĩ được lựa chọn từ những chiến sĩ Cao-Bắc-Lạng, do đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy. Đây là đơn vị chủ lực đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng và là tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

      Có lẽ, sự ra đời của Quân đội nhân dân Việt Nam là một sự độc đáo và đặc biệt trong lịch sử quân sự thế giới. Số lượng quá ít ỏi, vũ khí rất thô sơ, chỉ với 34 chiến sĩ, 2 khẩu súng ngắn, 17 khẩu súng trường nhưng nhiệm vụ lại rất lớn lao: Chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc. Không chỉ là đội quân chiến đấu mà còn là đội quân tuyên truyền cách mạng, kết hợp giữa đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị. Đúng như nhiệm vụ được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao trong Chỉ thị thành lập Đội: Tên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân nghĩa là chính trị quan trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền, đồng thời là đội quân chủ lực đầu tiên, có nhiệm vụ dìu dắt các đội vũ trang của địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên. Như vậy, ngay từ buổi đầu, Đội không chỉ là công cụ chiến đấu mà còn là lực lượng tuyên truyền, gắn bó mật thiết với Nhân dân, góp phần giác ngộ, thức tỉnh tinh thần yêu nước, vận động quần chúng Nhân dân đứng lên đấu tranh giành độc lập. Sự khởi đầu kết hợp giữa tuyên truyền và đấu tranh quân sự đã đặt nền móng cho một lực lượng quân đội Nhân dân độc đáo, gắn liền với dân tộc, được Nhân dân yêu mến và ủng hộ, tạo nên một sức mạnh vô hình, lan tỏa khắp mọi miền đất nước, từ đó hình thành nên một lực lượng quân sự vừa kiên cường, vừa thấm nhuần lý tưởng cách mạng.

      Dưới sự lãnh đạo tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, đội quân nhỏ bé này đã nhanh chóng phát triển thành lực lượng quân đội chính quy, đóng vai trò trung tâm trong mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, trở thành biểu tượng bất khuất của ý chí và lòng kiên cường của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập và tự do. Đúng như Bác từng khẳng định trong Chỉ thị: “Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh,... Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của Giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Bắc chí Nam, khắp đất nước Việt Nam”.

      Suốt 80 năm qua, Quân đội nhân dân Việt Nam đã trải qua các giai đoạn lịch sử cam go nhưng đầy hào hùng với nhiều chiến công bất hủ. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Quân đội nhân dân Việt Nam đã trải qua hàng nghìn trận đánh lớn nhỏ, từng bước phát triển cả về chiến lược, chiến thuật. Chiến thắng Việt Bắc Thu Đông (1947), Biên giới Thu Đông (1950) đã phá tan các cuộc càn quét, mở ra giai đoạn phản công chiến lược. Đặc biệt, chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) đã làm chấn động địa cầu, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Quân đội tiếp tục đóng vai trò nòng cốt, từ những trận đánh nhỏ tại miền Nam đến các chiến dịch quy mô lớn như Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968), Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971), Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (1975). Chiến thắng ngày 30/4/1975 không chỉ là thắng lợi của quân và dân Việt Nam mà còn là nguồn cổ vũ to lớn cho phong trào đấu tranh giành độc lập của các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Sau chiến tranh, bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Quân đội tiếp tục khẳng định vai trò trong việc bảo vệ chủ quyền biên giới, biển đảo. Các chiến dịch bảo vệ biên giới phía Tây Nam và phía Bắc trong những năm 1978, 1979 cho thấy bản lĩnh và sự trưởng thành vượt bậc của Quân đội nhân dân Việt Nam trong mọi hoàn cảnh. Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới, Quân đội đã không chỉ làm tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc mà còn tham gia tích cực vào công cuộc xây dựng đất nước: cứu hộ, cứu nạn, phát triển kinh tế - xã hội, giúp đỡ Nhân dân vùng sâu, vùng xa.

      Ngày nay, Quân đội không ngừng hiện đại hóa, trở thành lực lượng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đủ sức đối phó với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống. Những thành tựu to lớn trong lĩnh vực quốc phòng như phát triển công nghiệp quốc phòng, tăng cường hợp tác quốc tế, tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc đã nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

      Nếu ví Quân đội nhân dân Việt Nam là thanh gươm thép, thì Nhân dân chính là bệ đỡ và nguồn sức mạnh vô tận, là chất xúc tác để thanh gươm luôn sắc bén. Ngay từ ngày đầu thành lập, Quân đội nhân dân Việt Nam đã mang trong mình bản chất cách mạng, là đội quân trung thành với Tổ quốc, gắn bó máu thịt với Nhân dân. Chính mối quan hệ "quân với dân như cá với nước" đã tạo nên sức mạnh to lớn, đưa quân đội vượt qua mọi thử thách và khó khăn trong suốt hành trình lịch sử.

