Thứ Hai, 3 tháng 3, 2025

XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ ĐẠO ĐỨC THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG

Xây dựng Đảng về đạo đức là tư tưởng nhất quán của Hồ Chí Minh. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kế thừa tư tưởng của Người và vận dụng trong việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Bài viết khái quát nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng về đạo đức và việc vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam vào thực tiễn xây dựng Đảng về đạo đức.

1. Mở đầu
Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của Đảng và nhân dân Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất. Tư tưởng đạo đức của Người đã trở thành nền tảng quan trọng trong việc xây dựng và phát triển Đảng Cộng sản Việt Nam.
Khi nói về những vĩ nhân và sự ưu việt của các học thuyết trong lịch sử nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêsu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giêsu, C. Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải đã có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn “mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu hạnh phúc cho xã hội”(1)... Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy. Dù Khổng tử, Giêsu, hay C.Mác, Tôn Dật Tiên khác nhau về màu da, tiếng nói, thời đại thì cũng đều có điểm chung là tinh thần yêu thương con người đến vô cùng, đó chính là đạo đức cốt lõi của con người. Hồ Chí Minh tìm thấy điểm hội tụ, tương đồng để từ đó người tích hợp, chuyển hóa thành giá trị đạo đức của người cách mạng, coi đạo đức là yếu tố tất yếu để ở đời và làm người.
Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò quan trọng của đạo đức trong việc xây dựng và phát triển Đảng; việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng về đạo đức là cần thiết trong giai đoạn hiện nay để tìm ra các giải pháp thiết thực trong việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên.
2. Nội dung
2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng về đạo đức
Là người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh rất đề cao, chú trọng công tác xây dựng Đảng, coi đây là yếu tố sống còn cho sự tồn tại, phát triển và lãnh đạo của Đảng. Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin về vai trò của công tác chính trị, tư tưởng, tổ chức trong xây dựng Đảng, Hồ Chí Minh còn đặc biệt bổ sung, nhấn mạnh đến yếu tố đạo đức trong xây dựng Đảng, nhiều thời điểm Người còn đề cao đạo đức hơn các công tác khác đối với cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng. Vì đạo đức là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, là một bộ phận năng động nhất của thế giới quan, nó chỉ đạo mọi tư duy và hành động của con người. Sự suy thoái về đạo đức là biểu hiện của suy thoái về tư tưởng và cái chết về đạo đức sớm muộn cũng sẽ dẫn đến cái chết về chính trị. Bởi vậy, người có đạo đức “thà chết trong hơn sống nhục”, ngọc có thể nát nhưng gương sáng đạo đức phải lành(2).
Một là, đạo đức cách mạng là căn cốt trong xây dựng Đảng về đạo đức
Đây là một sáng tạo đặc sắc của Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, bổ sung vào lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng một đảng vô sản kiểu mới, cùng với các phương diện khác như xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đó thực sự là một trong bốn trụ cột làm nên sự bền vững và trường tồn của Đảng.
Hồ Chí Minh coi đạo đức là cái gốc, là nền tảng của người cách mạng. Người nhấn mạnh rằng, như cây phải có rễ, sông suối phải có nguồn, người cách mạng phải lấy đạo đức cách mạng làm cơ sở để hoàn thành sự nghiệp cách mạng vô cùng khó khăn và gian khổ, bởi lẽ, “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(3). Người luôn chú trọng xây dựng và củng cố Đảng về tổ chức, cùng với việc giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Người mong muốn đội ngũ này có đủ tài năng và phẩm chất đạo đức để Đảng vượt qua mọi hoàn cảnh và thử thách khó khăn để trở thành tổ chức cách mạng tiêu biểu nhất, đại diện cho trí tuệ, đạo đức, bản lĩnh, lương tâm, trách nhiệm và danh dự của dân tộc, hoàn thành mọi nhiệm vụ được Tổ quốc và nhân dân giao phó.
Theo Hồ Chí Minh, đạo đức không chỉ tạo ra sức mạnh và là yếu tố quyết định cho sự thành công của mọi công việc mà còn thể hiện phẩm chất và uy tín của mỗi người. Đạo đức giúp người cách mạng kiên định trong mọi hoàn cảnh. Khi có đạo đức cách mạng, con người sẽ không sợ hãi, e ngại hay nao núng trước khó khăn, gian khổ, thất bại; và vẫn khiêm tốn, nhún nhường, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không vội vàng, không tham nhũng, không hủ hóa khi gặp thuận lợi và thành công. Đây chính là đạo đức cách mạng, đạo đức mới, xuất phát từ lợi ích chung của Đảng, của dân tộc và của nhân loại.
Hồ Chí Minh cho rằng, xây dựng Đảng về đạo đức trước hết được bằng giáo dục những phẩm chất tốt đẹp của người cán bộ, đảng viên, bởi theo Người “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán hai chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”(4). Những người cộng sản phải là những người trung với nước, hiếu với dân, là “quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng”, là “tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân”, là “tận trung, tận hiếu” đây là “điều chủ chốt nhất”, người đảng viên cộng sản phải yêu thương con người, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Điều này được Người so như bốn mùa của Trời, bốn phương của Đất, đủ thấy nó quan trọng như thế nào đối với người cách mạng. Đặc biệt, Hồ Chí Minh yêu cầu người cán bộ cách mạng phải có tinh thần quốc tế trong sáng, đó là tinh thần đoàn kết vô sản, đoàn kết với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước, với nhân dân thế giới vì hòa bình, công lý và tiến bộ xã hội.
Hai là, xây dựng đạo đức người đảng viên suốt đời tận trung với nước, tận hiếu với dân
“Trung với nước” là trung thành với lợi ích của đất nước và lợi ích chung của nhân dân. Lợi ích của đất nước chính là độc lập, tự do của Tổ quốc và cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Đất nước trong tư tưởng Hồ Chí Minh là đất nước của nhân dân, đất nước của cả dân tộc, mọi người đều là “chủ nhân” của đất nước. Hồ Chí Minh khẳng định, mỗi người Việt Nam, dù ít hay nhiều, đều có lòng yêu nước, vì vậy “trung với nước” là đạo đức chung của mọi tầng lớp xã hội và mọi cá nhân. Trung với nước còn có nghĩa là trung thành với Đảng, nghĩa là cán bộ, đảng viên phải suốt đời theo đuổi mục tiêu, lý tưởng của Đảng và phấn đấu vì sự nghiệp cách mạng, bởi lẽ “Ngoài lợi ích của nhân dân, Đảng không có lợi ích nào khác”(5). Trung với Đảng chính là chấp hành triệt để đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, hăng hái thi đua yêu nước, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống.
“Hiếu với dân” có nghĩa là tôn trọng, tin tưởng vào dân, lắng nghe ý kiến của dân, gần gũi và hòa nhập với dân, yêu thương và quan tâm đến lợi ích của nhân dân, và tận tâm phục vụ nhân dân. Người từng nói: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân... Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”(6). Người thường dùng từ “đồng bào” để nói về người dân Việt Nam; đối với Người, “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”(7) và “hiếu với dân” là kính dân, yêu dân, chăm lo lợi ích cho dân. Vì thế, Người đã sử dụng từ “hiếu” trong mối quan hệ với nhân dân để làm nổi bật chiều sâu của nguồn cội, sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại, tình yêu quê hương, gia đình và sự bình đẳng không phân biệt.
