Thứ Ba, 16 tháng 3, 2021

Đẩy mạnh đấu tranh với các luận điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng

 

 

Các nhà tư tưởng, lý luận của chủ nghĩa tư bản và các thế lực thù địch luôn chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, chống phá lý luận đổi mới cũng như các quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Điều này không mới, song tính chất đặc biệt nguy hiểm là ở chỗ nó được thực hiện bằng một phương thức, công cụ hoàn toàn mới - không gian mạng. Không gian mạng có đặc điểm là dung lượng thông tin lớn, tốc độ truyền tải nhanh, vừa có độ bao phủ rộng khắp, vừa tương tác thông tin mạnh, tức thời. Trong thời đại internet thì mỗi một người chính là một IP[1]; trong thời đại internet vạn vật thì mỗi một vật phẩm là một IP; trong thời đại trí tuệ nhân tạo thì mỗi một người máy cũng là một IP. Sự phát triển của công nghệ mới đang phá bỏ liên tục những ranh giới, những biên giới của không gian mạng. Cùng với việc mở rộng không gian mạng và tính liên kết ngày càng cao thì các vấn đề của xã hội, của con người lại càng nhiều và càng phức tạp. Không gian mạng đang chiếm lĩnh không gian và thời gian thực của con người ngày càng nhiều, ảnh hưởng ngày càng lớn với tốc độ ngày càng nhanh, chính vì vậy nó ảnh hưởng sâu rộng và phức tạp đến lĩnh vực tư tưởng, lý luận ở Việt Nam hiện nay.

 

1. Một số thách thức đối với hoạt động tư tưởng, lý luận trên không gian mạng

Một là, thách thức đối với hệ tư tưởng chính thống.

Do không gian mạng có tính mở với đặc trưng tự do, đa dạng, bình đẳng, nhiều khi bị xoá nhoà ranh giới giữa thực và ảo, giữa vật lý và hiện thực, vì vậy không gian mạng mang đến những thách thức to lớn đối với nền tảng tư tưởng của Đảng. Có thể nói, hiện nay, các hệ tư tưởng, các luận điểm, các học thuyết ngoài mácxít, từ các loại chủ nghĩa khác nhau như chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa vô chính phủ, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa khủng bố mạng… cho đến chủ nghĩa vị kỷ, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa hưởng lạc, cũng như vô số các tôn giáo, tín ngưỡng, thậm chí là mê tín dị đoan, đang xuất hiện một cách tràn lan trên không gian mạng. Lợi dụng triệt để những ưu thế của không gian mạng, một cách trực tiếp hay gián tiếp, các loại hình ý thức hệ đó đã và đang công khai hay ngấm ngầm chĩa mũi nhọn vào lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhiều luận điểm, quan điểm trong các ý thức hệ đó đi ngược lại với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời chứa đựng tính chất độc hại, phản động, đang bóp méo thế giới quan và xuyên tạc nhân sinh quan, cố tình định hướng giá trị một cách sai lầm cho những người dùng mạng internet nói riêng và cho người dân Việt Nam nói chung.

Hai là, thách thức đối với mặt trận tư tưởng - văn hoá.

Một hệ tư tưởng nếu không được truyền bá và giáo dục, củng cố và phát triển thường xuyên thì hệ tư tưởng đó sẽ chết. Đảng ta luôn chú trọng mặt trận tư tưởng - văn hoá, luôn ý thức được tầm quan trọng của công tác giáo dục tư tưởng, song sự phát triển của không gian mạng hiện nay đang đặt ra những thách thức vô cùng to lớn. Các phương tiện truyền thông truyền thống của chúng ta là đài truyền hình, đài phát thanh, sách, báo, tạp chí, phim ảnh, bảng tin, khẩu hiệu cổ động… đã tỏ ra cũ, chậm và hạn chế về tính hiệu quả.Các phương thức truyền thông về tư tưởng, lý luận chủ yếu vẫn là phổ biến nghị quyết, vận động học tập, nghe báo cáo,… trong một không gian và thời gian nhất định, với tính chất bắt buộc, tập trung và thống nhất, một chiều từ trên xuống và số lượng đối tượng tiếp nhận thông tin hạn chế. Trong khi đó, không gian mạng với tính chất đa dạng, phi tập trung, tự chủ và tương tác đã tác động mạnh mẽ và thách thức to lớn đến cách giáo dục tư tưởng truyền thống. Không gian mạng với phương thức giao tiếp ngang hàng, tương tác hai chiều và đa chiều, đã tạo ra một bước nhảy vọt về chất trong phương thức tiếp cận thông tin và trao đổi ý kiến, đồng thời cung cấp cho cư dân mạng cơ hội giao tiếp bình đẳng và một nền tảng để chia sẻ quan điểm một cách tự do. Việc tuyên truyền, phổ biến các luận điểm trên không gian mạng có hiệu quả cao, sức lan tỏa rộng và tính thẩm thấu mạnh đã cóảnh hưởng nhất định đến quyền kiểm soát, quyền khống chế của Đảng đối với mặt trận tư tưởng - văn hóa.