      Trong kháng chiến chống Pháp, Nhân dân cả nước chính là hậu phương vững chắc. Quân đội nhân dân Việt Nam luôn được Nhân dân nuôi dưỡng, bảo vệ và tiếp sức. Những hình ảnh người mẹ gói từng nắm cơm, người cha gác lại công việc đồng áng để làm giao liên, những thanh niên xếp bút nghiên lên đường chiến đấu, người dân bản làng dẫn đường cho bộ đội trong rừng, hay những phong trào “hũ gạo nuôi quân”, “mỗi làng một trận địa” đã khắc sâu trong lịch sử, là minh chứng cho tình quân-dân sâu đậm. Trong kháng chiến chống Mỹ, mối quan hệ này càng được khẳng định. Những làng quê miền Bắc tăng gia sản xuất, nhường cơm sẻ áo cho bộ đội; những đoàn dân công hỏa tuyến vận chuyển lương thực, vũ khí ra chiến trường; hay những căn hầm bí mật che chở cho các chiến sĩ miền Nam đều chứng minh rằng Nhân dân là chỗ dựa không thể thay thế của quân đội. Sự hòa quyện, gắn bó, đoàn kết này đã trở thành sức mạnh to lớn và vững chắc, không chỉ là chỗ dựa vật chất mà còn là nguồn cổ vũ tinh thần to lớn giúp quân đội vượt qua những thời điểm khó khăn nhất.
      Trong thời bình, tinh thần “vì Nhân dân quên mình” tiếp tục là kim chỉ nam hành động của các chiến sĩ. Trước thiên tai, dịch bệnh, hình ảnh người lính sẵn sàng lao vào tâm bão, vùng lũ để cứu dân hay đứng tuyến đầu trong phòng, chống đại dịch COVID-19 đã để lại ấn tượng sâu sắc. Những chiến sĩ bộ đội biên phòng ngày đêm tuần tra nơi biên giới, bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, đồng thời hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, thực sự là biểu tượng sống động của mối quan hệ gắn bó giữa quân và dân. Tại các vùng sâu, vùng xa, bộ đội còn trở thành những "thầy giáo quân hàm xanh", những bác sĩ quân y chữa bệnh cho đồng bào, góp phần nâng cao đời sống và tri thức của Nhân dân.

      Không dừng lại ở đó, Quân đội còn đóng vai trò tiên phong, góp sức, đồng hành với Nhân dân trong nhiều chương trình phát triển kinh tế - xã hội, như xây dựng đường sá, trường học, trạm y tế ở vùng sâu, vùng xa; bảo vệ và gìn giữ bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số. Đây chính là minh chứng rõ nét cho bản chất cách mạng, vì dân phục vụ của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

       Trong bối cảnh thế giới đang thay đổi nhanh chóng, những thách thức về an ninh truyền thống và phi truyền thống đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với Quân đội Nhân dân Việt Nam. Các tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông, các vấn đề an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia đòi hỏi quân đội không ngừng đổi mới và nâng cao năng lực để đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

      Hiện nay, Quân đội nhân dân Việt Nam đang hướng tới mục tiêu xây dựng lực lượng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó tập trung nâng cao khả năng tác chiến trên không, trên biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo, biên giới quốc gia. Hải quân, Không quân, Cảnh sát biển và Bộ đội Biên phòng đã được đầu tư, trang bị các loại vũ khí hiện đại, sẵn sàng đáp ứng mọi tình huống. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của quân đội hiện nay là xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, gắn kết chặt chẽ với thế trận an ninh Nhân dân. Đây chính là sự kết hợp giữa truyền thống lịch sử và yêu cầu thực tiễn, bảo đảm đất nước luôn trong trạng thái sẵn sàng bảo vệ chủ quyền, độc lập.
      Bên cạnh đó, Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, tham gia tích cực vào các hoạt động gìn giữ hòa bình quốc tế của Liên Hợp Quốc. Sự hiện diện của các sĩ quan quân đội Việt Nam tại các phái bộ ở Nam Sudan hay Cộng hòa Trung Phi đã khẳng định vai trò trách nhiệm của Việt Nam đối với hòa bình thế giới, đồng thời nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế.