Phạm vi, đối tượng của chữ “hiếu” trong tư tưởng Hồ Chí Minh được mở rộng nhưng cũng rất thực tế. Chữ “hiếu” có địa vị cao nhất trong các gia đình nhỏ, và chữ “hiếu” cũng có địa vị cao nhất trong các gia đình lớn. Người nói: “Người kiên quyết cách mạng nhất lại là người đa tình, chí hiếu nhất. Vì sao? Nếu không làm cách mạng thì chẳng những bố mẹ mình mà hàng chục triệu bố mẹ người khác cũng bị đế quốc phong kiến giày vò. Mình không những cứu bố mẹ mình mà còn cứu bố mẹ người khác, bố mẹ của cả nước nữa... Chữ tình, chữ hiếu, cũng phải hiểu một cách rộng và hiểu như thế mới là đúng”(😎. “Hiếu với dân” trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn thể hiện lòng biết ơn đối với đất nước, đối với các thế hệ cha ông đã hy sinh xương máu cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Người căn dặn: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”(9).
Trong mối quan hệ giữa nước và dân, sức mạnh của quốc gia nằm ở nhân dân, nước và dân luôn gắn kết chặt chẽ. “Trung với nước” có nghĩa là đạt được những mục tiêu mang lại lợi ích cho toàn dân tộc; “hiếu với dân” được thực hiện trong mối quan hệ với các nhóm chủ thể là nhân dân (giai cấp, tầng lớp, cộng đồng, tập thể, cá nhân) và mục tiêu chính là đạt được lợi ích cho quốc gia, dân tộc. “Trung với nước” được thể hiện qua việc “hiếu với dân”, và “hiếu với dân” cũng là cách để thực hiện “trung với nước”.
Đối với Người, “trung với nước, hiếu với dân” còn là “yêu nước, thương dân”. Lòng yêu nước, tình yêu nhân dân thể hiện qua tinh thần hăng hái thực hiện mục tiêu phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân bằng những hành động cụ thể. Người bày tỏ: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(10) và đã phụng sự nhân dân thì phải cố gắng làm tất cả những việc tốt đẹp nhất mang lại lợi ích cho nhân dân: “Đã phụng sự nhân dân, thì phải phụng sự cho ra trò. Nghĩa là việc gì lợi cho dân, thì phải làm cho kỳ được. Việc gì hại cho dân, thì phải hết sức tránh”(11).
Theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, “trung với nước, hiếu với dân” được thể hiện trong mọi công việc của Đảng cũng như trong từng suy nghĩ và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân. Mặc dù mục tiêu và nhiệm vụ của mỗi giai đoạn cách mạng có thể khác nhau, song yêu cầu về lòng trung và hiếu vẫn luôn nhất quán, trở thành chuẩn mực chung để mọi người học hỏi và rèn luyện. Đây là tinh thần yêu nước, niềm tự hào về truyền thống dân tộc; là trách nhiệm với xã hội và sự nghiệp đấu tranh của Đảng và dân tộc; là ý chí vượt qua khó khăn và sẵn sàng hy sinh vì mục tiêu chung của cách mạng; là sự tin tưởng, yêu thương và tôn trọng nhân dân. Trong quá trình xây dựng Đảng và lãnh đạo cách mạng, Người luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của lòng trung và hiếu ở mỗi người dân, đặc biệt là đối với cán bộ, đảng viên.
Ba là, luôn đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lên vị trí ưu tiên hàng đầu
Bản chất của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức cách mạng trong cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH ở Việt Nam. Đối với đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, điều quan trọng nhất là luôn đặt lợi ích của Đảng lên trên hết trong mọi hoàn cảnh. Theo Hồ Chí Minh, đó là một loại đạo đức lấy “vì dân” và “vì mọi người” làm trung tâm. Trong bài “Đạo đức cách mạng” đăng trên Tạp chí Học tập số 12 (tháng 12-1958), Người khẳng định, “tính đảng” trong mỗi cán bộ, đảng viên là vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng “phải đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết, lên trước hết. Vì lợi ích của Đảng tức là lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc”(12). Người đảng viên thật sự có đạo đức thì sẽ luôn cố gắng học tập, nâng cao trình độ, rèn luyện năng lực để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.
Người từng nói: Phải dùng sức dân, trí tuệ của dân, của cải của dân để làm lợi cho dân, dựa vào sức dân và tinh thần dân tộc để mang lại hạnh phúc cho dân. Nhân dân là những người xây dựng và bảo vệ đất nước. Một đất nước không có con người thì không phải là một đất nước. Nước do dân xây dựng, nước do dân giữ, dân làm chủ nước. Mục đích suốt đời của Người là “phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân... Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân”(13).
Bốn là, xây dựng đạo đức mới, đạo đức cách mạng, kết hợp đạo đức truyền thống của dân tộc với tinh hoa đạo đức của nhân loại
Hồ Chí Minh là tấm gương đạo đức của một người cộng sản mẫu mực, trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp với tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam và chủ nghĩa quốc tế chân chính của giai cấp công nhân. Là tấm gương về phẩm chất của một người kiên định trong đấu tranh, dành trọn cuộc đời và sự nghiệp cho lý tưởng và mục tiêu giải phóng dân tộc, giai cấp công nhân, xã hội và con người.
Hồ Chí Minh được giáo dục theo Nho giáo từ nhỏ và bước đầu tiếp xúc với văn hóa phương Tây. Trong quá trình hoạt động cách mạng, Người không ngừng nghiên cứu, tìm hiểu và tiếp thu các nền văn hóa phương Đông và phương Tây, cả văn hóa hiện đại và văn hóa truyền thống. Người luôn học hỏi và đón nhận những giá trị tốt đẹp, tiến bộ từ các nền văn hóa khác nhau, coi bản thân mình là “học trò nhỏ” của các bậc tiền bối. Với thái độ khiêm nhường, Người luôn nỗ lực học hỏi và tiếp thu kiến thức của nhân loại, áp dụng vào thực tiễn của đất nước, kiên trì đấu tranh và phục vụ nhân dân.
Hồ Chí Minh là tấm gương trong việc giữ gìn và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam, biến chúng thành nội lực của đất nước, góp phần vào sự tiến bộ và phát triển của đất nước. Đó là truyền thống trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư cùng tinh thần quốc tế trong sáng. Đạo đức Hồ Chí Minh còn là sự kết tinh từ những tinh hoa đạo đức của nhân loại, chịu ảnh hưởng bởi những giá trị tốt đẹp của Phật giáo như tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn, yêu thương con người; sống đạo đức, trong sáng, giản dị và siêng năng làm việc thiện; khuyến khích lao động và từ bỏ lười biếng; tôn trọng tinh thần dân chủ, bình đẳng và không phân biệt đẳng cấp.
Người cũng tiếp thu những khía cạnh tích cực của Nho giáo như: dân là gốc của nước, dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh, và tư tưởng “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”… Người coi Nho giáo là một khoa học về kinh nghiệm đạo đức và hành vi ứng xử; tiếp thu và đánh giá cao những mặt tích cực, đồng thời phê phán những mặt tiêu cực của đạo đức Nho giáo.
Người đã tiếp xúc với văn hóa phương Tây từ sớm và tiếp thu những giá trị tích cực, tiến bộ của văn minh phương Tây trong quá trình tìm đường giải phóng dân tộc, như tinh thần tự do, bình đẳng, bác ái; các tư tưởng dân chủ, giá trị nhân văn, tư tưởng nhân quyền và dân quyền. Trong quá trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã có sự thay đổi sâu sắc về quan niệm đạo đức khi gặp được ánh sáng cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Người đã đóng góp vào việc hoàn thiện đạo đức truyền thống của dân tộc, chắt lọc tinh hoa đạo đức từ cả phương Đông và phương Tây để xây dựng một nền đạo đức mới cho đất nước. Sự kết hợp này đã tạo ra một sức mạnh tinh thần mạnh mẽ, cùng với sức mạnh vật chất, giúp dân tộc Việt Nam đạt được những thắng lợi vẻ vang.
Theo Hồ Chí Minh, đạo đức tư sản dựa trên chủ nghĩa cá nhân, sản sinh từ chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Hồ Chí Minh đã vạch trần tội ác của chủ nghĩa đế quốc: “Chúng cướp của chung do xã hội sản xuất ra, làm của riêng…, để chúng “ngồi mát ăn bát vàng”. Nhưng miệng chúng luôn luôn huênh hoang những từ “đạo đức”, “tự do”, “dân chủ”(14). Như vậy, bản chất của đạo đức giai cấp tư sản là chủ nghĩa cá nhân, trong khi đạo đức của giai cấp công nhân nhấn mạnh vai trò của chủ nghĩa tập thể và kiên quyết chống lại chủ nghĩa cá nhân; Người kêu gọi người dân Việt Nam thường xuyên thực hiện những công việc hàng ngày để xóa bỏ chủ nghĩa cá nhân và nâng cao đạo đức cách mạng.
2.2. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn xây dựng Đảng về đạo đức hiện nay