Ba là, thách thức đối với niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Không gian mạng đã cải thiện đáng kể khả năng của các cá nhân và tổ chức trong việc công bố, trao đổi,tiếp cận và tiếp thu thông tin, đồng thời nâng cao tính độc lập, tính đa dạng, tính chọn lọc và sự khác biệt của các suy nghĩ. Mọi người có thể tự do bày tỏ ý kiến của mình (một cách ẩn danh), và có thể nhanh chóng trao đổi và chia sẻ thông tin cũng như suy nghĩ của mình với những người khác về mọi vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, lối sống…trên không gian mạng. Không kể sự chống phá có chủ đích của các thế lực thù địch, bản thân sự yếu kém của các công ty công nghệ lớn trong việc bảo mật thông tin, vi phạm quyền riêng tư, buông lỏng tin giả, kích động bạo lực,… và sự bất cập của chúng ta trong việc quản lý và kiểm soát không gian mạng đã tạo ra môi trường thuận lợi cho việc ngụy tạo, phổ biến lan tràn các luận điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, đặc biệt là trên các mạng xã hội. Mặc dù trong vài năm trở lại đây, chúng ta đã phần nào giành lại thế chủ động trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, song tính bất đối xứng của cuộc chiến tư tưởng vẫn là một hiện tượng thường thấy, là một thách thức không nhỏ. Điều này không thể không ảnh hưởng xấu và làm suy giảm niềm tin của người dân đối với Đảng, đối với chế độ, đối với mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

 

 

2. Một số giải pháp tăng cường hiệu quả hoạt động tư tưởng, lý luận trên không gian mạng

Một là, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, gắn lý luận với thực tiễn trên không gian mạng.

Không ngừng nghiên cứu lý luận, vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn cụ thể, đồng thời thường xuyên tổng kết thực tiễn, đúc rút và khái quát lý luận là yêu cầu đầu tiên, là nhiệm vụ căn bản. Trận địa tư tưởng cần vũ khí quan trọng nhất là vũ khí lý luận, song lý luận phải thật sự khoa học chứ không phải lý thuyết suông, lý luận phải xuất phát từ thực tiễn và mang hơi thở của cuộc sống, phải bao quát được những vấn đề nền tảng, có tính quy luật và đưa ra hướng giải quyết những vấn đề then chốt. Bất kể sự phát triển của không gian mạng và các phương tiện truyền thông như thế nào, thì suy nghĩ và quan điểm vẫn là thành tố quan trọng nhất của nội dung tư tưởng. Nếu không có nội dung, không có chiều sâu thì lý luận dù hay đến đâu cũng chỉ là hô khẩu hiệu, trống rỗng, không có bất kỳ ảnh hưởng tích cực nào. Chúng ta phải sử dụng lý luận làm nền tảng vững chắc cho định hướng chính trị và dẫn dắt dư luận. Trong trận địa tư tưởng trên không gian mạng, việc chúng ta có đứng vững và chiến thắng hay không liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ. Trước tình hình trong nước và quốc tế có những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những biến động khó lường như hiện nay, không gian mạng trở thành công cụ nền tảng mới để giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ và nhân dân; đồng thời, đó cũng là một không gian mới để đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu lý luận, là một phương thức mới để định hướng dư luận xã hội về mặt tư tưởng. Đây thực sự là một mặt trận quan trọng và không thể buông lỏng. Do đó, cần giữ vững và không ngừng tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác nghiên cứu lý luận, giáo dục chính trị, tư tưởng trên mặt trận trực tuyến.

Trong thời đại ngày nay, các cách thức và phương tiện để con người tiếp cận thông tin về mọi vấn đề thuộc mọi lĩnh vực đã vượt xa các cách thức và phương tiện truyền thống. Nhờ vậy, họ có nhiều và nhanh các thông tin, có hiểu biết sâu rộng hơn về thế giới bên ngoài rất nhiều nhờ không gian mạng. Chính vì vậy, để có thể định hướng tư tưởng trên không gian mạng, chúng ta phải tuân thủ nguyên tắc tôn trọng sự thực khách quan, đối mặt với các vấn đề đang nảy sinh từ thực tiễn của xã hội; dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức đúng và đưa ra các ý tưởng, phương án giải quyết các vấn đề của Việt Nam một cách đúng đắn, hiệu quả;từ đó mới có thể nâng cao tính thuyết phục, tính định hướng của hệ tư tưởng chính thống.