      Trải qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam  đã lập nên những chiến công hiển hách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, viết nên những trang sử hào hùng bằng chính ý chí kiên cường và sự hy sinh cao cả. Từ những chiến công lừng lẫy trong kháng chiến đến những đóng góp bền bỉ trong thời bình, Quân đội luôn là niềm tự hào, là chỗ dựa vững chắc của Nhân dân. Chào mừng kỷ niệm 80 năm thành lập, chúng ta càng thêm tự hào, tin tưởng rằng Quân đội nhân dân Việt Nam sẽ tiếp tục tinh thần "Trung với Đảng, hiếu với dân", phát huy truyền thống vẻ vang, không chỉ thực hiện tốt sứ mệnh bảo vệ Tổ quốc mà còn là lực lượng dẫn dắt, đồng hành cùng đất nước trên con đường phát triển và hội nhập; đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới.

      Theo ThS. Đặng Thu Hiếu - Trường Chính trị

 

 

Hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” mãi mãi sáng đẹp cùng năm tháng

                                     

          Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu trực tiếp lãnh đạo và giáo dục và rèn luyện, được nhân dân tin yêu, đùm bọc và nuôi dưỡng, đã không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, lập nên những chiến công hiển hách trong công cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, bảo vệ vững chắc nền độc lập, tự do của Tổ quốc, mang lại hạnh phúc cho nhân dân, được toàn Đảng, toàn dân ta quý trọng, gọi bằng cái tên trìu mến “Bộ đội Cụ Hồ”.

          Sinh thời, Bác Hồ kính yêu - Vị cha già của các lực lượng vũ trang nhân dân vẫn khen ngợi “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Tự hào với lời ngợi khen ấy, trong suốt cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ mà anh dũng của dân tộc, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ dưới sự dẫn dắt của Đại tướng Võ Nguyên Giáp - người anh cả của Quân đội ta đã một lòng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” chỉ có quân đội cách mạng hết lòng vì nước, vì dân mới được nhân dân tin yêu, quý trọng.

          Hình ảnh cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” trước hết là ở lòng trung thành vô hạn đối với Đảng, với nhân dân, mang trong mình dòng máu truyền thống chống ngoại xâm kiên cường, bất khuất của các thế hệ cha ông như: Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Quang Trung... mà “thắng không kiêu, bại không nản, giàu sang không quyến rũ, nghèo khó không chuyển lay, uy vũ không khuất phục”, giương cao ngọn cờ “quyết chiến quyết thắng” và thực sự trở thành lực lượng tiên phong trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Với “56 ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt” quân đội ta đã làm nên “chiến thắng Điện Biên chấn động địa cầu” kết thúc thắng lợi 9 năm kháng chiến chống Pháp trường kỳ và gian khổ, tạo đà cho cuộc đụng đầu lịch sử, chiến đấu một mất một còn với một đội quân hùng mạnh, sừng sỏ nhất thế giới đó là đế quốc Mỹ. Bằng tài thao lược của Đảng và sự quả cảm phi thường của mình, quân đội ta góp công to lớn vào “Đại thắng mùa xuân năm 1975”, đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào, giang sơn thu về một mối, cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội.

          Hơn 7 thập kỷ xây dựng và trưởng thành, lịch sử quân đội ta là lịch sử chiến đấu không ngừng, không nghỉ trong những thử thách vô cùng gian khổ, ác liệt. Sự kiên định lý tưởng, nắm vững mục tiêu chiến đấu và niềm tin sâu sắc vào thắng lợi của cách mạng đã cổ vũ quân đội ta luôn luôn nêu cao ý chí quyết chiến, quyết thắng, động viên mọi thế hệ cán bộ, chiến sĩ sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì lý tưởng cách mạng cao cả. Hình ảnh người lính đồng nghĩa với sự thử thách ác liệt với hy sinh, gian khổ, thiếu thốn mà ở đâu và lúc nào, thời chiến cũng như thời bình, người lính luôn đứng ở hàng đầu những mũi nhọn ác liệt nhất của cuộc sống. Lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, niềm tin son sắt vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng là cội nguồn ý chí và tinh thần sẵn sàng hy sinh, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ của “Bộ đội Cụ Hồ” để đất nước nở hoa độc lập, kết trái tự do.

