Thứ Năm, 18 tháng 6, 2020

HÌNH PHẠT NÀO CHO NHỮNG NGƯỜI NHẪN TÂM, “MAN RỢ CÔN ĐỒ” COI THƯỜNG PHÁP LUẬT Ở ĐỒNG TÂM




Theo kết luận điều tra của Công an Hà Nội, tháng 11/2019, Quân chủng Phòng không không quân (Bộ Quốc phòng) xây dựng tường rào bảo vệ sân bay Miếu Môn, xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức. Khu vực này được Thanh tra Hà Nội xác định là đất quốc phòng song nhiều năm qua liên tục xảy ra khiếu kiện, tranh chấp. Ông Lê Đình Kình (cựu bí thư Đảng ủy xã Đồng Tâm năm 1981-1982) bị xác định chủ mưu, thường xuyên "xuyên tạc về nguồn gốc khu đất", kích động, lôi kéo người dân tham gia khiếu kiện.
Phản đối việc này, một số người trong "tổ đồng thuận" do ông Kình đứng đầu đã chặn xe chở vật liệu, "tự lột quần áo giữa đường để gây rối". Họ dựng lều bạt, cử người cảnh giới trước cửa khu huấn luyện Miếu Môn, dọa gây nổ cây xăng Miếu Môn, dọa nổ nhà chủ tịch xã, dọa bắt cóc người già, trẻ em... Công an Hà Nội cáo buộc một số bị can đã góp tiền mua 10 quả lựu đạn với giá 30 triệu đồng nhằm ngăn cản, "tấn công, tiêu diệt" lực lượng công an làm nhiệm vụ bảo vệ quá trình thi công. Đầu tháng 12/2019, họ chuẩn bị 70 lít xăng, 10 tuýp sắt gắn dao phóng lợn, 10 bao tải đựng gạch, đá cùng pháo, vôi bột và ớt bột, tất cả đưa về tập kết tại nhà ông Kình.
Rạng sáng ngày 9/1, khi lực lượng công an gồm nhiều đơn vị tiến vào khu vực thôn Hoành..., một số bị can đã đánh kẻng, đứng trên mái nhà bắn pháo hiệu và pháo về phía cổng làng, kích động người dân chống đối. Một số người từ trên cao ném "bom xăng", gạch, đá vào lực lượng làm nhiệm vụ đang đứng trước cửa nhà ông Kình, Lê Đình Hợi, Lê Đình Chức và Lê Đình Công. Nhà chức trách kêu gọi dừng tấn công nhưng không nhận được hợp tác. Trước tình hình trên, nhiều tổ công tác của công an được điều động đến thôn Hoành. Để đảm bảo tính mạng, tài sản của người dân, lực lượng thi hành công vụ tổ chức trấn áp, bắt giữ.  Ba cảnh sát Nguyễn Huy Thịnh (48 tuổi, phó trung đoàn trưởng E22, Bộ Tư lệnh cảnh sát cơ động), Phạm Công Huy (28 tuổi, Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ cứu nạn) và Dương Đức Hoàng Quân (27 tuổi, Bộ Tư lệnh cảnh sát cơ động) tiến vào nhà bị can Hợi, Chức song bị tấn công bằng dao phóng lợn, "bom xăng". Ba chiến sĩ trong lúc di chuyển qua các cửa sổ đã bị chọc dao, gây bỏng khiến rơi xuống hố sâu 4 mét nằm giữa hai căn nhà, Anh Thịnh, Huy, Quân đã hy sinh. Khi các tổ công tác khác áp sát căn nhà, các bị can đã cố thủ, dọa ai xông vào sẽ "ném lựu đạn cho chết hết". Lực lượng làm nhiệm vụ sau đó đã nổ súng, trấn áp, phá cửa. Ông Kình trúng đạn ở lưng, gục ở phòng ngủ, tay cầm một quả lựu đạn. Trong nửa tiếng, công an tạm giữ hơn 30 người, thu 8 lựu đạn tại hiện trường, 38 chai bom xăng, 12 tuýp sắt đầu gắn dao nhọn, 3 hộp pháo sáng, một khẩu súng bắn điện, một thanh kiếm, một búa.
Ngày 5/6/2020, Công an Hà Nội hoàn tất kết luận điều tra, chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát đề nghị truy tố ông Công cùng 28 người liên quan vụ tấn công khiến ba cảnh sát hy sinh. Công an Hà Nội cho rằng chủ mưu vụ án là ông Kình (84 tuổi) song ông đã chết trong ngày 9/1. 29 bị can bị cáo buộc đã chủ động tấn công nhằm gây "sát thương, tiêu diệt" lực lượng thi hành công vụ, hành vì liên tục đổ xăng, châm lửa của một số người là nguyên nhân trực tiếp khiến ba cảnh sát Thịnh, Huy, Quân bị thiêu chết, kết luận giám định pháp y xác định, ba cảnh sát tử vong do "ngạt khí và cháy than hóa toàn thân". Trong 29 người, 25 trường hợp bị đề nghị truy tố về tội Giết người với khung hình phạt từ 12 đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình; 4 trường hợp bị truy tố về tội Chống người thi hành công vụ, khung hình phạt từ hai năm đến 7 năm tù. Âu cũng là cái giá phải trả của những người chống đối, coi thường pháp luật, với hành vi nhẫn tẫm, "man rợ, côn đồ".

Trung Dũng

“ LAO ĐỘNG LÀ SỰ NGHIỆP QUANG VINH, VẺ VANG, VUI THÚ VÀ ANH DŨNG”



Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong Bài viết: “Đạo đức lao động”; đăng trên Báo Cứu quốc, số 2092, ngày 04 tháng 6 năm 1952: “Trước kia người ta cho lao động là việc nặng nề, xấu hổ. Nay lao động là sự nghiệp quang vinh, vẻ vang, vui thú và anh dũng”. Trong những năm kháng chiến, kiến quốc vô cùng khó khăn và gian khổ để đảm bảo cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân thi đua lao động thì kháng chiến sẽ mau thắng lợi, kiến quốc sẽ mau thành công.
Lời kêu gọi: “Lao động là sự nghiệp quang vinh, vẻ vang, vui thú và anh dũng” có ý nghĩa to lớn, không chỉ động viên, cổ vũ tinh thần hăng say lao động của đồng bào cả nước mà còn khẳng định giá trị của lao động là vốn quý, lao động là thiêng liêng; lao động vừa tạo ra của cải vật chất, vừa phát triển con người toàn diện. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dân lao động cả nước đã nêu cao truyền thống cần cù, siêng năng ra sức ngày đêm lao động sản xuất nâng cao đời sống, bảo đảm lương thực cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp giành thắng lợi, mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Nhờ có đức tính siêng năng, cần cù lao động mà dân tộc ta, mỗi chúng ta không sợ khó, sợ khổ, biết bền bỉ, nhẫn nại trong học tập, lao động sản xuất…


KHÔNG CHỦ QUAN, LƠ LÀ, DỊCH BỆNH ĐANG DIỄN BIẾN KHÓ LƯỜNG

Trước việc Bắc Kinh bùng phát ổ dịch Covid-19 mới sau gần hai tháng yên ắng, các chuyên gia y tế cảnh báo đây là "bài học cảnh giác" cho Việt Nam.