Những thiết chế xã hội của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam chưa thay đổi kịp để ứng phó với những thách thức của không gian mạng. Ví dụ, trong  lĩnh vực truyền thông, các cơ quan lớn của Đảng, như: Báo Nhân dân, Tạp chí Cộng sản; cơ quan lớn của Nhà nước, như: Thông tấn xã Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam đều được xây dựng và vận hành chủ yếu trên cơ sở báo viết, báo tiếng, báo hình. Dù có chuyển đổi một phần sang phương thức báo điện tử, song mới chỉ là một phần rất nhỏ trên không gian mạng, khó có thể chiếm lĩnh hoặc định hướng được không gian mạng. Về lâu dài, cần thiết phải có một cơ quan thuộc chính phủ chuyên trách không gian mạng, ở đó các nguồn lực của nhiều bộ, ngành, nhiều cơ quan truyền thông sẽ phải tập trung cho cơ quan mới này.

Hai là, lấy dân làm gốc kết hợp với xây dựng đội ngũ làm công tác lý luận trên địa hạt không gian mạng.

Chúng ta luôn tâm niệm phải lấy dân làm gốc, vậy “dân” trên không gian mạng có phải là gốc không? Dù trong tình huống nào đi nữa, nhất là trên không gian mạng, chúng ta càng cần phải tuân thủ nguyên tắc “lấy dân làm gốc”, nghĩa là chúng ta cần cần có sự ủng hộ của những người quản trị (Admin), người điều hành (Smod), người điều tiết (Moderator), người gây ảnh hưởng (Kol),… cũng như của toàn thể cư dân mạng. Chúng ta cần phải luôn tôn trọng địa vị cao nhất của nhân dân, tin tưởng và dựa vào quần chúng nhân dân trên không gian mạng. Vấn đề cốt lõi của công tác tư tưởng trực tuyến là cách đối xử với quần chúng trên không gian mạng. Chúng ta nói lên tiếng nói của người dân, bênh vực nhân dân, đứng về phía quyền lợi của nhân dân thì nhân dân sẽ tin yêu chúng ta, bảo vệ chúng ta.

Không gian mạng có tính mở, vì vậy, nếu chúng ta không chiếm lĩnh mạng thì những người khác cũng sẽ chiếm lĩnh; hơn nữa, điều hết sức nguy hiểm là địa hạt này bị bỏ trống, trong khi nó có những ưu thế rất lớn như đã nói ở trên. Trong tình huống như vậy, tính hiệu quả của công tác tư tưởng, lý luận chắc chắn sẽ ảnh hưởng đáng kể. Do đó, chúng ta cần phải chủ động chiếm lĩnh không gian mạng, tăng cường sức ảnh hưởng của hệ tư tưởng chính thống bằng các hoạt động tuyên truyền, giáo dục tư tưởng đối với cư dân mạng.Cư dân mạng có cả người dân lẫn cán bộ, đảng viên. Đối với nhân dân, công tác giáo dục tư tưởng, chính trị cho nhân dân cần gắn với giáo dục lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, lịch sử, văn hóa, tình cảm, đạo đức. Đối với cán bộ, đảng viên, cần tăng cường giáo dục lý tưởng, niềm tin và quan trọng hơn là nâng cao nhận thức về các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cán bộ, đảng viên không những không được có những biểu hiện trái với quan điểm của Đảng, mà còn phải có trách nhiệm và nghĩa vụ tuyên truyền, bảo vệ quan điểm của Đảng trên không gian mạng.

Định hướng tư tưởng bằng công tác lý luận không thể tách rời việc xây dựng đội ngũ những người làm công tác lý luận. Định hướng tư tưởng, lãnh đạo dư luận bằng chuyên gia và học giả là xu thế tất yếu. Mối quan hệ biện chứng giữa “xây” và “chống” chính là thể hiện ở đây. Những người làm công tác tư tưởng, lý luận trên không gian mạng đòi hỏi phải có tầm cao của tư tưởng, độ sắc nét của các nhận định, đánh giá và độ vững chắc của lý luận. Giống như Bác Hồ trước đây nói ai cũng hiểu, ai cũng thấm thía, những người làm công tác tư tưởng, lý luận cũng phải học theo phương pháp diễn ngôn đó. Nói một cách hình ảnh, lý luận không chỉ như một món ăn cầu kỳ dành cho khách sành ăn trong nhà hàng sang trọng, mà cần thiết hơn, nó còn phải là món ăn đường phố cho người lao động, món ăn hàng ngày trong mỗi gia đình. Những vấn đề lý luận mà quần chúng quan tâm cần được giải thích rõ ràng, cặn kẽ bằng ngôn ngữ của quần chúng; người làm lý luận phải nắm vững cách nói của quần chúng, sử dụng ngôn ngữ sinh động, gần gũi với nhiều hình thức đa dạng để dễ được quần chúng chấp nhận, để lý luận thực sự bén rễ và đi vào suy nghĩ,cũng như trở thành hành động cụ thể, thiết thực của người dân.