Hồ Chí Minh đã để lại một hệ thống quan điểm toàn diện về đạo đức cách mạng nói chung và xây dựng Đảng về đạo đức nói riêng, và bản thân Người là tấm gương sáng ngời về thực hành đạo đức cách mạng. Người nhấn mạnh rằng, đạo đức là nền tảng, gốc rễ của người cách mạng. Đạo đức cách mạng không chỉ là yếu tố cấu thành nền tảng tinh thần của xã hội mà còn là yêu cầu cốt lõi để mỗi cán bộ, đảng viên hoàn thành nhiệm vụ cách mạng. Người khẳng định: “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(15).
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn xác định xây dựng Đảng về đạo đức là một trong những nhiệm vụ quan trọng, luôn được chú trọng và đẩy mạnh trong suốt quá trình cách mạng. Việc này không chỉ nhằm nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên mà còn góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, tạo nền tảng vững chắc cho sự nghiệp cách mạng và phát triển đất nước.
Những năm vừa qua, Đảng ta đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong công tác xây dựng Đảng về đạo đức. Một là, qua việc triển khai các nghị quyết và học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên về đạo đức cách mạng được nâng cao rõ rệt. Nhiều cán bộ, đảng viên đã tự giác tu dưỡng, rèn luyện, không ngừng nỗ lực để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Hai là, niềm tin của nhân dân vào Đảng ngày càng được củng cố. Nhiều cán bộ, đảng viên đã trở thành tấm gương sáng về đạo đức, gương mẫu trong học tập, công tác, lao động sản xuất và chiến đấu, góp phần xây dựng hình ảnh đẹp về người cán bộ, đảng viên trong lòng nhân dân. Ba là, công tác xây dựng Đảng về đạo đức đã góp phần quan trọng trong việc ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Nhiều biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã được phát hiện và xử lý kịp thời, bảo đảm sự trong sạch, vững mạnh của Đảng.
Qua các kỳ đại hội, công tác xây dựng Đảng về đạo đức ngày càng được chú trọng. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI tập trung vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhận diện các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu tự phê bình và phê bình, nâng cao ý thức trách nhiệm, nêu gương đạo đức của cán bộ, đảng viên.
Đại hội XII của Đảng lần đầu tiên đưa công tác xây dựng Đảng về đạo đức ngang hàng với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức(16). Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII xác định 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Để khắc phục, Nghị quyết đã đề ra các giải pháp như tăng cường kỷ luật đảng, kiểm tra giám sát, phát huy vai trò nêu gương của lãnh đạo, đồng thời đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Đại hội XIII của Đảng một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ(17). Kết luận 21 của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII tiếp tục phát triển trên nền tảng các nghị quyết trước đó, bổ sung các giải pháp cụ thể hơn về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về đạo đức. Đặc biệt, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong nội bộ Đảng, tăng cường trách nhiệm giải trình của cán bộ, đảng viên, nhất là những người giữ chức vụ quan trọng.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác xây dựng Đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, nhằm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
Bên cạnh đó, nhiều chỉ thị, nghị quyết đã được ban hành nhằm đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Ngày 18-5-2021, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 01-KL/TW về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05 “về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Trên cơ sở đó, kết hợp với nhiệm vụ chính trị của địa phương và đơn vị theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp, các cấp ủy đảng và chính quyền đã ban hành các văn bản nhằm triển khai thực hiện Kết luận số 01. Các văn bản này xác định rõ nội dung công việc, phân công trách nhiệm cụ thể và thời gian hoàn thành, đồng thời đề cao vai trò nêu gương của lãnh đạo cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, các cơ quan, đơn vị. Nhờ đó, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã được đẩy mạnh, trở thành nền nếp thường xuyên và thực chất hơn, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
Việc học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, áp dụng vào những công việc hàng ngày, gắn với chức trách, nhiệm vụ được giao đã giúp thấm nhuần tư tưởng, đạo đức và phong cách cách mạng, thúc đẩy hiệu quả từ học sang làm. Các cấp ủy đảng đã tập trung chỉ đạo xây dựng kế hoạch và cam kết tu dưỡng học tập, coi đây là tiêu chuẩn để đánh giá tổ chức đảng và đảng viên cuối năm. Các tỉnh ủy, thành ủy mở các đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, tăng cường kiểm tra, giám sát, nâng cao ý thức tự giác và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên.
Trong bối cảnh thế giới và trong nước có nhiều biến động, tác động mạnh mẽ đến đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng và an ninh, trong đó có vấn đề xây dựng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, ngày 9-5-2024, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 144-QĐ/TW về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới. Đây là lần đầu tiên Đảng ta ban hành một hệ thống chuẩn mực đạo đức cách mạng cụ thể cho cán bộ, đảng viên.
Quy định xác định 5 điều về chuẩn mực đạo đức cách mạng mà cán bộ, đảng viên cần tuân thủ trong giai đoạn mới: tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; gương mẫu về đạo đức, lối sống; chủ động đấu tranh với những biểu hiện suy thoái; tận tụy, trách nhiệm với công việc; đề cao tinh thần đoàn kết, kỷ luật, 19 tiêu chí để đánh giá việc thực hiện chuẩn mực. Quy định cũng xác định 5 mối quan hệ quan trọng được nhấn mạnh bao gồm quan hệ với Đảng, quan hệ với Nhà nước, quan hệ với nhân dân, quan hệ với đồng chí, đồng nghiệp, quan hệ với bản thân và gia đình; đồng thời chỉ ra các nghĩa vụ, trách nhiệm của đảng viên trong các mối quan hệ đó.
Để triển khai hiệu quả Quy định này, Ban Tuyên giáo Trung ương đã ban hành Hướng dẫn số 159-HD/BTGTW ngày 3-7-2024, đề ra các biện pháp cụ thể như: tuyên truyền, phổ biến sâu rộng nội dung Quy định 144-QĐ/TW; đưa nội dung Quy định vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát. Việc ban hành và thực hiện Quy định số 144-QĐ/TW về chuẩn mực đạo đức cách mạng thể hiện quyết tâm của Đảng trong việc nâng cao đạo đức cách mạng, tăng cường sự trong sạch, vững mạnh của tổ chức đảng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Đây là một bước tiến quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng và bảo đảm sự vững mạnh của Đảng.
3. Kết luận
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức cách mạng, với nội dung cốt lõi là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đạo đức là nền tảng của chính trị và là gốc rễ của người cách mạng. Đạo đức cách mạng bao gồm các phẩm chất trung với nước, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, và yêu thương con người, là sự kết hợp truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với tinh hoa đạo đức của nhân loại, đặc biệt là những giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin. Rèn luyện đạo đức đối với cán bộ, đảng viên là yêu cầu bắt buộc để giữ vững niềm tin của nhân dân và bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Xây dựng đạo đức của Đảng là nhiệm vụ của toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân, là trách nhiệm của toàn Đảng, bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác xây dựng Đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, nhằm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN VỮNG MẠNH TRONG KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh là yêu cầu khách quan, vấn đề hệ trọng, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh là nền tảng duy trì, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để đất nước phát triển phồn vinh, thịnh vượng càng trở nên đặc biệt quan trọng, đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị.

