Thứ Hai, 3 tháng 3, 2025

BƯỚC ĐI TÁO BẠO, CẦN THIẾT TRONG CUỘC CÁCH MẠNG TINH GỌN BỘ MÁY

Trong Kết luận số 127-KL/TW về triển khai nghiên cứu, đề xuất tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, Bộ Chính trị, Ban Bí thư yêu cầu nghiên cứu định hướng không tổ chức cấp huyện. Theo các ĐBQH, đây là một điểm mới có tính đột phá, là bước đi táo bạo, cần thiết trong cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy. Để quá trình này diễn ra thuận lợi, hệ thống luật pháp cần đi trước một bước, tạo nền tảng vững chắc, bảo đảm sự chỉ đạo nhanh, gọn, thông suốt từ Trung ương tới địa phương.

ĐBQH Bùi Hoài Sơn (Hà Nội):
Từng bước gỡ nút thắt cồng kềnh, hướng đến hệ thống chính trị gọn nhẹ, vận hành trơn tru, tối ưu nguồn lực
Việc nghiên cứu theo hướng không tổ chức cấp huyện, hướng đến mô hình địa phương 2 cấp là một bước đi táo bạo nhưng cần thiết trong cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy, thể hiện quyết tâm lớn trong cải cách hành chính và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia.
Khi Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành Kết luận số 127-KL/TW vào ngày 28.2 vừa qua không chỉ là một chỉ dấu về tầm nhìn chiến lược mà còn là sự khẳng định mạnh mẽ rằng chúng ta đang từng bước tháo gỡ những nút thắt cồng kềnh, hướng đến một hệ thống chính trị gọn nhẹ, vận hành trơn tru, tối ưu nguồn lực.
Bản chất của cải cách là loại bỏ những tầng nấc trung gian không còn phù hợp, trao quyền mạnh mẽ hơn cho cấp tỉnh và cấp xã - những cấp trực tiếp gắn bó với thực tiễn đời sống của người dân. Khi cấp huyện không còn là một cấp hành chính độc lập, bộ máy quản lý được rút ngắn, giảm bớt sự chồng chéo, cắt giảm thủ tục hành chính rườm rà, tăng tốc độ xử lý công việc. Người dân sẽ không còn phải đi qua quá nhiều cấp trung gian để giải quyết một vấn đề, các quyết sách sẽ đến với thực tiễn nhanh hơn, nguồn lực sẽ được dồn tập trung hơn thay vì bị phân tán bởi các bộ máy cồng kềnh.
Đây không chỉ là bài toán sắp xếp tổ chức, mà còn là bài toán về tư duy quản trị. Tất nhiên, một thay đổi lớn như vậy sẽ không tránh khỏi khó khăn, thách thức. Việc điều chỉnh, sáp nhập sẽ tác động đến hàng loạt vấn đề từ nhân sự, cơ sở vật chất, thói quen vận hành đến tâm lý của cán bộ, công chức.
Nhưng cải cách chưa bao giờ là con đường dễ dàng. Nếu không dám bước qua những khó khăn ban đầu, chúng ta sẽ mãi mắc kẹt trong những rào cản cũ. Điều quan trọng nhất là cách thức triển khai phải thận trọng, có lộ trình, đánh giá tác động kỹ lưỡng để bảo đảm sự chuyển đổi diễn ra suôn sẻ, không gây xáo trộn lớn đến bộ máy và đời sống của người dân.
Bên cạnh đó, khi tiến trình tinh gọn bộ máy đi vào thực tế, việc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật không chỉ là yêu cầu tất yếu mà còn là nền tảng để bảo đảm sự chuyển đổi diễn ra một cách đồng bộ, thống nhất và hiệu quả. Không thể có một mô hình tổ chức mới vận hành trơn tru nếu hệ thống pháp lý vẫn giữ nguyên những quy định được thiết kế cho bộ máy cũ.
Cải cách lần này không chỉ đơn thuần là cắt giảm cấp huyện hay sáp nhập đơn vị hành chính, mà sâu xa hơn, đó là sự tái cấu trúc toàn diện, đòi hỏi một hệ thống pháp luật đồng bộ để hỗ trợ và dẫn dắt sự thay đổi.
Cải cách bộ máy là một bước đi lớn. Để con đường này không vấp phải những rào cản pháp lý, hệ thống luật pháp phải đi trước một bước, tạo nền tảng vững chắc cho quá trình chuyển đổi.
Việc sửa đổi, bổ sung các luật liên quan không chỉ đơn thuần là điều chỉnh cho phù hợp, mà còn phải mang tính đột phá, tạo ra một hành lang pháp lý hiện đại, linh hoạt, thúc đẩy nền hành chính vận hành hiệu quả hơn, chuyên nghiệp hơn, thực sự vì lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước.
ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga (Hải Dương):
Bảo đảm sự chỉ đạo nhanh, gọn, thông suốt từ Trung ương tới địa phương
Trong Kết luận số 127-KL/TW, Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ rất rõ là nghiên cứu định hướng sáp nhập một số đơn vị cấp tỉnh, không tổ chức cấp huyện, sáp nhập một số đơn vị cấp xã.
Trong thời gian vừa qua, cũng đã có nhiều văn bản chỉ đạo về việc cần bỏ cấp trung gian và trên thực tế điều này cũng đã được triển khai ở các bộ, ngành trung ương và bây giờ là đến các địa phương.
Nội dung này cũng được dư luận hết sức quan tâm bởi từ trước tới nay chúng ta vẫn tổ chức chính quyền 4 cấp là cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh và cấp trung ương. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta nghiên cứu không tổ chức cấp huyện Đây là một điểm rất đột phá bởi lẽ chúng ta không tiếp tục đi theo lối mòn và dám làm những việc rất mới mẻ trong thời kỳ phát triển mới, bước vào kỷ nguyên mới.
Việc không tiếp tục tổ chức cấp huyện trong giai đoạn tới đã có đầy đủ cơ sở chính trị, cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn. So với hàng chục năm về trước thì hiện nay bối cảnh đã thay đổi rất nhiều, ngay cả trong công tác lãnh đạo, quản lý.
Chẳng hạn, trong điều kiện thực tế trước đây hàng chục năm, hạ tầng cũng như điều kiện về phương tiện khoa học kỹ thuật rất khác, vì vậy phải có cấp huyện để triển khai các chỉ đạo từ trung ương, từ tỉnh đến xã. Nếu không có cấp huyện trong bối cảnh đó thì những chỉ đạo từ cấp tỉnh xuống trực tiếp cấp xã là hết sức khó khăn. Song, đến nay, hạ tầng của chúng ta ngày càng phát triển, có nhiều phương tiện hỗ trợ trong công việc, ngay từ cấp xã cũng đã ứng dụng công nghệ thông tin. Bởi vậy, công tác chỉ đạo, điều hành thuận lợi hơn rất nhiều.
Chúng ta hoàn toàn có thể triển khai thẳng từ cấp tỉnh đến cấp xã với điều kiện tăng cường nhiệm vụ, quyền hạn cho chính quyền cấp xã và tăng cường năng lực của cán bộ cấp xã, qua đó bảo đảm sự chỉ đạo nhanh, gọn, thông suốt từ Trung ương tới địa phương.
Mặt khác, khi chúng ta triển khai việc tổ chức chính quyền từ 4 cấp xuống 3 cấp thì đồng thời cũng phải sửa đổi rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, trong đó có quy định của Hiến pháp. Cần rà soát các quy định của pháp luật để sửa đổi trước làm căn cứ thực hiện. Đồng thời, cũng cần nghiên cứu kỹ lưỡng sau khi chúng ta bỏ cấp huyện thì phải tổ chức lại cấp xã như thế nào kể cả về quy mô, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền để đảm đương phần công việc trước đây của chính quyền cấp huyện.
ĐBQH Phạm Văn Hòa (Đồng Tháp):
Thực hiện mô hình địa phương 2 cấp cho thấy tinh thần cải cách triệt để
Cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy là nội dung được nhân dân và dư luận hết sức quan tâm, tôi rất đồng tình và ủng hộ vì phù hợp với thực tiễn hiện nay.
Việc không tổ chức cấp huyện, thực hiện mô hình địa phương 2 cấp có vai trò rất quan trọng trong tổng thể cuộc cách mạng này, cho thấy tinh thần cải cách triệt để từ trung ương đến địa phương. Tuy nhiên, quá trình thực hiện cần hết sức thận trọng, tính toán kỹ lưỡng, khách quan để phù hợp với tình hình thực tế và xu hướng phát triển.
Theo tôi, cần tăng quyền hạn, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã để tạo sự thuận lợi và thực sự tạo nên bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Bên cạnh đó, hợp nhất một số đơn vị cấp xã, giao quyền cho UBND cấp xã thực hiện nhiệm vụ của UBND cấp huyện hiện nay.
Mặt khác, để thực hiện thì cần nghiên cứu sửa đổi một số nội dung của Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan như Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật..., tạo cơ sở pháp lý vững chắc, tránh tạo khoảng trống trong quản lý nhà nước.

HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

Học tập suốt đời để dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh vì lợi ích chung, để trở thành người có ích cho xã hội.

Cách mạng khoa học công nghệ đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu, tạo nên sự biến cách to lớn trong đời sống xã hội, đặt ra những yêu cầu mới, nhu cầu mới, nhiệm vụ mới, suy nghĩ mới, hành động mới với mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt đối với cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, nhất là tận dụng tối đa thời cơ, vận hội, đi tắt đón đầu, đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Để thực hiện thắng lợi yêu cầu, nhiệm vụ, trọng trách trong giai đoạn mới, học tập suốt đời để dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh vì lợi ích chung, để trở thành những người hữu dụng đang là đòi hỏi cấp thiết đối với từng cá nhân, mỗi công dân, đặc biệt là những cán bộ, nhân viên trong hệ thống chính trị.
Học tập suốt đời không phải là vấn đề mới. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào toàn dân, toàn quân xóa nạn mù chữ, Người căn dặn: “… Muốn biết thì phải thi đua học. Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ, càng thấy càng phải học thêm”[1]; “Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo. Mình mà không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình”[2]. Trong các giai đoạn cách mạng, đặc biệt trong những năm đổi mới, Đảng ta luôn quan tâm, khuyến khích học tập suốt đời và xây dựng cả nước thành xã hội học tập. Chủ trương học tập suốt đời được đề cập trong nhiều Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận của Đảng như Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo, Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000, Kết luận số 14-KL/TW, ngày 26-7-2002, Hội nghị Trung ương 6 khóa IX về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X, XI, Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4-11-2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII khẳng định “Thúc đẩy xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời”[3] bởi “Người Cách mạng phải học suốt đời, học trong sách vở, học lẫn nhau và học từ nhân dân; “bể học” mênh mông, không bao giờ cạn”.
Thực hiện các quan điểm, chủ trương của Đảng, việc xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời đã trở thành phong trào, thành nhu cầu, thành nếp văn hóa và đạt nhiều kết quả quan trọng. Theo đó, đã hình thành hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất từ giáo dục mầm non đến đào tạo sau đại học; các loại hình trường, lớp, loại hình đào tạo được đa dạng hóa, mang lại cơ hội học tập cho người dân ở mọi lứa tuổi. Phương thức cung ứng, kết nối giữa các trình độ đào tạo được cải thiện; mạng lưới, quy mô giáo dục mở rộng khắp các vùng, miền của đất nước; các phong trào thi đua khuyến học, khuyến tài từng bước đi vào chiều sâu, thực chất hơn ở hầu khắp các địa phương; môi trường giáo dục lành mạnh, học đi đôi với hành, gắn với cuộc vận động xóa đói, giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa, gia đình văn hóa. Trong nhiều dòng họ, làng, xã, thôn, bản phong trào thi đua học tập phát triển mạnh. Ý thức học tập suốt đời đã và đang thấm sâu vào từng gia đình, từng khu dân cư, từng cơ sở đào tạo, từng vùng, miền... Đã có nhiều tấm gương tiêu biểu là nông dân, người lao động, cán bộ, giáo viên tích cực tự học, sáng tạo trong lao động, công tác, có nhiều đóng góp cho cộng đồng; nhiều tấm gương tiêu biểu trong áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, có nhiều nghiên cứu, sáng kiến giải pháp hiệu quả mang tính ứng dụng cao trong thực tiễn, trong sản xuất và đời sống; nhiều người lớn tuổi nhờ tự học, tự nghiên cứu áp dụng kiến thức, kinh nghiệm để sản xuất đã giúp gia đình thoát nghèo, xây dựng đời sống văn hóa mới và đóng góp cho kinh tế - xã hội ở địa phương. Những mô hình mới, những tấm gương sáng về tinh thần học không bao giờ muộn, có nhiều người ở tuổi “thất thập cổ lai hy” nhưng vẫn theo học cao học, làm luận án tiến sĩ chỉ với mục đích học để làm gương cho con cháu noi theo và khuyên con cháu “học, học nữa, học mãi”; “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại”[4], góp phần để đất nước ta đạt được những thành tựu vĩ đại sau gần 40 năm đổi mới.
Bên cạnh kết quả, thực hiện chủ trương học tập suốt đời vẫn còn một số tồn tại, hạn chế. Đào tạo, bồi dưỡng còn chạy theo số lượng mà chưa thực sự chú trọng tới chất lượng; việc tự học, thực học và học tập suốt đời của đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa đạt kết quả như mong muốn; còn tình trạng học theo phong trào, sính bằng cấp mà chưa thực sự căn cứ vào đòi hỏi thực tiễn, ngại khó, ngại khổ trong học tập, không đào sâu suy nghĩ để vươn lên chinh phục những đỉnh cao trong khoa học. Tình trạng hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ, chủ nghĩa cá nhân, bệnh kinh nghiệm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên ảnh hưởng đến chất lượng thực thi công vụ, chất lượng phục vụ nhân dân; ảnh hưởng đến tinh thần dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm; triệt tiêu động lực đổi mới, sáng tạo, không đủ nền tảng kiến thức và tự tin về năng lực đề xuất và thực hiện những sáng kiến, giải pháp đột phá. Một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thỏa mãn với kiến thức đã học trong các trường lớp, cơ sở đào tạo, hoặc chạy theo việc học để hoàn thiện bằng cấp đủ điều kiện thăng tiến, không chịu nghiên cứu, học hỏi thường xuyên để nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực quản lý, kiến thức, kỹ năng hội nhập và khả năng thích ứng... Một bộ phận biểu hiện ngại học, không có khái niệm học thường xuyên, học suốt đời nên trở thành lạc hậu, bảo thủ, không thích nghi và bắt nhịp với “guồng quay” hối hả của nhịp sống “vũ bão” thời khoa học và công nghệ 4.0 và X.0.
Đất nước đang đứng trước thời cơ, vận hội mới để vươn mình, để “sánh vai” với thế giới như ước nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và khát vọng của toàn dân tộc. Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài đưa đất nước, dân tộc bước vào xã hội giàu mạnh, người dân ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển; hơn lúc nào hết, chúng ta cần có những cán bộ có tư duy, tầm nhìn, việc làm đột phá, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh, đặc biệt trong thực hiện các cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy tinh-gọn-mạnh; hiệu năng-hiệu lực-hiệu quả và thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Cách mạng 4.0 đang diễn ra với quy mô và tốc độ chưa từng có, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức, chuyển đổi số, kinh tế số, xã hội số khiến một phần nội dung giảng dạy tại nhà trường hôm nay có thể thành lạc hậu, lỗi thời sau vài năm; hơn thế, những điều phổ biến hiện nay thì 10 năm trước còn chưa xuất hiện và có 65% những công việc hiện nay sẽ bị thay thế bởi công nghệ trong những năm tới. Với thế giới phức tạp, không ổn định và biến đổi khôn lường, tri thức phải không ngừng được bổ sung, tuổi thọ con người dài hơn, thời gian về hưu đủ dài, buộc người cao tuổi phải học và hoạt động để không bị lạc hậu với xã hội hiện đại.