Thực tiễn cần được tổng kết, đúc rút kinh nghiệm; vì vậy, một đặc thù của hoạt động tư tưởng, lý luận là không thể nhanh chóng có kết quả như một số hoạt động thực tiễn khác. Sáng tạo lý luận là một hoạt động đặc biệt, đòi hỏi phải có thời gian. Immanuel Kant, một trong những triết gia vĩ đại nhất thế giới, cả đời chỉ đọc sách và nghiên cứu, thế mà cũng phải đến khi ông 57 tuổi mới có thể cho ra mắt cuốn Phê phán lý tính thuần tuý, một trong bộ ba tác phẩm phê phán nổi tiếng của ông. Bản thân C.Mác cũng mất 20 năm để viết cuốn Tư bản, song vẫn chưa thể hoàn thành. Sáng tạo lý luận đòi hỏi sự đầu tư rất lớn cả về công sức lẫn thời gian như vậy, song hoạt động chống phá về tư tưởng trên không gian mạng lại diễn ra từng phút, từng giây, đây là một trong những vấn đề đặt ra cần phải giải quyết. Không thể để những người làm công tác lý luận liên tục trả lời, đối thoại hoặc phản bác mọi thông tin sai trái, điều này vừa lãng phí tài nguyên trí tuệ, vừa có thể kéo lùi các nhà khoa học xuống những điều vụn vặt. Cần hết sức tiết kiệm trí tuệ, công sức của những người làm công tác lý luận để tập trung đấu tranh ở những luận điểm lớn, những luận điểm nền tảng mang tính then chốt, mang tính nguyên tắc của Đảng, của chế độ, của dân tộc; đấu tranh với những trường phái, những nhân vật đại diện mang tính tiêu biểu của thế lực thù địch trong và ngoài nước.

Ba là,truyền thông tư tưởng trên không gian mạng cần hay hơn, hấp dẫn hơn.

Thời đại thông tin ngày nay tạo ra những thay đổi lớn trong cấu trúc dư luận, thay đổi cách thức và phương tiện truyền thông, thậm chí còn tái tạo lại “hệ sinh thái” mới của nội dung. Trên không gian mạng, mọi người không muốn xem, nghe các bài viết một chiều.Trên không gian mạng, quyền lực của các tổ chức không tác động được đến cơ chế tiếp cận thông tin. Đồng thời, quan niệm truyền thông truyền thống lấy tin tức làm trung tâm đã dần thay đổi, chức năng giáo dục, chức năng tư tưởng của truyền thông ngày càng giảm đi, đồng thời các chức năng giao tiếp, chức năng giải trí ngày càng tăng lên. Nội dung thể hiện luận điểm của những người tham gia không gian mạng có xu hướng ngày càng ngắn lại, từ những cuộc tranh luận hàng trăm trang trên các diễn đàn (forum) trước kia, giờ đây được rút gọn, cá nhân hoá thành các bài dài trên trang cá nhân (blog), rồi rút ngắn hơn nữa ở các tút trên Facebook, rồi các thông điệp cực ngắn trên Twitter. Bản thân các video dài trên Youtube đã ngắn đi nhiều ở các nền tảng video khác, đặc biệt là ở TikTok với độ dài chỉ khoảng 15 giây. Với không gian mạng như vậy thì các bài nghiên cứu lý luận, các bài viết mang tính tư tưởng như hiện nay dường như dài và khô khan với cư dân mạng. Chính vì vậy, truyền thông tư tưởng trên không gian mạng muốn đạt hiệu quả thì thông tin cần phải thực sự hấp dẫn, thu hút và lấy được sự yêu thích của không chỉ đảng viên, mà cả của người dân, đặc biệt là giới trẻ.

Truyền thông tư tưởng trên không gian mạng có được người dân đón nhận và tham gia hay không phải là một tiêu chí cơ bản để đánh giá mức độ thành công của công tác xây dựng Đảng về tư tưởng. Truyền thông tư tưởng cần chủ động thích ứng với hoàn cảnh mới, tình hình mới, nhiệm vụ mới trên không gian mạng, không ngừng đổi mới quan niệm, hình thức, phương pháp, phương tiện, thậm chí thay đổi phương thức diễn ngôn truyền thống, sử dụng cách diễn ngôn hiện đại, hấp dẫn, sinh động một cách lành mạnh và thẩm mỹ để lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân dân./.