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân là nội dung bao trùm, cốt lõi trong hệ thống quan điểm, đường lối quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc của Đảng, được hình thành trên cơ sở kế thừa, phát triển truyền thống “dựng nước đi đôi với giữ nước”, kinh nghiệm, bài học quý báu về tinh thần “cả nước đồng lòng, toàn dân đánh giặc”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy” của dân tộc Việt Nam và sự vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân, chiến tranh nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nền quốc phòng chúng ta xây dựng là nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và ngày càng hiện đại, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước, do nhân dân làm chủ; được xây dựng trên cơ sở sức mạnh tổng hợp của cả nước, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm nâng cao sức mạnh quốc phòng, khả năng phòng thủ đất nước, bảo đảm đất nước có đủ sức mạnh cần thiết để ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, xung đột, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; sẵn sàng đánh bại chiến tranh xâm lược ở mọi loại hình, quy mô, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước.
Những năm qua, Quân đội nhân dân Việt Nam đã phát huy tốt vai trò nòng cốt, tham mưu với Đảng, Nhà nước xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, pháp luật về quân sự, quốc phòng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Vì vậy, nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân trên từng địa bàn và cả nước, nhất là trên địa bàn chiến lược, trọng điểm ngày càng vững chắc, đi vào chiều sâu. Xây dựng phòng thủ quân khu và khu vực phòng thủ các cấp tiếp tục đạt kết quả tích cực. Toàn quân luôn sẵn sàng chiến đấu cao nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; phối hợp chặt chẽ với Công an nhân dân và các lực lượng xử lý kịp thời, hiệu quả tình huống quốc phòng, an ninh, không để bị động, bất ngờ về chiến lược; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Thành tựu đạt được trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân đã khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước, nỗ lực và quyết tâm chính trị rất cao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta; tạo nên thế và lực mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng để đất nước đạt được những “thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử”, “chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(1).
Những năm tới, dự báo tình hình thế giới tiếp tục diễn biến nhanh chóng, rất phức tạp. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đứng trước nhiều thách thức gay gắt hơn. Cục diện thế giới đa cực, đa trung tâm, cạnh tranh giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, toàn diện; chạy đua vũ trang, liên kết quân sự, xung đột cục bộ, chiến tranh ủy nhiệm gia tăng. Thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là thành tựu khoa học - công nghệ quân sự, ứng dụng trí tuệ nhân tạo... tiếp tục tác động sâu sắc đến tất cả lĩnh vực, với sự xuất hiện của nhiều hình thái chiến tranh, phương thức, thủ đoạn tác chiến mới cả trong lĩnh vực truyền thống và phi truyền thống, đe dọa hòa bình, ổn định và an ninh toàn cầu. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương có vị trí ngày càng quan trọng, là khu vực cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc, tiềm ẩn nhiều bất ổn.
Đối với nước ta, sau gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên, là nền tảng quan trọng để tiếp tục xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn”(2); các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng sự việc, vấn đề nhạy cảm để chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội với nhiều thủ đoạn tinh vi, thâm độc…
Bối cảnh, tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, tiếp tục đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới, nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới; đòi hỏi không ngừng gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và những thành tựu đã đạt được, đưa đất nước ta phát triển nhanh và bền vững hơn. Theo đó, cần thực hiện tốt một số vấn đề chủ yếu sau:
Một là, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội và toàn dân đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc.
Đây là nội dung đặc biệt quan trọng, nhằm thống nhất về nhận thức, hành động, phát huy sức mạnh tổng hợp trong tổ chức xây dựng nền quốc phòng toàn dân; đồng thời, là biện pháp trực tiếp xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần của nền quốc phòng toàn dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Theo đó, các ban, bộ, ngành, địa phương cần tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, vận động nhân dân, giáo dục quốc phòng và an ninh, để toàn dân, trước hết là cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên thấm nhuần sâu sắc truyền thống dựng nước, giữ nước của dân tộc; nhận thức đúng đắn quan điểm, đường lối quân sự, quốc phòng, chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân của Đảng, cùng khó khăn, thách thức và yêu cầu mới đặt ra. Về nhận thức, phải thấu suốt quan điểm: xây dựng nền quốc phòng toàn dân là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, yêu cầu khách quan, vừa mang tính cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài; là nền tảng, phương thức tối ưu để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đây là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang làm nòng cốt.
Trong bối cảnh hiện nay, công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục cần được tích cực đổi mới về hình thức, phương pháp và nâng cao chất lượng nội dung. Tăng cường thông tin, tuyên truyền, giáo dục, phổ biến để các đối tượng liên quan nhận thức sâu sắc, đầy đủ về tình hình thế giới, khu vực, quan điểm, đường lối, nhiệm vụ của cách mạng, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; về vấn đề phức tạp, nhạy cảm; về đối tác, đối tượng, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Đặc biệt, kịp thời thông tin làm rõ thời cơ, vận hội, thách thức trong kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; đẩy mạnh quán triệt, tuyên truyền tư tưởng chỉ đạo, định hướng, quyết sách lớn, quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước để khơi dậy niềm tự hào, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tạo xung lực mới, khí thế mới, tinh thần phấn khởi, đoàn kết, đồng thuận xã hội cao…, huy động sức mạnh tổng hợp trong thực hiện nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.
Tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, cuộc vận động toàn dân tham gia bảo vệ Tổ quốc, phát huy vai trò, tính tích cực, chủ động của mọi tầng lớp nhân dân, tạo đột phá xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ. Đồng thời, chủ động phát hiện, kiên quyết đấu tranh với luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch chống phá đường lối quốc phòng toàn dân, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; các biểu hiện hình thức, thỏa mãn dừng lại, lơ là chủ quan, mất cảnh giác trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân; tư tưởng phiến diện, tuyệt đối hóa kinh tế, xem nhẹ quốc phòng, an ninh, cho rằng quốc phòng, an ninh là công việc, nhiệm vụ của lực lượng chuyên trách.
Hai là, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp quốc phòng và xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh.
Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Nghị quyết số 44-NQ/TW, ngày 14-11-2023, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII, về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030… và các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, quân sự, an ninh, và vận dụng vào thực tiễn từng bộ, ngành, địa phương. Trong đó, quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm quan điểm, đường lối, mục tiêu, yêu cầu, nội dung, giải pháp xây dựng nền quốc phòng toàn dân của Đảng; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tạo bước đột phá trong xây dựng khu vực phòng thủ, nhất là xây dựng cơ sở chính trị - pháp lý, tiềm lực kinh tế, thế trận quân sự trên địa bàn chiến lược, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, khu kinh tế trọng điểm.
Hiện nay, Đảng, Nhà nước đang quyết liệt chỉ đạo thực hiện đột phá xây dựng, hoàn thiện thể chế, tháo gỡ nút thắt, điểm nghẽn, tạo động lực cho đất nước phát triển trong kỷ nguyên vươn mình với rất nhiều đổi mới. Đây vừa là cơ hội, vừa là yêu cầu, thách thức đặt ra, đòi hỏi tăng cường hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp quốc phòng. Theo đó, các bộ, ngành, trước hết là Bộ Quốc phòng cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn xây dựng nền quốc phòng toàn dân, làm cơ sở tham mưu hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp quốc phòng. Chú trọng thể chế hóa đầy đủ, đồng bộ quan điểm, đường lối của Đảng về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Hoàn thiện cơ chế, chính sách, nhằm tăng cường tiềm lực quốc phòng, nhất là các cơ chế, chính sách đặc biệt để xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân và “thế trận lòng dân” vững chắc. Thực hiện hiệu quả hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại.
Ba là, tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nền tảng xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, nền quốc phòng toàn dân vững mạnh.
Đây là nội dung rất quan trọng, không chỉ bảo đảm giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, mà còn phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo đảm thắng lợi của công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Sắp xếp tinh gọn và bảo đảm cho bộ máy trong hệ thống chính trị hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả là đòi hỏi tất yếu từ thực tiễn của đất nước, cũng là yêu cầu khách quan của xu thế thời đại. Đây là một cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tạo động lực đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Các ban, bộ, ngành, địa phương cần quán triệt sâu sắc tinh thần đó, triển khai thực hiện nghiêm túc, quyết liệt chủ trương, định hướng, mục tiêu, yêu cầu sắp xếp của Trung ương, Bộ Chính trị đã đề ra. Trong quá trình thực hiện, cần chú trọng gắn sắp xếp bộ máy với kiện toàn, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng; quan tâm cơ cấu, sắp xếp, kiện toàn tổ chức cơ quan quân sự ở ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương; đặc biệt, cần chủ động làm tốt việc lựa chọn nguồn cán bộ lực lượng vũ trang để tham gia cấp ủy và kiện toàn cấp ủy quân sự các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030, bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh.
Cùng với thực hiện hiệu quả cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy, cần tiếp tục củng cố, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong đó, trọng tâm là đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24-11-2023, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII, “Về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc” và các nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước về dân tộc, tôn giáo, chương trình, mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, hoàn thành mục tiêu xóa nhà tạm, nhà dột nát trên cả nước; chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội để “không ai bị bỏ lại phía sau”. Qua đó, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; tăng cường mối quan hệ đoàn kết, gắn bó máu thịt quân - dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, nhất là trên địa bàn chiến lược, trọng điểm, vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, tạo nền tảng xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh.
Bốn là, đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ, đối ngoại gắn với củng cố, tăng cường tiềm lực, thế trận quốc phòng toàn dân.
Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững gắn với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, năng lượng, công nghệ thông tin, chuyển đổi số của nền quốc phòng toàn dân ngay từ trong quy hoạch, kế hoạch phát triển ở các cấp, ngành, lĩnh vực, bảo đảm “mỗi bước tăng trưởng về kinh tế - xã hội là một bước củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh”. Quán triệt sâu sắc, thực hiện đồng bộ, hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”. Chủ động rà soát, điều chỉnh phân vùng chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội gắn với quy hoạch tổng thể bố trí quốc phòng, hậu phương chiến lược, quy hoạch thế trận quân sự khu vực phòng thủ..., kiên quyết không phát triển kinh tế bằng mọi giá.
Xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, gắn kết chặt chẽ và trở thành một mũi nhọn của công nghiệp quốc gia, nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại để bảo vệ đất nước; tham gia tích cực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân trong bảo vệ Tổ quốc. Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả khu kinh tế - quốc phòng phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội trên các hướng chiến lược, địa bàn trọng điểm, biên giới, biển, đảo, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh từ nơi “phên giậu” Tổ quốc. Tiếp tục thực hiện Kết luận số 64-KL/TW, ngày 30-10-2019, của Bộ Chính trị, về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW về tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới; Chỉ thị số 07-CT/TW, ngày 3-10-2011, của Ban Bí thư và Nghị định số 21/2019/NĐ-CP, ngày 22-2-2019, của Chính phủ, Về khu vực phòng thủ; chủ động cân đối, phân bổ hợp lý nguồn lực bảo đảm xây dựng tiềm lực, thế trận khu vực phòng thủ, phòng thủ dân sự ngày càng vững chắc, sẵn sàng cho tình huống quốc phòng, an ninh.
Cùng với đó, tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng theo phương châm “tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả”, góp phần nâng cao uy tín, vị thế của đất nước và Quân đội trên trường quốc tế, chủ động bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Năm là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; trong bất cứ hoàn cảnh nào, Quân đội phải luôn giữ vững định hướng chính trị, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.
Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, làm nòng cốt trong sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17-1-2022, của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 230-NQ/QUTW, ngày 2-4-2022, của Quân ủy Trung ương, Về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo; định hướng của Ban Chỉ đạo tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII, “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”.
Tiếp tục đột phá đổi mới, nâng cao chất lượng công tác huấn luyện, diễn tập, giáo dục, đào tạo, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”. Tăng cường thu hút, trọng dụng nhân tài, bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao cho Quân đội, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tập trung nghiên cứu, phát triển, ứng dụng khoa học quân sự, thành tựu của khoa học, công nghệ và thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào phát triển lý luận về quốc phòng, nghệ thuật quân sự Việt Nam, nghệ thuật chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Chủ động làm tốt công tác nghiên cứu, đánh giá, dự báo tình hình, nhất là ở tầm chiến lược, thường xuyên nêu cao cảnh giác, duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu. Phối hợp chặt chẽ với các lực lượng giữ vững an ninh, trật tự trên địa bàn cả nước; thực hiện hiệu quả Nghị định số 03/2019/NĐ-CP, ngày 5-9-2019, của Chính phủ, về phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và nhiệm vụ quốc phòng; kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước có chiến lược, sách lược linh hoạt, đúng đắn, phù hợp, chủ động ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, xử lý kịp thời, thắng lợi mọi tình huống quân sự, quốc phòng, không để bị động, bất ngờ. Tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc trên từng địa bàn và cả nước. Tích cực thực hiện công tác dân vận, tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, giúp nhân dân xóa đói, giảm nghèo, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, “thế trận lòng dân” vững chắc, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và Quân đội, tạo nền tảng để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên phát triển mới.
Quán triệt sâu sắc chủ trương chiến lược của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục đề cao trách nhiệm, phát huy kết quả, kinh nghiệm đã đạt được, quyết tâm vượt qua khó khăn, thách thức, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo nền tảng để xây dựng, phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC CHỦ TRƯƠNG SẮP XẾP TINH GỌN TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

