Thứ Ba, 16 tháng 3, 2021

Các mục tiêu chính của Đại hội XIII là hiện thực, khách quan, đáp ứng trúng đòi hỏi phát triển của đất nước ​

 

 

1. Các luận điệu sai trái, xuyên tạc cho rằng việc đề ra “các mục tiêu chính của Đại hội XIII là chủ quan, duy ý chí, không thực hiện được”

- Trong thời gian qua, nhất là trước thềm Đại hội XIII của Đảng, có nhiều ý kiến, bài viết trên blog, facebook cá nhân, trên các trang mạng xã hội xuyên tạc về thực hiện “ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, họ cho rằng đã là “ kinh tế thì trường thì không thể có định hướng xã hội chủ nghĩa”, đây chẳng qua là “mị dân”, không tôn trọng quy luật khách quan, không tưởng; không có nền kinh tế nào là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; kinh tế thị trường,các quy luật của kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là những yếu tố đối lập nhau, loại trù nhau; ghép định hướng xã hội chủ nghĩa vào kinh tế thị trường là sự gán ghép chủ quan, duy ý chí, không có cơ sở khoa học, không thuyết phục, làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn; nếu bỏ cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” thì đất nước còn phát triển nhanh hơn, kết quả đạt được còn lớn hơn nhiều. Họ cố tình không hiểu những mặt hạn chế, tiêu cực của kinh tế thị trường, tác động ảnh hưởng đến đời sống của người dân, rất cần đến chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa vì hạnh phúc của nhân dân.

- Lợi dụng “góp ý” vào Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị tập trung xuyên tạc việc xác định các mục tiêu, họ cho rằng, đưa ra quá cao là“ chủ quan, duy ý chí”, “ không có cơ sở khoa học”, trong khi bối cảnh, tình hình trong nước và quốc tế luôn có nhiều biến động khó lường, không thực hiện được. Thực chất là họ muốn phủ nhận những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, cản trở bước tiến của đất nước trong những năm sắp tới mà Đảng ta đã xác định mục tiêu phấn đấu vì sự hùng cường, thịnh vượng của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân.

 

 

2. Luận cứ phê phán

2.1.Cần nhận thức đúng đắn, khách quan, cơ bản về mục tiêu và việc xác định mục tiêu phát triển của một quốc gia là rất quan trọng và rất cần thiết

Như chúng ta đã biết, mục tiêu là một ý tưởng của tương lai, hoặc kết quả mong muốn của một người hay một nhóm người đã hình dung ra, kế hoạch và cam kết thực hiện để đạt được. Những nỗ lực để đạt được mục tiêu trong một hữu hạn thời gian, bằng cách đặt ra hạn cuối cùng. Từ đó mà mỗi chủ thể đều có thể đặt mục tiêu cho riêng mình. Một quốc gia có thể đặt mục tiêu đạt mức thu nhập, đạt trình độ phát triển nào đó khi đến mốc thời gian xác định nào đó trong tiến trình phát triển. Khi xác định mục tiêu phải trả lời được hai câu hỏi đó là: Kết quả mong muốn đạt được là gì? Thời hạn đạt được kết quả đó trong bao lâu? Còn việc sử dụng phương pháp nào; lộ trình ra sao; cần chuẩn bị những công cụ, phương tiện nào… để thực hiện mong muốn đạt được mục tiêu đã đề ra là vấn đề thuộc chủ thể đặt ra mục tiêu phải tiến hành, nó không thuộc phạm vi nội hàm của mục tiêu.Xuất phát từ thực tiễn, có các cách tiếp cận phân định mục tiêu khác nhau, nếu phân định theo thời gian, mục tiêu có thể là dài hạn, trung hạn hoặc ngắn hạn. Sự khác biệt ở cách phân định này chính là thời gian cần thiết để đạt được mục tiêu đó. Nếu phân định theo kết quả mong muốn, mục tiêu có thể là mục tiêu tổng thể và mục tiêu cụ thể. Điểm căn cốt trong cách phân định này là mức độ, trình độ hay các điều kiện đảm bảo của chủ thể hiện có và tiềm năng để có thể đạt được mục tiêu đã xác định. Điều này đồng nghĩa với tính khả thi hay mức độ hiện thực của mục tiêu mà chủ thể xác định. Trên thực tế, các cách phân định này thường được sử dụng đồng thời, đan xen, trong đó với các tổ chức, quốc gia, cách phân định mục tiêu theo kết quả mong muốn sẽ được xem xét trước, trên cơ sở đó, mỗi đối tượng thuộc cấu phần của chủ thể mục tiêu tổng thể sẽ có những phân định mục tiêu theo thời gian trong lộ trình thực hiện mục tiêu tổng thể hoặc đó là sự cụ thể hóa của những mục tiêu cụ thể.

 Với mỗi quốc gia, trước hết, việc xác định mục tiêu phát triển sẽ được tiếp cận theo kết quả mong muốn, với cách phân định dựa trên kết quả mong muốn. Theo đó, mọi quốc gia luôn xác định mục tiêu tổng thể và mục tiêu cụ thể trên cơ sở đánh giá tổng quát về thực trạng phát triển, trình độ phát triển, bối cảnh phát triển, tiềm năng phát triển... trên cơ sở đó xác định tầm nhìn, xác định mục tiêu phát triển tổng thể và mục tiêu cụ thể của quốc gia. Chính vì vậy, mục tiêu phát triển ở mỗi quốc gia là không giống nhau kể cả có cùng trình độ phát triển.Từ thực tiễn vận hành các quốc gia cho thấy, xác định mục tiêu quốc gia là việc cụ thể hóa, hiện thực hóa tầm nhìn của lãnh đạo quốc gia về sự phát triển trong tương lai của quốc gia đó bằng việc định lượng những kết quả mong muốn mà quốc gia cần đạt được trong những khoảng thời gian xác định. Tuy nhiên, để xác định được mục tiêu quốc gia, đòi hỏi phải dựa trên việc phân tích, đánh giá đúng bối cảnh, diễn biến của tình hình quốc tế, xu thế phát triển của thời đại; nhận diện những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức đang đặt ra, những mâu thuẫn lớn, cơ bản cần phải giải quyết để phát triển đất nước. Phân tích, đánh giá đúng hiện trạng phát triển của đất nước để có cơ sở lượng hóa tiềm năng phát triển của đất nước. Đây là những căn cứ quan trọng để xác định nhiệm vụ cần phải thực hiện để đạt được mục tiêu đã xác định.

2.2. Các căn cứ xác định mục tiêu phát triển của Việt Nam giai đoạn 2021- 2030 và tầm nhìn đến năm 2045

Từ thực tiễn lịch sử đấu tranh giành chính quyền, thống nhất Tổ quốc, xây dựng và phát triển đất nước hơn 90 năm qua kể từ khi có Đảng, hơn 75 năm có chính quyền; đặc biệt là 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, cho thấy việc xác định đúng đắn mục tiêu trong từng giai đoạn phát triển là yếu tố quyết định thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam. Chính vì vậy, để lãnh đạo đất nước, mỗi khi chuẩn bị cho các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc, Đảng chỉ đạo nghiêm túc, bài bản, khoa học việc xây dựng dự thảo các Văn kiện trình Đại hội, trong đó quan trọng là Báo cáo chính trị - văn kiện trung tâm của Đại hội, vừa có giá trị tổng kết thực tiễn, kinh nghiệm, vừa xác định mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và khâu đột phá chiến lược trên các lĩnh vực, các mặt công tác trong cả nhiệm kỳ cần phải thực hiện. Chuẩn bị cho Đại hội lần thứ XIII của Đảng tổ chức vào đầu năm 2021. Đảng đã chỉ đạo xây dựng dự thảo các văn kiện trình Đại hội. Do tầm quan trọng đặc biệt của Đại hội lần này, hướng tới kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng vào năm 2030 và 100 năm Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) vào năm 2045, dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội được yêu cầu không chỉ xác định mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước trong 5 năm 2021 - 2025, mà còn phải xác định mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Đây là sự chỉ đạo có ý nghĩa quan trọng, mang tầm chiến lược; là sự kế thừa, phát huy những bài học kinh nghiệm, truyền thống quý báu của Đảng, là yêu cầu khách quan về sự phù hợp, đảm bảo tính thực tiễn và tính khả thi của mục tiêu phát triển và cũng là cơ sở để xác định chính xác những định hướng, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, phát triển đất nước, tạo sự đồng thuận, thống nhất về nhận thức, hành động của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Thực hiện dân chủ, cầu thị, lắng nghe ý kiến của các đại biểu quốc hội, các nhà khoa học, các chuyên gia, các nhà quản lý, quản trị, các bậc lão thành cách mạng và ý kiến đóng góp của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và các tầng lớp nhân dân về Dự thảo các văn kiện của Đảng - trung tâm là Báo cáo chính trị, trong đó có xác định các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2025, năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Đây là vấn đề rất hệ trọng, trong các lần hội thảo, toạ đàm, thảo luận rất sôi nổi, tựu trung có hai loại ý kiến: Loại ý kiến thứ nhất nhấn mạnh mục tiêu trở thành nước công nghiệp theo ý tưởng trong Văn kiện (từ Văn kiện Đại hội VIII đến nay), trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá đọ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), một số nghị quyết Trung ương, Bộ Chính trị từ khóa IX đến khóa XII, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020. Theo đó, xác định mục tiêu phấn đấu đưa nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại với ba mốc quan trọng: đến năm 2025, cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; đến năm 2030, trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; đến năm 2045 trở thành nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Loại ý kiến thứ hai cho rằng cần tham khảo cách phân loại các quốc gia theo xu hướng hiện nay của các tổ chức quốc tế. Theo đó, nên xác định mục tiêu theo trình độ phát triển.Để thống nhất nhận thức, thống nhất hành động cần có những phân tích căn bản, khoa học để có được căn cứ xác đáng cho việc xác định đúng mục tiêu phát triển đất nước - một vấn đề hệ trọng của đất nước.