Một số bài học về đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời kỳ hội nhập quốc tế

  

1. Đấu tranh bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - Nền tảng tư tưởng của Đảng là một nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên, lâu dài

Học thuyết Mác về chủ nghĩa xã hội ra đời cách đây hơn 160 năm và đã được Lênin đấu tranh bảo vệ, phát triển mạnh mẽ trong những năm đầu thế kỷ XX. Lênin và Đảng Bônsêvich Nga đã có công lớn đối với việc hình thành học thuyết chính thống về chủ nghĩa xã hội, hệ tư tưởng chính thức của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đó là chủ nghĩa Mác - Lênin. Chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết cách mạng, khoa học đã chỉ ra tính tất yếu và quy luật vận động phát triển của lịch sử xã hội loài người, cung cấp hệ thống lý luận và phương pháp luận khoa học đúng đắn để nhận thức đúng thế giới và cải tạo thế giới; là “kim chỉ nam” cho hoạt động của các đảng cộng sản trong cuộc đấu tranh thực hiện sứ mệnh lịch sử lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ ách áp bức, bóc lột, giành lấy chính quyền về tay nhân dân lao động và xây dựng xã hội mới-xã hội cộng sản chủ nghĩa trên phạm vi toàn thế giới. Tư tưởng cách mạng, tiến bộ và các luận cứ khoa học của chủ nghĩa Mác- Lênin được thể hiện trong hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội, trong nội dung học thuyết giá trị thặng dư, học thuyết về hình thái kinh tế xã hội, về đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản, về vai trò của đảng cộng sản trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa và nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội khác.

Chính vì vậy, ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình tồn tại, phát triển của mình, chủ nghĩa Mác - Lênin đã bị các thế lực thù địch, phản động và cả thế giới tư bản chủ nghĩa tìm mọi phương cách, sử dụng nhiều chiêu trò, thủ đoạn xấu xa, bỉ ổi hòng phê phán, phủ nhận, xuyên tạc, bôi nhọ, bóp méo, vu cáo, công kích, đả phá rất quyết liệt núp dưới các danh xưng, màu sắc khác nhau, cả “tả khuynh và hữu khuynh”, nhất là chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa kinh tế, chủ nghĩa Mensêvích và các khuynh hướng tư tưởng phi vô sản khác. Càng về sau sự chống phá càng trở nên điên cuồng, quyết liệt trên cả bình diện lý luận và thực tiễn, với quy mô rộng lớn, mang tính toàn cầu. Điều này phản ánh tính chất của cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực tư tưởng - chính trị là “một mất một còn”, không khoan nhượng và cực kỳ gay go, phức tạp, quyết liệt giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản trên cả phạm vi quốc gia và quốc tế.... Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ khi ra đời năm 1930 đã phải tiến hành cuộc đấu tranh quyết liệt chống lại âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận để bảo vệ tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng cách mạng, giá trị đạo đức, dân chủ, nhân văn, tính thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Từ thực tiễn cuộc đấu tranh tư tưởng - lý luận giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản trong hơn 160 năm qua có thể khẳng định, trong bất cứ lúc nào, hoàn cảnh nào, ở phạm vi nào, dù phong trào cách mạng thế giới thắng thế hay thoái trào thì cuộc đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc, thù địch của thế lực phản động, cơ hội chính trị, chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin là không thể tránh khỏi, như Lênin đã khẳng định đó “không phải là điều ngẫu nhiên, mà là một hiện tượng tất nhiên”[1].Xét về bản chất, thực chất của cuộc đấu tranh đó là nhằm bảo vệ linh hồn sống, tức là những nguyên lý căn bản, cốt lõi; bảo vệ những giá trị mang tính thời đại, tính nhân đạo, nhân văn và tính tất yếu của con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới; bảo vệ lập trường giai cấp, tính đảng và những vấn đề có tính nguyên tắc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đồng thời tiếp tục nhận thức, bổ sung, phát triển làm phong phú những nội dung của chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng phù hợp với đặc điểm của thời đại mới và cuộc đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện mới.