Quan điểm “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” đã trở thành kim chỉ nam quan trọng cho việc xây dựng một bộ máy nhà nước tinh gọn, phù hợp yêu cầu phát triển của thời đại.

Tăng cường cảnh giác, đấu tranh, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch phản động về chủ trương sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy tại Việt Nam.
Với phương châm “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”, chủ trương sắp xếp tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương được triển khai mạnh mẽ nhằm nâng cao hiệu suất hoạt động của bộ máy, giảm chồng chéo, tiết kiệm ngân sách, nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân, tạo tiền đề đưa đất nước Việt Nam vững bước tiến vào kỷ nguyên vươn mình, phát triển giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng.
Thực tiễn cho thấy, việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng và Nhà nước ta với mục đích rõ ràng. Quan điểm “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” đã trở thành kim chỉ nam quan trọng cho việc xây dựng một bộ máy nhà nước tinh gọn, phù hợp yêu cầu phát triển của thời đại. Đây không chỉ là một định hướng cải cách hành chính, mà còn là trọng điểm chiến lược để tạo dựng một hệ thống quản lý nhà nước khoa học, minh bạch, tập trung vào giá trị thực chất nhằm tạo nền tảng vững chắc cho việc giải phóng, phát triển lực lượng sản xuất xã hội, tăng cường sức sống cho hệ thống quản lý điều hành đất nước. Đó là nguyên tắc quan trọng và cũng là điều kiện tiền đề cho việc phát triển hơn nữa lao động, tri thức, kỹ thuật, công nghệ, nguồn vốn để không ngừng tạo ra của cải phục vụ xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân.
Tuy nhiên, thời gian qua, các thế lực thù địch phản động đã lợi dụng chủ trương này để xuyên tạc, kích động dư luận gây hoang mang trong xã hội. Họ cố tình bóp méo sự thật, cho rằng việc tinh gọn bộ máy là giảm biên chế vô tội vạ, chỉ là “trò mị dân”, nhằm “thanh trừng nội bộ”, “tập trung phe cánh, quyền lực”... Những luận điệu này không chỉ gây nhiễu loạn thông tin mà còn ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.
TS Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội cho rằng, việc đưa tin như vậy không quá nguy hiểm, bởi vì sự chống đối, sự bôi nhọ quá lộ liễu. Bây giờ muốn hiệu quả thì không thể không tinh gọn bộ máy vì chi trả lương cho bộ máy đã hết 70% ngân sách rồi thì làm gì còn tiền đầu tư cho y tế, giáo dục, để nâng cao đời sống; còn tiền đâu để đầu tư cho phát triển lâu dài, cho cơ sở hạ tầng, cơ sở hạ tầng số… Do vậy, không tinh giản thì làm sao phát triển được.
Bên cạnh đó, tinh giản đối với Việt Nam còn quan trọng ở chỗ, nó tháo gỡ điểm nghẽn thể chế. Bởi vì bây giờ một việc mà 2 - 3 nơi làm, 3 - 4 cấp trung gian thì làm sao nó không nghẽn, vì nghẽn như vậy nên làm sao phát triển nhanh được. Thành thử, tinh gọn là rất quan trọng.
Thêm nữa, lương trả cho nhiều người nhưng trả thấp như vậy thì chống tham nhũng thế nào? Phải tinh giản để trả lương xứng đáng cho những người làm, người ta có danh dự vì việc họ làm, người ta có danh dự vì đồng lương đó xứng đáng nuôi họ chứ không phải là lương không đủ sống người ta dựa vào vị thế, quyền năng để kiếm tiền. Tinh giản là việc sống còn của đất nước, đó là việc không thể thiếu để nâng cao quản trị quốc gia. Vì vậy, nói chống lại nó là một thứ rất vớ vẩn.
Bày tỏ quan điểm trước những luận điệu của các phần tử phản động cho rằng, Việt Nam sẽ không có đủ nguồn lực để thực hiện thành công cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy, xã hội có thể bị rối loạn với số lượng lao động dôi dư sau tinh giản, TS Nguyễn Sĩ Dũng cho rằng, điều mà họ nêu ra, chúng ta cần phải bình tĩnh để giải quyết. Mỗi thứ đều có hai mặt, đều tạo cơ hội nhưng cũng có thể tạo ra thách thức. Vấn đề chính là chúng ta phải chấp nhận những thách thức đó để thúc đẩy cải cách.
Tôi nghe Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Hòa Bình nói là khoảng 100.000 người sẽ phải rời lĩnh vực công. Công việc cho 100.000 người đó là một vấn đề rất lớn, nhưng Chính phủ, Quốc hội đã nghĩ đến vấn đề an sinh của họ, rồi chế độ chính sách, điều kiện để tìm kiếm việc làm mới như thế nào, thời gian để chuyển đổi ra sao, trợ cấp thế nào…
Hơn thế nữa, Tổng Bí thư cũng như Thủ tướng Chính phủ nói, năm nay tăng trưởng thúc đẩy 8%, từ năm sau cố gắng hai con số. Kinh tế thúc đẩy có nghĩa là gì? Đó chính là vấn đề giải quyết việc làm. Thành thử, chính sách ở đây là đồng bộ, chứ không phải chỉ một chuyện tinh giản, nó đi theo cả một chiến lược phát triển kinh tế.
PGS.TS Lê Văn Cường, Phó Viện trưởng Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy sẽ có người phải hy sinh quyền lợi cá nhân. Ví dụ như đang ở cấp trưởng, giờ hai ban dồn một thì đương nhiên là chỉ có một người làm trưởng thôi, thế thì có tâm tư không? Khẳng định là cũng có. Thế nhưng mà người ta vượt qua được cái tâm tư ấy, như Bác Hồ nói: Việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh. Chính vì vậy, cho dù có chút tâm tư thì đó cũng là suy nghĩ của một con người bình thường.
Song, đây không phải là thanh trừng nội bộ, đấu đá phe phái. Chúng ta cần nhận thức như vậy để tránh bị các thế lực lợi dụng phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân.
Theo PGS,TS Nguyễn Văn Sáu, Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự, việc sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo phương châm “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” đã và đang nhận được sự đồng tình ủng hộ của cả hệ thống chính trị và toàn dân. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị không từ mọi thủ đoạn xuyên tạc về cuộc cách mạng này. Do đó, việc đấu tranh bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, sai trái, bịa đặt, bóp méo của các thế lực thù địch là một yêu cầu quan trọng trong giai đoạn hiện nay.
Thực hiện chủ trương của Đảng, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong việc đổi mới, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Việc tinh giản biên chế và giảm bớt các đầu mối, tầng nấc trung gian đã đem lại hiệu quả rõ rệt. Chỉ riêng đối với Bộ Công an, từ năm 2018 đến nay, qua hai lần kiện toàn tổ chức bộ máy, Bộ Công an đã giảm 07 tổng cục và tương đương, 55 đơn vị cấp cục, 07 trường Công an nhân dân, 20 sở Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy cấp tỉnh, gần 1.200 đơn vị cấp phòng, trên 3.500 đơn vị cấp đội. Sau sắp xếp, kiện toàn bộ máy, Bộ Công an vẫn hoạt động hiệu quả, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự với nhiều dấu ấn nổi bật, đóng góp rất quan trọng vào những thành tựu, kết quả chung của đất nước.