Về thời gian, dịch tái phát ở Bắc Kinh sau 56 ngày không lây nhiễm cộng đồng, còn Việt Nam ở ngày thứ 60 không ghi nhận ca nhiễm trong cộng đồng.

Nhiều người Việt Nam hai tháng qua cũng trong tâm trạng buông lỏng phòng dịch, tương tự người Bắc Kinh. Hầu như các hoạt động kinh doanh, giải trí, dịch vụ, đi lại... trong nước đã trở lại bình thường.

Về tính chất, dịch bệnh ở Bắc Kinh gần giống với Việt Nam trong thời gian qua, tức là không bùng phát mạnh như Vũ Hán, mà xuất hiện các ca nhiễm, ổ dịch nhỏ và dập được ngay. Tuy nhiên, Bắc Kinh, Trung Quốc, ở sát Việt Nam nên nguy cơ xâm nhập dịch là rất cao.

Làm gì để tránh tái bùng phát dịch?

- cần duy trì, làm tốt việc be chặt bên ngoài, tức kiểm soát người nhập cảnh, cách ly tập trung ngay, xét nghiệm sàng lọc kịp thời.

- Ở trong nước, cần phải tiếp tục phát hiện sớm ca nhiễm trong cộng đồng nếu có bằng cách tăng cường giám sát, đặc biệt là những ca có triệu chứng như sốt, ho, khó thở... Khi phát hiện ca nhiễm, cần  khoanh vùng ngay, dập dịch kịp thời, tránh lây lan. Người dân cũng cần tuân thủ phòng dịch trong điều kiện mới như đeo khẩu trang, rửa tay sát khuẩn, khai báo y tế.

Covid-19 trên thế giới chưa ổn định, chưa rõ dịch bệnh còn tiềm ẩn ở khu vực nào, do đó, Việt Nam không được lơi lỏng cảnh giác.

P/s: Theo Ông Trần Đắc Phu (nguyên Cục trưởng Y tế dự phòng, Cố vấn cao cấp Trung tâm đáp ứng khẩn cấp Sự kiện y tế công cộng Việt Nam) trả lời báo chí về tình hình dịch bệnh Covid-19.

Thứ Tư, 17 tháng 6, 2020

Chữ Liêm của Người và vấn đề chọn lựa cán bộ




Trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ, Người diễn đạt một cách cụ thể và thiết thực: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Có cán bộ tốt thì việc gì cũng xong”. Muốn vậy “phải biết rõ cán bộ”, “phải cất nhắc cán bộ cho đúng”; “phải khéo dùng cán bộ”; “phải giúp cán bộ cho đúng”; “phải giữ gìn cán bộ”… bốn chữ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra, đòi hỏi với cán bộ “Cần, Kiệm, Liêm, Chính” thì chữ “Liêm” được Bác nhắc đến nhiều.

Tư pháp Xã hội chủ nghĩa là của dân, do dân và vì dân



Những ngày gần đây, trên internet xuất hiện khá nhiều trang báo mạng với đủ các thể loại (viết, hình, nói) đề cập đến một số vụ án hình sự vừa được các cấp tòa của Việt Nam xét xử. Chưa bàn đến tính chất, nội dung của các bản án, bởi để có được một bản án công minh, đúng người, đúng tội thì phải có một quá trình thực hiện tố tụng, xét xử chặt chẽ, khoa học, theo đúng luật định. Nhưng cái cách tiếp cận vụ án của một số trang mạng xã hội rõ ràng là “có vấn đề”, bởi dường như họ muốn dẫn dắt dư luận theo cách nghĩ của họ, khiến dư luận nhìn nhận các vụ án một cách méo mó, đầy nghi ngờ. Mục tiêu cuối cùng của nhiều trang mạng là hướng tới xuyên tạc, phủ nhận nền tư pháp của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam.

Đường sắt Cát Linh-Hà Đông đi mắc núi, về mắc sông



Dự án đường sắt Cát Linh - Hà Đông bắt đầu được thực hiện từ tháng 10/2011, tổng mức đầu tư hơn 18.000 tỷ đồng bằng vốn vay ODA của Trung Quốc theo Hiệp định khung ký ngày 30/5/2008 giữa hai Chính phủ Việt Nam - Trung Quốc. Tổng thầu EPC là Công ty TNHH Tập đoàn Cục 6 Đường sắt Trung Quốc và tư vấn giám sát thi công là Công ty TNHH GSXD Viện nghiên cứu thiết kế công trình đường sắt Bắc Kinh. Theo kế hoạch ban đầu, dự án sẽ hoàn thành vào cuối năm 2017 nhưng do Tổng thầu không thực hiện đúng cam kết nên tới nay tuyến đường sắt này vẫn “lỡ hẹn” không thể đưa vào khai thác.