Trong bối cảnh đó, học tập suốt đời trở thành một quy luật sống; không chỉ giúp mỗi cá nhân nhận biết, thích nghi, không tụt hậu trước sự biến đổi từng ngày của thế giới hiện tại, làm giàu trí tuệ, hoàn thiện nhân cách, vượt qua khó khăn, thử thách để ngày càng tiến bộ và định vị bản thân trong xã hội hiện đại; cao hơn, đây là chìa khóa quan trọng để nâng cao dân trí và đào tạo nhân lực, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, là con đường duy nhất, hướng đi tất yếu của mọi quốc gia để đảm bảo sự phát triển thịnh vượng, bền vững. Học tập suốt đời giúp mỗi thành viên trong xã hội có đủ điều kiện và cơ hội tự hoàn thiện mình, nâng cao chất lượng cuộc sống của chính mình, của gia đình, họ tộc, thôn, xóm, phường, xã và cả nước dưới sự lãnh đạo của Đảng trên con đường trở thành nước dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và xã hội chủ nghĩa.
Chỉ khi đẩy mạnh thực chất học tập suốt đời, chúng ta mới giàu có những ý tưởng, giải pháp, sáng kiến để giải quyết những đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn, những vấn đề mới, chưa có tiền lệ; khắc phục triệt để những “điểm nghẽn” trong cơ chế, chính sách, biểu hiện hình thức trong tự phê bình và phê bình; xóa bỏ tình trạng trì trệ, lúng túng trong giải quyết công việc tại các địa phương, cơ quan, đơn vị; tạo ra được đội ngũ cán bộ dũng cảm, nhận thức đúng quy luật khách quan, chủ động suy nghĩ và làm chủ suy nghĩ, dám nói những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn, từ cuộc sống sinh động, từ đòi hỏi của đổi mới và yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; có quyết tâm, dám chịu trách nhiệm về kết quả công việc, lĩnh vực, ngành mà mình đảm trách, dám nhận lỗi, sửa sai, chịu trách nhiệm trước dân, trước Đảng, biết làm chủ bản thân và công việc; dám chống lại những sự vinh hoa, phú quý không chính đáng và nếu cần, dám hy sinh lợi ích cá nhân vì Đảng, vì Tổ quốc và nhân dân. Khi đó, chúng ta sẽ xây dựng thành công đội ngũ cán bộ có trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức tốt, có khát vọng vươn lên, khát vọng phát triển, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm về những quyết định của mình để hiện thực hoá nhiệm vụ cách mạng, tạo ra đột phá vì lợi ích của nhân dân, vì sự phát triển của đất nước.
Xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời chỉ thành công khi mỗi công dân ý thức được trách nhiệm của bản thân mình đối với việc tự học tập suốt đời; mỗi cán bộ, đảng viên luôn ý thức rõ học tập suốt đời là nhiệm vụ cách mạng với thái độ nghiêm túc và ý thức tự giác cao. Qua học tập suốt đời để nhận thức được trách nhiệm đối với xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong từng giai đoạn, thời điểm cụ thể; có năng lực làm chủ, năng lực tổ chức cuộc sống; để không ngừng tiến bộ, có sức khỏe, có chất lượng sống tốt hơn; hiểu biết, giữ gìn và góp phần xây dựng truyền thống văn hóa dân tộc; tin tưởng vào tương lai đất nước, vào đường lối và sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, có khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Mỗi công dân cần không ngừng học tập về lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, phương pháp, kinh nghiệm làm việc và khả năng phối hợp trong tập thể để nâng cao tính kỷ luật của tổ chức, năng suất lao động và phát huy sức mạnh tổng hợp; mỗi cán bộ, đảng viên cần học về tư cách người cán bộ cách mạng, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân; không ngừng tự học tập, tự cập nhật kiến thức mới, tham gia tích cực phong trào “học tập số”, phổ cập, nâng cao kiến thức khoa học công nghệ, kiến thức số; tích cực tuyên truyền, vận động người thân, gia đình, dòng họ tự học tập suốt đời. Qua học tập suốt đời để hoàn thành được mọi nhiệm vụ mà Đảng, cách mạng và nhân dân giao phó.
Mỗi cấp ủy, tổ chức chính trị - xã hội, hội nghề nghiệp cần nhận thức rõ mục tiêu chính của học tập suốt đời là phát triển con người xã hội chủ nghĩa, từ đó xác định các nội dung học tập suốt đời cho cán bộ, đảng viên, thành viên gắn với phát động thi đua, đánh giá, biểu dương, khen thưởng. Đảng, Nhà nước sẽ sớm tổng kết, đánh giá, nghiên cứu ban hành quy định, quy trình, đổi mới quan điểm đánh giá, sàng lọc, quy hoạch đội ngũ cán bộ, nhằm xây dựng hoàn chỉnh bộ máy công quyền trong sạch, vững mạnh, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân; bảo vệ cán bộ sẵn sàng đi tiên phong, sẵn sàng “vượt rào” đột phá vì lợi ích chung. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống giáo dục theo định hướng mở, linh hoạt, liên thông, tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi công dân và thực hiện đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động. Có các giải pháp cụ thể nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò, ý nghĩa của học tập suốt đời và sự đóng góp của học tập suốt đời đối với nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh của nguồn nhân lực quốc gia. Theo dõi, kiểm tra, giám sát quá trình triển khai thực hiện thí điểm các đề xuất đổi mới, sáng tạo; chủ động phát hiện những vấn đề nảy sinh, kịp thời động viên, hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc hoặc xem xét, điều chỉnh, có quyết định phù hợp với tình hình thực tế; có chính sách miễn trừ trách nhiệm đối với cán bộ thực hiện thí điểm mà kết quả không đạt hoặc chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại do nguyên nhân khách quan.
Chúng ta đang sống trong thời đại mà tri thức, kiến thức, hiểu biết sẽ giúp con người phát huy cao độ tiềm năng để tận dụng tốt các cơ hội, ứng phó hiệu quả với những thách thức để phát triển bền vững; cũng là thời đại mà khối lượng kiến thức của nhân loại tăng lên hằng ngày theo cấp số nhân. Chỉ khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, nhà nhà, người người thực hiện hiệu quả học tập suốt đời, xây dựng được đội ngũ cán bộ dám làm, dám nói, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh, chúng ta mới vững vàng tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng.

NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM NGÀY CÀNG ĐƯỢC ĐẢM BẢO TỐT HƠN

Gần đây, trên trang RFA đăng bài: “Báo cáo của HRW và CPJ: Tô Lâm lên nắm quyền lực, nhân quyền Việt Nam càng đi xuống”. Trong bài viết, Y cố lấy những dẫn chứng để cho rằng nhân quyền ở Việt Nam “không mấy khởi sắc”. Đây là sự xuyên tạc và trái ngược với thực tế tình hình nhân quyền ở Việt Nam, nhằm mục đích chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Thứ nhất, thành tựu, uy tín trong thực hiện đảm bảo về nhân quyền của Việt Nam ngày càng được đảm bảo tốt hơn trong nước và trên trường quốc tế.
Thực hiện đường lối độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; vì lợi ích quốc gia, dân tộc; vì hạnh phúc, ấm no của Nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hiện thực thành công mọi chủ trương, chính sách mang lại những lợi ích thiết thực cho mỗi người dân và tạo nhiều dấu ấn trong hoạt động về nhân quyền trên trường quốc tế. Điều này được thể hiện: Mọi quyền nhân dân Việt Nam được bảo đảm; quyền con người về dân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa được quy định rõ hơn và được hiện thực cụ thể. Đồng thời, theo Báo cáo hạnh phúc thế giới năm 2024 của Liên hợp quốc, chỉ số hạnh phúc của Việt Nam tăng 11 bậc, xếp thứ 54/143. Kết quả này, không chỉ được nhân dân Việt Nam ghi nhận mà còn được bạn bè, các quốc gia, quốc tế công nhận, như ông Iraklis Tsavdaridis - Thư ký thường trực Hội đồng Hòa bình Thế giới (WPC) và Tổng Thư ký Hiệp hội học giả châu Á - Giáo sư Reena Marwah thuộc Đại học Delhi đã bày tỏ ấn tượng về những thành tựu của Việt Nam về nhân quyền như đề cao chính sách nhất quán của Việt Nam về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, xóa đói, giảm nghèo, bảo vệ phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, dân tộc thiểu số... Không chỉ nỗ lực thực hiện các cam kết quốc tế mà còn tích cực, chủ động và có nhiều đóng góp trong lĩnh vực thúc đẩy và bảo vệ quyền con người trong khu vực và thế giới. Điều này được thể hiện ở mức độ tín nhiệm cao của các quốc gia khi bầu Việt Nam làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2026 - 2028, đây cũng là nhiệm kỳ thứ ba của Việt Nam.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, qua gần 40 năm đổi mới, điều không thể phủ nhận là Đảng, Nhà nước Việt Nam đã luôn đảm bảo quyền được sống trong hòa bình, quyền được hưởng mọi phúc lợi, quyền được sống hạnh phúc, quyền được cải thiện từng ngày về điều kiện sống cho nhân dân! Đúc kết về quá trình phát triển con người và đảm bảo quyền con người của Việt Nam, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Thực hiện quan điểm nhất quán và xuyên suốt về quyền con người là yếu tố then chốt tạo nên sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt mọi thác ghềnh, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Như vậy, thực tiễn tình hình về nhân quyền của Việt Nam trái ngược với những luận điệu cố tình phủ nhận, xuyên tạc của RFA khi cho rằng: Tình hình nhân quyền ở Việt Nam “đi xuống”, không “khởi sắc”, “vi phạm” nhân quyền sẽ “leo thang”.
Thứ hai, “dẫn chứng” của RFA về nhân quyền ở Việt Nam chỉ là sự quy chụp méo mó, trái với chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Để minh chứng cho “lo ngại” về thực hiện “cam kết thực chất với các giá trị nhân quyền phổ quát của Hà Nội”, RFA đưa ra hàng loạt “dẫn chứng” về số người bị bắt tạm giam và kết án nhưng tất cả những người này đều được xét xử đúng pháp luật Việt Nam theo Điều 331, Điều 117, Bộ luật Hình sự. Điều đáng nói ở đây là RFA lại căn cứ vào sự thống kê của HRW (Human Rights Watch) - Tổ chức Theo dõi Nhân quyền để dẫn chứng, trong khi HRW là tổ chức chuyên làm méo mó, sai lệch thực tiễn, ảnh hưởng vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế và Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng, ngày 25/1/2024 đã nêu rõ: “Việt Nam hoàn toàn bác bỏ và lên án cái gọi là tổ chức Theo dõi Nhân quyền với những nội dung sai sự thật, bịa đặt trong báo cáo”. HRW bị nhiều quốc gia như Liên bang Nga, Cuba, Srilanka, Triều Tiên, Ethiopia, Syria chỉ trích, phản đối những nội dung báo cáo của HRW đã can thiệp, làm phức tạp tình hình, gây khó khăn cho việc bảo đảm nhân quyền ở các nước này. Chính phủ Trung Quốc không ít lần áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với HRW. Thái Lan cấm cửa trang web của HRW hoạt động vì cho rằng thường xuyên đội lốt “theo dõi nhân quyền” để tuyên truyền xuyên tạc, tán phát những nội dung thông tin sai lệch, kích động, vi phạm các quy định về an ninh quốc gia. Từ đó, có thể thấy thực chất những “dẫn chứng” được RFA đưa ra chỉ là chống phá, xuyên tạc về thực tiễn nhân quyền ở Việt Nam.
Với những kết quả, thành tựu to lớn về nhân quyền, nhất là trên lĩnh vực thúc đẩy, bảo vệ, bảo đảm quyền con người mà Việt Nam đã đạt được là minh chứng sinh động của việc thực hiện quan điểm, đường lối, chính sách nhất quán, đúng đắn về nhân quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Nhân dân Việt Nam luôn tin tưởng rằng Việt Nam sẽ vững bước, mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, đất nước phát triển phồn thịnh, người dân ấm no, hạnh phúc.

TRÒ "CHỌC GẬY" LỖI THỜI VÀ THIỂN CẬN

Trong quá trình tiếp tục triển khai chính sách, đường lối đối ngoại và gặt hái thêm nhiều thành tựu trong lĩnh vực này, chúng ta cần tiếp tục cảnh giác và chủ động đập tan mọi chiêu trò nhằm phá bĩnh quan hệ giữa Việt Nam với các nước cũng như các tổ chức quốc tế, trong đó có quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ.