Từ thực tiễn, chúng ta thấy rằng, không chỉ ở Việt Nam, mà ngay thế giới cũng đang tồn tại sự khác nhau trong cách phân loại quốc gia, thông qua việc hoạt động được thực hiện dựa trên việc đánh giá thành quả phát triển của mỗi quốc gia và sự khác nhau về cách tiếp cận. Với chức năng là những tổ chức quốc tế hình thành vì sự phát triển, các tổ chức quốc tế, như Liên Hợp quốc (UN), Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), Tổ chức Phát triển công nghiệp của Liên Hợp quốc (UNIDO) đã thường xuyên thực hiện việc phân loại các quốc gia để có những sự lựa chọn hỗ trợ phát triển phù hợp theo chức năng, nhiệm vụ của mình.Hiện đang tồn tại nhiều cách phân loại các quốc gia trên thế giới, một mặt, do những tổ chức này, có các chức năng, mục tiêu khác nhau nên đưa ra các cách phân loại khác nhau, nhưng có tham khảo, phối hợp, thống nhất với nhau ở nhiều nội dung; mặt khác, cũng do cách tiếp cận đánh giá phân loại, xác định mức độ, trình độ phát triển quốc gia còn có những phương cách khác nhau khi xác định mục tiêu phát triển quốc gia. Hiện nay, Liên Hợp quốc phân chia các nước trên thế giới thành ba loại: Nước kém phát triển; nước đang phát triển; nước phát triển, dựa trên cơ sở thu nhập bình quân đầu người. Mức thu nhập này được điều chỉnh theo các giai đoạn phát triển, dựa trên các số liệu của Ngân hàng Thế giới. Ngân hàng Thế giới phân loại các nước dựa trên thu nhập bình quân đầu người (GNI/người) thành bốn nhóm: Nước có thu nhập thấp; nước có thu nhập trung bình thấp; nước có thu nhập trung bình cao; nước có thu nhập cao.T ổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế định kỳ ba năm một lần rà soát và lựa chọn các nước đủ điều kiện nhận vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cũng dựa trên chỉ số thu nhập bình quân đầu người để phân loại quốc gia được nhận hay không được nhận ODA, theo đó, phân loại thành các nước kém phát triển, đang phát triển hay nước phát triển. Riêng với UNIDO, do vai trò, chức năng của một tổ chức thúc đẩy phát triển công nghiệp ở các nước trên thế giới, nên thường sử dụng thuật ngữ “công nghiệp hóa” nhiều hơn là “phát triển”. Chính vì vậy, UNIDO lấy chỉ số giá trị gia tăng ngành công nghiệp chế biến (MVA) bình quân đầu người (MVA/người) làm tiêu chí xác định nước công nghiệp. Dựa trên tiêu chí này, UNIDO chia các nền kinh tế trên thế giới thành bốn nhóm: Các nước đã công nghiệp hóa; các nước công nghiệp mới nổi; các nước đang phát triển khác; các nước kém phát triển. Song, trong cách phân định này, UNIDO vẫn phải dựa trên chỉ số bình quân thu nhập đầu người, mặc dù bình quân thu nhập đầu người dựa trên gía trị gia tăng ngành công nghiệp chế biến (MVA/người). Điều này một mặt khẳng định chỉ số thu nhập bình quân đầu người là căn cứ quan trọng hàng đầu đối với mỗi quốc gia, là kết quả, là mục tiêu cần xác lập của mỗi quốc gia; mặt khác, cũng cho thấy điều chưa thực sự toàn diện trong cách phân loại quốc gia của UNIDO, vì chỉ số gia tăng công nghiệp chế biến chưa thể đủ bao quát, đại diện cho sự phát triển của một quốc gia, kể cả quốc gia đó là quốc gia thuần công nghiệp; hơn nữa, cũng chưa bao hàm được quốc gia mà sự phát triển không dựa trên công nghiệp do đặc thù riêng; đồng thời, với cách phân loại này cũng chưa đảm bảo tính thống nhất về tiêu chí: Nước đã công nghiệp hóa, hay nước công nghiệp mới nổi về thực chất là phản ánh quy trình chủ đạo vận hành nền kinh tế; các nước đang phát triển, các nước kém phát triển về bản chất chính là nói lên trình độ phát triển của một quốc gia trong điều kiện cụ thể.

Từ nhận thức trên, chúng ta thấy đến nay tạm thời đang tồn tại hai cách phân chia các quốc gia đó là chia các quốc gia thành: nước kém phát triển; nước đang phát triển và nước phát triển. Chia các quốc gia thành: Nước có thu nhập thấp; nước có thu nhập trung bình thấp; nước có thu nhập trung bình cao; nước có thu nhập cao. Hai cách phân loại này có sự liên thông, tương hỗ với nhau và đều dựa trên chỉ số thu nhập bình quân đầu người ở mỗi quốc gia. Các nước kém phát triển là những nước có thu nhập thấp, những nước đang phát triển là những nước có thu nhập trung bình, nước phát triển là những nước có thu nhập cao. Mặc dù không có một quy định chính thức, nhưng thuật ngữ “nước phát triển” và “nước đã công nghiệp hóa” được sử dụng thay thế nhau ở các văn bản của các tổ chức quốc tế. Việc đạt được chỉ số thu nhập bình quân đầu người ở mức độ nào phụ thuộc vào điều kiện thực tiễn, hiện trạng nền kinh tế và cách thức vận hành nền kinh tế phù hợp hay không phù hợp với bối cảnh trong nước và quốc tế.

Từ sự phân tích một cách cơ bản, khách quan, khoa học về mục tiêu và việc xác định mục tiêu phát triển của một quốc gia; căn cứ vào sự hợp lý trong các cách tiếp cận phân loại quốc gia và xuất phát từ hiện thực phát triển đất nước trong thời gian qua, giúp chúng ta thấy được những căn cứđể xác định đúng mục tiêu phát triển đất nước trong thời gian tới, đó là:

- Khi nói đến mục tiêu cần xác định hai vấn đề cơ bản: Kết quả mong muốn đạt được là gì? Thời hạn đạt kết quả đó trong bao lâu/khi nào? Xác định mục tiêu quốc gia là việc cụ thể hóa, hiện thực hóa tầm nhìn của lãnh đạo quốc gia về sự phát triển trong tương lai của quốc gia bằng việc định lượng những kết quả mong muốn mà quốc gia cần đạt được trong những khoảng thời gian được xác định.

 - Mục tiêu phát triển là dự báo tương lai, là đích phát triển mà quốc gia cần đạt được, nên phải là những thông số đo lường được, định lượng được. Điều kiện thực tiễn, bối cảnh phát triển, tiềm năng, giới hạn của sự phát triển, cách thức tổ chức, vận hành kinh tế - xã hội... là những căn cứ rất quan trọng cho việc xác định mục tiêu phát triển đối với mỗi quốc gia.

- Sự khác nhau trong các điều kiện phát triển, cũng không giống nhau trong cách thức tổ chức vận hành kinh tế-xã hội, nhưng để khẳng định sự phát triển của quốc gia trực tiếp hay gián tiếp, thì cuối cùng chỉ số thu nhập bình quân đầu người vẫn là căn cứ quan trọng hàng đầu đối với mỗi quốc gia, là kết quả, là mục tiêu, là đích đến của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn phát triển.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam là một sự kiện chính trị trọng đại của dân tộc; là thời điểm nhìn lại chặng đường đất nước trải qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh 1991), trong đó có 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển 2011) và 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020; đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 – 2025 (năm kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất đất nước); xác định mục tiêu, phương hướng đến năm 2030 (năm kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Đảng) và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045 (năm kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Đây là những dấu mốc quan trọng, có ý nghĩa định hướng tương lai, cổ vũ, động viên sự đồng lòng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững vì mục tiêu “ dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Việt Nam tiến hành Đại hội Đảng trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn; song các mối đe dọa an ninh truyền thống, phi truyền thống, biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng gay gắt và đại dịch COVID-19, diễn tiến rất phức tạp, khó đoán định. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức, kinh tế số và xu hướng quốc tế hóa nguồn nhân lực vừa là thời cơ, vừa là thách thức đan xen với mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Việc xác định mục tiêu phát triển đất nước là vô cùng quan trọng, bởi chỉ khi xác lập chính xác mục tiêu sẽ giúp cho chúng ta biết nên tập trung vào những lĩnh vực trọng yếu của quốc kế, dân sinh và chuẩn bị những điều kiện cơ bản, thiết yếu trong xây dựng kế hoạch, hoạch định lộ trình phát triển phù hợp với thực tiễn. Đảng và Nhà nước luôn chú trọng xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội với các mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp tổng thể. Trong Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định các mục tiêu:

- Phấn đấu đến năm 2025 : là nước công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp.

-  Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao.

-  Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập Nước: Trở thành nước phát triển,theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có thu nhập cao.

      Việc xác định mục tiêu trên đây, có tính tới yếu tố Việt Nam vốn là nước nông nghiệp và phát triển trong bối cách của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, đang là xu hướng chủ đạo, nên việc ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ trong từng ngành, lĩnh vực, trong từng lộ trình phát triển là một tất yếu khách quan, phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới. Việc xác định mục tiêu gắn liền một cách chặt chẽ, nghiêm túc, khoa học với việc xây dựng các tiêu chí cụ thể và xác định được các khâu đột phá, để thực hiện mục tiêu có hiệu quả. Với ý nghĩa đó, đột phá chiến lược phản ánh các lựa chọn ở tầm vĩ mô, có ý nghĩa quyết định chiến lược. Đồng thời, đột phá chiến lược cũng hàm nghĩa tác động vào các khâu, các vấn đề, nội dung then chốt, cốt lõi để thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Việc xác định đúng và trúng các tiêu chí và các khâu đột phá chiến lược có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân. Xác định đột phá chiến lược phải dựa vào mục tiêu ưu tiên. Nội dung của cách tiếp cận xác định đột phá chiến lược dựa vào mục tiêu ưu tiên là: Xác định các mục tiêu ưu tiên và sắp xếp theo thứ tự ưu tiên phù hợp với từng giai đoạn và bảo đảm tính nhất quán trong khoảng thời gian thực hiện chiến lược; đồng thời,xác định các giải pháp tổng thể và các chính sách cơ bản để thực hiện các mục tiêu ưu tiên một cách có hiệu quả nhất. Thực chất, đó là quá trình xác định các đột phá cần phải thực hiện để đạt được các mục tiêu đã đề ra.

 

 

2.3. Việt Nam lựa chọn đột phá chiến lược giai đoạn 2021 – 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 để thực hiện mục tiêu phát triển đất nước

Xuất phát từ những yêu cầu đặt ra trong bối cảnh mới. Trong thời gian sắp tới, tình hình thế giới và khu vực sẽ tiếp tục có sự thay đổi nhanh chóng và diễn biến phức tạp, trong đó cần đặc biệt chú ý đến sự chuyển dịch quyền lực chính trị giữa các nước lớn, sự cạnh tranh chiến lược tại nhiều khu vực trên thế giới, trong đó có khu vực Đông Nam Á. Đồng thời, xu hướng bảo hộ và tự do hóa thương mại cùng duy trì và cạnh tranh nhau gay gắt. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là xu hướng toàn cầu, đang tác động mạnh mẽ và tạo ra những thời cơ cũng như thách thức trong chiến lược phát triển của các quốc gia. Hơn nữa, biến đổi khí hậu cũng đang ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn, tác động đến hàng loạt vấn đề về môi trường và xã hội trên toàn cầu. Dịch bệnh covid-19 với những hệ lụy, có thể kéo theo một cuộc suy thoái hoặc khủng khoảng kinh tế trên phạm vi toàn thế giới.

 Thực tiễn phát triển đất nước cho thấy, yêu cầu phát triển nhanh, bền vững được đưa ra trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 vẫn tiếp tục phù hợp với giai đoạn tiếp theo. Phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển của Việt Nam giai đoạn tới 2025, 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội là hữu hạn, do vậy cần tập trung giải quyết trước những khâu yếu, “điểm nghẽn” đang cản trở sự phát triển. Con đường để Việt Nam trở thành một nền kinh tế phát triển và những thành tựu đạt được trong thời gian qua mới chỉ là bước đầu. Tác động của những cải cách thể chế và mô hình phát triển trong giai đoạn đầu dường như đã đạt đến giới hạn. Một vấn đề cấp thiết được đặt ra là việc điều chỉnh và thay đổi mô hình tăng trưởng để Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình, trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và là nước có thu nhập cao vào năm 2045.Việc khai thác, sử dụng và phát huy có hiệu quả các nguồn lực sẽ tạo xung lực mới, có sức mạnh lan tỏa, giải phóng mọi tiềm năng cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Việt Nam là một quốc gia có sự đa dạng đối với các thành phần trong cơ cấu kinh tế. Điều này là một lợi thế, nhưng cũng có rất nhiều khó khăn trong quá trình phát triển của đất nước, đòi hỏi cần có sự quản lý phù hợp và có sự đột phá, nhằm tạo ra sự lan tỏa, đem lại chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế.

 Những vấn đề đạt ra trong xác định các đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và tầm nhìn đến năm 2045:

Thứ nhất, đột phá chiến lược cần tập trung vào các khâu trọng yếu. Dựa vào cách tiếp cận nhằm xác định chiến lược phát triển của các quốc gia trên thế giới, có thể thấy những điểm đột phá nhằm tác động đến phát triển kinh tế đều tập trung vào các khâu trọng yếu của nền kinh tế. Đó là các yếu tố có tác động mạnh mẽ, mang tính quyết định đến chất lượng đầu ra của nền kinh tế, như nguồn nhân lực và vốn. Phát triển con người là nền tảng cốt lõi, cũng là mục tiêu cao nhất của phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, yếu tố vốn cũng đóng vai trò rất quan trọng đối với các quốc gia đang phát triển như nước ta. Ngoài ra, còn có năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) cũng chiếm một phần ngày càng lớn trong tỷ lệ đóng góp cho tăng trưởng kinh tế. Các yếu tố tác động đến TFP có thể kể đến, như năng suất lao động, trình độ khoa học - công nghệ, hay thể chế kinh tế. Các yếu tố này đều là các khâu trọng yếu của nền kinh tế, là nền tảng giúp cho “cỗ máy” vận hành trơn tru, có tính lan tỏa đến các thành phần khác trong nền kinh tế, giúp nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững.