          Những năm gần đây, tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp, khó lường. Hơn lúc nào hết, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam thể hiện rõ phẩm chất chính trị của mình là trung thành tuyệt đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, sẵn sàng chiến đấu vì độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Chấp hành nghiêm và cụ thể hóa đường lối quân sự của Đảng, xứng đáng là lực lượng nòng cốt cùng toàn dân làm thất bại mọi âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hình ảnh cao đẹp của anh “Bộ đội Cụ Hồ” được tô thắm thêm bởi một truyền thống tốt đẹp nữa của quân đội ta, đó là tình đoàn kết quân dân, “Quân với dân như cá với nước”, là sự gắn bó, chan hòa máu thịt như những người con trong một gia đình. Quân dựa vào dân và dân cũng dựa vào quân trong mối quan hệ quân dân một ý chí. Bác Hồ từng dạy: “Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu… nên phải biết kính trọng dân, phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu; khi mình chưa đến thì dân trông mong, khi mình đến thì dân giúp đỡ, khi mình đi nơi khác thì dân luyến tiếc”!

          Suốt 77 năm qua, từ lúc mới ra đời với 34 chiến sĩ của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân cho đến sự trưởng thành, lớn mạnh như ngày hôm nay, mọi thế hệ cán bộ, chiến sĩ thực hiện tốt mối quan hệ “quân dân một ý chí”. Càng bất khuất trước kẻ thù bao nhiêu, “Bộ đội Cụ Hồ” càng gần gũi, quý trọng, thương yêu, hết lòng, hết dạ tận tụy phục vụ, giúp đỡ nhân dân bấy nhiêu. Mỗi tên đất, tên làng của đất nước hình chữ S này đều thấm đượm máu đào của các anh. Bên cạnh những liệt sĩ đã ngã xuống ở chiến trường cũng có không ít các liệt sĩ lấy thân mình che bom đạn cho dân, cứu dân trong hoạn nạn, khó khăn, trong bão giông, lũ lụt... mãi mãi tô thắm thêm phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”.

          Hầu như tất cả người dân Việt Nam dù người đó là dân tộc nào, sinh sống ở vùng đồng bằng hay miền núi, biên giới hay hải đảo khi nói về những việc làm đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” bao giờ cũng tự hào kể về những năm tháng mình được sống, chiến đấu, gắn bó với quân đội, với người lính. Điều đó chứng tỏ hình ảnh anh “Bộ đội Cụ Hồ” mãi mãi khắc ghi trong trái tim của nhân dân. Phải chăng chính hình ảnh của các anh là luồng gió mới thổi vào cuộc vận động xây dựng môi trường văn hóa trong toàn xã hội hiện nay, làm cho hình ảnh người lính Cụ Hồ càng lung linh, tỏa sáng không những được nhân dân ta mà cả bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã, đang và tiếp tục quan tâm, làm tất cả những gì có thể để nâng cao hơn nữa danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới, coi “Bộ đội Cụ Hồ” là chuẩn mực đạo đức, nhân cách người quân nhân cách mạng, là tấm gương sáng cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ trẻ và thanh thiếu niên cả nước hôm nay và mai sau học tập, noi theo.

          Trong bối cảnh hiện nay, giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” làm cho “tấm gương sáng” ấy tiếp tục tỏa sáng luôn là niềm tin yêu, vinh dự, tự hào của nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế, là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và nhân dân, của cả hệ thống chính trị. Đó cũng là yếu tố quan trọng để xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân”, tạo động lực mới để toàn quân phấn đấu vươn lên hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống mà Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng giao phó.

                                                          Theo tác giả Chu Sĩ Liên

 

"Bộ đội Cụ Hồ" - Nét đẹp văn hóa thời đại Hồ Chí Minh

                                     

          Trong kho tàng tri thức, văn hoá dân tộc Việt Nam, hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ” là một nét son độc đáo, trở thành di sản văn hoá đặc sắc, hàm chứa giá trị nhân văn, nhân đạo cao cả của dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.


          Gắn liền với hình ảnh cao đẹp của vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới - Hồ Chí Minh, là những danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”, “Bộ đội ông Cụ”, “Bộ đội ông Ké”được nhân dân suy tôn, kính trọng, khen tặng; bạn bè quốc tế ngưỡng mộ, tin yêu.

          Danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” thể hiện sâu sắc bản chất cách mạng của quân đội kiểu mới - quân đội do Đảng của giai cấp công nhân tổ chức, giáo dục, rèn luyện và lãnh đạo; sự cưu mang, thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân; đồng thời, là giá trị độc đáo của văn hóa giữ nước gắn với mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà thời đại Hồ Chí Minh đúc kết, tạo dựng, xây đắp nên, được các thế hệ người Việt Nam tin tưởng, gìn giữ và phát huy, bạn bè trên thế giới ca ngợi, khâm phục.

          Qua thực tiễn cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” đã trở thành biểu trưng đặc sắc của nét đẹp văn hoá quân sự Việt Nam, luôn toả ánh sáng hào quang từ chính những phẩm chất, nhân cách tốt đẹp của cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta - quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu; là sự thể hiện ở tầm cao và chiều sâu của bản sắc văn hoá Việt Nam, tâm hồn, cốt cách, nhân cách con người Việt Nam qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh để dựng nước và giữ nước, của sự hun đúc, kết tinh, hoà quyện các giá trị văn hoá nhân văn, nhân đạo của dân tộc Việt Nam và bản chất khoa học, cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam; giữa các yếu tố truyền thống và hiện đại, trở thành giá trị tiêu biểu của con người Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh và trở thành biểu trưng độc đáo của văn hoá quân sự của quân đội cách mạng - Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

          Theo Cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp: hình ảnh và tên gọi "Bộ đội Cụ Hồ" là một trong những nét độc đáo nhất, đặc sắc nhất của văn hóa quân sự Việt Nam, là sự kết tinh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần văn hoá Việt Nam với tinh hoa văn hoá, trí tuệ nhân loại; thật hiếm có nước nào trên thế giới nhân dân lấy tên vị lãnh tụ kính yêu của mình để đặt tên cho quân đội của nhân dân mà họ sáng lập nên. Điều đó không chỉ thể hiện “mối quan hệ máu thịt”, tình quân dân như “cá với nước” của cán bộ, chiến sĩ quân đội với nhân dân ta, viết nên thiên anh hùng ca bất hủ của quân đội “bách chiến bách thắng”,“đi dân nhớ, ở dân thương” là "Bộ đội Cụ Hồ".

          Nét đẹp văn hoá quân sự của cán bộ, chiến sĩ quân đội ta thể hiện ở sự kính trọng lãnh tụ, sự yêu thương, quý mến bộ đội và quan hệ “không gì có thể phá vỡ” giữa quân với dân; sự gắn bó mật thiết giữa các phẩm chất nhân cách người quân nhân cách mạng vì nước quên thân, vì dân phục vụ; là tình sâu nghĩa nặng, ấm áp ân tình của nhân dân dành cho cán bộ, chiến sĩ quân đội và lãnh tụ kính yêu của mình; phản ánh sâu sắc bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của quân đội ta, một quân đội mà trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào đều tận trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hi sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

          Sự biểu đạt ngắn gọn, sâu sắc và thiêng liêng nhất về bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân là ở tầm khái quát: danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” - bộ đội của dân, do dân và vì dân. Tên gọi “Bộ đội Cụ Hồ” là kết quả sáng tạo, quyền sở hữu thiêng liêng, bất khả xâm phạm của nhân dân và quân đội ta, chỉ ở Việt Nam mới có, song lại thể hiện sâu sắc bản chất của quân đội kiểu mới, là sự thống nhất sâu sắc giữa bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc trong quân đội cách mạng. Có thể khẳng định rằng, “Bộ đội Cụ Hồ” là sự kết tinh những gì là tinh tuý nhất, trở thành giá trị văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam, bản chất, truyền thống quân đội cách mạng; vừa thể hiện tư tưởng, phong cách, đạo đức lãnh tụ Hồ Chí Minh; vừa thể hiện tình cảm sâu sắc và sự tin tưởng của nhân dân ta đối với toàn thể cán bộ, chiến sĩ quân đội. Giá trị văn hoá quân sự của “Bộ đội Cụ Hồ” đã và đang thể hiện sâu sắc ở tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, luôn xung kích đi đầu, đứng vững ở nơi “đầu sóng ngọn gió”: vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, nơi khó khăn, gian khổ và chiến tranh ác liệt nhất; sẵn sàng chiến đấu, hi sinh tuổi xuân và tính mạng của mình để bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ biển đảo quê hương, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, Nhà nước và bảo vệ nhân dân; tuyệt đối trung thành với Đảng, trọn hiếu với nhân dân; luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng, giao phó.