CẢNH GIÁC TRƯỚC SỰ CHỐNG PHÁ TRÊN LĨNH VỰC VĂN HÓA CỦA KẺ THÙ


Cuộc “xâm lăng văn hóa” diễn ra từ từ, không ồn ào mà ngấm ngầm, dai dẳng và vô cùng nguy hiểm. Nếu không được nhận diện sớm và có biện pháp phòng ngừa hữu hiệu từ xa, văn hóa dân tộc Việt Nam sẽ đứng trước thử thách “sinh tử” bởi cuộc chiến đầy mưu mô, tính toán của các thế lực thù địch đang hàng ngày, hàng giờ thâm nhập, gặm nhấm, phá hoại đạo đức mỗi người dân, nhất là thế hệ trẻ .
Người ta thường ví sự “xâm lăng văn hóa” như là một “cuộc chiến mềm” bởi xuất phát từ vị trí, vai trò và chức năng của văn hóa. Văn hóa là gốc rễ, là cội nguồn làm nên sức mạnh nội sinh và sức sống của mỗi dân tộc, đồng thời được ví như “tấm thẻ căn cước”, “chứng minh thư” để nhận diện giữa dân tộc này với dân tộc khác trong cộng đồng quốc tế.
Quá trình phát triển kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, bên cạnh việc tiếp thu, chọn lọc những giá trị, tinh hoa văn hóa của nhân loại, chúng ta đang phải đối mặt với những thách thức, nguy cơ không nhỏ. Quá trình hội nhập, nhiều giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc bị mai một, đảo lộn, nhiều hành vi phản văn hóa xuất hiện với tần suất lớn, mật độ dày và nhất làm cho môi trường văn hóa xã hội bị “ô nhiễm” nặng nề đã và đang trở thành vấn đề nhức nhối, rất đáng lo ngại đối với sự phát triển của xã hội và tương lai nước nhà. Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng này là do cuộc “xâm lăng văn hóa” đang tấn công từ nhiều phía vào nước ta, từ nhiều con đường, nhiều hình thức, âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc.
Tại sao trong thời gian qua, dư luận hết sức băn khoăn bỏi một bộ phận giới trẻ sa đà vào lối sống “gấp”, sống “thử”,  và cái tôi, lợi ích cá nhân trỗi dậy? Tại sao nhiều thanh, thiếu niên nghiện trò chơi điện tử, nghiện xem phim sex, phim bạo lực, sử dụng ma túy… đến mức báo động đỏ? Tại sao các vụ ly hôn trong gia đình trẻ, các vụ vi phạm pháp luật ở tuổi vị thành niên và thanh niên liên tục gia tăng? Tại sao rất nhiều người trẻ đã bị lôi kéo, mê hoặc đến mức “phát cuồng” một số ca sĩ, diễn viên, ngôi sao bóng đá từ nước ngoài mà họ coi là thần tượng? Tại sao một số bộ phim vừa ra đời đã bị công luận tiến bộ cảnh báo là nhảm nhí, thảm họa, làm “vẩn đục” môi trường điện ảnh Việt Nam? một số bài báo theo kiểu “lượm lặt đó đây”, “sưu tầm bốn phương”, “thông tin đa chiều”,... với nguồn thông tin không được kiểm chứng, thậm chí là những thông tin vô bổ, có xuất xứ không rõ ràng từ. Vì vậy cần phải nêu cao cảnh giác trước sự chống phá, xâm lăng trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa, làm trong sạch, lành mạnh môi trường văn hóa để xây dựng con người mới XHCN, nhất là thế hệ trẻ.

học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh


Khắc ghi lời Bác dạy! 18-6


“Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”
Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại buổi làm việc với một số cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương, ngày 18 tháng 6 năm 1968, để bàn về cách thực hiện điều mà Bác đã đề nghị với Ban Bí thư Trung ương Đảng làm và xuất bản loại sách “Người tốt, việc tốt”. Đây là thời điểm mà công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta ở miền Nam thu được nhiều thắng lợi quan trọng, nhưng cũng đặt ra những khó khăn thách thức mới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao truyền thống hào hùng của dân tộc, thành tích vẻ vang của Đảng và mỗi con người trong sự nghiệp kiến quốc và đấu tranh giải phóng dân tộc; mà còn nhắc nhở các cấp uỷ, tổ chức đảng, các cơ quan của Nhà nước, Chính phủ phải triệt để đấu tranh khắc phục tư tưởng sống thỏa mãn trong hào quang, chiến thắng của ngày hôm qua, phải luôn tiến về phía trước, đấu tranh loại trừ ra khỏi hàng ngũ của Đảng, bộ máy nhà nước những người “sa vào chủ nghĩa cá nhân” không còn đủ tư cách, tha hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu nhân dân. Thực hiện lời dạy của Bác, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đem hết tài năng và sức lực cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là thành tựu hơn 30 năm đổi mới, lời dạy của Bác năm xưa vẫn vẹn nguyên giá trị, là tư tưởng chỉ đạo, bài học thực tiễn sâu sắc để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Tư tưởng của Bác tiếp tục là ánh sáng soi đường xây dựng quân đội nói chung và Học viện nói riêng vững mạnh toàn diện, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở nền tảng, bảo đảm cho quân đội luôn tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng; không mơ hồ, mất cảnh giác trước âm mưu thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch./.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 15, trang 672.

 Hình ảnh minh họa

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC LỊCH SỬ VÙNG ĐẤT NAM BỘ

Lịch sử vùng đất Nam Bộ của Việt Nam vẫn luôn được các đảng đối lập ở Campuchia sử dụng để xuyên tạc, phá hoại quan hệ hữu nghị truyền thống giữa nhân dân, nhà nước Việt Nam và nhân dân, nhà nước Campuchia. Tuy nhiên, vùng đất Nam Bộ là lãnh thổ không thể tách rời của Việt Nam, trên cả hai cơ sở lịch sử và pháp lý, phù hợp với thông lệ quốc tế. Cụ thể : VỀ MẶT LỊCH SỬ: Theo các tài liệu ghi chép lại thì vùng Nam Bộ xưa kia vốn là một vương quốc cổ có tên là Phù Nam. Quốc gia Phù Nam ở ven biển, có trình độ phát triển khá cao và mở rộng được phạm vi ảnh hưởng. Thời gian tồn tại của vương quốc Phù Nam là từ trước Công nguyên cho tới thế kỷ thứ VII. Cũng trong thời gian này thì người Khmer cũng đã có vương quốc riêng có tên là Chân Lạp, là một quốc gia xuất hiện ở vùng trung lưu sông Mê Kông, khu vực gần Biển Hồ, lấy nông nghiệp là nghề sống chính (Đây mới chính là vương quốc Campuchia cổ). Trong thời kỳ Phù Nam cường thịnh đã có nhiều nước nhỏ thần phục với tư cách là những thuộc quốc hoặc chư hầu, trong đó có Chân Lạp. Vào đầu thế kỷ VII, nhân lúc Phù Nam suy yếu, Chân Lạp đã tấn công và chiếm lấy. Lãnh thổ Phù Nam về tay Chân Lạp do kết quả của những cuộc chiến tranh. Sau khi chiếm được Phù Nam, vùng đất này được đặt tên là Thủy Chân Lạp. Tuy nhiên do khó khăn về lực lượng cộng với hướng phát triển bành trướng lãnh thổ lên phía Tây nên về cơ bản vùng Thủy Chân Lạp này là vùng đất hoang, ít có người sinh sống, khai khẩn. Sự cai quản của Chân Lạp đối với vùng này gần như không có trên thực tế. Từ cuối thế kỷ XVI và đặc biệt là từ đầu thế kỷ XVII, dưới sự bảo hộ của các Chúa Nguyễn, người Việt đã từng bước khai phá vùng đất này. Người Việt đã nhanh chóng hòa đồng với các cộng đồng cư dân tại chỗ và những cư dân mới đến (người Hoa) cùng nhau mở mang, phát triển Nam Bộ thành một vùng đất trù phú. Cũng từ đây người Việt là cư dân chủ thể và thực sự quản vùng đất này. Từ đó đến nay chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam đã được khẳng định không chỉ bằng thực tế lịch sử mà còn trên các văn bản có giá trị pháp lý được cộng đồng quốc tế thừa nhận. VỀ MẶT CƠ SỞ PHÁP LÝ: Việt Nam cũng có đầy đủ cơ sở pháp lý để chứng minh vùng Nam Bộ là thuộc chủ quyền của mình. Tháng 12 năm 1845 ba nước An Nam (Việt Nam), Xiêm (Thái Lan) và Miên (Campuchia) đã ký một Hiệp ước, trong đó thừa nhận 6 tỉnh Nam Kỳ thuộc Việt Nam. Năm sau, triều Nguyễn và Xiêm lại ký một Hiệp ước có nhắc lại điều đó. Đây là Hiệp ước mà sau này Cao Miên cũng tham gia. Như vậy muộn nhất là đến năm 1845 các nước láng giềng với Việt Nam, trong đó có cả Campuchia đã ký các văn bản pháp lý chính thức công nhận vùng đất Nam Bộ là của Việt Nam. Pháp tấn công Nam Bộ rồi sau đó lần lượt chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ là các sự kiện thể hiện rõ sự xâm hại đến chủ quyền lãnh thổ trên vùng đất Nam Bộ, nhưng Campuchia không có bất cứ một phản ứng gì. Trái lại, triều Nguyễn đã điều động quân đội tiến hành kháng Pháp và khi kháng chiến thất bại, đã đứng ra ký các Hiệp định nhượng cho Pháp 3 tỉnh miền Đông (năm 1862) và 3 tỉnh miền Tây (năm 1874). Đây là những chứng cớ và cơ sở pháp lý quan trọng khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất này. Sau khi lập ra Liên bang Đông Dương, trên cơ sở nghiên cứu lịch sử thực thi chủ quyền trên vùng đất Nam Bộ, Pháp đã tiến hành hoạch định biên giới giữa Nam Kỳ và Campuchia theo luật của nước Pháp. Việc khảo sát, đo đạc trên thực địa được tiến hành bởi các chuyên gia Pháp và Campuchia. Năm 1889 giữa Pháp và Campuchia đã ký một loạt các văn bản pháp lý về hoạch định, phân giới cắm mốc biên giới giữa Nam Kỳ và Campuchia. Tất cả các văn bản pháp lý này đều khẳng định vùng đất Nam Kỳ hoàn toàn thuộc về Việt Nam. Trước những thắng lợi liên tiếp của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ngày 4 tháng 6 năm 1949 tổng thống Vincent Aurol ký Bộ luật số 49 - 733 trả lại Nam Kỳ cho chính quyền Bảo Đại. Trong Bộ luật còn có chữ ký của Thủ tướng và Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp. Vậy là đến năm 1949, vùng đất Nam Bộ vốn từng bị cho là triều Nguyễn “bán” cho Pháp, đã được trả lại bằng một văn bản có giá trị pháp lý. Chính phủ Pháp còn khẳng định những cơ sở lịch sử và luật pháp của văn bản này với vương quốc Campuchia. Từ đó về sau chủ quyền Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ liên tục được tất cả các Hiệp định định có giá trị pháp lý quốc tế như Hiệp định Genève (1954), Hiệp định Paris (1973) công nhận. Từ những điều trên khẳng định lại một lần nữa là vùng Nam Bộ mãi mãi thuộc chủ quyền Việt Nam. Không ai có thể xuyên tạc, phủ nhận sự thật lịch sử này. Hải Đăng st