Thứ hai, đột phá chiến lược cần tập trung vào giải quyết các “điểm nghẽn” của nền kinh tế. Như đã đề cập ở trên, một nền kinh tế luôn phải giải quyết rất nhiều vấn đề để tăng trưởng, tuy nhiên, nguồn lực cho việc đó lại là hữu hạn và rất khan hiếm. Vì thế, việc lựa chọn sử dụng nguồn lực như thế nào cho hợp lý cũng rất quan trọng. Để làm được điều này, cần xác định đâu là “điểm nghẽn” của nền kinh tế, là “nút thắt” gây trở ngại cho sự phát triển của quốc gia. Từ đó, có thể tìm ra giải pháp thích hợp và đầu tư tập trung giải quyết, tháo gỡ khó khăn cho lĩnh vực đó, tránh đầu tư dàn trải gây thất thoát, lãng phí và thiếu hiệu quả.

Thứ ba, đột phá chiến lược cần đón bắt được thời cơ, hóa giải thách thức trong quá trình phát triển. Để xác định được điểm đột phá chiến lược cho nền kinh tế, không những cần quan tâm đến đặc điểm, điều kiện của quốc gia, mà còn phải nắm bắt được tình hình, bối cảnh quốc tế trong tương lai. Cần làm rõ những xu hướng về chính trị - kinh tế - xã hội trong thời gian sắp tới để đưa ra những dự báo, những tình huống giả định và đề ra những đường lối phát triển quốc gia sao cho phù hợp nhất. Nhận thức được những lợi thế và khó khăn của đất nước, đồng thời nắm bắt được cơ hội, phòng tránh và giải quyết các thách thức trong phát triển sẽ là chìa khóa quan trọng dẫn đến sự thành công phát triển của đất nước.

Thứ tư, đột phá chiến lược cần phát huy và khai thác tối đa lợi thế cạnh tranh. Lợi thế cạnh tranh quốc gia luôn được nhấn mạnh trong các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, không chỉ ở các quốc gia đang phát triển mà cả các quốc gia phát triển. Đây là yếu tố quyết định để cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Xác định được lợi thế cạnh tranh quốc gia nhằm đưa ra giải pháp đột phá chiến lược mới có thể khai thác tối đa lợi thế này.

Thứ năm, thực hiện các đột phá chiến lược cần tạo động lực thúc đẩy phát triển, thực hiện các mục tiêu trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Các chiến lược phát triển luôn đề ra đường lối và cụ thể hóa bằng những mục tiêu, chỉ số cơ bản của không chỉ nền kinh tế mà còn của lĩnh vực văn hóa - xã hội, môi trường, quốc phòng - an ninh. Để đạt được điều này, việc xác định các khâu đột phá cần chú ý tới các chỉ tiêu quan trọng trong các lĩnh vực của Chiến lược phát triển, vì đây là thước đo rõ ràng nhất cho sự thành công của sự phát triển đất nước.

Nhìn lại ba đột phá chiến lược trong giai đoạn 2011 - 2020 cho thấy, Việt Nam đang ưu tiên lựa chọn đột phá chiến lược dựa vào tiếp cận “điểm nghẽn”. Đây là lựa chọn đúng trong giai đoạn 10 năm vừa qua và thực tiễn cho thấy, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu, tạo tiền đề cho phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn tiếp theo. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới, bối cảnh mới, tiếp cận mới, sự lựa chọn đột phá chiến lược cho giai đoạn 2021 - 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, vừa cần bảo đảm khai thông “điểm nghẽn”, vừa cần kích hoạt các động lực cho tăng trưởng, đồng thời cần đạt được các mục tiêu ưu tiên đề ra trong phạm vi nguồn lực là hữu hạn. Với yêu cầu đó, phải lựa chọn trọng tâm, trọng điểm của các đột phá giai đoạn trước, đồng thời bổ sung những nội dung mới, những điểm đột phá mới là yêu cầu cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay.Đột phá trong giai đoạn tới cần vừa kế thừa các đột phá chiến lược đã được đề xuất trong giai đoạn 2011 - 2020, đồng thời từ thực tiễn tình hình trong nước cũng như quốc tế có nhiều thay đổi, cần vừa cụ thể hóa và vừa bổ sung một số nội dung mới sau đây:

Một là, bổ sung nội dung hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Nội dung này nhấn mạnh hơn tới sự hoàn thiện thể chế phát triển, với trung tâm là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đi cùng là bộ máy quản lý gọn nhẹ, với đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức, liêm chính, trong sạch, có năng lực chuyên môn giỏi, sáng tạo, hết lòng phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đây là những điều kiện quan trọng hàng đầu để bảo đảm nâng cao chất lượng thể chế.

Hai là, cụ thể hóa và bổ sung nội dung về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, có kỹ năng đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; thúc đẩy mạnh mẽ năng lực đổi mới sáng tạo; tập trung đào tạo, bồi dưỡng, thu hút nhân tài. Trong những năm cuối của thập niên vừa qua, thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã tác động mạnh, rộng lớn, sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Những thành tựu công nghệ mới, như trí tuệ nhân tạo (AI), phân tích dữ liệu lớn (big data), intơnét vạn vật (IoT), công nghệ rô-bốt, công nghệ sinh học, vật liệu mới tạo ra những phương tiện, phương thức sản xuất, giao tiếp, sinh hoạt chưa từng có trong lịch sử loài người; thúc đẩy sự hình thành và phát triển của các mô hình phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức, quản trị, quản lý,... hoàn toàn mới. Trên nền tảng đó, yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao phải thay đổi, phải gắn với bối cảnh mới. Do đó, nhân lực đòi hỏi phải có nhiều kỹ năng mới mà đổi mới sáng tạo là yếu tố quyết định. Cùng với phát triển nhân lực chất lượng cao, chính sách bồi dưỡng, thu hút nhân tài cần được thực hiện một cách căn cơ, bài bản và mang tính chiến lược.

Ba là, cụ thể hóa và bổ sung nội dung về phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam; khơi dậy tinh thần yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, khát vọng phát triển và sức sáng tạo của nhân dân. Lịch sử Việt Nam cũng như thực tiễn ở các quốc gia phát triển thành công trên thế giới cho thấy, sự hùng cường của một quốc gia, dân tộc do nhân tố con người quyết định. Sự hùng cường được hun đúc nên từ cả nền tảng vật chất và giá trị tinh thần, như tinh thần yêu nước, đoàn kết dân tộc, đặc biệt là khát vọng phát triển và sức sáng tạo của nhân dân. Sự phát triển của Việt Nam năm đến 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và những năm tiếp theo phụ thuộc vào Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tổng thể, dài hạn và toàn diện nhưng chắc chắn, sự thành công trong tương lai đòi hỏi con người Việt Nam cần có một khát vọng phát triển mãnh liệt, không ngừng sáng tạo và tinh thần yêu nước nồng nàn.

Bốn là, bổ sung nội dung tăng cường kết nối với khu vực và thế giới. Phát triển mạnh kết cấu hạ tầng, đặc biệt là kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin, hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia, tạo nền tảng để phát triển nền kinh tế số, xã hội số. Trong những năm tới, để đi xa hơn, tiếp cận được nhiều thị trường, kết cấu hạ tầng giao thông của Việt Nam cần tiếp tục kết nối với khu vực và thế giới. Kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin, tài nguyên, dữ liệu số cần phát triển tương xứng và đáp ứng xu hướng phát triển nền kinh tế số, xã hội số.

Năm là, bổ sung đột phá phát triển mạnh mẽ khoa học - công nghệ; xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách để thúc đẩy ứng dụng công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển; hình thành hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, lấy doanh nghiệp là trung tâm nghiên cứu phát triển, ứng dụng và chuyển giao công nghệ. Lý thuyết và thực tiễn ở các quốc gia đã khẳng định vai trò quan trọng của khoa học - công nghệ trong nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả trên tất cả các lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội. Khoa học - công nghệ không những quyết định việc “sản xuất ra cái gì” mà còn “bằng phương thức nào”. Đây cũng là nhân tố quyết định sự khác biệt cũng như trình độ phát triển của mỗi quốc gia.

 Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Với hướng đi đúng đắn, hợp quy luật, ý chí vươn lên mãnh liệt, tinh thần đổi mới sáng tạo và quyết tâm chính trị cao, đất nước ta nhất định sẽ lập nên kỳ tích phát triển mới, sẽ bước vào một giai đoạn phát triển mới vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và khát vọng phát triển đất nước hùng cường, thịnh vượng của toàn dân tộc”[1]

Chúng ta tin tưởng rằng, dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, với sự đồng lòng, đồng thuận cao của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, nhất định chúng ta sẽ đặt được những mục tiêu đã đề ra và giành được nhiều thắng lợi mới to lớn hơn nữa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

Bầu cử đại biểu quốc hội và hội đồng nhân dân là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi người dân

 

 

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 dự kiến sẽ được tiến hành vào ngày Chủ nhật, 23/5/2021. Đây là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước nhằm lựa chọn, bầu ra những đại biểu tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân trong Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ mới, góp phần tích cực vào việc xây dựng, củng cổ và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tuy nhiên, trước thềm bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp, các thế lực thù địch, đối tượng phản động, đã tung ra nhiều luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc gây nhũng nhiêu thông tin, hoang mang dư luận nhằm chia rẽ, phá vỡ khối đoàn kết toàn dân tộc. Một trong những luận điệu xuyên tạc, kích động, phá hoại bầu cử Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp được chúng tuyên truyền lần này đó là: “Việc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân chỉ là nghĩa vụ chứ không phải là quyền lợi, dân chủ, đều là sự sắp đặt nhân sự có chủ ý, nhân dân không có quyền thực sự”, “Ở Việt Nam làm gì có dân chủ trong bầu cử, ứng cử - đó là cơ chế  “Đảng cử - dân bầu”,  là “dân chủ trình diễn”…; “phải sửa đổi hệ thống bầu cử, tạo điều kiện cho tất cả mọi người được ứng cử tự do… còn nếu với cách tổ chức bầu cử và cơ chế bầu cử theo quy định này thì đối với nhiều đại biểu có thể tự mình công bố mình trúng cử và có đủ tư cách đại biểu mà không cần phải tổ chức bầu cử tốn tiền thuế của dân”...

Những luận điệu trên của các thế lực thù địch, phản độnglà kiểu lập luận quy chụp, bóp méo sự thật lịch sử và tiến trình bầu cử ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm đánh lừa và hướng dư luận ủng hộ cho những mưu toan chính trị thâm độc của chúng. Cả lý luận và thực tiễn sinh động tại Việt Nam đã và đang “bẻ gãy” những luận điệu đó, thể hiện trên một số khía cạnh sau:

 

1. Nước Việt Nam là nước dân chủ, mọi quyền hành, lực lượng đều ở nơi dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân

Điều này đã được chứng minh cả về mặt lý luận và thực tiễn. V.I.Lênin khẳng định: “Với việc phát triển chế độ dân chủ một cách đầy đủ, nghĩa là với việc làm cho toàn thể quần chúng nhân dân tham gia thực sự bình đẳng và thực sự rộng rãi vào mọi công việc của nhà nước”. Quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người vào điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định trong phần mở đầu khi viết tác phẩm “Dân vận” (1949): “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân... Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Thấm nhuần những tư tưởng trên, Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi lãnh đạo, nền dân chủ ở Việt Nam ngày càng được củng cố, hoàn thiện và phát triển, nhất là giai đoạn hiện nay: “Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến. Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội”.Hiến pháp năm 2013 (tại Khoản 1, Điều 4): “Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội thì đương nhiên đối với cuộc bầu cử Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp, sự kiện chính trị quan trọng hàng đầu để xây dựng chính quyền nhân dân thì sự lãnh đạo của Đảng là tất yếu. Chính sự lãnh đạo đó sẽ giúp cho quá trình bầu cử tốt hơn, đúng Hiến pháp và pháp luật, phát huy được vai trò của toàn Đảng, toàn dân và của cả hệ thống chính trị.