          Phẩm chất, nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ” là hệ thống giá trị văn hoá - chính trị - đạo đức tốt đẹp, bền vững, phản ánh bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam, tư tưởng, phong cách, đạo đức Hồ Chí Minh, trở thành danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. Danh hiệu ấy ra đời từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, được củng cố, phát triển qua cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; được gìn giữ, phát huy và hoàn thiện trong sự nghiệp đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nói cách khác, phẩm chất nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ” là cách biểu đạt rất sinh động của nhân dân về những giá trị văn hoá quân sự tốt đẹp, bền vững, phản ánh bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của quân đội ta; đồng thời chính bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc là điều kiện quy định những giá trị phẩm chất nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ”.

          Sự hội tụ của tâm tư và nguyện vọng, tình cảm và ý chí của nhân dân; sự kết tinh những giá trị văn hoá đặc sắc, tốt đẹp nhất của dân tộc, của giai cấp trong quân đội ta, làm cho cán bộ, chiến sĩ quân đội ta trở thành biểu tượng tập trung nhất những giá trị tinh hoa tốt đẹp của dân tộc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam. Do đó, quân đội ta đã vượt ra ngoài quan niệm thông thường là một công cụ bạo lực sắc bén của một giai cấp, nhà nước bất kỳ, mà là đứa con ruột thịt của nhân dân, do nhân dân sinh ra, nuôi dưỡng và suốt đời vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ.

          Lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam cũng chính là lịch sử hình thành, bổ sung và phát triển phẩm chất nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ” của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân; qua đó, làm phong phú thêm những giá trị văn hoá cao đẹp của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

          Vì vậy, giữ gìn, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” không chỉ là hoạt động giáo dục chính trị, tư tưởng, mà còn là hoạt động văn hoá - đạo đức, mang ý nghĩa nhân văn và xã hội sâu sắc, là biện pháp đạt tới những giá trị chân - thiện - mỹ của cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta trong sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

          Danh hiệu cao quý "Bộ đội Cụ Hồ" là tài sản văn hoá tinh thần vô giá do nhân dân yêu mến, trao tặng, gửi gắm niềm tin yêu, sự ngưỡng mộ dành riêng cho cán bộ, chiến sĩ quân đội ta; được bạn bè quốc tế và nhân dân luôn đánh giá cao; ghi nhận những cống hiến xuất sắc và tinh thần tận tuỵ, đức tính hy sinh của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội ta đối với sự nghiệp đấu tranh cách mạng, bảo vệ hoà bình, vì hạnh phúc của nhân dân. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn quan tâm, chăm lo, đã và đang làm tất cả những việc gì có thể làm để cùng toàn quân nâng cao danh hiệu "Bộ đội Cụ Hồ" trong tình hình mới; coi "Bộ đội Cụ Hồ" là chuẩn mực đạo đức nhân cách người quân nhân cách mạng, là “tấm gương sáng” cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ trẻ và thanh niên cả nước hôm nay và mai sau học tập, noi theo. Vì vậy, trong bối cảnh hiện nay, giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ", làm cho “tấm gương sáng” ấy tiếp tục toả sáng, luôn là niềm tin yêu, kiêu hãnh, niềm vinh dự, tự hào; sự ngưỡng mộ của nhân dân và bạn bè quốc tế, là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và nhân dân, của cả hệ thống chính trị ở nước ta; trước hết là danh dự, trách nhiệm của mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam.

          Đó cũng là yếu tố quan trọng để xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân”, nâng cao nhân tố chính trị - tinh thần; tạo động lực mới, động viên, cổ vũ thôi thúc cán bộ, chiến sĩ quân đội ta phấn đấu vươn lên hoàn thiện nhân cách người quân nhân cách mạng, đó cũng là điều kiện, tiền đề cần thiết để quân đội ta sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống mà Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng giao phó.