Ở Việt Nam, từ khi đất nước tiến hành đổi mới và từng bước hội nhập quốc tế, âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động là không thay đổi nhưng chuyển sang hình thái mới, phương thức, thủ đoạn mới hết sức tinh vi xảo quyệt. Chúng lợi dụng Internet, báo điện tử, trang mạng xã hội, các website, các nền tảng công nghệ phổ biến: blog, Facebook, Youtube, Zalo…để tổ chức các chiến dịch phá hoại trên nhiều phương diện, nhiều lĩnh vực cả lý luận và thực tiễn. Mục tiêu cơ bản của chúng là đả phá, công kích những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đảng cộng sản cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội; âm mưu phủ nhận, loại bỏ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng; đòi từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Thông qua các con đường hợp tác, giao lưu, trao đổi văn hóa, tri thức khoa học, kinh tế, luật pháp[2]và các nền tảng công nghệ mạng để đưa các lý thuyết mới, tư tưởng mới thâm nhập vào Việt Nam hòng “pha loãng tư tưởng chính thống”, làm mờ nhạt nguyên lý, nguyên tắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tập trung phê phán, hạ thấp vai trò, ý nghĩa thời đại, lý luận của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Mác - Lênin. Thâm độc hơn, chúng đem đối lập chủ nghĩa Mác- Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó đòi bác bỏ, thủ tiêu, loại bỏ chủ nghĩa Mác- Lênin ra khỏi Việt Nam…Thực chất của những chiêu trò, thủ đoạn này đều nhằm chống phá hệ tư tưởng và lý tưởng cách mạng của Đảng và Nhân dân ta. Phụ họa với các chiến dịch chống phá điên cuồng, bất chấp đạo lý của các thế lực thù địch là hoạt động phá hoại âm thầm, “mưa dầm thấm lâu” của các nhà lý luận, học giả tư sản phối hợp với số đối tượng cơ hội chính trị, “trở cờ”, bất mãn, tiêu cực, hận thù giai cấp ở trong nước. Chúng liên thủ với nhau, sử dụng các chiêu bài tung hứng ca ngợi, tâng bốc mô hình chủ nghĩa tư bản phát triển và chủ nghĩa xã hội dân chủ; bịa đặt, dựng chuyện, phê phán, đả kích, xuyên tạc chủ nghĩa xã hội và mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô, Đông Âu trước đây. Đồng thời, tập trung tấn công phê phán, hạ bệ tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh đạo, đóng góp, cống hiến của Đảng Cộng sản Việt Nam; xuyên tạc đường lối, chủ trương đổi mới, phủ nhận thành quả của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Mục đích cuối cùng là hướng lái đất nước và Nhân dân ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, đưa xã hội ta hòa nhập với các giá trị phương Tây.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và xu thế mới “cùng chia sẻ, cùng thắng, chung sống hòa bình” là một cơ hội lớn, thuận lợi cho sự xâm thực mạnh mẽ của “chủ nghĩa thực dụng”, “chủ nghĩa thực chứng” vào Việt Nam. Thế giới ngày nay đang biến đổi hết sức sâu sắc, chấp nhận mâu thuẫn đan xen với nhau và sự tồn tại trong đa dạng, đa văn hóa, đa lợi ích. Chính sự phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ số và Internet, mạng xã hội làm cho thế giới xích lại gần nhau hơn; quan hệ dường như không bị ngăn cách, cản trở bởi hàng rào ý thức hệ, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa, biên giới địa lý và khoảng cách không gian, thời gian…Từ đó xuất hiện những chiến dịch xâm lăng về văn hóa- tư tưởng, hô hào lấp chỗ trống về tư tưởng - lý luận, cổ xúy lối sống thực dụng và giá trị phương Tây được phát động rầm rộ, công khai trong lòng chế độ xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó các  nước lớn, “ông lớn” đều chú trọng gia tăng ảnh hưởng lợi ích chiến lược, lợi ích an ninh toàn cầu đã gây ra nhiều hệ lụy, nguy cơ làm chệch hướng những giá trị chuẩn mực trên cả phương diện chính trị, tư tưởng, văn hóa, đạo đức và ý thức con người. Nhiều tác động, ảnh hưởng tiêu cực từ các học thuyết tạp nham phi giai cấp, phi ý thức hệ, phi lý tưởng, phi văn hóa, phi đạo lý truyền thống đã trực tiếp tác động, ảnh hưởng tiêu cực đối với Việt Nam...