Trải qua hơn 75 năm kể từ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không ngừng phát triển, tự hoàn thiện, đồng hành cùng dân tộc, thực sự là nơi xây nên nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, đưa dân tộc Việt Nam từ thân phận nô lệ lầm than lên địa vị chủ nhân của đất nước đang vững bước trên con đường xây dựng theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Thông qua thực hiện chức năng của Quốc hội, quyền làm chủ của người dân luôn được bảo đảm và phát huy theo tinh thần quyền lực nhà nước phải thuộc về nhân dân, địa vị chủ thể của dân với tư cách là chủ thể gốc của mọi quyền lực; những biểu hiện vi phạm quyền làm chủ của người dân đều được phát hiện và xử lý nghiêm. Hiến pháp 2013 đã tiếp tục khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân,… Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”.

Trong lịch sử đất nước ta, kể từ ngày Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, để có một cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên vào ngày 06/01/1946 được tổ chức thành công, một cuộc bầu cử thật sự tự do, thật sự dân chủ, là mốc son lịch sử của thể chế dân chủ ở Việt Nam, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta vượt lên muôn vàn khó khăn của “thù trong, giặc ngoài” với những âm mưu đen tối của các thế lực phản động định tiêu diệt cách mạng Việt Nam, cũng như giặc đói, giặc dốt...là di chứng của chế độ thực dân đế quốc để lại... Trong thời điểm đấy, đại đa số cử tri lần đầu tiên mới được thực hiện quyền bầu cử của mình, đại đa số là những nông dân chưa đọc thông viết thạo, tuyệt đại đa số phụ nữ lần đầu được cầm trên tay lá phiếu… tất cả đều xúc động, tự hào đến rơi nước mắt vì đi bầu cử đối với họ chính là khẳng định quyền công dân của một đất nước tự do, quyền được bình đẳng trong xã hội.

Năm 1954, sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, hai miền Nam Bắc nước ta tạm thời chia cắt. Những người con miền Nam ra Bắc tập kết mang trong mình niềm hy vọng lớn lao sẽ được trở về quê hương, đoàn tụ gia đình sau ngày Tổng tuyển cử tự do dự kiến vào ngày 20/7/1956. Nhưng Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam đã không những đã cự tuyệt thi hành những điều khoản của hiệp định Giơ-ne-vơ mà còn trắng trợn đàn áp, trả thù những người kháng chiến, yêu nước ở miền Nam, đẩy mạnh tiến hành các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” gây chia rẽ, hận thù, chống lại lợi ích và khát vọng độc lập, thống nhất của dân tộc Việt Nam. Ngày tổng tuyển cử đã bị chế độ Ngô Đình Diệm cố tình vi phạm, kéo dài cuộc đấu tranh gian khổ hy sinh để 20 năm sau, đến năm 1976 mới lại có cuộc bầu cử thống nhất đất nước. Đồng bào cử tri ngày ấy cũng hân hoan biết bao khi cầm trên tay lá phiếu bầu tự do khi đất nước đã hoàn toàn hòa bình, thống nhất.Công dân đủ điều kiện trở thành cử tri, thông qua bầu cử để trực tiếp lựa chọn những người xứng đáng có đủ phẩm chất đạo đức và năng lực đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất (Quốc hội) và cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương (hội đồng nhân dâncác cấp) hoặc tự mình ứng cử để được lựa chọn (thông qua bầu cử) là người đại diện cho nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Theo tiến trình phát triển của xã hội, tính dân chủ trong bầu cử và ứng cử ngày càng được mở rộng. Dẫu còn mặt này mặt khác, có một vài đại biểu chưa đạt được như kỳ vọng của cử tri, nhưng thực tế chúng ta có thể thấy rằng chất lượng cácđại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dânngày càng được nâng cao. Điều này được minh chứng khi trên diễn đàn của Quốc hội, của hội đồng nhân dâncác cấp ngày càng xuất hiện nhiều hơn những tiếng nói đại diện cho quyền lực nhân dân trong hoạt động kiểm tra giám sát của các đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân, trong các phát biểu, kiến nghị, góp ý và thông qua các văn bản quy phạm pháp luật và giải quyết những vấn đề mà cử tri, nhân dân cả nước quan tâm. 

Các cử tri cũng có thể nhận thấy, dẫu còn không ít khó khăn nhưng đất nước ta đã phát triển về nhiều mặt, đời sống xã hội nhìn chung đã cải thiện đáng kể, ước mơ đủ “cơm ăn, áo mặc, được học hành” từ những ngày đầu lập nước giờ đây đã vươn cao hơn đến tầm thời đại với sự hội nhập sâu rộng, sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới. Như vậy đi bầu cử không chỉ là sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình mà còn là thể hiện niềm tin vào Đảng, nhà nước, đặt kỳ vọng vào tương lai tươi đẹp hơn của đất nước mình, địa phương mình. Mỗi lá phiếu của cử tri mang trong mình sứ mệnh cao cả là một viên gạch hồng góp phần dựng xây Tổ quốc. 

Trải qua nhiều kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dâncác cấp, các công dân cử tri đã ý thức được quyền và nghĩa vụ của mình nên đã tích cực thể hiện quyền làm chủ của mình thông qua lá phiếu bầu, tích cực thamgia vào cuộc bầu cử từ giai đoạn giới thiệu người ứng cử, tham gia các Hội nghị cử tri để đóng góp ý kiến, nhận xét, bày tỏ sự tín nhiệm đối với người ứng cử đến giai đoạn bỏ phiếu bầu để ngày bầu cử đã thực sự trở thành ngày hội, một dịp sinh hoạt chính trị của đồng bào nhân dân cả nước.Những vấn đề chưa phù hợp trong quy chế, quy định bầu cử đã tiếp tục được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý đảm bảo cho quyền lực của người dân được thực hiện tốt hơn trên thực tế.  

 

2. Bầu cử và ứng cử là những quyền chính trị cơ bản của mỗi công dân Việt Nam

Đại biểu Quốc hội là đại biểu của nhân dân. Do vậy, nhân dân luôn có vai trò to lớn trong mọi khâu, mọi quy trình bầu cử.Việc bầu cử đại biểu Quốc hội ở nước ta đã diễn ra được 14 khóa, từ khóa đầu tiên (06/01/1946) đến nay đều được tiến hành một cách dân chủ, công khai bảo đảm đúng quy trình, thủ tục, nguyên tắc và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Kết quả và thành công của các cuộc bầu cử, một lần nữa góp phần khẳng định bản chất ưu việt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và những giá trị truyền thống cốt lõi của dân tộc Việt Nam. Đó là việc người dân luôn chủ động, trách nhiệm, thực hiện trọn vẹn trách nhiệm, bổn phận công dân đối với Tổ quốc. Mỗi cuộc bầu cử tuy diễn ra ở thời điểm cách mạng khác nhau, với những khó khăn, chông gai khác nhau, song toàn dân, toàn quân ta luôn một lòng hướng về Đảng và Quốc hội, đoàn kết thực hiện đầy đủ trách nhiệm, bổn phận, để mỗi kỳ bầu cử, số cử tri đi bầu luôn đạt tỷ lệ cao, góp phần quan trọng vào thành công của cuộc bầu cử.

Ở Việt Nam, quyền bầu cử và ứng cử là những quyền chính trị cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp - đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta.Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân. Bầu cử là một thể chế dân chủ đã có từ lâu. Nhà nước ta là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nhân dân tổ chức ra Nhà nước bằng cách bầu ra các cơ quan quyền lực nhà nước. Thông qua bầu cử, Nhân dân trực tiếp bỏ phiếu bầu người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của mình, thay mặt mình thực hiện quyền lực nhà nước; góp phần thiết lập bộ máy nhà nước để tiến hành các hoạt động quản lý xã hội. Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta đã ghi nhận quyền này tại Điều 18 như sau: “Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi, không phân biệt gái trai, đều có quyền bầu cử trừ những người mất trí và những người mất công quyền. Người ứng cử phải là người có quyền bầu cử, phải ít ra là 21 tuổi, và phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Công dân tại ngũ cũng có quyền bầu cử và ứng cử”, và tiếp tục được khẳng định xuyên suốt trong các bản Hiến pháp năm 1959 (tại Điều 23), Hiến pháp năm 1980 (tại Điều 57), Hiến pháp năm 1992 (tại Điều 54).Hiến pháp năm 2013của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 27) quy định: “Công dân đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, hội đồng nhân dân”. Luật Bầu cử số 85/2015/QH13 ở Việt Nam (tại Điều 2) quy định: “Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, hội đồng nhân dâncác cấp theo quy định của Luật này”. Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dâncác cấp năm 2015 (tại Khoản 5, Điều 4) quy định “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dâncác cấp; tham gia giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dâncác cấp”. 

Như vậy, Việt Nam không hề có hạn chế quyền ứng cử tự do của công dân nếu họ xét thấy mình đủ đức, đủ tài ra gánh vác công việc chung của đất nước và được quần chúng nhân dân tín nhiệm. Đồng thời, việc tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dâncác cấp không chỉ là quyền lợi mà còn là nghĩa vụ, trách nhiệm nặng nề của mỗi công dân nhằm mục đích lựa chọn cho mình những người đại diện và trao quyền cho họ thay mặt mình quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước, dân tộc. 

Điển hình như trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu hội đồng nhân dâncác cấp nhiệm kỳ 2016-2021diễn ra vào ngày 22/5/2016, hơn 69 triệu cử tri tại 91.476 tổ bầu cử trong cả nước đã đồng loạt đi bỏ phiếu và cuộc bầu cử đã diễn ra trong không khí phấn khởi, tin tưởng, thành công tốt đẹp. Từ miền xuôi đến miền ngược, từ đồng bằng đến hải đảo, từ thành thị đến nông thôn,đồng bào cử tri cả nước nô nức đi bỏ phiếu với tỷ lệ đi bầu cao, khẳng định trách nhiệm và quyền lợi công dân, ngay cả đối với những cử tri do điều kiện sức khỏe bị ốm đau, bệnh tật vẫn thực hiện trọn vẹn quyền và nghĩa vụ của mình khi hòm phiếu được đưa tới tận giường bệnh, các cơ sở y tế.Sau cuộc bầu cử, nhiều báo chí nước ngoài đều đã ghi nhận tính dân chủ, khoa học, cách mạng trong công tác bầu cử ở Việt Nam. Một số tờ báo nước ngoài phản ánh, phân tích, đánh giá rằng cuộc bầu cử ở Việt Nam, không phân biệt chức vụ, địa vị, cương vị công tác, từ người nông dân, công nhân, cán bộ, đảng viên, cho đến các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội đều thực hiện quyền lợi, nghĩa vụ trong việc ứng cử và bầu cử theo đúng nguyên tắc, quy định của pháp luật.Thực tế, quyền và nghĩa vụ đó không chỉ thể hiện trong ngày bầu cử, mà hơn thế, còn được minh chứng trong suốt quá trình tham gia đề cử, giới thiệu người ứng cử và bỏ phiếu, khẳng định bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa; khẳng định chân lý: Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhân dân tổ chức ra Nhà nước bằng cách bầu ra các cơ quan quyền lực nhà nước (ở Trung ương là Quốc hội; ở địa phương là hội đồng nhân dâncác cấp). Thông qua bầu cử, nhân dân trực tiếp bỏ phiếu bầu người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của mình, để thay mặt mình thực hiện quyền lực nhà nước; góp phần thiết lập ra bộ máy nhà nước để tiến hành các hoạt động quản lý xã hội.