Theo Trang thông tin điện tử Hồ Chí Minh

 


Trong xã hội chủ nghĩa quyền lợi và nghĩa vụ, quyền hạn và trách nhiệm, cống hiến và hưởng thụ của mọi công dân gắn bó chặt chẽ với nhau

 


Mọi công dân có đều bình đẳng trước pháp luật. Họ có quyền bình đẳng trong hưởng thụ các giá trị vật chất và tinh thần của xã hội, đồng thời họ cũng phải bình đẳng trong sự đóng góp sức mình vào việc tạo ra các giá trị đó; có quyền được hưởng cuộc sống hoà bình, an toàn thì họ cũng phải có trách nhiệm làm tròn nghĩa vụ công dân ở vị trí xã hội mà họ đảm nhiệm, có nghĩa vụ trong việc tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân, lực lượng vũ trang nhân dân. Họ có quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, đồng thời cũng phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đảm bảo cho sự quản lý đó thực hiện một cách có hiệu quả. Hiến pháp, pháp luật, cơ chế, quy chế trong nền dân chủ bảo đảm cho mọi công dân ngày càng thuận lợi hơn trong thực hiện các quyền dân chủ và ngăn ngừa lạm dụng, hoặc xâm phạm quyền dân chủ của công dân.

Trong chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền lực xã hội thực sự thuộc về đại đa số nhân dân lao động


Ở các chế độ dân chủ khác, chủ thể quyền lực là thiểu số hoặc chỉ của riêng giai cấp bóc lột. Trong chủ nghĩa xã hội, toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân là người làm chủ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Các quyền dân chủ, làm chủ đó được thể chế hóa bằng pháp luật và các quy chế dân chủ, được pháp luật bảo vệ và hiện thực hóa từng bước thông qua hoạt động thực thi dân chủ của chính nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến. Tuy nhiên, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa không phải là nền dân chủ phi giai cấp, siêu giai cấp, dân chủ cho tất cả mọi người. Đây là nền dân chủ của đa số, vì lợi ích của đa số nhân dân, nhưng thực hiện chuyên chính với những phần tử chống đối, phá hoại dân chủ, pháp luật, kỷ luật, kỷ cương xã hội. Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa không cho phép sự lộng hành của những hành vi vô chính phủ, dân chủ cực đoan, coi thường quyền lực nhân dân và kỷ cương, pháp luật xã hội chủ nghĩa; đồng thời kiên quyết ngăn ngừa, loại trừ mọi biểu hiện độc đoán, chuyên quyền, quan liêu chà đạp lên các quyền dân chủ của nhân dân. 

Bản chất chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa

 


Bản chất chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa thể hiện sâu sắc trên các lĩnh vực:

Trên lĩnh vực chính trị: quyền lực của nhân dân thể hiện qua các quyền dân chủ, làm chủ, quyền con người được thoả mãn ngày càng cao hơn.

Trên lĩnh vực kinh tế, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu của toàn xã hội đáp ứng sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất dựa trên cơ sở khoa học - công nghệ hiện đại nhằm thoả mãn ngày càng cao những nhu cầu vật chất và tinh thần của toàn thể nhân dân lao động. Chế độ công hữu về tư liệu sản xuất càng hoàn thiện bao nhiêu thì càng làm cho nền tảng của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa vững chắc bấy nhiêu. Việc xoá bỏ về cơ bản mâu thuẫn đối kháng trong kinh tế quy định sự thống nhất về chính trị, tinh thần của các lực lượng trong xã hội - xã hội chủ nghĩa.

Trên lĩnh vực văn hóa - tư tưởng, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa lấy hệ tư tưởng Mác - Lênin làm nền tảng, chủ đạo đối với mọi hình thái ý thức xã hội khác trong xã hội mới (như văn học nghệ thuật, giáo dục, đạo đức, lối sống, văn hoá, xã hội, tôn giáo...). Đồng thời, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa kế thừa, phát huy những tinh hoa văn hoá truyền thống các dân tộc; tiếp thu những giá trị tư tưởng - văn hoá, văn minh, tiến bộ xã hội... mà nhân loại đã tạo ra ở tất cả các quốc gia, dân tộc. Do đó, đời sống tư tưởng - văn hoá của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa rất phong phú, đa dạng, toàn diện và ngày càng trở thành một nhân tố quan trọng hàng đầu, thành mục tiêu và động lực cho quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Sự ra đời và phát triển của chế độ dân chủ

 


Trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Mác, Ph.Ăngghen chỉ rõ: “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải tự giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc”1, phải giành lấy dân chủ với ý nghĩa trực tiếp là giành lấy quyền lực nhà nước và tổ chức quyền lực đó thành nhà nước dân chủ vô sản. Theo hai ông, giai cấp công nhân giành được chính quyền là dấu mốc làm xuất hiện một chế độ dân chủ mới, khác về chất so với các chế độ dân chủ trước đó - dân chủ vô sản. Công xã Pari năm 1871 là mầm mống đầu tiên của dân chủ xã hội chủ nghĩa. V.I.Lênin viết:  “Công xã dường như đã thay bộ máy nhà nước bị đập tan, bằng một chế độ dân chủ “chỉ” hoàn bị hơn mà thôi: quân đội thường trực bị bãi bỏ, tất cả mọi viên chức, không trừ một ai, đều do tuyển cử bầu ra và có thể bị bãi miễn… từ chỗ là dân chủ tư sản đã biến thành dân chủ vô sản, từ chỗ nhà nước (= lực lượng đặc biệt để trấn áp một giai cấp nhất định) nó biến thành một cái gì thực ra không phải là nhà nước hiểu theo nghĩa thực sự nữa”2.

Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga vĩ đại với sự xuất hiện nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới - Nhà nước Xô viết, xây dựng chế độ dân chủ phục vụ lợi ích cho đa số người lao động - chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa bắt đầu ra đời. Như vậy, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa chỉ được xác lập sau khi giai cấp công nhân thông qua đội tiền phong của mình là đảng cộng sản lãnh đạo giành được chính quyền, tiến hành cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội thông qua cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa (Cách mạng tháng Mười Nga), hoặc thông qua cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (Việt Nam, Trung Quốc…).

Quá trình phát triển của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa là từ thấp tới cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện; có sự kế thừa một cách chọn lọc giá trị của các chế độ dân chủ trước đó, trước hết là dân chủ tư sản. Nguyên tắc cơ bản của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa là không ngừng mở rộng dân chủ, nâng cao mức độ giải phóng cho những người lao động, thu hút họ tham gia tự giác vào công việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa không phải là chế độ dân chủ của thiểu số và cho thiểu số bóc lột, có đặc quyền đặc lợi và muốn dành thêm đặc quyền, đặc lợi; ngược lại, nó là chế độ dân chủ của đa số và vì đa số. Do đó, về nguyên tắc, nó bài trừ đặc quyền, đặc lợi và vì lợi ích của đa số, nó gạt bỏ những kẻ đặc quyền, đặc lợi ra khỏi vị trí quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa phát triển từ thấp tới cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Nhưng càng hoàn thiện bao nhiêu, nó càng tự tiêu vong bấy nhiêu. Thực chất của sự tiêu vong dân chủ theo V.I.Lênin, đó là không ngừng mở rộng dân chủ đối với nhân dân, xác lập địa vị chủ thể quyền lực của nhân dân, tạo điều kiện để họ tham gia ngày càng đông đảo và ngày càng có ý nghĩa quyết định vào sự quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Quá trình đó làm cho dân chủ trở thành một thói quen, một tập quán trong sinh hoạt xã hội... để đến một lúc nó không còn tồn tại như một thể chế nhà nước, một chế độ, tức là mất đi tính chính trị của nó.

Như vậy, quá trình tiêu vong của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa đồng nghĩa với qúa trình làm sâu, rộng hơn các thành quả dân chủ, đưa nó lên trình độ phát triển mới, tiến dần tới dân chủ trọn vẹn, dân chủ hoàn toàn, phù hợp với xu thế phát triển của nhân loại từ “vương quốc tất yếu” sang “vương quốc tự do”. Tuy nhiên, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa chỉ hoàn toàn tiêu vong khi xã hội đã đạt trình độ phát triển rất cao, xã hội không còn sự phân chia giai cấp, đó là xã hội cộng sản chủ nghĩa đạt tới mức độ hoàn thiện, khi đó dân chủ xã hội chủ nghĩa với tư cách là một chế độ nhà nước cũng tiêu vong, không còn nữa. Còn ngay bây giờ, như Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh, nếu muốn xóa bỏ tính chính trị của chế độ dân chủ, xóa bỏ ngay nhà nước thì không tránh khỏi rơi vào quan điểm của chủ nghĩa vô chính phủ, bởi những người vô chính phủ chính là những người “đòi xóa bỏ nhà nước trong vòng 24 giờ đồng hồ”.



1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 623 - 624.

2 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 52.