LÊN ÁN CÁCH HÀNH XỬ NGANG NGƯỢC, VÔ NHÂN TÍNH CỦA TRUNG QUỐC TRÊN BIỂN ĐÔNG


Tin từ truyền thông cho biết hôm 12/6, thuyền trưởng kiêm chủ tàu cá QNg96416 thuộc tỉnh Quảng Ngãi là ông Nguyễn Lộc, 42 tuổi, đã đến Trạm kiểm soát biên phòng Sa Kỳ, tỉnh Quảng Ngãi, trình báo vụ việc tàu cá của ông với 15 ngư dân đã bị tàu Trung Quốc rượt đuổi, đâm tàu, và bị tịch thu ngư cụ, tài sản.
Ông Lộc cho biết vào khoảng 10 giờ sáng ngày 10/6 tàu cá của ông bị tàu sắt Trung Quốc số hiệu 4006 cùng một xuồng máy truy đuổi khi đang đánh bắt hải sản ở khu vực biển cách đảo Linh Côn, thuộc quần đảo Hoàng Sa, khoảng 8 hải lý về hướng tây nam.
Sau nhiều lần bị tàu 4006 tông, tàu cá QNg 96416 hư hỏng, lật nghiêng. Tàu Trung Quốc số hiệu 4006 còn đè ở phía sau, buộc 15 thuyền viên nhảy xuống biển thoát thân. Thuyền trưởng Lộc sau đó cũng nhảy xuống biển.
Phía Trung Quốc sau đó đã tịch thu các ngư cụ và 1 tấn hải sản của tàu cá Việt Nam. Tổng thiệt hại ước tính lên đến 500 triệu đồng.
Có thể nói đây là hành động ngang ngược và rất mất nhân tính của phía Trung Quốc.
Ngang ngược bởi quần đảo Hoàng Sa dù bị Trung Quốc cưỡng chiếm nhưng về mặt pháp lý và lịch sử vẫn thuộc chủ quyền Việt Nam. Ngư trường Hoàng Sa là ngư trường truyền thống của ngư dân Việt Nam. Việc người dân Việt Nam đánh bắt cá ở Hoàng Sa là hợp pháp, cớ sao Trung Quốc có thể ngang ngược đâm chìm.
Mất nhân tính ở chỗ phía TRung Quốc biết rõ việc đâm tàu chìm, buộc ngư dân phải nhảy xuống biển là hành động không khác gì giết người bởi số phận các ngư dân có thể sẽ không an toàn.
Chưa kể, tàu Trung quốc còn lấy hết hải sản và ngư cụ trên tàu cá Việt Nam, đó là hành vi ăn cướp.
Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng đã lên án mạnh mẽ hành vi bẩn thỉu này.
Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết bộ này và Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh đã lên tiếng yêu cầu Trung Quốc điều tra, xác minh thông tin vụ việc một tàu Trung Quốc đâm tàu cá Việt Nam gần quần đảo Hoàng Sa hôm 10/6 vừa qua.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng nói: “Ngay trong ngày 10-6, Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao và Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh đã trao đổi với phía Trung Quốc khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, yêu cầu phía Trung Quốc điều tra, xác minh thông tin vụ việc và thông báo kết quả cho các cơ quan chức năng của Việt Nam để tiếp tục phối hợp giải quyết”.
Xem ra bản chất vừa ăn cướp vừa la làng, ngang ngược của Trung Quốc khó mà thay đổi được.
Đúng là lớn mà không lớn      TC