 

3. Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là bảo đảm ý chí của nhân dân và phù hợp với xu hướng tiến bộ xã hội

Bầu cử là việc công dân của một quốc gia lựa chọn những người đại diện để trao quyền cho họ thay mặt mình quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước. Mỗi quốc gia có cách tổ chức và quy định bầu cử khác nhau, không thể lấy mô hình của nước này áp đặt lên nước khác được bởi vì hệ thống chính trị nói chung, hệ thống bầu cử nói riêng trên thế giới hiện rất đa dạng, cho nên tùy thuộc vào chế độ chính trị, lịch sử, kinh tế, văn hóa của quốc gia - dân tộc và xu thế tiến bộ của nhân loại như thế nào. Về mô hình bầu cử cũng khác nhau: mô hình bầu cử ở các quốc gia theo chế độ đa đảng (lấy việc bầu cho đại diện của mỗi đảng làm tiêu chí) khác với các quốc gia bầu cử theo tỷ lệ cử tri và theo địa bàn hành chính; mô hình bầu cử trực tiếp khác với mô hình bầu cử gián tiếp - thông qua đại cử tri… Song về tổng quan luật bầu cử một số nước trên thế giới hiện nay là theo nguyên tắc: “phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín”.

Ở Việt Nam, Hiến pháp và Luật Bầu cử Việt Nam quy định: cử tri bầu đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dâncác cấp theo bốnnguyên tắc: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Những quy định của pháp luật bầu cử ở Việt Nam thể hiện một cách nhất quán nhận thức về các nguyên tắc bầu cử để đảm bảo ý chí của nhân dân, phù hợp với xu hướng tiến bộ xã hội, phù hợp với Tuyên ngôn nhân quyền mà Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1948 đã nêu rõ: “Ý chí của nhân dân phải là cơ sở của quyền lực nhà nước. Ý chí này thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và chân thực, theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín hoặc bằng những tiến trình bầu cử tự do tương đương”.

Về nguyên tắc phổ thông: pháp luật bầu cử của các nước đều khẳng định, nguyên tắc phổ thông đầu phiếu là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ bầu cử. Nguyên tắc phổ thông đầu phiếu trong bầu cử bảo đảm để mọi công dân không phân biệt dân tộc, nam, nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, (trừ những người mất trí hay những người bị tước quyền bầu cử trên cơ sở của pháp luật), đến tuổi trưởng thành đều được trao quyền bầu cử.Yêu cầu của nguyên tắc này là Nhà nước phải bảo đảm để cuộc bầu cử thực sự trở thành một cuộc sinh hoạt chính trị rộng lớn, tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền bầu cử của mình, bảo đảm tính dân chủ, công khai và sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân trong bầu cử. Đối với Việt Nam, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân quy định đối với việc bầu cử đại biểu Quốc hội: (1) Ngày bầu cử phải là ngày chủ nhật, được Quốc hội ấn định và công bố chậm nhất là 115 ngày trước ngày diễn ra bầu cử; (2) Các tổ chức phụ trách bầu cử được thành lập công khai, có sự tham gia của đại diện các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và đoàn thể nhân dân; (3) Thời gian bỏ phiếu được quy định thống nhất trong cả nước từ 7 giờ sáng đến 7 giờ tối (trừ những trường hợp đặc biệt theo quy định của Luật); (4) Mọi công dân cư trú thường xuyên hoặc tạm trú đều được ghi tên vào danh sách cử tri; (5) Danh sách cử tri được niêm yết công khai chậm nhất là 40 ngày trước ngày diễn ra bầu cử; (6) Danh sách ứng cử viên cũng được lập và niêm yết công khai chậm nhất là 20 ngày trước ngày diễn ra bầu cử để cử tri tìm hiểu và lựa chọn.

Về nguyên tắc bình đẳng:Bình đẳng trong bầu cử là nguyên tắc nhằm bảo đảm để mọi công dân đều có cơ hội ngang nhau tham gia bầu cử, nghiêm cấm mọi sự phân biệt dưới bất cứ hình thức nào. Mỗi cử tri có một phiếu bầu đối với một cuộc bầu cử và giá trị phiếu bầu như nhau không phụ thuộc vào giới tính, địa vị xã hội, sắc tộc, tôn giáo,... Nguyên tắc này được thể hiện trong các quy định của pháp luật về quyền bầu cử và ứng cử của công dân.Mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào danh sách cử tri ở một nơi cư trú; mỗi ứng cử viên chỉ được ghi tên ứng cử ở một đơn vị bầu cử; mỗi cử tri chỉ được bỏ một phiếu bầu.Nguyên tắc bình đẳng còn đòi hỏi phải có sự phân bổ hợp lý cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu để bảo đảm tiếng nói đại diện của các vùng, miền, địa phương, các tầng lớp xã hội, các dân tộc thiểu số và phụ nữ phải có tỷ lệ đại biểu phù hợp.

Về nguyên tắc trực tiếp: Bầu cử trực tiếp có nghĩa là cử tri trực tiếp thể hiện ý chí của mình qua lá phiếu, cử tri trực tiếp bầu ra đại biểu của mình chứ không qua một cấp đại diện cử tri nào.Nguyên tắc bầu cử trực tiếp đòi hỏi cử tri không được nhờ người bầu hộ, bầu thay hoặc bầu bằng cách gửi thư. Cử tri tự bỏ lá phiếu bầu vào hòm phiếu. Trường hợp cử tri không thể tự viết phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri; nếu cử tri vì tàn tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu.Trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, tàn tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến nơi ở của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện các thủ tục bỏ phiếu.

Về nguyên tắc bỏ phiếu kín:thể hiện ở việc loại trừ sự theo dõi và kiểm soát từ bên ngoài đối với việc thể hiện ý chí (sự bỏ phiếu) của cử tri. Mục đích của nguyên tắc này là nhằm đảm bảo tự do đầy đủ sự thể hiện ý chí của cử tri.Để bảo đảm khách quan trong việc lựa chọn của cử tri, các nước thường quy định việc bỏ phiếu kín và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân nước ta quy định việc bầu cử đại biểu Quốc hội được tiến hành bằng cách bỏ phiếu kín.Theo nguyên tắc này, cử tri bầu ai, không bầu ai đều được bảo đảm bí mật. Khi cử tri viết phiếu bầu không ai được đến gần, kể cả cán bộ, nhân viên các tổ chức phụ trách bầu cử; không ai được biết và can thiệp vào việc viết phiếu bầu của cử tri. Cử tri viết phiếu bầu trong buồng kín và bỏ phiếu vào hòm phiếu.

Bốn nguyên tắc nói trên là một chỉnh thể, thiếu sót ở nguyên tắc nào cũng ảnh hưởng đến nguyên tắc khác. Để buộc các chủ thể phải tuân thủ các nguyên tắc nói trên, Nhà nước pháp điển hóa các nội dung của chúng thành các quy phạm pháp luật. Theo chiều hướng của sự phát triển xã hội ngày càng mở rộng dân chủ, thì các hình thức biểu hiện của các nguyên tắc bầu cử trên đây càng đa dạng, càng phong phú, càng góp phần đảm bảo tính chất dân chủ của các cuộc bầu cử. Việc thực hiện bốn nguyên tắc bầu cử nói trên là một nét ưu việt của chế độ dân chủ trong bầu cử và là thước đo trình độ dân chủ của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, quy tụ sức mạnh của quần chúng nhân dân, phát huy cao nhất quyền làm chủ của mỗi công dân; đồng thời, trao đổi để đi đến một cơ cấu đại biểu hợp lý đảm bảo cho các thành phần xã hội đều có đại diện trong Quốc hội mới.

Quốc hội Việt Nam là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, có chức năng lập pháp, quyết định những chủ trương, chính sách quan trọng của đất nước về đối nội, đối ngoại và giám sát tối cao hoạt động của bộ máy Nhà nước. Trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang nỗ lực đoàn kết hướng đến Đại hội lần thứ XIII của Đảngbầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu hội đồng nhân dâncác cấp nhiệm kỳ 2021-2026 sắp tới như ngày hội của toàn dân với tinh thần phấn khởi, tự hào để thông qua lá phiếu có trách nhiệm của mình lựa chọn những đại biểu thực sự có đức, có tài đại diện cho lợi ích, ý chí, nguyện vọng của nhân dân xứng đáng là nơi gửi gắm niềm tin của cử tri cả nước vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.Thực hiện thành công cuộc bầu cử sẽ thiết thực góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; đồng thời củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Vì vậy, việc lựa chọn, bầu ra những người tiêu biểu về đức, tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ mới là nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Do vậy, những luận điệu của các thế lực thù địch, phản động cho rằng: “Việc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân chỉ là nghĩa vụ chứ không phải là quyền lợi, dân chủ, đều là sự sắp đặt nhân sự có chủ ý, nhân dân không có quyền thực sự”... là hoàn toàn xuyên tạc sai sự thật, nhằm tuyên truyền chống phá chế độ, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam trước thềm Đại hội Đảng lần thứ XIII, bầu cử Quốc hội và hội đồng nhân dâncác cấp nhiệm kỳ 2021-2026, nhằm gây nhũng loạn thông tin, mâu thuẫn nội bộ mà thôi./.

Đảng viên phải làm gì trước nguy cơ diễn biến, suy thoái về tư tưởng chính trị hiện nay

 



Chưa bao giờ đội ngũ đảng viên đứng trước nhiều nguy cơ, thách thức về tư tưởng như hiện nay. Vẫn là những nguy cơ đến từ bên ngoài và những thách thức ngay nội tại nhưng sự khó khăn đã được đẩy lên một mức cao hơn. Nguy cơ diễn biến, suy thoái về tư tưởng chính trị không còn là vấn đề cảnh báo, mà tồn tại thường trực buộc đảng viên phải đối mặt và giải quyết. 

Đánh giá thực trạng vấn đề này, Đảng ta đã chỉ rõ các nguyên nhân chủ yếu: Đó là, dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới cùng với những hạn chế trong quá trình lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước trên mọi lĩnh vực làm cho tình hình kinh tế - xã hội đất nước gặp nhiều khó khăn, nền kinh tế nước ta đang đối mặt với nhiều thách thức lớn, nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế là có thực. Bên cạnh đó, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng; sự yếu kém về trình độ, năng lực và nghiệp vụ chuyên môn ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; đồng thời, các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng những sở hở, khuyết điểm, những bất mãn của 1 số cán bộ, đảng viên, thanh niên về sự yếu kém trong năng lực quản lý, từ đó xuyên tạc, kích động biểu tình gây rối an ninh trật tự chính là những nhân tố tác động không nhỏ đến tư tưởng của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Ngoài những nguyên nhân cơ bản nêu trên thì việc các thông tin định hướng chính thống chậm hoặc thiếu đầy đủ trong khi đó mạng xã hội là kênh thông tin ít được kiểm chứng, gây nhiều hoài nghi lại tác động hằng ngày đến mọi người.

Vậy đảng viên cần phải làm gì để giữ vững bản lĩnh chính trị, tư cách đạo đức cách mạng người đảng viên cộng sản của mình?

Một là, đảng viên cần giữ vững lập trường Chủ nghĩa Mác - Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, tuyệt  đối trung thành với lý tưởng của Đảng, giữ vững lòng tin với chế độ, từ đó trang bị cho mình những kiến thức cần thiết để tiếp nhận thông tin một cách có chọn lọc; cảnh giác, sáng suốt trong nhận định các vấn đề, sự việc và đánh giá, phản biện tình hình. Việc nâng cao kiến thức, trình độ lý luận chính trị, khoa học, kỹ thuật sẽ giúp đảng viên nhạy bén, sắc sảo trong nhận thức, nắm bắt và phản ứng nhanh nhạy, đúng định hướng chính trị trước mỗi tình huống, vấn đề đặt ra theo quan điểm của Đảng.