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CUỘC CÁCH MẠNG VỀ SẮP XẾP, TINH GỌN BỘ MÁY

Gần đây, trên trang mạng Vietnamthoibao có bài viết của tác giả Nguyễn Đình Ấm với tựa đề: “Những con đường để biên chế liên tục phình to”. Cần khẳng định rằng đây là bài viết chứa đựng những nội dung mang tính chất xét lại, vô căn cứ, phủ nhận gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng tiêu cực đến lòng tin của Nhân dân, cố tình bóp méo, xuyên tạc, đi ngược lại với chủ trương, đường lối của Đảng ta hiện nay. Thực chất đây là những luận điệu không mới. Bởi trước đó các thế lực thù địch như tổ chức phản động Việt Tân, đài Châu Á tự do, RFI, Việt Nam thời báo liên tục đưa ra các luận điệu xuyên tạc về cuộc cách mạng tinh gọn hệ thống chính trị ở Việt Nam. Tuy nhiên, chiêu trò trên thâm độc, nguy hiểm ở chỗ chúng xuất hiện với tần xuất ngày càng nhiều vào đúng thời điểm Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết liệt triển khai, thực hiện chủ trương tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, nhằm chuẩn bị tốt về mọi mặt tổ chức đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng trong năm 2025 và đầu năm 2026. Do vậy, mỗi chúng ta cần nêu cao tinh thần cảnh giác trước các luồng thông tin xấu độc này, tuyệt đối không mơ hồ, nhầm tưởng đó là những thông tin mang tính phản biện xã hộị. Vì những lý do sau:

Một là, việc tinh gọn tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị luôn được Đảng ta đặc biệt quan tâm
Từ khi khởi xướng công cuộc đổi mới (Đại hội VI năm 1986 đến nay, qua nhiều kỳ đại hội, nhất là trong các đại hội gần đây (Đại hội Đảng lần thứ IX, XII, XIII) đều nhấn mạnh nhiệm vụ về tinh gọn tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị của Đảng, Nhà nước ta. Điển hình như tháng 4/2015 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết chuyên đề số 39-NQ/TW “về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ công chức, viên chức” với mục tiêu đến năm 2021 tinh giản tối thiểu 10% biên chế. Kết quả, chúng ta đã tinh giản được 11,67% biên chế trong giai đoạn này, vượt chỉ tiêu đề ra. Đặc biệt, Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” đã nêu bật các nhiệm vụ cụ thể, đồng thời là bước ngoặt và được ví như cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở nước ta.
Hai là, những kết quả quan trọng, bước đầu trong thực hiện Nghị quyết 18 đã tạo chuyển biến tích cực trong đổi mới, sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị là minh chứng cho quyết tâm chính trị của Đảng
Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII, Đảng ta khẳng định: Qua 7 năm thực hiện Nghị quyết số 18, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị được sắp xếp đồng bộ, tinh gọn, giảm số lượng đầu mối bên trong, từng bước hoàn thiện mô hình tổng thể tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các cơ quan, đơn vị, tổ chức được rà soát, điều chỉnh, bổ sung rõ ràng hơn.
Ở Trung ương: Từ tháng 10/2017 đến tháng 10/2024 đã giảm 3 ban chỉ đạo; 1 đảng uỷ trực thuộc Trung ương; 17 tổng cục và tương đương; 84 cục, vụ và tương đương thuộc bộ, ban, ngành Trung ương. Khối Đảng, đoàn thể: Giảm 4 cơ quan đảng Trung ương; 25 ban cán sự đảng, 16 đảng đoàn trực thuộc Trung ương; giảm 119 đầu mối cấp vụ của cơ quan, ban đảng, đơn vị sự nghiệp của Đảng, cơ quan Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội. Khối Quốc hội: Giảm 5 cơ quan của Quốc hội; 13 đầu mối cấp vụ, đơn vị. Khối Chính phủ: Giảm 5 bộ, cơ quan ngang bộ; 3 cơ quan thuộc Chính phủ; 13/13 tổng cục và tổ chức tương đương (100%); 519 cục và tổ chức tương đương; 219 vụ và tổ chức tương đương…
Ở địa phương: Khối Đảng, đoàn thể địa phương: Giảm 1.442 đầu mối cấp phòng. Khối chính quyền địa phương: Giảm 4.633 đầu mối cấp phòng; 7.434 đơn vị sự nghiệp công lập. Giai đoạn 2019 - 2021: Cả nước đã sắp xếp 21 đơn vị hành chính cấp huyện, 1.056 đơn vị hành chính cấp xã tại 45 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Kết quả giảm 8 đơn vị hành chính cấp huyện, 561 đơn vị hành chính cấp xã. Về biên chế: Tính đến ngày 30/6/2021, cả hệ thống chính trị có 2.858.241 biên chế, giảm 720.360 biên chế so với năm 2015 (20,13%)... Đạt được những kết quả trên do nhiều nguyên nhân, nhưng bao trùm là sự quyết tâm cao, sự nỗ lực phấn đấu, chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.
Như vậy, có thể thấy rằng: Chủ trương về tinh gọn bộ máy đã và đang được Đảng ta quyết liệt thực hiện trước thềm Đại hội XIV, là một bước chuyển quan trọng để đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên vươn mình trong thời đại mới. Tinh gọn bộ máy là yêu cầu thực tiễn đòi hỏi sự nỗ lực của các cơ quan, ban, ngành, từ Trung ương đến địa phương và của mỗi cán bộ, đảng viên. Đồng thời, đây còn là minh chứng thuyết phục nhất để phản bác lại các luận điệu vô căn cứ, mang tính chất xét lại, xuyên tạc, phủ nhận công lao to lớn về cuộc cách mạng sắp xếp, tinh gọn bộ máy trong hệ thống chính trị của Đảng ta.