Lâu nay, các thế lực phản động vẫn “chọc ngoáy” quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ bằng các luận điệu tràn lan trên mạng xã hội đại loại như: Quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ sẽ không thể phát triển nếu Việt Nam không cải thiện tình hình nhân quyền và không xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng; hoặc thậm chí kêu gọi Chính phủ Hoa Kỳ gây sức ép với Việt Nam trong vấn đề dân chủ, nhân quyền. Thế nhưng, khi chiêu bài “dân chủ, nhân quyền” đã không còn phát huy tác dụng, họ chuyển sang chống phá bằng cách khai thác và xuyên tạc những chuyển động trong quan hệ hai nước. Nhìn thấy quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ phát triển tốt đẹp lên thì họ cố nặn ra những bài viết tỏ rõ sự hậm hực, còn khi mối quan hệ ấy nảy sinh vướng mắc thì họ hả hê, tha hồ tung ra những phân tích, đánh giá mang tính chủ quan và hết sức vô căn cứ.
Chẳng hạn, gần đây, trước việc chính quyền mới ở Hoa Kỳ quyết định tạm dừng các dự án hỗ trợ của Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID), bao gồm các dự án hỗ trợ của USAID liên quan tới khắc phục hậu quả chiến tranh ở Việt Nam, Bộ Ngoại giao Việt Nam cùng một số địa phương đã bày tỏ mong muốn và đề nghị cùng Hoa Kỳ tiếp tục triển khai thực chất, hiệu quả các hoạt động hợp tác này. Ấy vậy mà một số tổ chức, cá nhân phản động lại lợi dụng vấn đề này để “chọc ngoáy” nhằm khiến dư luận hiểu sai về thực trạng quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, điển hình là tổ chức phản động Việt Tân. Tổ chức này rêu rao trên Facebook rằng Việt Nam “mặt dày” đề nghị Hoa Kỳ tiếp tục tài trợ tiền bạc; và rằng công việc rà phá bom, mìn vốn là việc của Việt Nam, chứ chẳng nước nào có trách nhiệm làm giúp.
Trước hết, phải khẳng định rằng, việc phát triển mối quan hệ với Hoa Kỳ hay bất cứ quốc gia nào trên thế giới là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đây cũng là tất yếu khách quan, phù hợp với xu thế chung của thời đại và đường lối đối ngoại “độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; là thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, tiếp tục đưa các mối quan hệ đi vào chiều sâu, đồng thời tạo thế đan xen lợi ích, tăng độ tin cậy...” được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã đề ra. Trong các cuộc trao đổi, tiếp xúc, lãnh đạo nước ta đã nhiều lần khẳng định Việt Nam coi trọng phát triển quan hệ với Hoa Kỳ, mong muốn tiếp tục thúc đẩy quan hệ hai nước theo hướng hợp tác cùng có lợi, đóng góp vào việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển bền vững ở khu vực cũng như thế giới. Tương tự, quan điểm của lãnh đạo cấp cao Hoa Kỳ cũng là mong muốn thúc đẩy quan hệ với Việt Nam và cam kết ủng hộ một Việt Nam “mạnh, độc lập, tự cường và thịnh vượng”.
Việc Việt Nam và Hoa Kỳ nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện hồi tháng 9-2023 đã mở ra cơ hội để tiếp tục phát triển quan hệ hai nước trong các lĩnh vực còn nhiều tiềm năng như: Chính trị-ngoại giao, kinh tế-thương mại-đầu tư, quốc phòng, an ninh, khoa học-công nghệ, giáo dục-đào tạo, giao lưu nhân dân, văn hóa, năng lượng, môi trường, y tế... Trong đó, ngày càng có nhiều doanh nghiệp hàng đầu của Hoa Kỳ bày tỏ mong muốn đặt thêm các cơ sở làm ăn, kinh doanh tại Việt Nam.
Rõ ràng, nếu như Việt Nam không ổn định về chính trị-xã hội, nếu mối bang giao giữa hai nước không phát triển tốt đẹp thì chắc chắn các doanh nghiệp Hoa Kỳ sẽ không sẵn lòng đầu tư tiền của vào các dự án ở Việt Nam.
Đối với những vấn đề còn tồn tại sự khác biệt về quan điểm, chẳng hạn như nhân quyền, những năm qua, Việt Nam và Hoa Kỳ đã trao đổi thẳng thắn thông qua các cơ chế đối thoại liên quan nhằm “giảm thiểu khác biệt”, dựa trên tinh thần xây dựng và những nguyên tắc được coi là nền tảng trong quan hệ song phương, đó là tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thể chế chính trị của nhau, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi.
Thực tế cho thấy, trong nhiều năm qua, khắc phục hậu quả chiến tranh vẫn là lĩnh vực ưu tiên trong quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, thể hiện thông qua các hoạt động tìm kiếm quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh (MIA); tìm kiếm liệt sĩ Việt Nam mất tin, mất tích; xử lý ô nhiễm dioxin, hỗ trợ người khuyết tật ở Việt Nam. Các hoạt động này nhận được sự đồng tình, ủng hộ của cả chính giới lẫn người dân hai nước, bởi góp phần giúp hai nước chữa lành vết thương chiến tranh trong quá khứ và thúc đẩy hòa giải, mở rộng hợp tác trên nhiều lĩnh vực khác.
Cũng chính vì vậy mà mới đây, 17 cựu Đại sứ Hoa Kỳ từng công tác tại Việt Nam, Lào và Campuchia đã cùng ký vào một bức thư ngỏ gửi Ngoại trưởng Hoa Kỳ, trong đó đề nghị chính quyền của Tổng thống Donald Trump nối lại viện trợ cho các chương trình rà phá bom, mìn và vật liệu chưa nổ tại 3 quốc gia này. Các cựu Đại sứ Hoa Kỳ cũng khẳng định các chương trình khắc phục hậu quả chiến tranh mang lại lợi ích cho chính an ninh quốc gia của Hoa Kỳ, bởi nó giảm nguy cơ phổ biến vật liệu nổ cho những kẻ xấu tiềm tàng có thể tái sử dụng vì mục đích bất chính, dẫn đến bạo lực hoặc bất ổn. Và nếu không được dọn sạch, bom, mìn và vật liệu chưa nổ còn đe dọa đến tính mạng của nhân viên Hoa Kỳ trong khu vực, nhà thầu và nhân viên cứu trợ.
Hơn thế nữa, chính quyền Hoa Kỳ thực tế chỉ mới “tạm dừng” các dự án viện trợ nước ngoài và đang trong quá trình đánh giá lại hiệu quả của mỗi dự án, chứ không phải dừng hẳn. Đồng thời, đây là chính sách được áp dụng trên phạm vi toàn cầu, với mọi dự án liên quan ở mọi quốc gia chứ không chỉ riêng ở Việt Nam. Việc các thế lực phản động lợi dụng vấn đề này để “chĩa mũi dùi” vào quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ thực chất chỉ là một chiêu trò chống phá lỗi thời và thiển cận.
Năm 2025 chứng kiến thêm một dấu mốc mới trong quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ khi hai nước kỷ niệm 30 năm bình thường hóa quan hệ. Sẽ ý nghĩa hơn nhiều khi trong thời điểm quan trọng này, giới lãnh đạo, người dân hai nước tiếp tục thể hiện sự ủng hộ và nỗ lực duy trì, thúc đẩy những lĩnh vực hợp tác vốn được coi là “xương sống” của quan hệ song phương. Cùng với đó, dư luận hai nước cần nhận thức đúng về thực trạng quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ và kịp thời phản bác lại những luận điệu, hành động “chọc gậy bánh xe” nhằm phá hoại mối quan hệ đang phát triển và còn nhiều tiềm năng phát triển này.

CHIÊU TRÒ XUYÊN TẠC, GÂY NHIỄU THÔNG TIN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Gần đây, trên trang Vietnamthoibao, Âu Dương Thệ đã đưa ra luận điệu xuyên tạc Đảng và Nhà nước ta, về bổ nhiệm cán bộ theo phe, nhóm, cục bộ địa phương; điểm cực nghẽn hiện nay của Việt Nam nằm chính trong sai lầm về chính sách kinh tế hay quy chụp mục đích xử phạt giao thông tại Việt Nam…Những nhận định chúng đưa ra trong bài viết này đều không có cơ sở và không phản ánh đầy đủ thực tế ở Việt Nam. Chúng ta phải hết sức cảnh giác.