Hai là, trong sinh hoạt chi bộ, đảng viên cần tự giác, tích cực, gương mẫu thực hiện các quy định của Đảng, thể hiện rõ tinh thần, trách nhiệm, của người đảng viên, thẳng thắn, trung thực trong mọi vấn đề vì mục tiêu xây dựng tập thể đoàn kết, dân chủ; chi bộ trong sạch, vững mạnh. Bởi đây chính là môi trường chính thống có tổ chức trong việc giáo dục, quản lý, giám sát đảng viên, là nơi đầu tiên làm công tác phòng ngừa, xây dựng, chỉnh đốn, ngăn chặn, góp phần đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" của mỗi đảng viên.

Ba là, mỗi đảng viên cũng cần thường xuyên tự rèn luyện tư cách cá nhân, tu dưỡng đạo đức cách mạng, học  tập và làm  theo tư tưởng, đạo  đức, phong cách  Hồ Chí  Minh, xây dựng lối sống trong sạch, lành mạnh, tự trang bị "đề kháng" cho mình trước những cám dỗ vật chất, trước các luận điệu ru ngủ hay lối sống hưởng thụ, lãng phí, xa hoa.

Bốn là, để phòng, chống hiệu quả  trước  nguy cơ  diễn biến, suy thoái tư tưởng chính trị trong đội ngũ đảng viên hiện nay, mỗi đảng viên cần xác định rõ, đó là một thứ "giặc nội xâm", là cuộc đấu tranh diễn ra thường xuyên, gay go, phức tạp và vô cùng nguy hiểm. Bản thân mỗi cán bộ, đảng viên phải  nghiêm túc  nhìn nhận và  xác định cần gắn mình vào tập thể, là lực lương nòng cốt để đấu tranh, phản bác; tuyên truyền trên các trạng mạng xã hội. Cấp ủy thường xuyên đổi mới và phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng đối với đẩy mạnh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị trong đội ngũ đảng viên, chủ động đấu tranh bảo đảm sự trong sạch, vững mạnh của từng tổ chức đảng, cũng như của từng đảng viên.

Lãnh đạo nêu gương sáng: Xã tắc bình yên, dân nể phục

 Vấn đề nêu gương của cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo không phải bây giờ mới được đặt ra. Cách đây 6 năm, ngày 7-6-2012, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Quy định số 101-QĐ/TW “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”. Quy định 101-QĐ/TW nhấn mạnh: “Mỗi cán bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam phải tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Cán bộ có chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”; đồng thời yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên có trách nhiệm nêu gương ở 7 nội dung cụ thể là: Tư tưởng chính trị; Đạo đức, lối sống, tác phong; Tự phê bình và phê bình; Quan hệ với nhân dân; Trách nhiệm trong công tác; Ý thức tổ chức kỷ luật; Đoàn kết nội bộ.


Qua hơn 6 năm thực hiện Quy định này, cùng với chấp hành Quy định số 47-QĐ/TW ngày 1-11-2011 “Về những điều đảng viên không được làm” của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, phần lớn cán bộ, đảng viên giữ vững và phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu trong cuộc sống, sinh hoạt, học tập, rèn luyện, công tác, qua đó góp phần giữ gìn vị thế, uy tín của Đảng ta trong xã hội.

Tuy nhiên, bên cạnh những tấm gương cán bộ, đảng viên được quần chúng nhân dân học tập, noi theo, những năm qua, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Điều này đã được Đảng ta cảnh báo rất nhiều lần.

Không ngẫu nhiên mà hai nhiệm kỳ liên tiếp gần đây, chỉ trong vòng 5 năm, Đảng ta đã hai lần ban hành Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) để bàn sâu về vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng, mà mấu chốt là vấn đề tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Cũng lần đầu tiên tại Văn kiện Đại hội XII của Đảng, Đảng ta đã chính thức đưa vấn đề đạo đức trở thành một trong bốn trụ cột trong công tác xây dựng Đảng, đó là xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức.

Trong nửa đầu nhiệm kỳ Đại hội XII, nhờ triển khai khẩn trương, quyết liệt cuộc “tổng tiến công” vào “sào huyệt” tham nhũng ở mọi cấp, mọi ngành, mọi đối tượng, Đảng ta đã thi hành kỷ luật 50 cán bộ diện Trung ương quản lý (cả đương chức, chuyển công tác và đã nghỉ hưu), trong đó có 9 cán bộ là Ủy viên Trung  ương, nguyên Ủy viên Trung ương, khai trừ đảng 1 cán bộ là Ủy viên Trung ương - nguyên Ủy viên Bộ Chính trị. Những động thái đó chứng tỏ quyết tâm làm trong sạch bộ máy của Đảng ta để củng cố niềm tin của nhân dân, qua đó góp phần khẳng định vị thế, uy tín, thanh danh của Đảng Cộng sản Việt Nam, xứng đáng là lực lượng duy nhất giữ vai trò lãnh đạo nhà nước và xã hội.

Đảng ta, như Bác Hồ từng nói, là Đảng của “con nòi” của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam. Để xứng đáng là “con nòi” cao quý đó, từ nhiều năm qua, Đảng ta luôn có ý thức tự giáo dục, tự chấn chỉnh, tự phản tỉnh mình để tự giác, chủ động phòng ngừa, chữa trị, khắc phục những thói hư, tật xấu vốn rất dễ nảy sinh trong tư tưởng, nhận thức của một đảng cầm quyền. Trong đó, việc đề cao vai trò, trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên được xác định là một trong những nội dung phương thức lãnh đạo cơ bản của Đảng ta.

Nêu gương là dám chấp nhận hy sinh

Từ xưa đến nay, người Á Đông nói chung, người Việt nói riêng rất coi trọng vai trò làm gương của những người cầm quyền trong xã hội.

Trong các triều đại phong kiến trước đây, nhằm góp phần làm cho sơn hà xã tắc bình yên, vua tôi đồng lòng, trên dưới thuận hòa, nhiều bậc đế vương, quan lại khi được giao trọng trách cầm quyền, cai trị xã hội thì luôn nhắc nhở nhau rằng, phải biết “tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” (lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ). Chế độ phong kiến vốn là một trong những chế độ thống trị tương đối hà khắc, nhưng vẫn có một nguyên tắc giáo huấn đội ngũ quan lại là “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Hiểu nôm na là muốn thể hiện được vai trò dẫn dắt, lãnh đạo, chi phối xã hội, thì bản thân người cầm quyền và gia đình họ trước hết phải đứng đắn, mực thước, trong sạch, liêm khiết.

Là một trong những nhà lãnh đạo thấm nhuần sâu sắc nhất tinh thần đó, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành một tấm gương đạo đức mẫu mực, điển hình và vì thế, Bác đã quy tụ được lòng dân, thuyết phục, cảm hóa được mọi thành phần, tầng lớp trong xã hội thành một khối đại đoàn kết toàn dân tộc để thực hiện thắng lợi những mục tiêu cao cả của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, chính là bắt nguồn từ tấm gương cao cả, vĩ đại của Người.

Trở lại câu chuyện làm gương của cán bộ thời nay. Có một điều rất đáng suy ngẫm là nếu như trước đây, trong thời kỳ kháng chiến còn nhiều khó khăn gian khổ, hầu hết cán bộ lãnh đạo các cấp sống, sinh hoạt giản dị, gần dân, làm việc có trách nhiệm với dân, thì ngày nay, một bộ phận quan chức sống, sinh hoạt xa hoa, không phù hợp với cuộc sống cần lao của số đông người dân.

Đặc biệt, thời chiến có rất nhiều con cán bộ, kể cả con cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước đã tự nguyện xung phong vào quân ngũ hay được bố mẹ yêu cầu phải thực hiện nghĩa vụ quân sự như một công dân bình thường; thì thời nay, một số quan chức không những nuông chiều con thái quá, mà lại còn tạo cơ hội thuận lợi quá nhiều để con được thăng tiến “thần tốc”. So sánh một ví dụ đó để thấy, nhiều tấm gương cán bộ ngày trước trong sáng, lấp lánh, lan toả trong lòng dân, thì ngày nay không ít tấm gương quan chức lại trở nên mờ đục, nhạt nhòa, thậm chí “vấy bẩn” trong con mắt người dân.

Gia đình muốn hạnh phúc thì cha mẹ phải làm gương cho con cái. Nhà trường muốn tiến bộ thì thầy cô giáo phải làm gương cho học sinh. Tổ chức, cơ quan, đơn vị muốn vững mạnh thì tập thể lãnh đạo và cá nhân người đứng đầu phải làm gương cho nhân viên và cấp dưới. Đất nước muốn phát triển văn minh thì nhất thiết phải có đội ngũ tinh hoa giữ vai trò lãnh đạo, dẫn dắt xã hội là những tấm gương tốt đẹp soi chiếu đến muôn người, muôn nhà. Điều đơn giản ấy đã trở thành chân lý, đồng thời là một trong những quy luật tồn tại, phát triển của của xã hội nói chung, của đảng cầm quyền nói riêng.

Khi khẳng định cán bộ là cái gốc của mọi công việc, thì tấm gương của cán bộ chính là “chất keo” gắn kết bảo đảm cho “cái gốc” ấy được trụ vững để phát triển ổn định, lâu dài. Đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, chính là tạo nền tảng xây dựng cái gốc đạo đức của Đảng Cộng sản Việt Nam được trong sạch, lành mạnh và đủ khả năng lan tỏa, tác động, thẩm thấu, chi phối đến sự phát triển đạo đức xã hội hài hòa, văn minh.

Một khi mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là các cấp ủy viên, trong đó các Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương tự giác đề cao trách nhiệm nêu gương không chỉ thể hiện lương tâm, đạo đức cao đẹp của người cộng sản, mà còn thể hiện ý thức tận tâm làm tròn bổn phận, nghĩa vụ “người chiến sĩ tiên phong” của Đảng.

Trong điều kiện xã hội hiện nay, trình độ dân trí ngày càng cao, thời đại thông tin xã hội phát triển mạnh mẽ, chính những tấm gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp cao của Đảng sẽ góp phần thu hẹp khoảng cách bất đồng, hàn gắn những mâu thuẫn xã hội, quy tụ và phát huy được sức mạnh muôn dân thành sức mạnh “dời non lấp bể” để thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Đảng vững mạnh bắt đầu từ mỗi đảng viên và tổ chức đảng

 

Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, tạo được sự chuyển biến rõ rệt về chất lượng hoạt động của các loại hình tổ chức cơ sở đảng, làm cho tổ chức đảng ở cơ sở vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị và kịp thời giải quyết những vấn đề xảy ra ở cơ sở là yêu cầu đặt ra đối với mỗi tổ chức đảng.


Xây dựng Đảng vững mạnh phải bắt đầu từ mỗi đảng viên và mỗi tổ chức cơ sở đảng. Tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X khẳng định: “Với vị trí là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, vai trò của tổ chức cơ sở đảng rất quan trọng. Phải dồn sức xây dựng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, làm cho tổ chức này thực sự trong sạch, vững mạnh”. Để xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng tương xứng, ngang tầm, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng đảng hiện nay, đảng viên và quần chúng phải nâng cao nhận thức, hiểu biết, vận dụng và cụ thể hóa các nguyên tắc hoạt động của Đảng, phương thức lãnh đạo, các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kịp thời phát hiện, giải quyết những vấn đề phức tạp xảy ra ở cơ sở.

Các cơ sở đảng, đảng viên phải thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện có nền nếp chế độ sinh hoạt đảng; đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp sinh hoạt; tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt để bảo đảm tính lãnh đạo, tính chiến đấu và tính giáo dục của chi bộ. Coi trọng đổi mới phương thức lãnh đạo và phong cách, lề lối làm việc, cải cách hành chính trong công tác đảng ở cơ sở. Công tác quản lý, đôn đốc, kiểm tra, giám sát, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên ở các tổ chức cơ sở đảng phải được thực hiện thường xuyên. Hiện nay tệ nạn quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm, làm việc cầm chừng, sách nhiễu, gây phiền hà cho tổ chức, cá nhân vẫn còn xảy ra ở một số nơi, cần được phát hiện sớm và có biện pháp ngăn chặn, đẩy lùi. Những khuyết điểm, yếu kém, hạn chế trên cần được kịp thời phát hiện và xử lí thông qua công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng. Đảng viên, quần chúng các tổ chức đảng phải phát hiện, đấu tranh, phê bình, tự phê bình; kiểm tra, xác định trách nhiệm của tập thể, cá nhân ngay tại tổ chức đảng của mình.

Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, tạo được sự chuyển biến rõ rệt về chất lượng hoạt động của các loại hình tổ chức cơ sở đảng, làm cho tổ chức đảng ở cơ sở vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị và kịp thời giải quyết những vấn đề xảy ra ở cơ sở là yêu cầu đặt ra đối với mỗi tổ chức đảng. Việc triển khai thực hiện nội dung các nghị quyết, chỉ thị, chủ trương, chính sách của Đảng về rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, nâng cao năng lực, trình độ của cán bộ, đảng viên phải được thực hiện tích cực, đồng bộ, thường xuyên và. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh phải được thực hiện sâu rộng ở các ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị, khu dân cư. Đổi mới nội dung, hình thức, tạo chuyển biến về chất lượng hoạt động của các loại hình tổ chức cơ sở đảng.

Xây dựng đội ngũ đảng viên thật sự tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm cao trong công việc, có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực hoàn thành nhiệm vụ, vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức, phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Tiếp tục đổi mới, tăng cường công tác quản lý, sàng lọc đảng viên, kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những người không đủ tư cách đảng viên.

Biểu dương đảng viên ưu tú, tiêu biểu về đức khiêm tốn, giản dị; tác phong sâu sát thực tế, gần gũi để thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng. Việc nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu các ngành, các cấp càng đặt ra bức thiết hơn, đòi hỏi phải trở thành việc làm thường xuyên, hằng giờ, hằng ngày của cán bộ, đảng viên, của người đứng đầu các cấp, các ngành. Cán bộ có chức vụ càng cao càng phải gương mẫu. Trách nhiệm gương mẫu, tự giác đi đầu thể hiện từ trong tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tự phê bình và phê bình đến trong quan hệ với nhân dân, trách nhiệm trong công tác, ý thức tổ chức kỷ luật, đoàn kết nội bộ.

Đổi mới và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng đối với đảng viên và tổ chức đảng, cần thực hiện các giải pháp chủ yếu sau:

Một là,
 nâng cao nhận thức cho cấp ủy về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới.

Hai là, đảng ủy, chi ủy cơ sở, từng cấp ủy viên, chi ủy viên cần nắm vững quy định của Điều lệ Đảng, các quy định của Đảng, hướng dẫn của Ủy ban Kiểm tra Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng (nhất là về quan điểm, nguyên tắc, thẩm quyền, phương hướng, phương châm, phương pháp, quy trình, thủ tục) và tổ chức thực hiện nghiêm túc theo đúng quan điểm: “Thực hiện đồng bộ giữa công tác kiểm tra và công tác giám sát”; “giám sát phải mở rộng”, “kiểm tra phải có trọng tâm, trọng điểm” để chủ động phòng ngừa xảy ra khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên khi còn manh nha, ngay tại cơ sở, ở trong chi bộ.

Ba là, 
đảng ủy, chi ủy cơ sở thực hiện nghiêm chế độ phân công nhiệm vụ cho cấp ủy viên theo dõi lĩnh vực, địa bàn và nâng cao năng lực, trách nhiệm của các thành viên cấp ủy trong việc chủ động tham mưu, giúp cấp ủy thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát thuộc phạm vi lĩnh vực, địa bàn được phân công phụ trách. Từng cấp ủy viên phải nắm chắc tình hình tổ chức đảng, đảng viên và nhân dân, việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng đảng thuộc phạm vi phụ trách, đề xuất cấp ủy có biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, kịp thời hoặc chủ động kiểm tra, giám sát để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn xảy ra khuyết điểm, vi phạm. Định kỳ hằng tháng, từng cấp ủy viên phải tham dự sinh hoạt cấp ủy, chi bộ thuộc địa bàn, lĩnh vực được phân công phụ trách để nắm tình hình và chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và kịp thời xử lý những vấn đề phát sinh, không để thành điểm nóng, bức xúc, nổi cộm.

Bốn là, đảng ủy, chi bộ cơ sở phải chú trọng thường xuyên kiểm tra, giám sát việc chấp hành Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, quy chế, kết luận, hướng dẫn của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định của cơ quan, đơn vị, việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tập trung kiểm tra, giám sát những nơi có nhiều bức xúc, nổi cộm, được đảng viên, quần chúng và dư luận quan tâm, những nơi có nguy cơ cao dễ xảy ra dấu hiệu vi phạm, trước hết là về chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, chế độ công tác, sinh hoạt đảng, quan liêu, thiếu trách nhiệm, tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm, bệnh thành tích, bao che cho cấp dưới vi phạm, thực hiện quy tắc ứng xử, về giữ gìn đạo đức, lối sống để chủ động phòng ngừa vi phạm từ khi còn manh nha, ngay tại cơ sở, từ trong đảng bộ, chi bộ. Chú trọng giám sát đảng viên là người đứng đầu cấp ủy, cán bộ chủ chốt trong cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp,.. về năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành, về phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách và tính tiên phong, gương mẫu trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ. Đề cao tự kiểm tra của đảng bộ, chi bộ cơ sở, trước hết là tự kiểm tra của người đứng đầu và cán bộ lãnh đạo chủ chốt của cấp ủy, cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp. Coi trọng kiểm tra, giám sát công tác cán bộ; việc sinh hoạt cấp ủy, sinh hoạt chi bộ. Việc đánh giá, phân tích chất lượng đảng viên của các chi bộ, đảng bộ phải bảo đảm thực chất.

Năm là, đảng bộ cơ sở phải coi trọng phát huy vai trò, trách nhiệm của ủy ban kiểm tra trong việc tham mưu, giúp cấp ủy thực hiện có chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng. Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức cơ sở đảng trong tình hình hiện nay. Cấp ủy, ủy ban kiểm tra cấp trên phải chủ động chỉ đạo, hướng dẫn, giúp đỡ đảng bộ, chi bộ cơ sở tháo gỡ vướng mắc, khó khăn và thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát đạt kết quả cao. Đưa việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát thành chỉ tiêu thi đua, phân loại, đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng hằng năm. Tăng cường phối hợp giữa đảng ủy, chi bộ cơ sở với cấp ủy cấp trên, với thanh tra nhân dân để nâng cao chất lượng, hiệu quả kiểm tra, giám sát. Coi trọng việc phát huy vai trò, trách nhiệm của các đoàn thể chính trị - xã hội và quần chúng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị và cán bộ, đảng viên, nhân dân nơi cán bộ, đảng viên cư trú.

Sáu là, quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cấp ủy viên, chi ủy viên, cán bộ ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở (nhất là những đồng chí mới tham gia cấp ủy, ủy ban kiểm tra lần đầu) để nắm vững và thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng. Chỉ đạo tổ chức đảng cấp dưới thực hiện nghiêm việc sơ kết, tổng kết công tác kiểm tra, giám sát hằng năm gắn với sơ kết, tổng kết thực hiện công tác xây dựng đảng. Qua đó, đề ra biện pháp chỉ đạo thực hiện có chất lượng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát ở cấp mình.

 

CHIÊU BÀI “DÂN CHỦ” - CÁI CỚ LẬT ĐỔ CHẾ ĐỘ Ở VIỆT NAM

 

Tình hình chính biến tại Myanmar những ngày vừa qua đang trở thành chủ đề nóng thu hút sự tò mò, quan tâm của dư luận xã hội Việt Nam, đặc biệt là giới “dân chủ” Việt đang mong muốn lợi dụng sự việc ở Myanmar để tuyên truyền xuyên tạc, đánh đồng giữa đấu tranh đòi “dân chủ ở Việt Nam” nhưng kỳ thực để chống phá, lật đổ chính quyền.

Những kẻ hô vang khẩu hiệu “dân chủ” ở Việt Nam là những người không ủng hộ, tìm cách phá bỏ thiết chế dân chủ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Theo đó họ tôn thờ giá trị tư bản phương Tây, mong muốn lập nên chế độ khác ở Việt Nam. Đó là điều mà các thế lực thù địch, chống đối chế độ nước ta vẫn hay làm trong suốt thời gian dài vừa qua.

Để làm được việc đó trong nhiều năm qua những nhà “dân chủ” Việt luôn tự gán cho mình trách nhiệm “cứu nước” bằng việc thông qua các sự kiện phức tạp, nhạy cảm trong xã hội đề quy kết trách nhiệm cho chính quyền Việt Nam. Đặc biệt là hô hào người dân tuần hành, biểu tình hoặc phản đối thực hiện chủ trương đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước.

Những sự kiện như cây xanh năm 2014, sự cố môi trường formosa Hà Tĩnh, vụ việc ở Đồng Tâm... là những cái cớ để những kẻ “dân chủ” Việt tìm cách hạ uy tín sự lãnh đạo của chính quyền, thông qua đó để tuyên truyền xuyên tạc giá trị thiết chế xã hội ở Việt Nam, so sánh với các nước khác để hướng lái người dân đi theo mô hình xã hội khác.

Ngoài những hành động ở trong nước những kẻ này còn tiếp tay cho các tổ chức phi chính phủ bên ngoài tìm cách vận động chính giới Mỹ, EU để đưa ra những “bằng chứng” chống lại Việt Nam, bao vây cô lập trên trường quốc tế, áp đặt thuế quan cao đối với xuất khẩu. Mưu đồ nhằm tạo sự khó khăn trong nước để từ đó kích động nhân dân biểu tình lật đổ chính quyền.

Cách làm này tuy cũ nhưng nó luôn mới, đặc biệt đối với các nước có hệ thống chính trị khác hơn so các nước khác trên thế giới. Điều này đặt ra sự cảnh tỉnh cho người dân Việt Nam nếu không tỉnh táo sẽ bị dắt mũi bởi thông tin sai lệch hoặc mất niềm tin đối với sự lãnh đạo đất nước của Chính phủ. Do đó cần thấy rõ cái cớ mà những kẻ này đang thực sự muốn thực hiện ở Việt Nam đó là lợi dụng những vấn đề phức tạp khoác vỏ bọc dân chủ để chống phá.

Trước tình hình đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ và mỗi người dân cần phải tỉnh táo, nhận rõ âm mưu, thủ đoạn thâm độc của kẻ thù. Từ đó, chúng ta phải kiên quyết đấu tranh, làm thất bại âm mưu xấu xa của chúng, giữ vững niềm tin vào Đảng, Nhà nước, bảo về vững chức Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa trong bất cứ tình huống nào.


 

HỌ MUỐN NHƯ VẬY ĐỂ LÀM GÌ ?!

  Cái gọi là "Quốc gia Việt Nam" và "Việt Nam cộng hòa", đều là những thực thể tay sai do Thực dân, Đế quốc dựng lên để làm tay sai cho chúng. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược, để giành độc lập, tự do cho dân tộc. Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ là cuộc kháng chiến chống xâm lược và tay sai, để thống nhất đất nước.

  Theo Hiệp định Paris 1973, buộc Mỹ phải rút quân đội khỏi MN VN; đó là trên danh nghĩa, nhưng thực tế chỉ là cách "thay màu da trên xác chết", để tiếp tục thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ. Họ vẫn nuôi dưỡng bộ máy tay sai đó, vẫn để lại hàng vạn "cố vấn", nhân viên quân sự trá hình, bằng nhiều vỏ bọc khác nhau. Mọi kế hoạch, bố trí nhân sự, các mối quan hệ quốc tế...đều xuất phát từ Lầu Năm góc và Hoa Thịnh Đốn. Để mất quần đảo Hoàng Sa và bỏ kế hoạch dùng Không quân (vượt trội quân Tàu) hỗ trợ, tái chiếm, cũng bởi người Mỹ không cho phép. Cho nên, bản chất cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam sau Hiệp định Paris, vẫn là cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, là tiếp tục cuộc đấu tranh để thống nhất đất nước. Cuộc chiến đó chỉ có hai phía là: nhân dân Việt Nam yêu nước và kẻ thù xâm lược (bao gồm: ngụy quyền tay sai Sài gòn, quân chư hầu của Mỹ, như: Thái, Phi, Úc, Nam hàn...). Chính nghĩa thuộc về nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN !

  Mặt trận dân tộc giải phóng MNVN (sau này là Chính phủ lâm thời CHMNVN), ra đời là do yêu cầu của cuộc đấu tranh của nhân dân MN, nhằm tập hợp mọi thành phần, tầng lớp xã hội trong vùng bị tạm chiếm, để đánh đuổi ngoại xâm và chống lại chính quyền tay sai. Đồng thời đó cũng là sách lược đấu tranh từng bước và trên các mặt của ĐCSVN, để giành thắng lợi, vì mục tiêu giải phóng MN, thống nhất đất nước.

  Lịch sử Thời đại HCM đương nhiên phải ghi lại đầy đủ diễn tiến của qúa trình các sự kiện đó, đồng thời làm rõ về bản chất của nó. Đó chính là sự khách quan của lịch sử, là chức năng của những nhà sử học chân chính; chứ không phải lập lờ biện bộ cho hành động xâm lược của ngoại bang và sự phản động của bè lũ tay sai. Người Mỹ gọi là "cuộc chiến tranh Việt Nam", như người Pháp trước đó gọi là "chiến tranh Đông dương, là cách nói tránh của cuộc chiến tranh xâm lược của họ. Xem cái gọi là VNCH là một "quốc gia" chính danh, hợp pháp, chính thống...như mấy vị sử gia kia (Nguyễn Mạnh Hà, Trần Đức Cường, Vũ Minh Giang, Nguyễn Đức Nhuệ....), là sự ngụy biện rất khiên cưỡng đối với thực tế lịch sử đã diễn ra.Việc này như là "phủ nhận" Tuyên ngôn độc lập mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố với quốc dân đồng bào và thế giới (1945), phủ nhận Hiến pháp mà Quốc hội đầu tiên, do Tổng tuyển cử trong cả nước (1946) bầu ra, đã khẳng định về sự độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt nam.

  Những "sử gia" đó cố tình biện bộ một cách sai trái như thế để làm gì vậy ? Sau khi thống nhất đất nước, mọi sự đã an bài, nhân dân cả nước đều một lòng vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đặc biệt khi đất nước bước sang thời kỳ "đổi mới", thì mọi "rào cản" đều đã được xóa bỏ, mọi công dân đều bình đẳng, tuyệt đối không có bất cứ sự "kỳ thị" nào cả. Có nhiều người đã từng tham gia vào bộ máy chế độ Sài gòn, đã thành những chuyện gia, tham mưu cao cấp cho Chính phủ, có người đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng, bởi những đóng góp của họ cho đất nước. Thế mà chính các vị "sử gia" kia đã khơi lại sự "oán hận", gây chia rẽ trong cộng đồng, nguy cơ làm rạn nứt khối đại đoàn kết toàn dân tộc đang vốn có.

 

  Họ muốn như thế để làm gì vậy ? Nếu thật sự vì đất nước, xin hãy xem cho kỹ về sự Lợi, hay Hại cho đất nước hôm nay và mai sau đi ! Có chăng lịch sử cần có hàng trăm năm may gì còn có thể "pha loãng" được (như đánh giá về nhà Mạc), còn bây giờ   những nguời đã làm nên lịch sử của Thời đại HCM hãy còn đây và con cháu của họ cũng quyết không để cho ai làm điều đó.  Và hơn ai hết ĐCSVN, nhân tố đã lãnh đạo toàn dân làm nên Thời đại đó, không bao giờ cho phép những kẻ "làm lịch sử giấy" theo ý của họ được !

 

 

“RFA” LẠI MẮC SAI LẦM KHI NGANG NHIÊN BÔI NHỌ

TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

Với chiêu trò đăng tải thông tin như trên của trang phản động này, chỉ sau một vài giờ đã thu hút được hàng trăm lượt like, hàng chục lượt comment. Những comment mang tính chất cổ súy, kích động và bôi nhọ hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, ngông cuồng động đến lòng tự tôn dân tộc. Cụ thể: Facebook với tên Nguyễn Cửu Cường commentChùa chiền là nơi yên tĩnh và thanh tịnh đi tu hành không phải là nơi vui chơi giải trí còn lại bọn dân ngu đem tiền cống bậy”; Facebook Nguyễn Mtay comment: “Người lao động Việt Nam không quen với từ " đi du lịch " bởi vì khả năng không thể với được ! Cũng từ đó sẽ tổ chức đi chùa , cúng núi ... được hậu thuẫn của chính quyền cộng sản mọc ra để đưa tầng lớp dân nghèo này vào khuôn khổ trói buộc thần kinh , và khai thác lợi nhuận ! Tạo ra tầng lớp lao động nghèo hèn của những con người cộng sản cũng có cái lợi , là họ không thể phản kháng được , và thu rất nhiều lợi tức từ họ . Chỉ có một điều là đất nước không thể phát triển , chưa nói đến ngu dân dễ bị bán nước!...”

Rõ ràng, những thứ dơ bẩn trên dòng comment của Facebook ẩn danh kia cho thấy sự ngu xuẩn của lũ cào bàn phím RFA khi ngang nhiên tuyên chiến với tôn giáo, tín ngưỡng. Chúng thừa biết rằng, Việt Nam là một quốc gia có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo cùng tồn tại lâu đời trong lịch sử dân tộc. Do vậy, vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam cũng luôn là vấn đề được các thế lực thù địch lợi dụng để thực hiện mưu đồ chống phá chế độ. Thường thì chúng hay đưa ra luận điệu rằng “Việt Nam áp đặt tôn giáo”; hoặc đưa ra các báo cáo về tình hình tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam với cái nhìn lệch lạc, thiếu khách quan...

Tuy nhiên, với bài đăng này thì RFA đã đi sai nước cờ, không những ngang  nhiên đụng chạm đến hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, chúng còn ngông cuồng xúc phạm đến lòng tự tôn dân tộc Việt. Chúng trơ chẽn buông những từ ngữ rất thô thiển: “bọn dân ngu đem tiền cống bậy”; “Người lao động Việt Nam không quen với từ " đi du lịch " bởi vì khả năng không thể với được”... Thử hỏi lũ cào phím RFA kia ai là “bọn dân ngu”? Ừ thì ngu nhưng dân Việt có Tổ quốc, có màu cờ sắc áo để yêu, để giữ gìn; không như lũ lưu vong, phản quốc mưu đồ phá hoại sự bình yên, ổn định của Việt Nam lấy đâu ra Tổ quốc cho riêng mình.

Du lịch là nhu cầu, nếu RFA chưa biết thì cung cấp luôn thông tin cho biết. Năm 2020 tuy bị ảnh hưởng rất lớn bởi dịch bệnh Covid 19 nhưng lượng khách du lịch ngoài nước đến Việt Nam vẫn đạt 3,8 triệu lượt (đấy là còn giảm 78,7% so với năm 2019 rồi RFA nhé); 7 tháng đầu năm 2020 ngành du lịch Việt Nam phục vụ 31 triệu lượt khách nội địa (đấy là còn giảm hơn 60% so với năm 2019). Cung cấp vài số liệu vậy thôi, RFA muốn biết thêm thì tự tìm hiểu đi, bấy nhiêu đã đủ minh chứng và đá bay luận điệu “Người lao động Việt Nam không quen với từ " đi du lịch " bởi vì khả năng không thể với được”  của RFA chưa?

RFA nói Đảng Cộng sản Việt Nam lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm gì nhỉ? À thu lợi nhuận từ nhân dân. Xin thưa với các nhà cào phím kia rằng, Tư tưởng nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam là tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; đoàn kết tôn giáo, hòa hợp dân tộc. Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một quyền nhân thân cơ bản của công dân cũng được đề cập trong Bộ luật Dân sự

Luật tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 18-11-2016, có hiệu lực thi hành 01-01-2018. Thế nên, RFA đừng ngông cuồng cho rằng, Đảng, Nhà nước Việt Nam lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để trói buộc thần kinh, và khai thác lợi nhuận từ nhân dân. Tín ngưỡng, tôn giáo với đông đảo nhân dân Việt Nam là nhu cầu. Người dân Việt Nam có truyền thống sinh hoạt, hoạt động tín ngưỡng từ lâu đời. Các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đều có những tín ngưỡng riêng gắn liền với đời sống kinh tế và tâm linh của mình. Thế nên RFA đừng lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam để chống phá trong vô ích./.

 

 

SỰ NGUY HIỂM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Chuẩn bị tích cực cho bầu c đại biểu Quốc hội  và đại biểu HĐND đang được các cơ quan chức năng tích cực tiến hành trên các trang mạng xã hội, xuất hiện rất nhiều các quan điểm luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị. Với  mưu đồ chống phá với các âm mưu thủ đoạn thâm độc khác nhau, mục tiêu trọng tâm mà chúng hướng tới những thủ đoạn ngày càng tinh vi phức tạp hơn, với các bài phỏng vấn chứa đựng các nội dung tiêu cực thiếu chính xác như ‘‘ Bầu cử chỉ là màn kịch dân chủ’’ do Đảng đạo diễn là độc diễn trong bầu cử, khi mà Đảng Cộng sản chỉ đạo cuộc bầu cử, không thể có dân chủ.

Chúng nhận định một cách phiến diện, chúng quy chụp cho rằng bầu cử như vậy là không chính danh, không đúng quy định của pháp luật, ngăn cản quyền bâu cử của công dân. Các đối tượng cố tình lái dư luận theo chiều hướng tiêu cực, kích động chia rẽ khối đại đoàn kết,, gieo rắc nhận thức sai lệch liên quan đến bầu cử.Từ đó lợi dụng đưa ra nhưng yêu sách xóa đi vai chò của Đảng, quyền lãnh đạo nhà nước, đòi đa nguyên, đa đảng, chấp nhận sự cạnh tranh với các đảng phái khác để thúc đẩy dân chủ.v.v

Những luận điệu, nhận định mà các đối tượng đang rêu rao như trên là hoàn toàn sai trái, sai với sự thật. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Thực tiễn, Đảng lãnh đạo công tác bầu cử là cơ sở quan trọng để bảo đảm sự thống nhất trong coongbtacs bầu cử; góp phần lựa chọn, bầu ra những đại biểu tiêu biểu, xứng đáng dại diện cho ý chí, nguyện vọng vf quyền  làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ mới, bảo đảm đủ tiêu chuẩn, đủ số lượng, có cơ cấu hợp lý đối với đội ngũ đại biểu; tạo nền tảng cho việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước  pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do nhân dân, vì nhân dân, dúi sự lãnh đạo của Đảng Cộng  sản Việt Nam.

Tất cả những chiêu trò xuyên tạc, tuyên truyền của các thế lực thù địch, trong thời gian qua không chỉ tạo ra sự nhiễu loạn thông tin, gây ra hoài nghi, hoang mang, mất niềm tin trong một bộ phận quần chúng, cán bộ đảng viên mà còn tác động, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của đảng, tình hình an ninh, trật tự và quá trình chuẩn bị tốt cho bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp, cần được phê phán đấu tranh để làm sáng tỏ bản chất âm mưu sâu độc của chúng, bằng những vai trò lãnh đạo sát thực của mình toàn Đảng toàn dân ta luôn đoàn kết, tạo ra sức mạnh để vượt qua khó khăn trước tình hình diễn biễn phức tạp dịch bệnh covid-19, tổ chức thành công tốt đẹp bẩu cử vào tháng năm  là dẫu son lịch sử thắng lợi của toàn Đảng toàn dân ta trong thời kỳ mới.