NGHỀ BÁO VÀ GIÁ TRỊ CẦN HƯỚNG TỚI


Đôi điều về 5C và giá trị nhân văn
Mỗi tác phẩm báo chí đều phải chú trọng đến một số nguyên tắc khi triển khai thực hiện, đó là: Thích hợp, chính xác, minh bạch, chính trực, công bằng và cân bằng, trách nhiệm, đổi mới, sáng tạo, nhân văn... Cũng có ý kiến đưa ra nguyên tắc 5C+1N cho việc triển khai bài bình luận ngắn. Tuy nhiên, nguyên tắc này hoàn toàn có thể áp dụng cho nhiều thể loại báo chí khác. Những chữ viết tắt trong nguyên tắc này hoàn toàn thuần Việt, đó là: Chủ đề, Chính kiến, Chính xác, Công bằng, Công tâm và Nhân văn(5).
Đó chính là việc lựa chọn đúng, trúng chủ đề là những vấn đề, sự kiện thời sự, độc đáo, mới lạ, hấp dẫn, thiết thực, thu hút sự chú ý của đông đảo công chúng; là việc nêu được chính kiến, quan điểm của cá nhân cũng như cơ quan báo chí một cách rõ ràng, mạch lạc, khúc chiết, thuyết phục; việc thiết lập các hệ thống luận điểm, luận cứ, dữ liệu, chi tiết một cách chính xác, phù hợp, khách quan, có mối liên hệ chặt chẽ, không có sai sót, thiên lệch; việc luôn phải công bằng, cân bằng trong lựa chọn dữ liệu, chi tiết, câu chuyện, sử dụng ngôn từ, câu chữ, giọng điệu, tránh phiến diện, một chiều, bất công, thiếu hợp lý; luôn phải tỏ rõ sự công tâm trong bài viết, phải ngay thẳng, vì cái chung, tránh sự ưu ái, thiên vị, tư lợi và luôn đề cao, thể hiện rõ giá trị nhân văn, đề cao sự hướng thiện, tôn trọng, bảo vệ nhân phẩm, giá trị con người.
Rõ ràng, trong dòng chảy thông tin bộn bề, lẫn lộn, hổ lốn, khó thẩm định, phân biệt thật - giả, tốt - xấu hiện nay, báo chí cần đem đến những thông tin nhanh nhạy, có chiều sâu, lý lẽ phân tích, biện giải có cơ sở thuyết phục, giàu tính nhân văn, đủ sức định hướng cho đông đảo công chúng, giúp họ tin và làm theo. Khi ấy, dù có là 5W, 5I, thậm chí 5C thuần Việt cũng không quan trọng bằng giá trị tốt đẹp, tích cực, có ích, dựng xây mà báo chí mang lại, góp phần ổn định xã hội, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững. (Còn nữa)      TC.


THẬN TRỌNG GIỮA "XÂY" VÀ "CHỐNG" TRONG GÓP Ý VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG


.


            Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025 tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, thu nhận được nhiều ý kiến đóng góp tâm huyết, trách nhiệm, xây dựng và trí tuệ vào các Văn kiện của Đại hội Đảng. Chủ trương của Đảng ta là luôn mở rộng dân chủ, phát huy trí tuệ, tâm huyết, sự sáng tạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên, các tầng lớp nhân dân góp ý xây dựng dự thảo các Văn kiện của Đảng. Đó là việc làm cần thiết, khẳng định bản chất của chế độ ta.
            Điều lệ của Đảng xác định, Đảng chịu sự giám sát của nhân dân; dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Lấy ý kiến của nhân dân góp ý cho các Văn kiện Đại hội, chính là Đảng dựa vào dân để làm công việc xây dựng Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đó là hoạch định đường lối của Đảng. Các ý kiến góp ý của cán bộ, đảng viên từ tất cả các tổ chức Đảng trong cả nước có tác động tích cực đến quá trình xây dựng, hoàn thiện Văn kiện Đại hội Đảng.
            Thực tiễn của nhiều nhiệm kỳ Đại hội cho thấy, các phần tử cơ hội chính trị đã lợi dụng việc làm này, đưa ra những ý kiến, luận điệu xuyên tạc sự thật nhằm chia rẽ nội bộ Đảng, chống phá chế độ, làm giảm sút lòng tin của dân với Đảng. Những người lặp đi, lặp lại cái luận điệu đã quá cũ ấy bởi vì họ cố tình khư khư ôm lấy cách nghĩ sai trái, nhắm mắt làm ngơ trước thực tế đất nước. Họ muốn dân chủ kiểu gì? Dân chủ kiểu những người giàu vung tiền ra mua phiếu bầu cử chăng? Dân chủ kiểu đảo chính quân sự hay bắn giết không cần luật pháp chăng? Dân chủ kiểu đa đảng hình thức để dân đói khát, vô phương cứu chữa khi dịch giã chăng? Dân chủ đâu phải phụ thuộc vào 1 Đảng hay 10 Đảng. Dân chủ là ở chỗ mang lại được cái gì cho người dân, cuộc sống người dân có tốt hơn lên, người dân có tin tưởng, ủng hộ không.
            Trong điều kiện truyền thông xã hội, mạng internet phát triển như vũ bão hiện nay, nguồn thông tin vô cùng phức tạp, rất khó có thể kiểm soát chặt chẽ, người dân quả là không dễ nhận diện được đúng, sai, phải, trái. Với các thông tin về các vấn đề chính trị lại càng phức tạp hơn, càng khó nhận diện hơn. Trong điều kiện ấy, hàng rào bảo vệ tốt nhất, quan trọng nhất cho mỗi người dân, trước hết và quan trọng nhất là nhận thức và tri thức. Nên có cách lắng nghe bình tĩnh, suy xét cẩn thận, cân nhắc kỹ càng và phản ứng hết sức thận trọng. Tuy nhiên, cũng phải cảnh giác, không thể chủ quan, bởi những thông tin đó có thể gây hoang mang, làm giảm niềm tin của nhân dân, gây nhiễu loạn xã hội. Phải làm sao cho từng cán bộ, đảng viên và cả hệ thống chính trị trở thành đội quân làm công tác tư tưởng, nắm bắt tình hình, hướng dẫn, giải thích cho người thân, gia đình, bạn bè và cộng đồng hiểu được sự sai trái của những luận điệu đó. Đặc biệt, ta có hàng trăm cơ quan báo chí truyền thông, cần huy động tất cả vào cuộc để cập nhật thông tin, kịp thời vạch mặt phê phán những luận điệu sai trái, thù địch.TH.