1. Cảnh giác với thủ đoạn quy chụp công tác quy hoạch, bổ nhiệm nhân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam
Bài viết đã tìm mọi cách xuyên tạc, tung tin tác động, chia rẽ nội bộ chúng ta hòng phá hoại công tác nhân sự nói riêng, công tác xây dựng Đảng nói chung, cho rằng “không bài bản”, “áp đặt”, “cục bộ”; quy trình các bước chỉ là hợp thức hóa việc “sắp xếp”, “thỏa thuận” giữa các phe, nhóm hoặc những màn “đấu đá nội bộ”. Hơn nữa, chúng trắng trợn xuyên tạc việc phát hiện, lựa chọn, tạo nguồn, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ là “vô nguyên tắc, thiếu minh bạch, mất dân chủ”. Từ đó, quy chụp cho rằng không ít cán bộ lãnh đạo “không xứng đáng là “công bộc”, “đầy tớ trung thành của nhân dân”. Nếu nhìn nhận một cách toàn diện, có hệ thống, chúng ta dễ dàng nhận thấy những luận điệu của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị rêu rao là những chiêu trò cũ rích đã được “tung ra” tại nhiều kỳ đại hội Đảng trước đây, đến thời điểm này chúng tiếp tục “diễn”. Mục đích, chúng gây nghi kỵ, chia rẽ đoàn kết, kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; làm lung lay niềm tin của nhân dân đối với Đảng; phá hoại mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; cổ xúy tư tưởng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; kích động người dân biểu tình chống đối chế độ, cuối cùng là tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ cũng như đối với Nhà nước và xã hội. Đó là thủ đoạn hết sức thâm độc, xảo quyệt.
Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc: Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả. Cùng với đó, Đảng ta đã thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế trong công tác cán bộ để có những biện pháp kịp thời chấn chỉnh nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ đủ đức, đủ tài, vừa hồng, vừa chuyên phục vụ sự nghiệp cách mạng. Cho nên, không thể quy kết là Việt Nam “bổ nhiệm cán bộ theo phe, nhóm, cục bộ địa phương”.
2. Cảnh giác với âm mưu quy chụp mục đích xử phạt giao thông tại Việt Nam
Trong bài viết, Âu Dương Thệ đã đưa ra những nội dung xuyên tạc, vu khống Chính phủ ban hành Nghị định 168/2024/NĐ-CP có mức phạt cao sẽ là một cách gián tiếp khuyến khích công an tham nhũng, gia tăng xử phạt, cơ hội để “túi tiền” của cảnh sát giao thông đầy hơn, qua đó kích động, xuyên tạc, vu khống công an “hành hạ, hút máu” dân. Nhìn tổng quan vấn đề, thực chất đây vẫn chỉ là chiêu trò lợi dụng dư luận để kích động chống phá Đảng, Nhà nước ta, cố tình xuyên tạc, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước; trực tiếp là lực lượng Công an nhân dân trong thực thi pháp luật. Những nhận định mà Âu Dương Thệ đưa ra trong bài viết này đều mang tính chủ quan, thiếu cơ sở và không phản ánh đầy đủ thực tế.
Việt Nam, giống như nhiều quốc gia khác, đang dần tăng cường các chế tài xử phạt giao thông để giảm thiểu tai nạn và nâng cao ý thức chấp hành luật lệ giao thông của người dân. Điều này dường như là tất yếu, phù hợp với thực tế, cách Việt Nam tăng mức độ xử phạt là một hướng đi đúng đắn cũng như nhiều nước trên thế giới đã làm. Ví dụ, Singapore đã trình dự luật tăng cường xử phạt người lái xe trong tình trạng say rượu, với các biện pháp như cấm lái xe trọn đời hoặc tăng gấp đôi thời gian ngồi tù đối với người tái phạm. Tương tự, tại Đức, người vi phạm giao thông có thể bị tước bằng lái vĩnh viễn và phải đối mặt với các hình phạt nặng về tài chính nếu vi phạm. Những chế tài nghiêm khắc này không chỉ nhằm mục đích xử phạt mà còn để răn đe và giáo dục công dân, giúp giảm thiểu nguy cơ tai nạn giao thông. Đặc biệt với đặc thù Việt Nam phải đối mặt với những thách thức lớn như mật độ giao thông cao, hạ tầng chưa đồng bộ, và ý thức của một bộ phận người tham gia giao thông chưa cao. Do đó, việc áp dụng mức phạt nghiêm khắc hơn là một biện pháp hoàn toàn hợp lý, phù hợp với thực tiễn. Vì vậy, khi Nghị định 168/2024/NĐ-CP có hiệu lực, những người luôn có ý thức chấp hành nghiêm chỉnh luật giao thông hoàn toàn ủng hộ và hưởng ứng. Họ xem đây là sự cần thiết để đảm bảo tính răn đe và nâng cao ý thức chấp hành luật giao thông đối với những trường hợp thiếu ý thức chấp hành, “nhờn luật” như hiện nay. Dư luận xã hội cho thấy, người dân nghiêm túc tuân thủ luật pháp sẽ không cảm thấy bị ảnh hưởng mà ngược lại, họ ủng hộ vì việc chấp hành nghiêm các quy tắc giao thông sẽ tạo môi trường giao thông an toàn, văn minh, người dân đi đúng quy tắc giao thông giảm đi sự lo lắng các tai nạn do người thiếu ý thức gây ra. Trong khi đó, nhìn một cách toàn diện Việt Nam hiện đang đẩy mạnh công tác tuyên truyền và giáo dục về an toàn giao thông qua các chiến dịch truyền thông và các chương trình phổ biến pháp luật. Chứng tỏ rằng việc xử phạt chỉ là một phần trong chiến lược tổng thể nhằm nâng cao ý thức và giảm thiểu tai nạn giao thông chứ không phải bị “công an đấu tố, hành hạ trong giao thông” như lời lẽ trong bài viết xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động.
3. Cảnh giác với luận điệu “điểm cực nghẽn hiện nay của Việt Nam nằm chính trong sai lầm về chính sách kinh tế”
Thực tế chứng minh: Dưới sự lãnh đạo của Đảng, với việc đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế, từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Việt Nam đã chuyển sang cơ chế thị trường, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Với việc lựa chọn con đường phát triển đúng trọng tâm, phù hợp quy luật, từ một nước nông nghiệp, lạc hậu, nghèo nàn, quy mô nền kinh tế nhỏ bé, Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Việt Nam đã đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, phát huy vai trò tích cực tại nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương quan trọng. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; lợi ích quốc gia, dân tộc được bảo đảm. Năm 2024, tăng trưởng kinh tế của cả nước đạt 7,09% GDP (vượt mức mục tiêu đề ra là 6 - 6,5% GDP), thuộc nhóm số ít các nước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực và thế giới. Việt Nam đã có quy mô nền kinh tế gần 500 tỉ USD, tăng gần 100 lần so với năm 1986, đứng thứ tư Đông Nam Á và thứ 34 thế giới; giá trị thương hiệu quốc gia Việt Nam năm 2024 đạt 507 tỉ USD, xếp thứ 32/193, tăng 1 bậc so với năm 2023. Bên cạnh đó, chỉ số phát triển con người tăng 8 bậc từ vị trí 115 lên 107, là một trong những quốc gia đang phát triển có chỉ số phát triển con người cao; tình hình chính trị - xã hội ổn định, Quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường, ngành công nghiệp văn hóa ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực. Theo dự báo của nhiều tổ chức quốc tế, năm 2025 và những năm tiếp theo kinh tế nước ta tiếp tục có sự tăng trưởng cao, bền vững với nền tảng, động lực là phát triển kinh tế xanh, kinh tế số , kinh tế tuần hoàn và các chỉ số sáng tạo trong từng sản phẩm.
Do vậy, cán bộ, đảng viên và nhân dân cần thống nhất cao về nhận thức để thấy rõ âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá, gây nhiễu của các thế lực thù địch. Những thành tựu đạt được của đất nước là thực tiễn, minh chứng sinh động về một Việt Nam hùng cường và phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hướng đến một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, đồng thời là câu trả lời đanh thép phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động.

THỰC HIỆN PHÒNG, CHỐNG LÃNG PHÍ PHẢI NHƯ CƠM ĂN, NƯỚC UỐNG HẰNG NGÀY

Kết luận Phiên họp thứ nhất của Ban Chỉ đạo phòng, chống lãng phí (Ban Chỉ đạo) được tổ chức trực tuyến với 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương vào sáng 25/2, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo yêu cầu nâng cao nhận thức và phải hành động cụ thể, thường xuyên phòng, chống lãng phí, như cơm ăn, nước uống hằng ngày của mỗi người.