Nhận thức đúng đắn tính chất, thực chất và bản chất đối kháng của cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng- lý luận- chính trị là không khoan nhượng, phải hết sức kiên trì, kiên định, thường xuyên, liên tục, sáng tạo, mang tính trí tuệ và tính chiến đấu cao, Đảng ta luôn nêu cao ý thức chính trị và bản lĩnh, lập trường giai cấp, đồng thời xác định và khẳng định những vấn đề có tính nguyên tắc, đề ra những chủ trương, phương châm, biện pháp đấu tranh phù hợp. Cuộc đấu tranh của Đảng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng để bảo vệ nền tảng tư tưởng đã được tổ chức trên phạm vi, quy mô rất rộng lớn, nhất là trên bình diện lý luận gắn với việc làm rõ, từng bước khẳng định, bổ sung những vấn đề mới về công cuộc đổi mới với sự lý giải tường minh, thấu đáo.

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) chỉ rõ: cần phải “phê phán và bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch”, đồng thời “uốn nắn những nhận thức lệch lạc, những quan điểm mơ hồ, những biểu hiện dao động về tư tưởng, suy giảm niềm tin vào chủ nghĩa xã hội và sự lãnh đạo của Đảng”. Điều này thể hiện thái độ dứt khoát, đấu tranh không khoan nhượng với các thế lực thù địch, phản  động, cơ hội chính trị, kiên quyết loại bỏ các luận điểm sai trái, đối lập, thù địch, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Cuộc đấu tranh này không chỉ góp phần bảo vệ tính đúng đắn, khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn có sứ mệnh góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, phản động. Gần đây, trong Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” nêu rõ 6 quan điểm chỉ đạo lớn, trong đó khẳng định: “Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng Tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là công việc thường xuyên, tự giác, cấp thiết, lâu dài của cấp ủy, của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của từng cán bộ đảng viên, trước hết là người đứng đầu...”.Đại hội Đảng lần thứ XI (2011) khẳng định phải gắn cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, chống quan điểm sai trái, thù địch với chủ động phòng ngừa “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ và khắc phục sự suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ đảng viên. Đại hội lần thứ XII của Đảng một lần nữa khẳng định: “Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch” gắn chặt với cuộc đấu tranh trong nội bộ, kiên quyết đấu tranh chống nạn nội xâm, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội thực dụng, bè phái, lợi ích nhóm, nói không đi đôi với làm...”.

Về tổ chức thực tiễn cuộc đấu tranh, trong những năm qua Đảng, Nhà nước ta đã chỉ đạo thành lập một số tổ chức, thiết chế, ban hành cơ chế, quy chế phối hợp các ban chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ trên, như: Ban Chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại; Ban Chỉ đạo nhân quyền của Chính phủ; Ban Chỉ đạo 35 (trước đây là Ban Chỉ đạo 94); Ban Chỉ đạo 609; Ban Chỉ đạo đề án 213…Như vậy, về cả nhận thức và hành động thực tế, Đảng ta đã tỏ rõ quyết tâm chính trị cao, thái độ, tâm thế vững vàng, kiên quyết, kiên định đấu tranh không khoan nhượng, quyết liệt và thường xuyên với các hoạt động chống phá trên lĩnh vực tư tưởng - chính trị, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Toàn Đảng và cả hệ thống chính trị đã có sự thống nhất trong nhận thức cũng như hành động, tích cực, chủ động vào cuộc mà lực lượng xung kích, nòng cốt là cơ quan tuyên giáo các cấp, cơ quan truyền thông, thông tin, cơ quan nghiên cứu khoa học, lý luận, các ban đảng các cấp; lực lượng Công an, Quân đội và các nhà khoa học, các học giả thuộc chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn. Đã có hàng vạn bài viết các thể loại, hàng nghìn cuốn sách, tài liệu đấu tranh phản bác, vạch trần sự giả dối, xảo biện; phát hiện, ngăn chặn các luận điệu sai trái, độc hại của các thế lực thù địch tấn công phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, phá hoại nội bộ. Về cơ bản, chúng ta giữ vững được thế trận và chủ động trên mặt trận chính trị tư tưởng; nắm chắc âm mưu chiến lược, chiến thuật, thủ đoạn, chiêu trò, biện pháp cách thức, hình thức, phương tiện chống phá của các loại đối tượng...Đảng luôn vững vàng về mặt chính trị, tuyệt đối không ngả nghiêng dao động, giữ vững vai trò, vị trí lãnh đạo Nhà nước và xã hội; kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó vận dụng sáng tạo, đề ra hệ thống quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách đổi mới toàn diện đúng đắn và vận hành trong thực tiễn đổi mới thành công, giành được những “thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử”, làm thay đổi căn bản diện mạo, uy tín, vị thế của Đảng và đất nước, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân.