THỰC HIỆN ĐÚNG QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN BÁO CHÍ


Khoản 2, Điều 29 Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền năm 1948 nêu rõ: Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra nhằm bảo đảm những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa mãn”

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2020

KHÔNG THỂ DÙNG CÁCH GỌI KHÁC TRONG SÁCH SỬ CHO THÂY MA NGỤY QUYỀN ĐÃ BỊ CHÔN VÙI GẦN NỬA THẾ KỶ QUA


Vừa qua trên mạng xã hội lan truyền ý kiến về việc bỏ các cụm từ “ngụy quân”, “ngụy quyền” của một tập giai đoạn 1954 - 1975 trong bộ quốc sử Việt Nam 25 tập đang biên soạn với lý do đưa ra là:“Việt Nam cộng hoà là một chế độ tồn tại thực tế, có chính quyền,…”. Theo đó, nhiều người vì không hiểu hay cố tình không hiểu, hoặc vì mục đích xấu xa, đen tối nào đó đã ra sức kêu gào bỏ cách gọi “ngụy quyền, ngụy quân”, cho rằng như thế là “không chính xác, mang tính xúc phạm, miệt thị”. Đây là ý kiến hết sức sai trái, một âm mưu lật sử rất nguy hiểm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhận thức lịch sử của các tầng lớp nhân dân hiện nay, tạo điều kiện để các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc, kích động hòng vực dậy “thây ma” tập đoàn bán nước, hại dân ở miền Nam trước ngày 30/4/1975. Một lần nữa chúng ta cần phải làm rõ: Vì sao gọi là “ngụy”?
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Ngụy” là một từ gốc Hán trong tiếng Việt có nhiều nghĩa tùy thuộc vào văn cảnh và từ ghép với nó. Nghĩa thường dùng là để chỉ sự vật, sự việc mang tính giả tạo, như trong từ ngụy trang, ngụy tạo. Trong lịch sử, từ "ngụy" được dùng để chỉ một chính phủ được lập ra một cách bất hợp pháp, không chính thống, không được người dân công nhận, như là trong từ ngụy triều, ngụy binh, ngụy quân, ngụy quyền. Tại Việt Nam, có hai từ ngụy đồng âm khác nghĩa thường được sử dụng trong văn hoá, giao tiếp và văn học của người Việt. Ngoài một từ “Ngụy” là danh từ được viết hoa dùng để chỉ tên gọi, từ “ngụy” thường dùng là tính từ, có ý nghĩa là "sự giả tạo", ví dụ như: "ngụy tạo, ngụy biện, ngụy trang, ngụy quân, ngụy quyền, …". Trong chính trị, từ này được dùng để chỉ một triều đại hoặc chính quyền do soán đoạt mà có, hoặc do quân xâm lược nước ngoài dựng lên để hợp thức hóa sự xâm lược, đô hộ một nước khác. Về bản chất, chính quyền này không có thực quyền, chỉ là hữu danh vô thực, chính quyền này bị quân xâm lược nước ngoài khống chế, mang tính chất bất hợp pháp và không chính danh. Trong lịch sử các nước Đông Á như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật BảnViệt Nam, từ "ngụy triều", "ngụy quyền" được sử dụng nhiều trong các tài liệu lịch sử. Ở phương Tây, thuật ngữ "ngụy quyền" có cách gọi khác là chính quyền tay sai, hoặc Chính phủ bù nhìn, chế độ tay sai, nhà nước con rối ("Puppet State, Puppet Regime"). Theo Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam (năm 2007) thì: "Ngụy quyền là chính quyền bản xứ do thế lực nước ngoài dựng lên, nuôi dưỡng, sử dụng làm công cụ xâm lược, nô dịch của họ. Ở Việt Nam, chính quyền Bảo Đại (1949-1954) và chính quyền Sài Gòn (1954-1975) đều là ngụy quyền (do Pháp và Mỹ dựng lên)".
Với những tội ác tày trời đã gây ra đối với đất nước ta, dân tộc ta trong suốt thời kỳ chúng làm tay sai cho Thực dân Pháp rồi đổi chủ làm tay sai cho Đế quốc Mỹ xâm lược, các tập đoàn bán nước, hại dân ở miền Nam trước ngày30/4/1975 đã đáng danh xưng “ngụy quyền, ngụy quân” mà toàn thể đồng bào ta đã vạch mặt chỉ tên và thường gọi từ hàng chục năm qua. Bản chất ngụy, tay sai ngoại bang của cái gọi là “Chính phủ Việt Nam cộng hòa” đã bị lột trần qua chính lời các Tổng thống Mỹ; như: John Kennedy (khi chưa là tổng thống) tại cuộc họp của Hội “American Friends of Vietnam” ông ta nói rằng: “...nếu chúng ta không phải là cha mẹ của nước Việt Nam bé nhỏ (chỉ cái gọi là “Việt Nam Cộng hòa”) thì chắc chắn chúng ta cũng là cha mẹ đỡ đầu của nó. Chúng ta chủ tọa lúc nó ra đời, chúng ta viện trợ để nó sống, chúng ta giúp định hình tương lai của nó. Đó là con đẻ của chúng ta, chúng ta không thể bỏ rơi nó” và (khi đã là Tổng thống Mỹ) ông ta nói: “Diệm (Tổng thống của cái gọi là “Việt Nam cộng hòa”) là thằng con trai duy nhất mà chúng ta có ở đó”; Nixon nói tới  Nguyễn Văn Thiệu (Tổng thống của cái gọi là “Việt Nam cộng hòa” phản đối ký Hiệp định Paris): “Không thể để cái đuôi chó phản lại cái đầu con chó được”. Cựu giám đốc tình báo quốc gia Hàn quốc Won Sei Hoon đã phát biểu:“Tôi không nghĩ rằng nếu còn tồn tại “Việt Nam cộng hòa” sẽ giống Nam Hàn. Tôi nghĩ nó sẽ trở thành Nam Sudan với nội chiến, đói nghèo, tham nhũng, xung đột tôn giáo, … “Việt Nam cộng hòa” là một thứ ăn bám, rác rưởi không thể so sánh với chúng tôi”…. Bản thân Nguyễn Văn Thiệu đã từng tuyên bố:“Nếu Hoa kỳ không viện trợ cho chúng ta nữa thì không phải là một ngày một tháng hay một năm, mà chỉ sau 3 giờ chúng tôi sẽ rời khỏi dinh Độc lập”. Chính ông Nguyễn Cao Kỳ - Phó Tổng thống của cái gọi là “Việt Nam Cộng hòa” đã thừa nhận: “Việt cộng luôn đối xử với chúng tôi như những con rối, những con bù nhìn của người Mỹ, nhưng rồi chính người Mỹ cũng coi chúng tôi là những con bù nhìn của Mỹ, chứ không phải là những nhà lãnh đạo thật sự của người dân Việt Nam. Ông Mỹ lúc nào cũng đứng ra làm kép chính, chúng tôi không có quyền lực và vai trò gì quan trọng, vì vậy nhiều người cho đây là cuộc chiến của người Mỹ và chúng tôi chỉ là những kẻ đánh thuê”. Cao Văn Viên - đại tướng của cái gọi là “quân lực Việt Nam cộng hòa” (ngụy quân) đã nói: “Chúng ta không có trách nhiệm về chiến tranh. Trách nhiệm về cuộc chiến ở đây là của người Mỹ. Chính sách đó do họ đẻ ra, chúng ta chỉ theo họ mà thôi”. Ngay trước ngày30/4/1975, Trả lời Vanuxem - nhà ngoại giao Pháp đến khuyên mời Trung Quốc vào cứu nguy cho cái gọi là “Việt Nam Cộng hòa”, ông Dương Văn Minh - Tổng thống cuối cùng của chế độ này đã trả lời rằng: “Tôi cảm ơn thiện chí của ông, nhưng trong đời tôi, tôi đã làm tay sai cho Pháp, rồi tay sai cho Mỹ đã quá đủ rồi. Tôi không thể tiếp tục làm tay sai cho Trung quốc” v.v….
Ngày 30/4/1975 quân giải phóng đã tiến vào dinh Độc lập, Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn đã đầu hàng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đã giành thắng lợi hoàn toàn, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã thực hiện trọn vẹn lời dạy của Bác Hồ trong bài thơ chúc tết Kỷ Dậu năm 1969 là “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”. Chẳng lẽ giờ đây sau hơn 45 năm, cái thây ma ngụy ấy không còn gọi là ngụy quyền theo đúng thực chất của nó nữa mà lại được ngụy biện để ghi theo cái gọi là “Việt Nam cộng hòa” trong sách sử? Bỏ cách gọi “ngụy quyền, ngụy quân” gắn với sự công nhận cái gọi là “Chính phủ Quốc gia Việt Nam” (do thực dân Pháp dựng lên năm 1948) hay “Chính phủ Việt Nam cộng hoà” (do đế quốc Mỹ sau khi hất cẳng thực dân Pháp đã dựng lên ở miền Nam Việt Nam thế chân cho cái gọi là “Chính phủ Quốc gia Việt Nam”) rõ ràng là ý đồ “lập lờ đánh lộn con đen” giữa “chính” và “tà” / “ngụy”. Bất chấp thực tiễn khách quan, nhân sinh quan, thế giới quan khoa học để bỏ cách gọi “ngụy quyền, ngụy quân” đối với tập đoàn bán nước, hại dân ở miền Nam trước ngày30/4/1975trong tập sách sử kia là dấu hiệu rõ ràng nhất để phân biệt đó có còn là chính sử hay đang chuyển sang sắc màu ngụy sử và đó không chỉ là một sai lầm tệ hại của mấy nhà sử học biến chất mà còn là một âm mưu “lật sử” theo hướng “tự chuyển hóa”, “diễn biến hòa bình”./.

CẦN LOẠI BỎ NHỮNG “CON SÂU” PHÁ HOẠI NỀN BÁO CHÍ


Báo chí từ lâu đã được nhiều quốc gia coi là “cơ quan quyền lực thứ tư” chỉ đứng sau quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ở Việt Nam, báo chí được Đảng và Nhà nước Việt Nam xem là một lĩnh vực trong công tác văn hóa - tư tưởng có vai trò giúp nhân dân trong và ngoài nước hiểu rõ về quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thành tựu của công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam; đấu tranh phản bác những thông tin một chiều, xuyên tạc, thù địch; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thu hút sự ủng hộ và thiện cảm của bạn bè thế giới, tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển.
Nhân kỷ niệm 95 năm ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, thủ tướng chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã có bức thư gửi những người làm báo, trong đó thủ tướng đã khẳng định: “Các nhà báo của chúng ta luôn đi đầu trên mặt trận đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc cũng như bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ; tích cực đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; phê phán những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống trong xã hội, là diễn đàn để đông đảo quần chúng nhân dân đóng góp ý kiến cũng như thực hiện quyền giám sát công tác điều hành của chính quyền các cấp từ Trung ương tới địa phương. Nhiều phóng viên đã không quản gian khổ, hy sinh, sẵn sàng “vào sinh, ra tử” trong “mưa bom, bão đạn” của chiến tranh hoặc đối mặt với những “hiểm nguy”, kịp thời có mặt tại những “điểm nóng”, “ổ dịch bệnh nguy hiểm” để hoàn thành sứ mệnh cao cả của người làm báo.”
Tuy nhiên bên cạnh nhiều cá nhân, tập thể tiêu biểu trong nền báo chí của nước nhà, vẫn còn có những “con sâu” vì lợi ích cá nhân của bản thân mà cho ra đời những bài báo viết về những nội dung không lành mạnh, câu khách, rẻ tiền, viết sai sự thật… Đặc biệt, đã có những nhà báo lợi dụng nghề nghiệp để trục lợi, làm tiền doanh nghiệp, để “đâm thuê, chém mướn”. Hơn thế nữa, còn có những người tự xưng là nhà báo, lợi dụng truyền thông để bôi nhọ nói xấu chế độ, xuyên tạc đường lối, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước. Những kẻ đó thật đáng lên án lắm thay!


VỤ ĐỒNG TÂM CÔNG AN HÀ NỘI KẾT LUẬN 29 BỊ CAN THAM GIA THIÊU CHẾT 3 CÔNG AN
        Sau hơn 5 tháng xảy ra vụ bố ráp và tập kích vào xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội ngày 12/ 6/ 2020 cơ quan điều tra thuộc công an Hà Nội đã công bố kết luận điều tra và đề nghị truy tố 29 người dân ở xã này trong vụ việc mà chính quyền cáo buộc đã thiêu chết 3 sỹ quan công an trong lực lượng bố ráp ở xã này hôm 9/1. Ông Lê Đình Kình có vai trò chủ mưu cầm đầu thường xuyên tổ chức xuyên tạc nguồn gốc đất Đồng Xênh, kích động lôi kéo người dân tham gia khiếu kiện. Mặc dù đã được thanh tra Hà Nội thông báo kết luận thanh tra về nguồn gốc đất này là đất Quốc Phòng ông Kình vẫn hứa hẹn nếu đòi được đất sẽ chia cho những người tham gia khiếu kiện. Đầu tháng 12/ 2019 ông Kình đưa cho Lê Đình Doanh 500 nghìn đồng để mua 10 con dao phóng lợn ngoài ra ông Doanh còn làm thêm 10 tuýp sắt để gắn dao phóng lợn. Tại các cuộc họp từ ngày 6/1 đến 8/1 ông Kình chỉ đạo “Chỉ cần giết được 3 thằng là chúng nó chạy hết” “Nếu đất chưa lãm rõ kẻ nào mà nhảy vào cưỡng đất thì sẽ cho trắng lưng ngửa bụng” Ngày 9/1 lực lượng công an ngăn chặn bắt giữ những người vi phạm đang ẩn nấp trong nhà ông Kình, lúc này ông Kình sử dụng dao phóng lợn, lựu đạn tiến công lực lượng làm nhiệm vụ nên bị bắn tử vong. Cơ quan điều tra kết luận hành vi của ông Kình cấu thành tội giết người nhưng do ông đã chết nên không khởi tố.