ĐẢM BẢO TÍNH HIỆU QUẢ VÀ GẦN DÂN

Tổng Bí thư Tô Lâm đã có nhiều chỉ đạo quan trọng đối với các địa phương trong việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy theo Nghị quyết 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII. Các chỉ đạo này tập trung vào nhiều khía cạnh, trong đó Tổng Bí thư nhấn mạnh tính hiệu quả và gần dân sau khi sắp xếp sáp nhập hình thành các cơ quan, đơn vị mới.

Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu các địa phương triển khai thực hiện việc tinh gọn bộ máy một cách quyết liệt, bài bản và khoa học, theo đúng định hướng của Trung ương. Ông đề cao tinh thần "vừa chạy, vừa xếp hàng", "Trung ương làm gương, địa phương hưởng ứng", nhấn mạnh sự quan tâm, chỉ đạo sát sao, quyết liệt từ Trung ương giúp quá trình thực hiện khẩn trương, tích cực, nghiêm túc. Các địa phương cần chủ động, tích cực triển khai, rà soát, sắp xếp tổ chức bên trong, nghiên cứu và đề xuất phương án tinh gọn, kết thúc hoạt động, sáp nhập, hợp nhất các cơ quan đồng bộ theo chỉ đạo của Trung ương.
Theo chỉ đạo của Tổng Bí thư, việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy cần bảo đảm tính hiệu quả, hiệu lực, đồng thời phải gần gũi với người dân, tạo niềm tin trong nhân dân. Mục tiêu cuối cùng là giảm chi thường xuyên, giảm chi lương để tập trung nguồn lực cho đầu tư phát triển và an sinh xã hội. Việc tinh giản ở cơ sở cần căn cứ vào đặc thù từng ngành, lĩnh vực, tránh tinh giản cơ học.
Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ một trong những thách thức lớn nhất là sắp xếp lại đội ngũ cán bộ dôi dư. Ông yêu cầu phải áp dụng chính sách hỗ trợ phù hợp, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của cán bộ, sắp xếp lại một cách khoa học, đồng thời có chính sách vận động, tạo điều kiện cho những cán bộ sắp nghỉ hưu hoặc chuyển đổi công việc.
Sau khi thực hiện sắp xếp, tinh gọn bộ máy theo Nghị quyết 18-NQ/TW, cần tiếp tục thực hiện các công việc sau để đảm bảo hoạt động hiệu quả và ổn định:
Cần rà soát và cập nhật hệ thống văn bản pháp luật để phù hợp với mô hình mới của tổ chức bộ máy. Việc này bao gồm sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị được sắp xếp, tinh gọn. Cần thiết lập các quy chế làm việc cụ thể để định rõ trách nhiệm và quyền hạn của từng cơ quan, đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị.
Cần thực hiện các cuộc điều tra, khảo sát để đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy sau khi sắp xếp. Phân tích các số liệu liên quan đến hiệu suất công việc, sự hài lòng của nhân dân về dịch vụ hành chính. Định kỳ tổng hợp và báo cáo kết quả hoạt động của bộ máy tổ chức với cấp trên để có những điều chỉnh kịp thời nếu cần thiết.
Sau khi sắp xếp, đội ngũ cán bộ có thể cần phải được đào tạo nâng cao năng lực, chuyên môn để đáp ứng yêu cầu công việc mới. Các địa phương cần tổ chức các khóa bồi dưỡng, tập huấn phù hợp. Cần có chính sách hỗ trợ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nâng cao năng lực thông qua việc tài trợ cho các khóa học, chương trình nâng cao trình độ.
Tăng cường kiểm tra, giám sát, cần thiết lập hệ thống kiểm tra, giám sát độc lập để theo dõi hiệu quả hoạt động của bộ máy sau khi sắp xếp. Điều này bao gồm cả việc lấy ý kiến phản hồi từ người dân về sự phục vụ của các cơ quan nhà nước. Định kỳ yêu cầu các đơn vị thành viên báo cáo về kết quả thực hiện nhiệm vụ và công tác cải cách hành chính, để phát hiện sớm các vấn đề phát sinh và điều chỉnh kịp thời.
Cải cách về bộ máy phục vụ nhân dân, cần đảm bảo rằng sự thay đổi trong bộ máy nhà nước thực sự phục vụ lợi ích của nhân dân và tạo thuận lợi cho các dịch vụ hành chính. Tích cực thu thập ý kiến phản hồi từ người dân về dịch vụ công, để từ đó đưa ra những cải tiến phù hợp.
Tạo sự ổn định và động lực phát triển, đảm bảo sự ổn định cho cán bộ, công chức trong bộ máy sau sắp xếp, tránh để xảy ra tình trạng thiếu động lực do sự thay đổi quá nhiều. Cần xây dựng kế hoạch phát triển dài hạn, trong đó tính toán sự phù hợp với giai đoạn tiếp theo sau khi đã tinh giản tổ chức bộ máy.
Tóm lại, sau khi sắp xếp tinh gọn bộ máy theo Nghị quyết 18, phải đảm bảo tính hiệu quả và gần dân, tạo niềm tin trong nhân dân. Cần tập trung vào việc hoàn thiện quy định pháp lý, đánh giá hiệu quả hoạt động, đào tạo đội ngũ cán bộ, kiểm tra giám sát, phát huy vai trò của người dân và duy trì sự ổn định để từ đó có thể xây dựng một bộ máy nhà nước hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn trong giai đoạn mới.

LẠI CHIÊU TRÒ “TUNG HỨNG” CỦA HAI KẺ “CÙNG HỘI, CÙNG THUYỀN”

Gần đây, trên trang Rfa của Đài Á Châu tự do (RFA) tán phát bài viết: Bộ Công an đưa BPSOS vào danh sách khủng bố sau Thượng đỉnh tự do tôn giáo quốc tế. Nội dung bài đăng tải quan điểm cá nhân chủ quan của Nguyễn Đình Thắng rằng: “Việc đưa BPSOS vào danh sách khủng bố, Bộ Công an Việt Nam đang hy vọng đe dọa những người dám lên tiếng tố cáo các hành động đàn áp ở trong nước với quốc tế”; “họ kỳ vọng người trong nước không dám liên lạc, không dám cung cấp thông tin về vi phạm để chúng tôi chuyển cho quốc tế”. Không còn lạ khi RFA đã câu kết cùng với kẻ phản động, cơ hội chính trị như Nguyễn Đình Thắng, Tổng Giám đốc kiêm Chủ tịch Ủy ban cứu người vượt biển (BPSOS) tiếp tục lợi dụng chiêu bài “tự do, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo” để xuyên tạc tình hình đất nước, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước trên trường quốc tế. Luận điệu trên thực chất chỉ là trò “tung hứng” của 2 kẻ “cùng hội cùng thuyền” RFA và BPSOS mà thôi!