Cần có hướng dẫn xử lý cơ sở vật chất trong sắp xếp tổ chức bộ máy
Lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương thẳng thắn chỉ rõ, lãng phí diễn ra khá phổ biến dưới nhiều hình thức, nhất là trong lĩnh vực quản lý tài chính, tài sản công, đầu tư công, đất đai, tài nguyên khoáng sản… gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng, làm suy giảm nguồn lực, tạo rào cản vô hình trong phát triển kinh tế - xã hội, bỏ lỡ thời cơ phát triển của đất nước. Đặc biệt, các đại biểu cho rằng, những lãng phí kể trên, một phần do vướng mắc về thể chế.
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, thực hiện việc rà soát các dự án đầu tư có khó khăn vướng mắc, tồn đọng kéo dài thuộc Ban Chỉ đạo theo Quyết định số 1568/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, tại 26 cơ quan Trung ương và 62 địa phương có hơn 1.000 dự án gặp vướng mắc, trong đó có 181 dự án đầu tư công, 801 dự án đầu tư ngoài ngân sách và 60 dự án hợp tác công tư (PPP). Tuy nhiên, lãnh đạo các địa phương cho biết, số lượng các dự án còn khó khăn, vướng mắc ở địa phương trên thực tế còn cao hơn nhiều do chưa thống kê hết và ở các mức độ, thẩm quyền giải quyết khác nhau.
Trong đó, các khó khăn, vướng mắc chủ yếu do thiếu vốn đầu tư, nợ đọng xây dựng cơ bản; việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, giải phóng mặt bằng, trùng lắp quy hoạch; thiếu thủ tục giao đất, cho thuê đất; không tuân thủ thủ tục đấu thầu, đấu giá lựa chọn nhà đầu tư; vướng mắc về vật liệu xây dựng…
Các đại biểu đề xuất tiếp tục hoàn thiện thể chế và có cơ chế đặc biệt, đặc thù tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án, nhất là các dự án có sai phạm được chỉ ra trong quá trình thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, các bản án… Đồng thời có hướng dẫn kịp thời để sắp xếp tài sản, cơ sở vật chất, tránh lãng phí trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.
Kết luận Phiên họp, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo ghi nhận ý kiến tâm huyết, trách nhiệm của các đại biểu dự họp; yêu cầu các Bộ, cơ quan theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao khẩn trương xử lý kiến nghị của các địa phương; kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền đối với những nội dung vượt thẩm quyền.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Tài chính phối hợp với Văn phòng Chính phủ, các bộ, ngành liên quan tổng hợp đầy đủ các ý kiến, sớm hoàn thiện, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Thông báo Kết luận Phiên họp; đồng thời xây dựng dự thảo Quyết định kiện toàn thành viên Ban Chỉ đạo theo tổ chức bộ máy mới, Kế hoạch hoạt động năm 2025 của Ban Chỉ đạo và phân công trách nhiệm cụ thể cho từng thành viên Ban Chỉ đạo, dự thảo Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện phòng, chống lãng phí.
Thủ tướng đánh giá, thời gian qua, công tác phòng, chống lãng phí được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo sát sao, được các Bộ, cơ quan, địa phương tập trung thực hiện và đã đạt được những kết quả bước đầu, đáng khích lệ. Hệ thống cơ chế, chính sách pháp luật chung tiếp tục được tập trung hoàn thiện; kịp thời tháo gỡ nhiều vướng mắc, đưa bổ sung các nguồn lực vào nền kinh tế; rà soát và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án điện năng lượng tái tạo, các vướng mắc về đất đai trong các kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án tại một số tỉnh, thành phố.
Trong đó, tại Đà Nẵng, đã có hơn 1.300 dự án sẽ được tháo gỡ giải quyết; 2 dự án bệnh viện Việt Đức cơ sở 2 và dự án Bệnh viện Bạch Mai cơ sở 2 tại Hà Nam; 4 ngân hàng yếu kém; các dự án mỏ khí lô B, Trung tâm nhiệt điện Ô Môn, các dự án năng lượng như đường dây tải điện 500kV mạch 3...
Nhấn mạnh, vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế, tồn đọng, lãng phí trong nhiều lĩnh vực như sử dụng tài sản công, đầu tư công, đất đai, tài nguyên, nguồn lực... (đơn cử, nhiều cơ sở nhà, đất không sử dụng, sử dụng kém hiệu quả hoặc không đúng mục đích; 9.497 cơ sở nhà đất và 9.606 tài sản công khác chưa được xử lý dứt điểm…), Thủ tướng Chính phủ cho rằng có nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân chủ quan là chính; đòi hỏi phải thẳng thắn nhìn nhận, có giải pháp phù hợp, kịp thời, linh hoạt, xử lý hiệu quả trong thời gian ngắn nhất có thể.
Gắn phòng, chống lãng phí với thúc đẩy tăng trưởng
Phân tích bối cảnh, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhất là nhiệm vụ phải đạt mục tiêu tăng trưởng 8% trong năm 2025, 2 con số trong những năm tiếp theo để đạt các mục tiêu 100 năm (100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập nước), Thủ tướng Phạm Minh Chính chỉ rõ, hiện nay chúng ta đã tháo gỡ thể chế, có kinh nghiệm xử lý và phối hợp hiệu quả, phải huy động tối đa nguồn lực để phục vụ yêu cầu phát triển.
Thủ tướng nêu rõ quan điểm việc phòng, chống lãng phí là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, của toàn dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; không có giới hạn về không gian và thời gian; làm liên tục, không ngừng nghỉ, từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài; phải gắn kết với cải cách bộ máy, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ công chức, viên chức; kết hợp chặt chẽ với cải cách hành chính, đơn giản hóa và cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm phiền hà, chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp, tăng cường phân cấp, phân quyền; phòng, chống lãng phí phải gắn với thúc đẩy tăng trưởng, kiểm soát lạm phát, thực hiện 3 đột phá chiến lược, đẩy mạnh khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; gắn kết chặt chẽ với tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, huy động nguồn lực.
Mong muốn, việc phòng, chống lãng phí phải trở thành tự giác, tự nguyện như cơm ăn, nước uống hằng ngày, Thủ tướng yêu cầu thống nhất về nhận thức, vai trò, tầm quan trọng của công tác phòng, chống lãng phí tại thời điểm hiện nay theo chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư Tô Lâm. Song song là phải hành động quyết liệt, làm việc nào dứt việc đó, với các chương trình, kế hoạch, mục tiêu, giải pháp cụ thể, trên tinh thần “rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ kết quả”; tiếp tục rà soát, khẩn trương hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật trên tất cả các lĩnh vực quản lý kinh tế - xã hội và phòng, chống lãng phí, nhất là xây dựng dự án Luật Tiết kiệm, chống lãng phí và Chiến lược quốc gia về phòng, chống lãng phí.
Đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu rà soát các dự án lãng phí, kéo dài và đề xuất cơ chế, chính sách xử lý phù hợp, kịp thời, hiệu quả, trên tinh thần “vừa làm vừa rút kinh nghiệm, mở rộng dần, không cầu toàn, không nóng vội”. Trong đó, thực hiện nghiêm các công điện của Thủ tướng Chính phủ về việc tập trung giải quyết dứt điểm các dự án tồn đọng, dừng thi công, khẩn trương triển khai, hoàn thành, đưa vào sử dụng chống lãng phí, thất thoát.
“Việc chậm trễ trong báo cáo của các Bộ, ngành, địa phương không chỉ thể hiện sự thiếu trách nhiệm trong thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến độ xử lý các dự án tồn đọng, kéo dài, làm gia tăng tình trạng lãng phí nguồn lực quốc gia; yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố phải nghiêm túc rút kinh nghiệm, quán triệt và chấn chỉnh ngay; Bộ Kế hoạch và Đầu tư, mà tới đây sẽ là Bộ Tài chính, cùng với Văn phòng Chính phủ giám sát chặt chẽ, tổng hợp báo cáo định kỳ, kịp thời đề xuất biện pháp xử lý đối với các đơn vị chậm trễ, không nghiêm túc thực hiện”, Thủ tướng chỉ đạo.
Cho rằng, trước những vấn đề đột xuất, phát sinh, đặc biệt, chưa có tiền lệ phải có cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt, tạo khung pháp lý phù hợp để xử lý, Thủ tướng Chính phủ lưu ý phải rà soát các thủ tục hành chính mà gây ách tắc, lãng phí nguồn lực để cải cách thủ tục hành chính; tăng cường phân cấp, phân quyền, nhất là trong quản lý các dự án đầu tư công theo tinh thần địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm. Trung ương, bộ, ngành không làm thay địa phương; vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của cấp nào, cơ quan, đơn vị, cá nhân nào thì cấp đó, cơ quan, đơn vị, cá nhân đó xử lý.
Chỉ đạo thực hiện quản trị thông minh và chuyển đổi số ở tất cả các cấp, các ngành, nhất là trong quản lý đất đai, tài sản công, tài chính, đất đai, tài nguyên…, góp phần phòng, chống lãng phí, Thủ tướng nhấn mạnh, các Bộ, ngành, địa phương cần đẩy nhanh việc ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) vào công tác quản lý, giám sát; đồng thời, đồng bộ hóa hạ tầng số, liên thông hệ thống dữ liệu giữa các cơ quan để tránh tình trạng mỗi đơn vị vận hành một hệ thống riêng lẻ, dẫn đến phân mảnh dữ liệu, gây khó khăn trong quản lý và khai thác thông tin.
Người đứng đầu Chính phủ yêu cầu các cơ quan, đơn vị, địa phương phải rà soát công tác phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương sao cho chặt chẽ, hiệu quả theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; xây dựng kế hoạch, chương trình hành động cụ thể trong phòng, chống lãng phí của cơ quan, đơn vị, địa phương; đồng thời góp ý, xây dựng Kế hoạch công tác năm 2025 của Ban Chỉ đạo.
Thủ tướng nhấn mạnh, các Bộ, cơ quan, địa phương phát huy sức mạnh đoàn kết, tinh thần đổi mới, không ngừng nỗ lực sáng tạo, dám nghĩ dám làm, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên, chung sức, đồng lòng, biến mọi khó khăn, thách thức thành cơ hội bứt phá, quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt để hoàn thành thắng lợi các mục tiêu đề ra. Trong đó, mỗi bộ ngành địa phương phải là những hạt nhân tiên phong khơi dậy mọi tiềm năng đưa đất nước vững bước đi lên, tiến vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng của dân tộc.

MƯU ĐỒ ĐEN TỐI CỦA VŨ ĐỨC KHANH

Sau gần 40 năm đổi mới, đất nước đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Vậy mà, trên trang Baotiengdan, Vũ Đức Khanh, có bài viết “Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng HCM và Chủ nghĩa Dân tộc Khai phóng; Lựa chọn lịch sử nào cho Việt Nam trong thế kỷ 21”. Bài viết cho rằng: Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng HCM là “không tưởng, Tập trung quyền lực cho ĐCSVN, kìm hãm sáng tạo…” và Chủ nghĩa Dân tộc Khai phóng mới là “Tự do, dân chủ, pháp trị…”. Thực chất, đây là những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội, phản động, nhằm chống phá Đảng và Nhà nước ta. Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam luôn có nhận thức sâu sắc rằng:

1. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng.
Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống quan điểm và học thuyết khoa học về con đường giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi chế độ áp bức, bóc lột bất công, tiến tới thực hiện sự nghiệp giải phóng con người. Học thuyết này được sáng lập bởi C. Mác, Ph. Ăngghen, sau đó được V.I. Lênin vận dụng và phát triển trong thực tiễn. Trên phạm vi thế giới, chỉ có chủ nghĩa Mác - Lênin phân tích đúng bản chất, phê phán chủ nghĩa tư bản sâu sắc nhất, triệt để nhất. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển của các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi. Với những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử sau gần 40 năm đổi mới đất nước, Đảng ta vẫn tiếp tục khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Đại hội XIII tiếp tục khẳng định tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây được coi là một trong những vấn đề “mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”.
2. Thực tiễn quá trình phát triển của Việt Nam sau gần 40 năm đổi mới đã khẳng định sự sáng suốt tài tình của Đảng ta.
Từ một nước nông nghiệp lạc hậu, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Sau gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện dưới sự lãnh đạo của Đảng, quy mô nền kinh tế phát triển mạnh, tổng sản phẩm quốc nội GDP năm 2023 đạt hơn 430 tỷ USD, tăng 58 lần so với năm 1986; lọt top 5 nước có quy mô kinh tế tăng nhiều nhất thế giới; GDP bình quân đầu người năm 2023 đạt gần 4.300 USD, tăng 58 lần so với những năm đầu đổi mới. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 190 quốc gia và vùng lãnh thổ; có quan hệ kinh tế, thương mại với hơn 230 đối tác và quan hệ hợp tác với hơn 300 tổ chức quốc tế. Việt Nam trở thành nền kinh tế lớn thứ 5 trong khu vực Đông Nam Á; đứng thứ 35 trên thế giới; quy mô thương mại trong top 20 thế giới. Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, chủ quyền quốc gia được giữ vững; đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh. Theo dự báo, đến năm 2030, quy mô GDP của Việt Nam đạt khoảng 800 tỷ USD, gấp 2,4 lần năm 2020; đến năm 2045, quy mô GDP đạt khoảng 2.400 tỷ USD, gấp 3 lần năm 2030 và gấp 6,9 lần năm 2020; trong những năm tới, với sự mở rộng hợp tác quốc tế, Việt Nam còn không ngừng phát triển toàn diện.
Thực tiễn sinh động nêu trên đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vai trò quản lý của Nhà nước, vai trò, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị trong sự nghiệp đổi mới. Đây là bằng chứng đanh thép nhất để bác bỏ những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Chúng ta tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; quản lý của Nhà nước; đề cao cảnh giác, nhận diện chính xác và kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và cuộc sống bình yên của nhân dân.

ĐỪNG GỬI NIỀM TIN MÙ QUÁNG

Dư luận đang quan tâm đến vụ việc TikToker Phạm Thoại kêu gọi hơn 16 tỷ đồng ủng hộ chị Lê Thị Thu Hòa (quê ở Ninh Thuận, có con trai bị ung thư máu đang chữa trị ở Singapore), song cho đến nay, chị Lê Thị Thu Hòa chưa chứng minh được số tiền trên có sử dụng đúng mục đích do phải ở quốc đảo sư tử thêm vài tháng nữa, theo yêu cầu của bác sĩ, để hỗ trợ chăm sóc cho bé Bắp-con chị Hòa.

Việc cộng đồng mạng, rồi một số người làm thiện nguyện kêu gọi chị Lê Thị Thu Hòa minh bạch các khoản chi tiêu từ thiện âu cũng là chuyện bình thường, khi thời gian qua từng có nghi vấn ca sĩ, danh hài không sử dụng đúng mục đích tiền hỗ trợ tới người dân.
Những vụ việc trên đã gây hoang mang, mất niềm tin trong cộng đồng, khiến hai chữ “từ thiện” bị sứt mẻ.
Không thể phủ nhận hiệu quả của việc kêu gọi quyên góp giúp đỡ từ "người nổi tiếng", bởi số lượng người theo dõi, người hâm mộ đông nên có sức lan tỏa rộng.
Bằng chứng là ở phiên livestream sao kê các khoản thu ủng hộ mẹ bé Bắp (Lê Thị Thu Hòa), dù TikToker Phạm Thoại đã lên tiếng yêu cầu mọi người không gửi tiền nữa nhưng vẫn có không ít cá nhân tiếp tục đổ tiền vào tài khoản của TikToker này để giúp cho mẹ con bé Bắp.
Ở thời đại bùng nổ thông tin, không ít cá nhân, tổ chức đã hành nghề ăn xin cõi mạng, lợi dụng lòng tốt của số đông để làm giàu. Việc không chuyên nghiệp, thiếu minh bạch trong công tác sao kê, công khai tiền cứu trợ đã gây ra nhiều ồn ào, một mất mười ngờ. Dân mạng cũng khó chịu khi chị Lê Thị Thu Hòa phát ngôn không đúng mực và bản thân chị này phải viết tâm thư xin lỗi cộng đồng mạng.
Câu chuyện trên cho thấy hoạt động từ thiện, thiện nguyện không chỉ đơn giản là cho đi, bởi nếu làm không đúng cách, không đúng người, không đúng địa chỉ... còn có thể kéo theo những hệ lụy không mong muốn.