PHẢN ĐỐI TRUNG QUỐC ĐÃ ĐÂM, CƯỚP PHÁ TÀI SẢN CỦA NGƯ DÂN VIỆT NAM



       Theo báo cáo của hội nghề cá tỉnh Quảng Ngãi và ngư dân trình báo khoảng 10.00 ngày 10/6/2020 tài cá QNQ 96416 do ngư dân Nguyên Lộ 42 tuổi ở huyện Lý Sơn tỉnh Quảng Ngãi làm thuyền trưởng cùng 15 lao động hành nghề ở khu vực cách đảo Linh Côn thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam khoảng 8 hải lý về hướng Tây Nam thì bị tàu sắt của lực lượng hải cảnh Trung Quốc số hiệu 4006 truy đuổi cùng một xuồng máy đâm va làm hỏng tàu cá, lực lượng hải cảnh Trung Quốc đã khống chế, đánh đập ngư dân và bắt ký chỉ điểm chỉ dấu vân tay vào biên bản do Trung Quốc viết lấy ngư cụ và 2 máy định vị và máy dò cá, 1 thuyền thúng, 5 bành dây hơi, 1 tấn hải sản làm hư hỏng nhiều bộ phận trên thân tàu ước tính thiệt hại khoảng 500 triệu đồng. Những hành động trên của Trung Quốc đã lặp đi lặp lại nhiều lần và liên tục gia tăng gây bất an bất bình cho ngư dân xâm phạm chủ quyền biển Việt Nam và vi phạm luật pháp quốc tế. Hội nghề cá Việt Nam lên án và phản đối hành động vô nhân đạo trên của Trung Quốc đã gây nguy hiểm đến tính mạng và thiệt hại tài sản của ngư dân Việt Nam khi khai thác hải sản trên vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Những hành động trên của Trung Quốc cần phải chấm dứt ngay. Các lực lượng của Việt Nam cần tăng cường tuần tra bảo vệ trên biển để kịp thời hỗ trợ nhân dân và có biện pháp đảm bảo an toàn để ngư dân yên tâm bám biển bảo vệ chủ quyền Việt Nam.

VẠCH TRẦN THỦ ĐOẠN TÁCH RỜI LỢI ÍCH QUỐC GIA RA KHỎI Ý THỨC HỆ


Trong thời gian qua, nhằm bảo vệ cho hành vi xuyên tạc, làm thay đổi bản chất cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, những người chủ trương xét lại lịch sử đã đưa ra nhiều lý do ngụy biện mới, trong đó có điểm đáng chú ý khi họ cho rằng: “Cần phải đặt lợi ích quốc gia lên trên ý thức hệ”
Luận điểm này nghe qua thì có vẻ hợp lý, bởi không chỉ Việt Nam mà các nước trên thế giới trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, họ đều xác định phương châm đối ngoại là đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên hàng đầu trong quan hệ quốc tế. Song khi đặt vấn đề “đặt lợi ích quốc gia lên trên ý thức hệ” lại là vấn đề khác. Đây là chiêu thức ngụy biện, bởi lợi ích quốc gia - dân tộc với ý thức hệ giai cấp đại diện là một thể thống nhất biện chứng. Lợi ích quốc gia - dân tộc là một bộ phận cơ bản, hợp phần tất yếu hợp thành ý thức hệ của giai cấp cầm quyền lãnh đạo nhà nước và toàn xã hội.
Đối với Việt Nam, ý thức hệ chi phối đời sống tinh thần của xã hội là ý thức hệ của giai cấp công nhân, trong đó lợi ích giai cấp công nhân và lợi ích quốc gia - dân tộc là thống nhất. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng đã khẳng định: “Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”. Vì vậy, việc tách lợi ích quốc gia ra khỏi ý thức hệ, chính là thủ đoạn nhằm thực hiện “phi chính trị hóa sử học”, dọn đường cho việc bỏ từ “ngụy” để thực hiện cái gọi là “hòa giải giữa những người tham gia cuộc chiến!”, làm xóa nhòa giữa chính nghĩa và phi nghĩa, cách mạng và phản động trong ghi chép lịch sử của dân tộc thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.

Người phụ nữ Việt Nam Bà Phạm Thị Thúy Mỳ - chiến sỹ công an Nhân dân trong chiến tranh và đời thường

Kể lại những kỷ niệm cũ, bà Phạm Thị Thúy Mỳ - nữ Công an từng giấu mẹ viết quyết tâm thư bằng máu xin tình nguyện vào chiến trường miền nam, đánh giặc cứu nước trả thù cho cha chia sẻ: Năm 1965, nghe tin cha mình, cũng là cán bộ An ninh Công an tỉnh Hà Nam chi viện chiến trường miền Nam vừa hy sinh tại chiến trường Trị Thiên khói lửa, là chị cả của 4 em thơ, còn mẹ thì luôn đau yếu và dù thương mẹ và các em vô cùng, nhưng cô gái trẻ Phạm Thị Thúy Mỳ vẫn tìm mọi cách để được ra tiền tuyến. Sợ lá đơn xin ra trận bị gạt, bà liền chích tay lấy máu viết đơn tình nguyện và giả chữ ký của mẹ đồng ý cho con vào chiến trường miền Nam rồi gửi tới Công an huyện Thanh Liêm.

Hoàn cảnh gia đình bà vô cùng khó khăn, nhưng thấy bà cứ một mực tha thiết xin ra trận nên cuối cùng tổ chức chẳng nỡ lòng chối từ. Ngày lên đường, bà gầy nhẳng như cây sậy, thế mà vẫn phải đeo balo hành quân, lội rừng Trường Sơn ròng rã hơn 3 tháng trời vào tới đất Quảng Nam, trực tiếp chi viện cho Ban An ninh liên khu V.

Bà Mỳ chia sẻ, thời điểm đó, chiến tranh ngày càng ác liệt, sự sống và cái chết chỉ cách nhau gang tấc. Là lính cơ yếu, để đảm bảo bí mật, bà và đồng đội luôn phải làm việc giữa rừng. Ngày cũng như đêm, nắng cũng như mưa, bàn làm việc là sàn đất, còn giường ngủ là những chiếc võng, chiếc tăng. Có những khi bom đạn địch vây ráp, phải di chuyển địa điểm, cõng những thùng tài liệu còn nặng hơn cả trọng lượng cơ thể mình để chạy giặc. Vậy mà, ngày ấy bà vẫn vẫn băng băng cõng những thùng tài liệu xuyên núi, xuyên rừng…

Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, có người đã không còn trở về lành lặn bởi di chứng chiến tranh hay chất độc da cam, tuổi xuân trôi qua nơi trận mạc khiến nhiều người không được hưởng hạnh phúc đời thường, kể cả niềm vui được làm vợ, làm mẹ. Thế nhưng, họ vẫn lạc quan, tỏa về nhiều nơi, đảm nhận nhiều vị trí công tác khác nhau tiếp tục cống hiến cho đất nước, luôn giữ vững phẩm chất của người chiến sĩ Công an Nhân Dân đã được thử thách, tôi luyện qua lửa đỏ. Nhân kỷ niệm 75 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, xin được bày tỏ lòng tri ân tới những nữ cán bộ Công an chi viện chiến trường miền Nam, những người phụ nữ  Việt Nam anh hùng.

TRƯỜNG TỒN