Thứ nhất, Ủy ban cứu người vượt biển (BPSOS) do Nguyễn Đình Thắng cầm đầu là tổ chức phản động người Việt lưu vong chống phá Đảng, Nhà nước ta rất quyết liệt. Với vỏ bọc, núp bóng một tổ chức phi chính phủ cùng nhiều hoạt động xã hội, mục đích “từ thiện, trợ giúp người tị nạn” để tìm mọi cách phá hoại sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam. Lợi dụng con bài tự do dân chủ, tự do tôn giáo để nuôi dưỡng, dung túng cho những tổ chức phản động lưu vong, hỗ trợ, tài trợ những thành phần chống đối trong nước tìm cách tác động, xuyên tạc tình hình dân chủ, tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam hòng gây sức ép, hạ uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. Bên cạnh đó, chúng dùng chiêu trò hậu thuẫn, hà hơi tiếp sức biến các đối tượng, tổ chức phản động lưu vong trở thành những con rối gián tiếp thành công cụ kiếm tiền cho Nguyễn Đình Thắng để tiêu xài cá nhân. Chính BPSOS và Nguyễn Đình Thắng đã trực tiếp tổ chức, chỉ đạo tổ chức Người Thượng vì công lý (MSFJ) tiến hành tấn công khủng bố vô cùng dã man gây chết nhiều người tại Đắk Lắk ngày 11 tháng 6 năm 2023. Những kẻ gây ra tội ác “trời không dung đất không tha” đã bị trừng trị nghiêm khắc trước pháp luật, vậy mà BPSOS lớn tiếng phản đối kêu oan như họ là bị hại, còn RFA vẫn trắng trợn cổ xúy, khóc thuê cho những kẻ phản động, giết người vô nhân tính kia!?
Thứ hai, Đài Á châu tự do (RFA) là một trong số “cái loa rè”, tên “mõ làng” chính hiệu, luôn lớn miệng xuyên tạc về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Với lối làm truyền thông theo kiểu xuyên tạc sự thật, bịa đặt hoàn cảnh, phần lớn các nội dung của RFA hoàn toàn tập trung vào mục tiêu gây bất ổn định cho Việt Nam. Những chiêu bài mà RFA đặc biệt quan tâm khai thác tối đa là “tự do, dân chủ, tôn giáo”. Họ không xấu hổ, không ngại dựng chuyện, biến từ chuyện không có thật thành những chuyện như thật, sẵn sàng nói sai sự thật. Với thủ đoạn là thông tin một chiều, đăng bài, phỏng vấn những kẻ phản động trong và ngoài nước, đi từ bóp méo, thổi phồng, bôi đen đến xuyên tạc những sự thật khó khăn, tiêu cực ở nước ta nhằm phá hoại khối đoàn kết toàn dân, lên án Đảng, Nhà nước, phá hoại hình ảnh đất nước ta trên chính trường quốc tế. Từ lâu, chúng ta đã rõ RFA đích thị là một cơ quan “truyền thông bẩn” luôn tìm mọi cách làm mất uy tín của Việt Nam; cố truyền bá luận điệu, giá trị đi ngược lại định hướng phát triển của Việt Nam; phát ngôn và hành vi chống đối, kích động hành vi vi phạm pháp luật. Không khó để nhận thấy các vấn đề, sự kiện, con người, động thái xã hội được khai thác từ góc nhìn đen tối, hằn học,… để phục vụ mục đích duy nhất của RFA là vu cáo, vu khống, xúc phạm, bôi nhọ Việt Nam trên mọi phương diện; cổ vũ một số người, một số tiếng nói thù địch, thiếu thiện chí luôn tìm mọi cách cản trở sự ổn định và phát triển của Việt Nam; nhân danh dân chủ, nhân quyền theo kiểu phương Tây và bằng các thủ đoạn nham hiểm, tinh vi để quảng bá cho những điều đi ngược lại sự lựa chọn của Việt Nam.
BPSOS và RFA đúng là một cặp bài trùng “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” với bản chất phản động, thủ đoạn đê hèn hòng thực hiện mưu đồ đen tối phá hoại an ninh chính trị Việt Nam. Mọi công dân cần hết sức cảnh giác, tỉnh táo khi tiếp xúc với thông tin được đăng tải để không bị sa vào “bẫy truyền thông” mà RFA giăng ra. Đồng thời, cần kiên quyết đấu tranh vạch trần thái độ, mưu đồ, thủ đoạn xuyên tạc chống phá của các thế lực phản động, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

ĐẢNG ĐANG GÁNH VÁC TRỌNG TRÁCH LỊCH SỬ LÃNH ĐẠO ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO KỶ NGUYÊN MỚI

Tổng Bí thư nhấn mạnh: Đảng đang gánh vác trọng trách lịch sử lãnh đạo đất nước bước vào kỷ nguyên mới với nhiều khó khăn, thách thức.

Ngày 27.2, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chủ trì cuộc họp với Thường trực các Tiểu ban chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng và Ban Chỉ đạo tổng kết 40 năm Đổi mới cho ý kiến về những chủ trương lớn vào Dự thảo các văn kiện trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV.
Theo TTXVN, thực hiện chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, từ sau Hội nghị Trung ương 10 đến nay, Thường trực các Tiểu ban đã rà soát, tổng hợp để xem xét bổ sung, cập nhật vào các dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, trong đó có nội dung về mục tiêu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026-2030 hướng tới đạt hai con số, tiếp tục rà soát, điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy bên trong của các cơ quan, đơn vị, tổ chức…
Đồng thời rà soát một số nội dung quan trọng khác về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, về xây dựng và hoàn thiện nhà nước, pháp luật và về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí tiêu cực.
Kết luận cuộc họp, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh cần đánh giá khái quát những vấn đề mang tầm chiến lược, nêu bật ý chí quyết tâm khát vọng phát triển bứt phá vươn lên của toàn đảng, toàn dân, toàn quân ta.
Tổng Bí thư yêu cầu, các báo cáo phải viết theo hướng hành động và triển khai ngay vào thực tiễn để các tầng lớp nhân dân, cán bộ, đảng viên có niềm tin và thấy rõ mục tiêu đặt ra là có cơ sở và thực hiện được. Tinh thần là ngay khi được thông qua, cả hệ thống chính trị sẽ triển khai ngay.
Tổng Bí thư chỉ rõ, cần cập nhật, bổ sung, làm sâu sắc hơn những đánh giá kết quả đạt được, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm 40 năm Đổi mới trong nhiệm kỳ Đại hội lần thứ XIII của Đảng.
Kết quả sắp xếp tinh gọn, tổ chức bộ máy, hệ thống chính trị phản ánh rõ nét hơn kết quả phát triển kinh tế - xã hội trong những năm cuối nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng; với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật để đánh giá những tồn tại, hạn chế, những điểm nghẽn, nút thắt nổi cộm trên các lĩnh vực.
Tổng Bí thư lưu ý, phải đánh giá thật khách quan để định vị rõ chúng ta đang ở đâu, trình độ phát triển đang ở mức độ nào, có những giải pháp đúng để triển khai, không tô hồng thành tích nhưng cũng không bi quan chỉ thấy được tồn tại, hạn chế mà không đánh giá đúng thành tích kết quả toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã nỗ lực phấn đấu đạt được.
Tiếp tục cập nhật bổ sung, đánh giá, phân tích dự báo chiến lược về bối cảnh quốc tế, xu hướng nhất là những vấn đề mới có thể tác động trực tiếp đến nước ta cả trước mắt và lâu dài, để Đảng và Nhà nước có chiến lược, đối sách phù hợp…
Tổng Bí thư nêu rõ, xuyên suốt các văn kiện phải bổ sung và nhấn mạnh vai trò then chốt của công tác xây dựng Đảng, khẳng định sự kiên định về tư tưởng vào đường lối Đổi mới, đồng thời phải thấy rõ Đảng đang gánh vác trọng trách lịch sử lãnh đạo đất nước bước vào kỷ nguyên mới với nhiều khó khăn, thách thức.
Từ đó đòi hỏi Đảng ta không ngừng nâng cao bản lĩnh, trí tuệ, năng lực đổi mới, từng bước tự hoàn thiện mình để hoàn thành trọng trách lịch sử đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc.