Thứ Năm, 5 tháng 6, 2025

QUÂN ĐỘI CỦA DÂN, DO DÂN VÀ VÌ DÂN - BẢN CHẤT, MỤC TIÊU CỦA “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”

 

Có lẽ trong lịch sử thế giới, hiếm có quân đội nào mang đậm bản chất giai cấp công nhân, tính Nhân dân và tính dân tộc sâu sắc như Quân đội nhân dân Việt Nam. Tính nhân dân là nét đẹp truyền thống, cội nguồn sức mạnh vô địch, giúp Quân đội ta trong bất kỳ hoàn cảnh, điều kiện nào cũng luôn “trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, giáo dục và rèn luyện, ngay từ ngày đầu thành lập, Quân đội ta đã được giáo dục, rèn luyện theo bản chất Quân đội của dân và vì dân, từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu. Trong ký ức của Nhân dân ta, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” là biểu trưng cho những gì tốt đẹp nhất của những người con ưu tú luôn tận trung với nước, tận hiếu với dân.

Quân đội ta là quân đội của dân, do dân và vì dân bởi: “Lực lượng tham gia quân đội là những thanh niên yêu nước, con em của các giai cấp, các tầng lớp Nhân dân của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đại bộ phận là con em công nhân, nông dân và Nhân dân lao động. Qua giáo dục, rèn luyện trong quân đội, họ đã trở thành những cán bộ, chiến sĩ “Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân, chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội”. Là con em của Nhân dân, Quân đội ta luôn tận tụy với Nhân dân, sẵn sàng hy sinh quên mình vì hạnh phúc của Nhân dân.

Gắn bó với Nhân dân, từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu còn thể hiện sự tiếp nối giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam - một dân tộc nhỏ bé, thường xuyên phải đối đầu với giặc giã thiên tai. Hoàn cảnh, điều kiện địa lý đã sớm hình thành trong cốt cách con người Việt Nam phẩm chất kết hợp quân - dân chặt chẽ. Đạo lý “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ, bền gốc” không chỉ là bài học của những người “trị nước an dân”, mà còn là kế sách xây dựng sức mạnh quốc phòng toàn dân để khi cần thiết đương đầu với quân xâm lược.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Có dân là có tất cả”, “Quân dân một lòng, thì kháng chiến ắt thắng lợi, kiến quốc ắt thành công”. Nhân dân là nền tảng, là cội nguồn sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta. “Không có dân thì không có bộ đội”, “Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội”, vì thế Người luôn nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội: “Phải nhớ rằng dân là chủ. Dân như nước, mình như cá. Lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết”, “Phải dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì không kẻ địch nào có thể tiêu diệt được”. Xa rời Nhân dân, không gắn bó mật thiết với Nhân dân, không liên hệ chặt chẽ với nhân dân, không dựa vào dân thì Quân đội không thể có sức mạnh chiến đấu cao, không thể hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Từ Nhân dân mà ra, cho nên, vì Nhân dân chiến đấu, vì Nhân dân phục vụ là chức năng cơ bản, mục tiêu xuyên suốt, là nhiệm vụ cao cả của Quân đội nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Quân đội ta là Quân đội nhân dân. Nghĩa là con em ruột thịt của Nhân dân. Đánh giặc để tranh lại độc lập thống nhất cho Tổ quốc, để bảo vệ tự do hạnh phúc của Nhân dân. Ngoài lợi ích của nhân dân, Quân đội ta không có lợi ích nào khác”.  

Vì Nhân dân mà chiến đấu là một nét đặc trưng nổi bật trong bản chất, truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đặc trưng “vì Nhân dân mà chiến đấu” của Quân đội ta được thể hiện ở mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì ấm no, tự do, hạnh phúc của Nhân dân. “Vì nhân dân mà chiến đấu” trở thành động lực tinh thần to lớn thôi thúc lớp lớp cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, quyết tâm thực hiện bằng được mục tiêu, lý tưởng: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tự do, ấm no, hạnh phúc của Nhân dân.

Mục tiêu “Vì Nhân dân chiến đấu” là cơ sở để Quân đội ta có được sức mạnh đoàn kết, thống nhất, ý chí quyết tâm cao, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, xây dựng nên nghệ thuật quân sự đặc sắc Việt Nam, làm nên tầm vóc anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp chiến đấu giành độc lập dân tộc và bảo vệ Tổ quốc với những chiến công, thắng lợi hiển hách mang tầm thời đại.

Mục tiêu “Vì Nhân dân chiến đấu” còn được thể hiện ở việc Quân đội ta thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ đội quân công tác, tuyên truyền, giáo dục, vận động Nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. “Vì Nhân dân chiến đấu” còn được thể hiện trong việc thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ đội quân lao động sản xuất, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân.

Hiện nay, các thế lực thù địch đang đẩy mạnh “Diễn biến hòa bình”, chống phá Đảng, Nhà nước ta, đặc biệt, chúng dùng mọi thủ đoạn hòng thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội, tìm cách vô hiệu hóa sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Chúng đưa ra nhiều luận điểm lập lờ, không cơ sở như: Quân đội trung lập, quân đội đứng ngoài chính trị… nhằm ly gián Quân đội với Đảng, với nhân dân; làm cho cán bộ, chiến sĩ mất mục tiêu chiến đấu, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Để góp phần ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch phản động trong nước câu kết với nước ngoài, giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính Nhân dân và tính dân tộc của Quân đội cách mạng, yêu cầu đặt ra với toàn quân đó là phải quán triệt, thực hiện tốt một số nội dung sau:

Thứ nhất, cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với Quân đội, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo Quân đội không nhằm mục đích nào khác là để Quân đội có bản chất giai cấp công nhân, tính Nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Sự lãnh đạo của Đảng với Quân đội chính là cơ sở để khẳng định, giữ vững mục tiêu chiến đấu của quân đội, là yếu tố hàng đầu quyết định sức mạnh của Quân đội.

Thứ hai, cần tăng cường giáo dục, nâng cao ý thức phục vụ Nhân dân, giữ vững, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong điều kiện mới. Tận trung với Đảng, tận hiếu với dân là bản chất cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”, là sự thể hiện sáng rõ nhất tinh thần phục vụ Nhân dân, phục vụ lý tưởng của Quân đội Việt Nam.

Thứ ba, Quân đội cần tích cực tham gia các chương trình phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, giúp đỡ nhân dân khắc phục khó khăn, phát triển sản xuất, ổn định và từng bước nâng cao đời sống, phòng chống thiên tai.

Trải qua 80 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam phát triển từ một đội quân nhỏ bé, trang bị thô sơ trở thành một quân đội hùng mạnh, biểu tượng của tinh thần quyết chiến, quyết thắng của dân tộc Việt Nam, niềm tự hào của nhân dân Việt Nam và bạn bè yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Quân đội ta luôn kiên định, vững vàng, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng vì nhân dân mà chiến đấu, hy sinh. Truyền thống gắn bó máu thịt với nhân dân là một trong những phẩm chất đặc trưng làm nên hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”.

Lý tưởng vì Nhân dân chiến đấu vừa là mục tiêu, vừa là động lực, nguồn cội tạo nên sức mạnh của Quân đội, bảo đảm cho Quân đội thực sự mang bản chất giai cấp công nhân, luôn được nhân dân tin yêu, mến phục. Trước yêu cầu của cách mạng trong giai đoạn mới, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tích cực tham gia tuyên truyền, ổn định và nâng cao đời sống nhân dân chính là biểu hiện sinh động bản chất của Quân đội cách mạng của dân, do dân, vì dân; gắn bó máu thịt với Nhân dân, mang tính Nhân dân, tính dân tộc sâu sắc.

 

 

PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI CỦA THÍCH NHẬT TỪ !

         Thời gian gần đây, các phát ngôn chính trị của Thượng tọa Thích Nhật Từ, đặc biệt là về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và con đường giành độc lập của dân tộc Việt Nam, đã gây ra nhiều tranh luận gay gắt trong dư luận xã hội. Ông từng tuyên bố rằng Việt Nam có thể giành độc lập, thống nhất đất nước mà không cần đổ máu và so sánh cuộc chiến tranh Việt Nam với việc hòa bình thống nhất của Đông Đức và Tây Đức. Những luận điểm này không chỉ phiến diện, thiếu cơ sở mà còn phủ nhận sự hy sinh to lớn của dân tộc ta trong lịch sử đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước.

Mọi công dân, dù là tu sĩ hay không, đều có quyền bày tỏ quan điểm chính trị của mình. Tuy nhiên, quyền tự do ngôn luận không là quyền được nói sai sự thật, xuyên tạc lịch sử hoặc tuyên truyền chống phá chế độ. Khi ông Thích Nhật Từ phát ngôn những quan điểm sai trái, phủ nhận sự cần thiết của cuộc chiến tranh chính nghĩa, ông phải chịu sự phản bác và đấu tranh của cộng đồng và pháp luật.

Việc có người đấu tranh chống lại quan điểm sai trái đó là điều tất yếu và cần thiết để bảo vệ sự thật lịch sử, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Không ai có quyền yêu cầu người khác phải im lặng khi những luận điểm sai trái được phát biểu.

Yêu chế độ không phải thần tượng mù quáng

Một nghịch lý rõ ràng hiện nay là nhiều người tự nhận yêu chế độ nhưng lại bênh vực một cách mù quáng những luận điệu sai trái của ông Thích Nhật Từ. Yêu chế độ là bảo vệ sự thật, bảo vệ sự trong sáng của lịch sử và tư tưởng. Việc bảo vệ những luận điệu xuyên tạc, phá hoại chính là làm suy yếu chế độ đó.

Thần tượng cá nhân một cách tuyệt đối, dù người đó nói sai, chính là biểu hiện của độc tài tư tưởng, cản trở sự phát triển của xã hội dân chủ, đa chiều. Không ai có quyền đứng trên sự thật để ép buộc người khác phải chấp nhận những quan điểm sai lệch.

So sánh giữa cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam với việc hòa bình thống nhất Đông Đức – Tây Đức hay các quốc gia thuộc địa được trả độc lập không đổ máu như Ấn Độ là phiến diện và thiếu trách nhiệm. Mỗi quốc gia có bối cảnh lịch sử, chính trị khác nhau.

Việt Nam đã trải qua chiến tranh quy mô lớn với sự hy sinh hàng triệu người để bảo vệ độc lập, chủ quyền. Mỹ đến Việt Nam là kẻ xâm lược trực tiếp, khác hoàn toàn với các tình huống quốc tế khác. Việc phủ nhận hay so sánh tùy tiện làm mất giá trị lịch sử chân chính, xúc phạm những người đã hy sinh.

Văn hóa tranh luận: Nền tảng để bảo vệ sự thật

Trong các bài viết bảo vệ ông Thích Nhật Từ có không ít biểu hiện thiếu văn hóa tranh luận: mỉa mai, xúc phạm, đánh đồng người đấu tranh với “hồng vệ binh tâm thần chính trị”, “đấu tố”, hay dùng lời lẽ kích động chia rẽ.

Chẳng hạn, việc gọi người phản biện là “tâm thần”, so sánh đại tướng Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết với “các thánh hồng vệ binh tâm thần” là cách nói thiếu tôn trọng và phản khoa học, làm mất đi không gian đối thoại xây dựng.

Văn hóa tranh luận đòi hỏi sự tôn trọng lẫn nhau, tranh luận trên cơ sở lý luận, chứng cứ, và không xúc phạm cá nhân. Đó là cách duy nhất giúp xã hội tiến bộ, giúp sự thật được tôn vinh, bảo vệ nền tảng tư tưởng bền vững.

Đấu tranh với những quan điểm sai trái, xuyên tạc lịch sử của ông Thích Nhật Từ không phải là chống phá tôn giáo, mà là bảo vệ sự thật, bảo vệ nền tảng tư tưởng của đất nước. Bảo vệ ông một cách mù quáng và cấm người khác phản biện là biểu hiện của độc tài tư tưởng, làm suy yếu xã hội.

Mỗi công dân yêu nước phải tỉnh táo, phân biệt rõ giữa yêu nước chân chính và thần tượng mù quáng. Phải đấu tranh trên tinh thần văn minh, có trách nhiệm để giữ gìn sự thật lịch sử, bảo vệ công lý và góp phần xây dựng đất nước phát triển vững mạnh./.

ĐỪNG HỎI TỔ QUỐC ĐÃ LÀM GÌ CHO TA

 

“Thế hệ trẻ hôm nay được sinh ra và lớn lên khi đất nước đã hòa bình và luôn tự hào nối tiếp tinh thần yêu nước được trao truyền từ thế hệ cha ông đi trước. Tình yêu quê hương đất nước, niềm tự hào dân tộc luôn là một mạch nguồn đã thấm sâu, chảy mãi, ngày càng được hun đúc, tỏa sáng trong tâm hồn mỗi người trẻ”...

Khi chúng ta biết ơn từ những điều bé nhỏ.

Lòng biết ơn theo quan niệm của người Việt Nam “là sự bày tỏ thái độ trân trọng, tình cảm và những việc làm đền ơn, đáp nghĩa đối với những người đã giúp đỡ mình, với những người có công với dân tộc, đất nước” (Giáo dục công dân - Bộ GD&ĐT). Theo đó, lòng biết ơn được hiểu là một tình cảm, thái độ và hành động tốt đẹp thể hiện phẩm chất đạo đức, đức tính tốt đẹp của con người đối với cộng đồng đặt trong tổng thể các mối quan hệ xã hội diễn ra hàng ngày, hàng giờ. Đồng nghĩa với lòng biết ơn thể hiện bản ngã con người, quyết định sự sinh tồn của con người đối với cuộc sống hiện tại. Bởi thế, từ xưa đến nay, việc giáo dục lòng biết ơn luôn được chú trọng từ gia đình đến nhà trường và xã hội, bởi “Uống nước nhớ nguồn” luôn là truyền thống quý báu và tốt đẹp của dân tộc ta./.

BẢO VỆ CÔNG LÝ, CỦNG CỐ NIỀM TIN

     Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta đang được tiến hành trên tinh thần không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm và không có ngoại lệ.

Một trong những nhiệm vụ trọng yếu và thường xuyên là yêu cầu cấp thiết để bảo vệ công lý và củng cố niềm tin của nhân dân vào hệ thống pháp luật là thu hồi tài sản tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

1. Thực tế thời gian qua cho thấy, các đại án về kinh tế và tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được cơ quan có thẩm quyền phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử luôn có tính chất phức tạp và tác động sâu rộng đến đời sống xã hội. Vấn đề đáng quan tâm là ngoài việc xử lý nghiêm minh các đối tượng phạm tội theo quy định, công tác thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ việc, vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế đối mặt không ít khó khăn, thách thức.

Dù là việc khó, phức tạp và nhạy cảm, nhưng Đảng, Nhà nước ta xác định nhất quán quan điểm phải làm triệt để việc thu hồi tài sản tham nhũng, từ đó mới đủ sức phòng ngừa, răn đe trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Trong quá trình này, các cơ quan chức năng đã chủ động phối hợp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác giám định, định giá tài sản và thu hồi tài sản tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Đáng chú ý, từ ngày 1-1-2025, thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về thí điểm cơ chế xử lý vật chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan có thẩm quyền đã đề xuất được giải pháp xử lý tài sản, vật chứng của nhiều vụ án ngay trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Việc này đã giúp cơ quan chức năng sớm giải tỏa tài sản, đưa vào lưu thông, tránh thất thoát, lãng phí, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân liên quan, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Những biện pháp quyết liệt, triệt để đã giúp việc thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng vào kết quả chung của công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Theo Ban Chỉ đạo trung ương về Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đối với các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo, từ sau phiên họp 27 (ngày 31-12-2024) đến ngày 25-3-2025, các cơ quan chức năng đã hoàn thành 12 kết luận về giám định, định giá tài sản tham nhũng. Các cơ quan thi hành án dân sự đã thu hồi được hơn 6.000 tỷ đồng tài sản tham nhũng, nâng tổng số tiền thu hồi được từ khi thành lập Ban Chỉ đạo đến ngày 25-3-2025 là 102.040 tỷ đồng.

Rõ ràng, việc thu hồi tài sản tham nhũng có vai trò quan trọng, ngoài thu hồi lại tài sản của Nhà nước, cá nhân, doanh nghiệp..., còn có tác dụng răn đe, phòng ngừa. Đây cũng là giải pháp góp phần khắc phục triệt để thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức, có quyền.

2. Hiện nay, cơ quan chức năng đang tập trung xử lý nhiều đại án tham nhũng và kinh tế. Một trong những vấn đề liên quan được dư luận đặc biệt quan tâm là việc thu hồi một lượng lớn tài sản tham nhũng cho Nhà nước và nhân dân tại các vụ án, như: Công ty cổ phần Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, Cục Đăng kiểm Việt Nam và các đơn vị liên quan, Tập đoàn Phúc Sơn, Tập đoàn Thuận An, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Dự án Sài Gòn - Đại Ninh (tỉnh Lâm Đồng), Công ty Xuyên Việt Oil, Công ty AIC...

Thu hồi triệt để tài sản tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là một trong những công việc quan trọng trong quá trình xử lý các vụ án tham nhũng, kinh tế. Tuy nhiên, trong cuộc chiến với “giặc nội xâm” này, có một vấn đề cần quan tâm là các đối tượng khi phạm tội thường chuẩn bị kỹ lưỡng, kể cả trước, trong và sau giai đoạn phạm tội nhằm che giấu, chuyển đổi, tẩu tán tài sản một cách tinh vi và có hệ thống. Do đó, trong mọi trường hợp, dù có khó khăn đến mấy, việc thu hồi tài sản của Nhà nước bị chiếm đoạt, thất thoát luôn là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách của các cơ quan chức năng và toàn xã hội.

Cũng bởi những khó khăn và phức tạp đang đặt ra nên nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực ngày càng nặng nề hơn, nhất là công tác thu hồi tài sản tham nhũng. Kiên định tinh thần không ngừng, không nghỉ và ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu trong tình hình mới, cùng với các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đang thực hiện đồng bộ và hiệu quả, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 287-QĐ/TƯ (ngày 30-4-2025) về thu hồi tài sản do tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được phát hiện qua công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.

Quy định nêu rõ nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất, chặt chẽ, toàn diện của Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát, xác minh và thu hồi tài sản do tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Để bảo đảm tính nghiêm minh, quy định cũng nêu rõ, việc thu hồi tài sản phải đúng trình tự, thủ tục, cùng với quá trình xử lý kỷ luật đối với tổ chức Đảng, đảng viên vi phạm. Tài sản sau khi thu hồi phải được quản lý, bảo quản, sử dụng đúng quy định.

Đặc biệt, để ngăn chặn hành vi phạm pháp, ủy ban kiểm tra các cấp có thể yêu cầu cơ quan chức năng có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ, kê biên, phong tỏa tiền, tài khoản, tài sản nếu có căn cứ xác định đối tượng kiểm tra, giám sát có dấu hiệu hủy hoại, tẩu tán tài sản...

Một điểm đáng chú ý là quy định khuyến khích phát huy tinh thần gương mẫu, tự giác, trung thực của cán bộ, đảng viên. Vì vậy, quy định nêu rõ một trong những căn cứ để thu hồi là tổ chức Đảng, đảng viên và các tổ chức, cá nhân có liên quan chủ động báo cáo và tự giác nộp lại tài sản đã nhận do tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trước khi bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện, kết luận; chủ động nộp tài sản khắc phục hậu quả do vi phạm dẫn đến thiệt hại tài sản của Nhà nước...

Như vậy, người cán bộ, đảng viên, nhất là người có chức, có quyền trong mọi trường hợp, kể cả khi tay đã “nhúng chàm”, vẫn phải thể hiện phẩm chất tiên phong, gương mẫu. Ở đây có thể hiểu, tinh thần gương mẫu, tự giác, trung thực trong giao nộp tài sản phi pháp họ sẽ được cơ quan bảo vệ pháp luật xem xét khoan hồng, đồng thời góp phần bảo đảm uy tín, giữ vững thanh danh và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng.

Tinh thần nhất quán và kiên định trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta là tiến hành trên cơ sở bám sát và phục vụ có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị của đất nước. Đặc biệt, các giải pháp triển khai đều hướng đến mục tiêu phòng ngừa là chính; đồng thời phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí, tiêu cực không có vùng cấm, không có ngoại lệ và gắn với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc.

Vấn đề được ưu tiên là thu hồi tài sản tối đa cho Nhà nước và nhân dân, trên cơ sở xem xét xử lý bằng kinh tế, dân sự, hành chính, cuối cùng mới là xử lý hình sự. Nhưng trên hết đó là thượng tôn pháp luật để góp phần xây dựng văn hóa liêm chính, chí công vô tư và không tham nhũng, không lãng phí, không tiêu cực trở thành việc làm tự giác, tự nguyện, “như cơm ăn, nước uống hằng ngày” trong mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân.

BẢO VỆ CÔNG LÝ, CỦNG CỐ NIỀM TIN


Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta đang được tiến hành trên tinh thần không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm và không có ngoại lệ.

Một trong những nhiệm vụ trọng yếu và thường xuyên là yêu cầu cấp thiết để bảo vệ công lý và củng cố niềm tin của nhân dân vào hệ thống pháp luật là thu hồi tài sản tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

1. Thực tế thời gian qua cho thấy, các đại án về kinh tế và tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được cơ quan có thẩm quyền phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử luôn có tính chất phức tạp và tác động sâu rộng đến đời sống xã hội. Vấn đề đáng quan tâm là ngoài việc xử lý nghiêm minh các đối tượng phạm tội theo quy định, công tác thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ việc, vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế đối mặt không ít khó khăn, thách thức.

Dù là việc khó, phức tạp và nhạy cảm, nhưng Đảng, Nhà nước ta xác định nhất quán quan điểm phải làm triệt để việc thu hồi tài sản tham nhũng, từ đó mới đủ sức phòng ngừa, răn đe trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Trong quá trình này, các cơ quan chức năng đã chủ động phối hợp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác giám định, định giá tài sản và thu hồi tài sản tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Đáng chú ý, từ ngày 1-1-2025, thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về thí điểm cơ chế xử lý vật chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan có thẩm quyền đã đề xuất được giải pháp xử lý tài sản, vật chứng của nhiều vụ án ngay trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Việc này đã giúp cơ quan chức năng sớm giải tỏa tài sản, đưa vào lưu thông, tránh thất thoát, lãng phí, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân liên quan, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Những biện pháp quyết liệt, triệt để đã giúp việc thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng vào kết quả chung của công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Theo Ban Chỉ đạo trung ương về Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đối với các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo, từ sau phiên họp 27 (ngày 31-12-2024) đến ngày 25-3-2025, các cơ quan chức năng đã hoàn thành 12 kết luận về giám định, định giá tài sản tham nhũng. Các cơ quan thi hành án dân sự đã thu hồi được hơn 6.000 tỷ đồng tài sản tham nhũng, nâng tổng số tiền thu hồi được từ khi thành lập Ban Chỉ đạo đến ngày 25-3-2025 là 102.040 tỷ đồng.

Rõ ràng, việc thu hồi tài sản tham nhũng có vai trò quan trọng, ngoài thu hồi lại tài sản của Nhà nước, cá nhân, doanh nghiệp..., còn có tác dụng răn đe, phòng ngừa. Đây cũng là giải pháp góp phần khắc phục triệt để thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức, có quyền.

2. Hiện nay, cơ quan chức năng đang tập trung xử lý nhiều đại án tham nhũng và kinh tế. Một trong những vấn đề liên quan được dư luận đặc biệt quan tâm là việc thu hồi một lượng lớn tài sản tham nhũng cho Nhà nước và nhân dân tại các vụ án, như: Công ty cổ phần Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, Cục Đăng kiểm Việt Nam và các đơn vị liên quan, Tập đoàn Phúc Sơn, Tập đoàn Thuận An, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Dự án Sài Gòn - Đại Ninh (tỉnh Lâm Đồng), Công ty Xuyên Việt Oil, Công ty AIC...

Thu hồi triệt để tài sản tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là một trong những công việc quan trọng trong quá trình xử lý các vụ án tham nhũng, kinh tế. Tuy nhiên, trong cuộc chiến với “giặc nội xâm” này, có một vấn đề cần quan tâm là các đối tượng khi phạm tội thường chuẩn bị kỹ lưỡng, kể cả trước, trong và sau giai đoạn phạm tội nhằm che giấu, chuyển đổi, tẩu tán tài sản một cách tinh vi và có hệ thống. Do đó, trong mọi trường hợp, dù có khó khăn đến mấy, việc thu hồi tài sản của Nhà nước bị chiếm đoạt, thất thoát luôn là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách của các cơ quan chức năng và toàn xã hội.

Cũng bởi những khó khăn và phức tạp đang đặt ra nên nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực ngày càng nặng nề hơn, nhất là công tác thu hồi tài sản tham nhũng. Kiên định tinh thần không ngừng, không nghỉ và ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu trong tình hình mới, cùng với các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đang thực hiện đồng bộ và hiệu quả, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 287-QĐ/TƯ (ngày 30-4-2025) về thu hồi tài sản do tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được phát hiện qua công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.

Quy định nêu rõ nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất, chặt chẽ, toàn diện của Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát, xác minh và thu hồi tài sản do tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Để bảo đảm tính nghiêm minh, quy định cũng nêu rõ, việc thu hồi tài sản phải đúng trình tự, thủ tục, cùng với quá trình xử lý kỷ luật đối với tổ chức Đảng, đảng viên vi phạm. Tài sản sau khi thu hồi phải được quản lý, bảo quản, sử dụng đúng quy định.

Đặc biệt, để ngăn chặn hành vi phạm pháp, ủy ban kiểm tra các cấp có thể yêu cầu cơ quan chức năng có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ, kê biên, phong tỏa tiền, tài khoản, tài sản nếu có căn cứ xác định đối tượng kiểm tra, giám sát có dấu hiệu hủy hoại, tẩu tán tài sản...

Một điểm đáng chú ý là quy định khuyến khích phát huy tinh thần gương mẫu, tự giác, trung thực của cán bộ, đảng viên. Vì vậy, quy định nêu rõ một trong những căn cứ để thu hồi là tổ chức Đảng, đảng viên và các tổ chức, cá nhân có liên quan chủ động báo cáo và tự giác nộp lại tài sản đã nhận do tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trước khi bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện, kết luận; chủ động nộp tài sản khắc phục hậu quả do vi phạm dẫn đến thiệt hại tài sản của Nhà nước...

Như vậy, người cán bộ, đảng viên, nhất là người có chức, có quyền trong mọi trường hợp, kể cả khi tay đã “nhúng chàm”, vẫn phải thể hiện phẩm chất tiên phong, gương mẫu. Ở đây có thể hiểu, tinh thần gương mẫu, tự giác, trung thực trong giao nộp tài sản phi pháp họ sẽ được cơ quan bảo vệ pháp luật xem xét khoan hồng, đồng thời góp phần bảo đảm uy tín, giữ vững thanh danh và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng.

Tinh thần nhất quán và kiên định trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta là tiến hành trên cơ sở bám sát và phục vụ có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị của đất nước. Đặc biệt, các giải pháp triển khai đều hướng đến mục tiêu phòng ngừa là chính; đồng thời phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí, tiêu cực không có vùng cấm, không có ngoại lệ và gắn với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc.

Vấn đề được ưu tiên là thu hồi tài sản tối đa cho Nhà nước và nhân dân, trên cơ sở xem xét xử lý bằng kinh tế, dân sự, hành chính, cuối cùng mới là xử lý hình sự. Nhưng trên hết đó là thượng tôn pháp luật để góp phần xây dựng văn hóa liêm chính, chí công vô tư và không tham nhũng, không lãng phí, không tiêu cực trở thành việc làm tự giác, tự nguyện, “như cơm ăn, nước uống hằng ngày” trong mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân.

  

BI KỊCH THẢM HẠI CỦA BÙI TÍN - KẺ PHẢN BỘI ĐÁNG KHINH!

         “Thân ở xứ người, đạo vẫn thuộc về Nam. Kẻ phản bội, dù ở đâu cũng là nghịch”. Đây có lẽ là câu nói chuẩn xác nhất về những người con xa xứ, có người dù ở đâu cũng là con Lạc cháu Hồng, nhưng có những kẻ đã sẵn lòng phản nghịch thì dù đi tới chân trời góc biển cũng bị khinh rẻ như rác rưởi. Nếu Ukraine có Zelensky - ông là Anh hùng Liên Xô, cháu nội thì đi thờ phát xít thì ở Việt Nam, chúng ta có trường hợp của Bùi Tín - một điển hình cho sự phản bội, để rồi sống cuộc đời lưu vong, không tổ quốc, không niềm tin và chết trong tuyệt vọng.

Bùi Tín - Xuất thân từ một gia đình cách mạng tiêu biểu và những cống hiến ban đầu cho cách mạng

Bùi Tín sinh năm 1927 tại Nghệ An - vùng quê giàu truyền thống cách mạng. Cha ông là cụ Bùi Bằng Đoàn - một chí sĩ yêu nước, từng giữ chức Thượng thư Bộ Hình triều Nguyễn và sau này là Trưởng ban Thường trực Quốc hội khóa I – một nhân cách lớn, tận tụy với cách mạng, được Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng. Tuổi trẻ của Bùi Tín gắn liền với nhiệt huyết cách mạng, từng tham gia kháng chiến chống Pháp, công tác trong ngành báo chí quân đội, thậm chí Bùi Tín đã có mặt ở dinh Độc Lập ngày 30 tháng 4 năm 1975 với tư cách phóng viên chiến trường. Sau chiến tranh, Bùi Tín tiếp tục viết báo, từng làm đến Phó Tổng biên tập báo Nhân dân, kiêm Tổng Biên tập tuần báo Nhân dân Chủ Nhật, Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Không thể phủ nhận, trong giai đoạn đầu, Bùi Tín là một cán bộ có năng lực, từng có nhiều bài viết sắc sảo phục vụ công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ. Ông tham gia mặt trận Điện Biên Phủ, công tác trong quân đội với tư cách một nhà báo chiến trường. Trong thời kỳ chống Mỹ, Bùi Tín còn là phóng viên chiến trường có mặt ở nhiều nơi ác liệt, phản ánh tinh thần chiến đấu quật cường của quân dân ta. Những đóng góp ấy, nếu được giữ vững, có thể giúp ông trở thành một cán bộ lão thành đáng kính. Nhưng thật tiếc, ông đã lựa chọn con đường ngược lại.

Pha “lật mặt” phản bội - tự chặt đứt cội nguồn dân tộc

Cuối thập niên 1980, Bùi Tín bắt đầu bộc lộ tư tưởng dao động, bất mãn, xa rời lý tưởng cách mạng. Năm 1990, Bùi Tín đào ngũ sang Pháp dưới danh nghĩa “chữa bệnh” rồi ở lại, chính thức phản bội Tổ quốc. Tại đây, kẻ phản bội không ngừng viết hồi ký, trả lời báo đài nước ngoài, công khai xuyên tạc sự thật lịch sử, bôi nhọ Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh - người từng gần gũi, nâng đỡ cha ông. Từ một sĩ quan cấp cao của quân đội, Bùi Tín trở thành công cụ tuyên truyền cho các thế lực thù địch, đi ngược lại lợi ích quốc gia dân tộc.

Khi kẻ thù cũng không tin tưởng kẻ phản bội

Dù Bùi Tín từng được truyền thông phương Tây khai thác như một “con bài chiến lược”, nhưng thực tế, kẻ thù chưa bao giờ xem Bùi Tín là người bạn hay đối tác tin cậy. Với bản chất thực dụng, các thế lực phương Tây hiểu rõ: ai phản bội quê hương mình thì cũng có thể phản bội họ. Sau một thời gian được sử dụng như “loa tuyên truyền”, Bùi Tín bị chính những kẻ từng tung hô quay lưng, phải sống cuộc đời cô độc ở ngoại ô Paris, không quốc tịch, không tổ chức nào thật sự bảo trợ, bị đồng hương xa lánh, người phương Tây nghi kỵ.

Kết cục thảm hại - không quê hương, không niềm tin

Bùi Tín qua đời năm 2018 tại Pháp, kết thúc cuộc đời lưu vong trong sự quên lãng. Không tổ chức quốc tế nào tiếc thương, không đồng bào nào tưởng niệm, không quê hương nào đón nhận. Cái chết của Bùi Tín là minh chứng rõ ràng cho kết cục của những kẻ quay lưng với dân tộc và với chính gia đình mình: sống cô độc, chết không ai thương tiếc. Không chỉ thất bại về chính trị, Bùi Tín còn thất bại về nhân cách, trở thành bài học lịch sử, một dấu gạch đen trong hàng ngũ những người từng cống hiến trong kháng chiến.

Bài học cho hôm nay - Đừng bao giờ đánh mất lý tưởng cách mạng

Câu chuyện bi kịch của Bùi Tín không đơn thuần là một cá nhân lạc bước, mà là lời cảnh tỉnh sâu sắc cho mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay. Trong thời đại bùng nổ thông tin, mặt trận tư tưởng - văn hóa đang trở thành trận tuyến nóng bỏng. Ở đó, từng câu nói, từng dòng trạng thái, từng tư tưởng dao động cũng có thể là mầm mống làm xói mòn lý tưởng cách mạng nếu không có bản lĩnh vững vàng.

Bài học đầu tiên và sâu sắc nhất, đó là: trung thành với lý tưởng của Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân phải là nguyên tắc sống còn của mỗi người cán bộ, đảng viên. Bùi Tín từng là người đứng trong hàng ngũ ưu tú, từng có công lao, nhưng chỉ vì đánh mất niềm tin vào con đường cách mạng, mà rơi vào vòng xoáy của thù địch, trở thành công cụ cho những thế lực chống phá đất nước. Trung thành không chỉ là lời thề, mà là bản lĩnh giữ mình trước mọi cám dỗ của vật chất, danh vọng và cả những ngụy biện có vẻ “văn minh”, “tiến bộ” nhưng thực chất là ngọn giáo đâm vào lưng dân tộc.

Thứ hai, cần nhận thức rõ: mọi âm mưu “dân chủ hóa”, “đa nguyên đa đảng”, hay “tự do ngôn luận vô giới hạn” mà các thế lực thù địch rao giảng không phải vì hạnh phúc của Nhân dân Việt Nam, mà để làm tan rã khối đoàn kết dân tộc, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bùi Tín là nạn nhân của sự ảo tưởng đó, tưởng rằng phương Tây sẽ bảo vệ và tôn trọng, nhưng rồi lại sống những năm cuối đời trong sự nghi kỵ, lạnh lùng và xa lánh ngay cả từ chính “đồng minh” của mình.

Thứ ba, giới trẻ hôm nay phải rèn luyện khả năng “đề kháng tư tưởng” - tức là biết sàng lọc thông tin, phân biệt đúng sai, thật giả. Không ít người trẻ, vì thiếu kiến thức nền tảng về lịch sử, chính trị, đã bị những bài viết, video, luận điệu xuyên tạc trên mạng xã hội dẫn dắt. Từ ngưỡng mộ sai lệch đến chia sẻ, ủng hộ, rồi nghi ngờ chính chế độ - đó chính là con đường trượt dài mà Bùi Tín từng đi.
Lịch sử luôn công bằng. Nó không bao giờ dung thứ cho những kẻ phản bội. Và nó cũng chưa từng phụ bạc những con người trung kiên, tận tụy vì lý tưởng của dân tộc. Giữ được lý tưởng, giữ được niềm tin - ấy mới là giữ được chính mình./.
Khuyết danh ST!

ĐẤU TRANH VỚI QUAN ĐIỂM SAI TRÁI CỦA THÍCH NHẬT TỪ CẦN VĂN HÓA TRANH LUẬN!

         Thời gian gần đây, các phát ngôn chính trị của Thượng tọa Thích Nhật Từ, đặc biệt là về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và con đường giành độc lập của dân tộc Việt Nam, đã gây ra nhiều tranh luận gay gắt trong dư luận xã hội. Ông từng tuyên bố rằng Việt Nam có thể giành độc lập, thống nhất đất nước mà không cần đổ máu và so sánh cuộc chiến tranh Việt Nam với việc hòa bình thống nhất của Đông Đức và Tây Đức. Những luận điểm này không chỉ phiến diện, thiếu cơ sở mà còn phủ nhận sự hy sinh to lớn của dân tộc ta trong lịch sử đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước.

Mọi công dân, dù là tu sĩ hay không, đều có quyền bày tỏ quan điểm chính trị của mình. Tuy nhiên, quyền tự do ngôn luận không là quyền được nói sai sự thật, xuyên tạc lịch sử hoặc tuyên truyền chống phá chế độ. Khi ông Thích Nhật Từ phát ngôn những quan điểm sai trái, phủ nhận sự cần thiết của cuộc chiến tranh chính nghĩa, ông phải chịu sự phản bác và đấu tranh của cộng đồng và pháp luật.

Việc có người đấu tranh chống lại quan điểm sai trái đó là điều tất yếu và cần thiết để bảo vệ sự thật lịch sử, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Không ai có quyền yêu cầu người khác phải im lặng khi những luận điểm sai trái được phát biểu.

Yêu chế độ không phải thần tượng mù quáng

Một nghịch lý rõ ràng hiện nay là nhiều người tự nhận yêu chế độ nhưng lại bênh vực một cách mù quáng những luận điệu sai trái của ông Thích Nhật Từ. Yêu chế độ là bảo vệ sự thật, bảo vệ sự trong sáng của lịch sử và tư tưởng. Việc bảo vệ những luận điệu xuyên tạc, phá hoại chính là làm suy yếu chế độ đó.

Thần tượng cá nhân một cách tuyệt đối, dù người đó nói sai, chính là biểu hiện của độc tài tư tưởng, cản trở sự phát triển của xã hội dân chủ, đa chiều. Không ai có quyền đứng trên sự thật để ép buộc người khác phải chấp nhận những quan điểm sai lệch.

So sánh giữa cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam với việc hòa bình thống nhất Đông Đức – Tây Đức hay các quốc gia thuộc địa được trả độc lập không đổ máu như Ấn Độ là phiến diện và thiếu trách nhiệm. Mỗi quốc gia có bối cảnh lịch sử, chính trị khác nhau.

Việt Nam đã trải qua chiến tranh quy mô lớn với sự hy sinh hàng triệu người để bảo vệ độc lập, chủ quyền. Mỹ đến Việt Nam là kẻ xâm lược trực tiếp, khác hoàn toàn với các tình huống quốc tế khác. Việc phủ nhận hay so sánh tùy tiện làm mất giá trị lịch sử chân chính, xúc phạm những người đã hy sinh.

Văn hóa tranh luận: Nền tảng để bảo vệ sự thật

Trong các bài viết bảo vệ ông Thích Nhật Từ có không ít biểu hiện thiếu văn hóa tranh luận: mỉa mai, xúc phạm, đánh đồng người đấu tranh với “hồng vệ binh tâm thần chính trị”, “đấu tố”, hay dùng lời lẽ kích động chia rẽ.

Chẳng hạn, việc gọi người phản biện là “tâm thần”, so sánh đại tướng Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết với “các thánh hồng vệ binh tâm thần” là cách nói thiếu tôn trọng và phản khoa học, làm mất đi không gian đối thoại xây dựng.

Văn hóa tranh luận đòi hỏi sự tôn trọng lẫn nhau, tranh luận trên cơ sở lý luận, chứng cứ, và không xúc phạm cá nhân. Đó là cách duy nhất giúp xã hội tiến bộ, giúp sự thật được tôn vinh, bảo vệ nền tảng tư tưởng bền vững.

Đấu tranh với những quan điểm sai trái, xuyên tạc lịch sử của ông Thích Nhật Từ không phải là chống phá tôn giáo, mà là bảo vệ sự thật, bảo vệ nền tảng tư tưởng của đất nước. Bảo vệ ông một cách mù quáng và cấm người khác phản biện là biểu hiện của độc tài tư tưởng, làm suy yếu xã hội.

Mỗi công dân yêu nước phải tỉnh táo, phân biệt rõ giữa yêu nước chân chính và thần tượng mù quáng. Phải đấu tranh trên tinh thần văn minh, có trách nhiệm để giữ gìn sự thật lịch sử, bảo vệ công lý và góp phần xây dựng đất nước phát triển vững mạnh./.
Khuyết danh ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TẤT CẢ TỔ CHỨC ĐẢNG, ĐẢNG VIÊN ĐỀU BÌNH ĐẲNG TRƯỚC KỶ LUẬT CỦA ĐẢNG!

     Đây là nội dung trong Quy định số 296-QĐ/TƯ ngày 30-5-2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng. Quy định do Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành.

Quy định mới gồm 7 chương, 35 điều; trong đó, ngoài các chương về quy định chung, tổ chức thực hiện, có các chương về công tác kiểm tra, giám sát; thi hành kỷ luật của Đảng; giải quyết tố cáo đối với tổ chức Đảng và đảng viên; giải quyết khiếu nại kỷ luật của Đảng; đình chỉ sinh hoạt Đảng...

Đáng chú ý, Quy định xác định 12 nguyên tắc thi hành kỷ luật trong Đảng. Trong đó, Trung ương nêu rõ, tổ chức Đảng và đảng viên vi phạm kỷ luật phải được xử lý công minh, chính xác, kịp thời; tất cả tổ chức Đảng, đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng, nếu vi phạm đến mức phải kỷ luật đều phải xử lý kỷ luật nghiêm minh.

Đảng viên vi phạm pháp luật đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì chuyển cơ quan có thẩm quyền giải quyết, không được xử lý nội bộ. Nếu làm thất thoát tài chính, tài sản của Đảng, Nhà nước, của tổ chức, cá nhân thì phải xem xét trách nhiệm và bồi hoàn.

Việc thi hành kỷ luật phải căn cứ nội dung, mức độ, tính chất, tác hại, ảnh hưởng, nguyên nhân vi phạm, hoàn cảnh cụ thể và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ để xem xét, quyết định cho phù hợp và phải chịu trách nhiệm về quyết định đó.

“Kỷ luật của Đảng không thay thế kỷ luật hành chính, kỷ luật đoàn thể hoặc việc xử lý bằng pháp luật và ngược lại (trừ trường hợp có quy định khác). Tổ chức Đảng sau khi xem xét, xử lý hoặc chỉ đạo việc xem xét, xử lý về kỷ luật đảng, chậm nhất 5 ngày phải chỉ đạo hoặc đề nghị với các tổ chức có trách nhiệm xem xét, xử lý kỷ luật về hành chính, đoàn thể hoặc xử lý hình sự cho đồng bộ, kịp thời”, Quy định mới của Ban Chấp hành Trung ương Đảng nêu rõ.

Cũng theo Quy định 296, khi các tổ chức Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội đình chỉ công tác hoặc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, hội viên, đoàn viên là đảng viên (kể cả quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật về hành chính của các cấp chính quyền hoặc bản án, quyết định của tòa án) thì chậm nhất 5 ngày phải chủ động thông báo cho tổ chức Đảng quản lý đảng viên đó để xem xét, xử lý kỷ luật đảng. Sau khi giải quyết khiếu nại kỷ luật về Đảng, nếu có thay đổi hình thức kỷ luật thì tổ chức Đảng có thẩm quyền chỉ đạo việc xem xét lại hình thức kỷ luật về hành chính, đoàn thể.

Đảng viên vi phạm đang trong thời gian mang thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi, bị bệnh nặng thì chưa xem xét, xử lý kỷ luật. Trường hợp đảng viên vi phạm đã qua đời, tổ chức Đảng xem xét, không xử lý kỷ luật, trừ trường hợp có vi phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Khi kỷ luật một tổ chức Đảng phải xem xét trách nhiệm, xử lý kỷ luật đối với những đảng viên vi phạm, nhất là trách nhiệm người đứng đầu tổ chức Đảng. Tổ chức Đảng, đảng viên bị kỷ luật oan phải được xin lỗi và phục hồi quyền lợi. Việc xin lỗi và phục hồi quyền lợi thực hiện theo quy định của Bộ Chính trị.

Quy định cũng nêu cụ thể các hình thức kỷ luật tổ chức, cá nhân; các bước xem xét kỷ luật; thẩm quyền thi hành kỷ luật trong Đảng. Theo đó, Ban Bí thư, Bộ Chính trị quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả đảng viên là cán bộ thuộc diện Ban Bí thư, Bộ Chính trị quản lý; khiển trách, cảnh cáo ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng (kể cả ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Ban Bí thư, ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn được giao. Trường hợp cách chức, khai trừ thì báo cáo Ban Chấp hành Trung ương Đảng xem xét, quyết định.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng là cấp quyết định kỷ luật cuối cùng; quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư.

Ủy ban Kiểm tra Trung ương quyết định khiển trách, cảnh cáo cấp ủy viên tỉnh ủy, thành ủy và đảng ủy trực thuộc Trung ương (kể cả bí thư, phó bí thư, ủy viên ban thường vụ), đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý nhưng không phải là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Quyết định các hình thức kỷ luật đối với các trường hợp khác theo quy định của Điều lệ Đảng.

Quy định này có hiệu lực thi hành từ ngày 30-5-2025, thay thế một loạt các quy định trước đây do Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị ban hành liên quan đến công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, giải quyết khiếu nại kỷ luật của Đảng, kê khai tài sản..../.

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NGƯỜI ĐI TÌM HÌNH CỦA NƯỚC!

🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳
Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi
Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác
Khi bờ bãi dần lui làng xóm khuất
Bốn phía nhìn không một bóng hàng tre

Đêm xa nước đầu tiên, ai nỡ ngủ
Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương
Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở
Xa nước rồi, càng hiểu nước đau thương …
Yêu nước ST.

VIỆT NAM -THẾ GIỚI: VỊ THẾ QUỐC GIA TRONG DÒNG CHẢY THỜI ĐẠI!

🇻🇳Từ đầu năm đến nay, Việt Nam trở thành tâm điểm chú ý của dư luận quốc tế bởi các hoạt động ngoại giao rất sôi động khi nhiều nguyên thủ quốc gia đến thăm chính thức nước ta. Các chuyến thăm này đã thể hiện thành công trong chính sách đối ngoại, đồng thời khẳng định vị thế ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế.

❤️Chỉ trong thời gian ngắn, Việt Nam đã đón tiếp nhiều nguyên thủ, lãnh đạo các nước: Cộng hòa Séc, New Zealand, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Thái Lan, Cuba, Campuchia, Lào… Mới đây là Tổng thống Pháp và Tổng thống Hungary. Đặc biệt, chuyến thăm lần thứ hai của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình cho thấy sự coi trọng đặc biệt của các nước đối với Việt Nam. 
❤️Nước ta cũng tổ chức thành công nhiều sự kiện ngoại giao quan trọng, nổi bật như Diễn đàn Tương lai ASEAN lần thứ 2 đã minh chứng cho uy tín và năng lực tổ chức, điều phối của Việt Nam trong các cơ chế khu vực. 
❤️Những hoạt động giao lưu nhân dân, hợp tác giáo dục, văn hóa, du lịch diễn ra song song với ngoại giao chính trị, kinh tế, góp phần giới thiệu hình ảnh một Việt Nam hội nhập sâu rộng, hiện đại nhưng vẫn giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

🇻🇳Việt Nam đang được nhìn nhận như một “điểm tựa” chiến lược trong khu vực, là đối tác không thể thiếu trong chính sách hướng Đông của nhiều quốc gia và là cầu nối giữa các nền kinh tế châu Á - Thái Bình Dương.  
🇻🇳Với vị trí địa lý đặc biệt quan trọng cùng môi trường chính trị ổn định và nền kinh tế có độ mở cao, Việt Nam đã trở thành điểm đến hấp dẫn, không chỉ về hợp tác đầu tư mà còn là nơi gặp gỡ của các giá trị phát triển bền vững, hội nhập sâu rộng về văn hóa và du lịch. Vị thế ngoại giao ngày càng nổi bật của Việt Nam không chỉ bắt nguồn từ điều kiện địa lý, kinh tế thuận lợi mà còn là chiến lược đối ngoại bài bản, linh hoạt và nhất quán. 
❤️Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước ngày càng gay gắt, Việt Nam đã thể hiện vai trò đặc biệt quan trọng trong cân bằng, đối thoại và dung hòa lợi ích, góp phần duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực. Bằng việc giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ, không chọn phe, không liên minh quân sự, đồng thời chủ động, tích cực tham gia các vấn đề toàn cầu với vai trò kiến tạo, trung gian hòa giải, Việt Nam đã khẳng định bản lĩnh và vị thế của một quốc gia có trách nhiệm, đáng tin cậy và có tầm ảnh hưởng lớn.

❤️Những dấu ấn ngoại giao nổi bật thời gian qua còn thể hiện sự chuyển biến mạnh mẽ trong tư duy và hành động của Việt Nam về việc chủ động hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng. Không chỉ dừng lại ở mục tiêu tranh thủ nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, Việt Nam còn tham gia tích cực vào quá trình định hình trật tự khu vực và thế giới, góp phần thúc đẩy hợp tác, phát triển bền vững, củng cố vai trò của luật pháp quốc tế, các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc. 
❤️Từ một “điểm sáng ổn định” ở Đông Nam Á, Việt Nam đang chuyển mình thành đối tác chủ động, trung tâm kết nối kinh tế, công nghệ của khu vực, là nhân tố kiến tạo hòa bình, hợp tác và phát triển.

🇻🇳Để nâng cao hơn nữa vị thế quốc gia trong dòng chảy thời đại, Việt Nam cần triển khai đồng bộ các giải pháp chiến lược trên mọi lĩnh vực, tiếp tục xây dựng nền kinh tế tự cường, hiện đại. 
🇻🇳Đồng thời phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, giữ vững ổn định chính trị, xã hội; thực hiện nhất quán chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Tiếp tục kết hợp hài hòa giữa bản sắc dân tộc và yêu cầu hội nhập, giữa khát vọng phát triển cùng tinh thần trách nhiệm quốc tế nhằm thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kỳ mới./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THANH NIÊN QUÂN ĐỘI VỚI PHONG TRÀO "BÌNH DÂN HỌC VỤ SỐ" HIỆN NAY!

     Trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư và c.h.u.y.ể.n đ.ổ.i s.ố quốc gia đang diễn ra mạnh mẽ, Phong trào “Bình dân học vụ số” là sự kế thừa và phát triển hiện đại của phong trào xóa mù chữ trong lịch sử, hướng tới nâng cao dân trí số và kỹ năng số cho cộng đồng. Thanh niên quân đội với bản chất cách mạng, kỷ luật cao, tinh thần xung kích, là lực lượng quan trọng, đi đầu trong thực hiện Phong trào “Bình dân học vụ số”, góp phần xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Phong trào “Bình dân học vụ” được phát động từ năm 1945, nhằm xóa mù chữ, nâng cao dân trí cho toàn dân, trở thành dấu ấn lịch sử trong sự nghiệp giáo dục cách mạng Việt Nam. Ngày nay, trong bối cảnh c.h.u.y.ể.n đ.ổ.i s.ố đang diễn ra mạnh mẽ, khái niệm “Bình dân học vụ số” không chỉ mang ý nghĩa truyền thống mà còn thể hiện sứ mệnh mới: Phổ cập kiến thức và kỹ năng số cho mọi tầng lớp nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, góp phần xây dựng, hình thành thế hệ công dân số. Thanh niên quân đội là lực lượng trẻ, có tinh thần nhiệt huyết, có tri thức và được đào tạo bài bản, là một trong những chủ thể có vai trò quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ này. Việc phát huy hiệu quả vai trò của họ không chỉ góp phần đẩy nhanh tiến trình c.h.u.y.ể.n đ.ổ.i s.ố toàn dân mà còn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quân đội, góp phần hình thành thế hệ “quân nhân số” đáp ứng mọi yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ chu.yển đ.ổi s.ố.

Để thực hiện được mục tiêu của Phong trào “Bình dân học vụ số”, đòi hỏi phải có sự tham gia của tất cả các tổ chức, lực lượng, trong đó, thanh niên quân đội có vai trò hết sức quan trọng. Các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần phải có những giải pháp hiệu quả nhằm phát huy vai trò của thanh niên quân đội. Trước hết, cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, quán triệt các quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về Phong trào “Bình dân học vụ số” cho cán bộ, đoàn viên thanh niên ở các cấp bộ đoàn trong toàn quân, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm của thanh niên quân đội, từ đó xây dựng ý chí quyết tâm tham gia thực hiện thắng lợi phong trào này.

Công tác tuyên truyền, giáo dục, quán triệt các quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước và quân đội cần được thực hiện một cách sâu rộng, liên tục, đồng bộ và sáng tạo với nhiều hình thức phong phú như: Tổ chức cuộc thi tìm hiểu, hội thảo, tọa đàm, diễn đàn thanh niên, tuyên truyền qua các nền tảng số, hệ thống truyền thông nội bộ trong quân đội; lồng ghép nội dung về “Bình dân học vụ số” trong các chương trình giáo dục chính trị, phổ biến pháp luật, tập huấn chuyên môn. Qua đó, giúp thanh niên quân đội không chỉ nắm bắt được các nội dung cốt lõi, định hướng lớn về phong trào mà còn hiểu rõ vai trò của mình trong việc lan tỏa tri thức, hỗ trợ cộng đồng tiếp cận tri thức số, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

Đồng thời, cần chú trọng công tác kiểm tra, đánh giá hiệu quả tuyên truyền, gắn kết chặt chẽ giữa công tác tư tưởng với việc triển khai hành động cụ thể, coi đây là tiêu chí quan trọng trong đánh giá, bình xét phân loại chất lượng tổ chức đoàn, cán bộ, đoàn viên thanh niên.

Cùng với đó, các cơ quan, đơn vị cần đầu tư đồng bộ hệ thống cơ sở vật chất và các thiết chế hạ tầng, điều kiện bảo đảm cho quá trình phát huy vai trò của thanh niên quân đội tham gia thực hiện Phong trào “Bình dân học vụ số”. Phong trào này không chỉ đơn thuần là việc phổ cập kiến thức, kỹ năng số cho quân nhân, mà còn là một phần trong chiến lược xây dựng “quân nhân số”. Trong tiến trình đó, thanh niên quân đội với vai trò là lực lượng nòng cốt, xung kích cần được trang bị đầy đủ về điều kiện vật chất, công nghệ và hạ tầng để phát huy tối đa hiệu quả hoạt động. Đầu tư cơ sở vật chất cần được triển khai theo hướng hiện đại, hiệu quả và phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Các đơn vị cần quan tâm bảo đảm trang bị đầy đủ máy tính, thiết bị truy cập internet, phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu, văn bản tài liệu, thiết bị trình chiếu và lưu trữ nội dung số. Song song với đó, cần chú trọng đầu tư hệ thống mạng, kết nối liên thông giữa các đơn vị, tạo điều kiện để chia sẻ tài nguyên học liệu và kinh nghiệm tổ chức các mô hình “Bình dân học vụ số” hiệu quả.

Bên cạnh cơ sở vật chất, các thiết chế văn hóa, giáo dục cũng cần được phát triển đồng bộ như thư viện điện tử, phòng học số, các tổ tuyên truyền lưu động kết hợp kỹ thuật số. Đặc biệt, cần có các chính sách hỗ trợ, khuyến khích các sáng kiến của thanh niên trong phát triển nội dung học tập số, thiết kế các khóa học phù hợp với trình độ của từng đối tượng. Việc đầu tư này không chỉ là sự bảo đảm vật chất mà còn thể hiện sự quan tâm, định hướng chiến lược của Đảng, Nhà nước và quân đội trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển xã hội số và hình thành “quân nhân số”. Nhờ đó, vai trò của thanh niên quân đội trong Phong trào “Bình dân học vụ số” sẽ ngày càng được phát huy mạnh mẽ, thực chất và bền vững hơn.

Đặc biệt, để thực hiện có hiệu quả phong trào, cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy cơ quan, đơn vị trong việc phát huy vai trò của thanh niên quân đội tham gia thực hiện phong trào bình dân học vụ số. Đây là giải pháp có ý nghĩa then chốt, quyết định hiệu quả và sức lan tỏa của phong trào trong thực tiễn. Nhất thiết phải có sự định hướng chiến lược, quản lý chặt chẽ và hỗ trợ thiết thực từ cấp ủy, chỉ huy các cấp, những người giữ vai trò dẫn dắt tư tưởng, tổ chức và hành động trong toàn đơn vị.

Cấp ủy, chỉ huy các đơn vị cần quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về ch.uyển đ.ổi s.ố, đặc biệt là Nghị quyết số 57 ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chu.yển đ.ổi s.ố quốc gia; Nghị quyết số 3488 ngày 29/01/2025 ngày 29/01/2025 của Quân uỷ Trung ương về đột phá phát triển khoa học, công nghệ và chu.yển đ.ổi s.ố trong quân đội. Từ đó, xác định rõ vai trò, nhiệm vụ của thanh niên cơ quan, đơn vị mình trong thực hiện Phong trào “Bình dân học vụ số”. Việc này cần được cụ thể hóa thành nghị quyết, kế hoạch công tác với các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể, phù hợp với tình hình, đặc điểm, điều kiện của từng cơ quan, đơn vị và địa bàn đóng quân. Đồng thời, cần chú trọng phát huy vai trò của tổ chức Đoàn Thanh niên trong đơn vị, giao nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng cho từng tổ chức, cá nhân; tạo điều kiện về thời gian, cơ sở vật chất, phương tiện để Đoàn Thanh niên triển khai các hoạt động. Cấp ủy, chỉ huy cũng cần tổ chức kiểm tra, đánh giá, biểu dương kịp thời những tập thể, cá nhân có sáng kiến, mô hình hiệu quả; đồng thời rút kinh nghiệm, điều chỉnh các hạn chế trong chỉ đạo, điều hành.

Có thể nói, trong thời đại ch.uyển đ.ổi s.ố, việc phổ cập kiến thức, kỹ năng số không còn là trách nhiệm riêng của tập thể, mà là nhiệm vụ chung của mọi cá nhân, trong đó lực lượng thanh niên quân đội đóng vai trò xung kích, tiên phong. Tuy nhiên, để họ thực sự phát huy vai trò này, không chỉ cần sự lãnh đạo, chỉ đạo từ cấp trên, mà còn đòi hỏi cao ở tinh thần tự giác, chủ động, sáng tạo và trách nhiệm từ mỗi đoàn viên, thanh niên. Tính tự giác, tích cực thể hiện trước hết ở nhận thức sâu sắc về vai trò, ý nghĩa của phong trào bình dân học vụ số đối với sự phát triển của đất nước và quân đội. Cán bộ, đoàn viên, thanh niên quân đội cần hiểu rõ rằng, việc phổ cập kỹ năng số không chỉ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống, mà còn đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ và sẵn sàng đối phó với các hình thái chiến tranh và phương thức tác chiến mới do tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tạo ra. Bên cạnh đó, tinh thần tự giác còn thể hiện ở việc chủ động học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ công nghệ thông tin, kỹ năng sư phạm, kỹ năng truyền đạt để có thể trở thành những tuyên truyền viên, người hướng dẫn hiệu quả cho đồng chí, đồng đội và quần chúng nhân dân.

Thanh niên quân đội là lực lượng quân nhân trẻ, có ý chí, khát vọng và hoài bão lớn, có năng lực tiếp cận và ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ, chu.yển đ.ổi s.ố và đổi mới sáng tạo nhanh chóng, hiệu quả. Vì vậy, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp để phát huy vai trò của thanh niên quân đội, góp phần triển khai thực hiện thành công Phong trào Bình dân học vụ số./.
Theo Báo QPTĐ
Môi trường ST.

Thứ Tư, 4 tháng 6, 2025

Cơ sở vững chắc cho đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới

 

Gần đây, thuật ngữ “kỷ nguyên phát triển mới”, “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” trở nên phổ biến trong đời sống chính trị, xã hội của nước ta; thể hiện tầm nhìn và tư duy mới của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, đưa đất nước phát triển mạnh mẽ hơn.

Đây vừa là mục tiêu, vừa là lời hiệu triệu khơi dậy mạnh mẽ hào khí dân tộc, tinh thần yêu nước, tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước, để Việt Nam hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược: 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 100 năm thành lập Nước.

Luận điệu xuyên tạc lạc lõng, vô căn cứ

Thế nhưng, các thế lực thù địch, phần tử xấu trong và ngoài nước luôn tìm mọi thủ đoạn để xuyên tạc, đả kích vấn đề này. Chúng lợi dụng mạng xã hội phát tán các thông tin sai trái, xuyên tạc mục đích, giá trị, ý nghĩa, phủ nhận bản chất khoa học của khái niệm, nội hàm các vấn đề liên quan đến “kỷ nguyên phát triển mới”, “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”.

Âm mưu thâm độc của chúng là gây nhiễu loạn thông tin, hướng lái dư luận, tạo nhận thức lệch lạc, mất niềm tin vào con đường phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới, từ đó không phát huy được ý chí, sức mạnh nội sinh, lòng tự hào dân tộc để đưa đất nước vươn mình phát triển. Điều này rất nguy hiểm, nhất là trong bối cảnh hiện nay, khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang nỗ lực hoàn thành các mục tiêu trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; khẩn trương tiến hành đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030, tiến tới Đại hội XIV của Đảng. 

Những thành tựu đất nước ta đạt được trong thời gian qua đã bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, sai trái này. Sau gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng lãnh đạo, đất nước ta đã tạo được thế và lực mới, hội tụ đủ các điều kiện để bước vào kỷ nguyên phát triển mới vì hạnh phúc của nhân dân. Đó là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, những kinh nghiệm đã tích lũy; sự chung sức đồng lòng của “ý Đảng, lòng dân” và sức mạnh của lực lượng vũ trang; là quyết tâm giải phóng sức sản xuất; phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh, nhất là nguồn lực con người và thành tựu khoa học công nghệ hiện đại để đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, đưa đất nước phát triển. Thực tế sau gần 40 năm đổi mới, nước ta từ khủng hoảng, lạm phát 774,7% trước Đại hội VI (1986) đã vươn lên nhóm 40 nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới và nằm trong tốp 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài.

Bằng tầm nhìn chiến lược về tư duy tìm đường đưa đất nước phát triển, Đảng ta đã khái quát nên khái niệm và các nội hàm về kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Luận điểm này hoàn toàn không phải là sự áp đặt ý chí chủ quan, duy ý chí, cũng không phải là “sự viển vông, ảo tưởng”, “xa rời thực tế” như các thế lực thù địch bịa đặt, xuyên tạc.

Nâng cao nhận thức không mắc mưu kẻ xấu

Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần đề cao cảnh giác, giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, con đường phát triển của đất nước, tuyệt đối không để mắc mưu các thế lực thù địch, phần tử xấu. Chúng ta cần nhận thức đầy đủ, sâu sắc về mục đích, nội dung và bản chất của kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc theo quan điểm của Đảng. Quan điểm đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới của Đảng là khách quan, dựa trên cơ sở khoa học, được tổng kết, đúc rút từ kinh nghiệm, bản lĩnh của Đảng trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, đặc biệt là những thành tựu đất nước đạt được trong gần 40 năm Đổi mới. 

Với tầm nhìn xa, trông rộng, Đảng ta đã phân tích thấu đáo xu hướng vận động, phát triển của thế giới, khu vực; đặc biệt là thế và lực của đất nước. Từ đó, Đảng chỉ rõ thời cơ, những thuận lợi và khó khăn đối với sự phát triển của đất nước trên tất cả các lĩnh vực. Đó là cơ sở để toàn Đảng, toàn dân tự tin, chung sức, đồng lòng bước vào kỷ nguyên phát triển mới xây dựng đất nước giàu đẹp, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Vượt qua giới hạn phát triển đất nước theo chiều rộng để chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu; không khắc phục được những “điểm nghẽn, nút thắt” bằng những biện pháp quyết liệt hơn, hiệu quả cao hơn, nhất là tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng, nhân lực thì chúng ta không thể tạo ra sự thông thoáng về không gian phát triển, phát huy tối đa sức mạnh của các nguồn lực... đang là hướng đi đúng đắn đã được Đảng chỉ ra nhằm đưa đất nước phát triển.  "Ý Đảng, lòng dân" luôn hòa quyện, thống nhất, mà biểu hiện rõ nhất trong giai đoạn hiện này là quyết tâm chính trị rất cao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong thực hiện cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị; thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên phát triển mới. Chúng ta tin tưởng rằng, với những thành tựu to lớn đã đạt được, truyền thống đoàn kết, thống nhất, toàn dân chung sức đồng lòng dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta sẽ không ngừng phát triển, đạt được các mục tiêu đề ra.

Luận điệu bóp méo quan điểm phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay

 

Trước thềm Đại hội XIV của Đảng, chủ trương phát triển kinh tế tư nhân được xác định là một động lực quan trọng nhất để thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phù hợp với yêu cầu thực tiễn trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình. Tuy nhiên, các quan điểm sai trái và thế lực thù địch đã lợi dụng tình hình để tung ra những luận điệu xuyên tạc, bóp méo rằng việc khuyến khích kinh tế tư nhân là từ bỏ mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm gây hoài nghi và làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Trước những luận điệu sai trái này, Đảng và Nhà nước luôn kiên định với mục tiêu xây dựng một nền kinh tế tự chủ, bền vững, trong đó kinh tế tư nhân được tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ, đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững, thịnh vượng của đất nước.

Các quan điểm sai trái, phản động về kinh tế tư nhân

Các thế lực thù địch và phản động gần đây đã lợi dụng sự phát triển kinh tế tư nhân tại Việt Nam để tung ra những luận điệu xuyên tạc, bóp méo bản chất của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng cố tình tuyên truyền rằng việc khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân là dấu hiệu từ bỏ nền tảng xã hội chủ nghĩa, hoặc chuyển hướng sang kinh tế tư bản, chúng xuyên tạc rằng, sự điều chỉnh từ kinh tế nhà nước sang kinh tế tư nhân là một sự lật đổ chính sách.

Một số quan điểm sai trái, phản động khác còn cho rằng chỉ có kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa mới phù hợp với quy luật phát triển, đồng thời xuyên tạc Việt Nam đang “chuyển đổi sang nền kinh tế tư bản dưới vỏ bọc xã hội chủ nghĩa”. Ngoài ra, các thế lực này còn cho rằng sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân làm suy yếu vai trò của kinh tế nhà nước và tập thể, dẫn đến bất bình đẳng xã hội và mất kiểm soát tài nguyên quốc gia, sử dụng các diễn đàn trực tuyến, mạng xã hội và các buổi thảo luận giả danh chuyên gia để tuyên truyền rằng “một nền kinh tế thị trường không thể tồn tại trong chế độ độc đảng”. Những luận điệu này không chỉ bóp méo thực tiễn, phủ nhận thành quả của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, gây hoài nghi trong dư luận mà còn nhằm phá hoại niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, kêu gọi thay đổi thể chế chính trị.

Cơ sở l‎ý luận và thực tiễn về kinh tế tư nhân

Kinh tế tư nhân thực chất là khu vực kinh tế thuộc sở hữu của cá nhân hoặc nhóm cá nhân, hoạt động vì lợi ích riêng nhưng đồng thời góp phần vào sự phát triển chung của xã hội. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng chế độ sở hữu tư nhân là nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng xã hội và sự tha hóa con người. C.Mác chỉ ra rằng, sở hữu tư nhân dẫn đến “sự cạnh tranh, khủng hoảng kinh tế và cuối cùng là tập trung tư bản, làm gia tăng bất công xã hội”. Tuy nhiên, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng khẳng định, trong một số giai đoạn lịch sử, kinh tế tư nhân có thể thúc đẩy sản xuất và phát triển lực lượng lao động, tạo tiền đề cho sự phát triển và tiến bộ xã hội.

 

Kế thừa quan điểm này, V.I.Lênin nhận định, kinh tế tư nhân là một tất yếu khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. V.I.Lênin nhấn mạnh: Chính sách ngăn cấm hoàn toàn trao đổi tư nhân là một sự dại dột và tự sát. Chính sách kinh tế mới-NEP (1921) đã cho phép các doanh nghiệp nhỏ và thương mại tự do hoạt động để phục hồi nền kinh tế Nga sau chiến tranh. Đây được xem là bước đi chiến lược nhằm khai thác tiềm năng của kinh tế tư nhân để phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời định hướng khu vực này theo con đường xã hội chủ nghĩa. V.I.Lênin khẳng định: Chúng ta sẽ học cách vận hành nền kinh tế từ các nhà tư bản, kể cả các nhà tư bản nước ngoài.

Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc, kinh tế tư nhân đóng vai trò quan trọng, trở thành một trong những trụ cột của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, khu vực này chiếm hơn 60% GDP, hơn 70% đổi mới công nghệ và tạo ra hơn 80% việc làm ở đô thị, với hơn 90% số lượng doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân, các doanh nghiệp này đã góp phần đáng kể vào việc ổn định tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy sáng tạo và hiện đại hóa nền kinh tế Trung Quốc. Đặc biệt, từ sau cải cách mở cửa năm 1978, kinh tế tư nhân đã phát triển vượt bậc, trở thành động lực chính trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa của Trung Quốc. Chính sách khuyến khích và hỗ trợ mạnh mẽ từ chính phủ đã giúp Trung Quốc đạt được những thành tựu lớn, như việc tăng số doanh nghiệp tư nhân trong danh sách 500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới từ 1 doanh nghiệp năm 2010 lên 28 doanh nghiệp năm 2018. Những con số này cho thấy vai trò không thể thiếu của kinh tế tư nhân trong việc thực hiện mục tiêu "Giấc mộng Trung Hoa" và xây dựng một nền kinh tế hiện đại, phát triển chất lượng cao.

Đối với Hàn Quốc và Nhật Bản, kinh tế tư nhân đóng vai trò then chốt trong sự phát triển kinh tế, trở thành động lực chính thúc đẩy tăng trưởng và hiện đại hóa. Tại Hàn Quốc, từ thập niên 1960, chính phủ đã thực hiện các chính sách chiến lược nhằm khuyến khích phát triển các tập đoàn lớn như Samsung, Hyundai và LG thông qua vốn vay ưu đãi, bảo vệ ngành công nghiệp nội địa và tập trung vào các ngành chủ chốt như sản xuất hóa chất và thép. Nhờ đó, khu vực kinh tế tư nhân hiện chiếm hơn 80% GDP, tạo ra chuỗi cung ứng rộng lớn và thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong khi đó, Nhật Bản cũng coi khu vực tư nhân là trụ cột quan trọng trong chiến lược tái định hình nền kinh tế. Chính phủ Nhật Bản đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ như giảm thuế cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, tài trợ nghiên cứu và phát triển, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giúp khu vực tư nhân chiếm hơn 65% GDP quốc gia.

Phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tại Việt Nam, kinh tế tư nhân bắt đầu được thừa nhận chính thức từ Đại hội VI (1986), khi Đảng khẳng định: “Cần sửa đổi, bổ sung và công bố rộng rãi chính sách nhất quán đối với các thành phần kinh tế... Xóa bỏ những thành kiến thiên lệch...” và nhận ra sự cần thiết phải “sử dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác trong sự liên kết chặt chẽ và dưới sự chỉ đạo của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa”. Từ đó, khu vực này từng bước được nhìn nhận là một thành phần quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng ta nhấn mạnh: Kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, được hỗ trợ phát triển thành các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao. Đồng thời, Đảng đặt mục tiêu: Phấn đấu đến năm 2030, có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp với tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP đạt 60-65%. Đây là minh chứng rõ ràng cho sự nhất quán trong đường lối của Đảng nhằm phát triển kinh tế tư nhân trở thành “một động lực quan trọng” thúc đẩy tăng trưởng bền vững và nâng cao đời sống nhân dân.

Hiện nay, Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức lớn như nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, dân số già hóa nhanh chóng và áp lực từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trong bối cảnh đó, kinh tế tư nhân được xác định là động lực quan trọng hàng đầu để thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định vai trò của khu vực kinh tế tư nhân, không chỉ đóng góp lớn vào GDP và tạo việc làm mà còn là lực lượng tiên phong trong đổi mới sáng tạo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và ứng dụng công nghệ cao; yêu cầu xóa bỏ mọi rào cản, định kiến đối với kinh tế tư nhân; xây dựng các chính sách hỗ trợ toàn diện như cải thiện môi trường pháp lý, phát triển hạ tầng hiện đại và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Quan điểm này không chỉ phù hợp với lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn nhất quán với đường lối đổi mới của Đảng, khẳng định rằng việc phát triển kinh tế tư nhân là sự vận dụng sáng tạo để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, không hề đi ngược lại con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Nhà nước và nhân dân đã lựa chọn.

Để phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay, cần tập trung vào các giải pháp trọng tâm như hoàn thiện thể chế và xây dựng môi trường pháp lý minh bạch, bảo vệ quyền sở hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh, khuyến khích đổi mới sáng tạo thông qua chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ cao, cũng như giải phóng tối đa các nguồn lực phát triển. Những giải pháp này không chỉ giúp doanh nghiệp tư nhân tiếp cận nguồn lực công bằng mà còn tạo điều kiện để khu vực này trở thành động lực chính thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Thực tế đã chứng minh rằng việc phát triển kinh tế tư nhân không phải là sự từ bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa như các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, mà chính là sự vận dụng sáng tạo để đưa Việt Nam thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và đạt mục tiêu trở thành nước phát triển vào năm 2045. Những quan điểm sai trái này cần được kiên quyết đấu tranh, phản bác mạnh mẽ để bảo vệ niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.