Tuy nhiên, trên thực tế, cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng, quan điểm đường lối của Đảng cũng gặp những hạn chế, khó khăn bất cập. Trong bối cảnh mới, các thế lực thù địch tăng cường, đẩy mạnh hơn bao giờ hết các chiến dịch, thủ đoạn chống phá từ bên ngoài, phối hợp, câu kết chặt chẽ với các đối tượng phản động, cơ hội chính trị trong nước, thông qua các kênh truyền dẫn của hơn 40 đài phát thành, truyền hình tiếng Việt, gần 500 báo, tạp chí, bản tin, nhà xuất bản tiếng Việt ở nước ngoài. Chúng đã lập ra hàng trăm trang website, blog, fanpage, mạng xã hội có máy chủ đặt ở nước ngoài để truyền bá, chuyển tải thông tin xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo, đả phá, công kích chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chống phá chủ nghĩa xã hội ở nước ta, công khai tấn công vào những vấn đề cơ bản của nền tảng tư tưởng của Đảng với lòng căm thù ngút trời của những kẻ thất thế, bại trận, vì lợi ích giai cấp ích kỷ, lợi ích cá nhân[3].

Bên cạnh đó, có lúc, có nơi, sự hiểu biết của một số người cộng sản, người cách mạng về chủ nghĩa Mác, về chủ nghĩa xã hội thiếu tính hệ thống, toàn diện, chưa thẩm thấu đầy đủ thế giới quan mác-xít, phương pháp luận mác-xít, thậm chí chưa đoạn tuyệt một cách dứt khoát với thế giới quan tư sản nói chung và thế giới quan dân chủ tư sản nói riêng. Cách thức tổ chức, mô hình, phương thức, biện pháp đấu tranh của ta có lúc chưa theo kịp sự chuyển biến nhanh chóng của tình hình; lực lượng, trang bị phương tiện tham gia cuộc đấu tranh còn những hạn chế về nhiều mặt, chưa ngang tầm yêu cầu, nhiệm vụ trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, nhất là trước sự phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học công nghệ trên lĩnh vực thông tin, truyền thông[4].

Công tác phối hợp, cung cấp, trao đổi thông tin, tuyên truyền giữa các cơ quan, đơn vị chức năng còn chưa thống nhất, thiếu sự gắn kết và đồng bộ, phản ứng chậm, thiếu tính nhạy bén do yêu cầu và công tác bảo mật thông tin của lực lượng chuyên trách, nhất là những thông tin chính thống trong nội bộ. Một vấn đề đặt ra nữa là hầu hết những công trình nghiên cứu phản bác, đấu tranh có tầm cỡ, có giá trị lý luận, có tính khoa học thuyết phục lại chủ yếu xuất bản, lưu hành nội bộ hoặc đóng dấu mật; việc tiếp cận, khai thác, phổ biến truyền bá rộng rãi là không có hoặc rất hạn chế. Các bài viết đăng tải công khai, bút chiến cũng chỉ xoay quanh những vấn đề nhỏ lẻ, mang tính đối phó, phê phán cục bộ, không có tính hệ thống và thường của tác giả ít tên tuổi, uy tín, ảnh hưởng lan tỏa xã hội chưa rộng.

2. Một số bài học về đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Một là, bảo đảm vai trò lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Đảng nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, của cả hệ thống chính trị tập trung mũi nhọn đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động chuyển hóa chính trị của các thế lực thù địch, phản động; bảo vệ vững chắc địa vị và vai trò lãnh đạo của Đảng.

Cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và các giá trị đích thực của chủ nghĩa xã hội ở nước ta diễn ra rất quyết liệt, phức tạp, không ngơi nghỉ, dường như chưa có điểm dừng, điểm kết thúc. Mọi biểu hiện mất cảnh giác, lơ là, non kém về chính trị, buông lỏng trận địa đấu tranh tư tưởng đều có thể dẫn đến những kết cục khó lường, gây nguy hại cho chủ nghĩa xã hội và sự lãnh đạo của Đảng, làm xói mòn niềm tin, sức sống của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong nhân dân.

Do vậy, Đảng phải giữ vững và kiên trì chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong đó, làm cho chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển, tỏa sáng, phát huy sức sống là một nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư tưởng- lý luận, trước hết là nhiệm vụ của các cấp ủy đảng từ trung ương đến cơ sở.Phải làm cho mọi cán bộ, đảng viên và Nhân dân thấu hiểu bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác- Lênin; tính mở của học thuyết, tư duy biện chứng lý luận luôn gắn liền với thực tiễn, chứa đựng hơi thở của thời đại, của cuộc sống, như sinh thời Lênin đã từng căn dặn:“Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”[5]. Bản chất của tư duy biện chứng là không tách rời thực tiễn và luôn lấy thực tiễn để khẳng định chân lý. Cần kịch liệt phê phán những nhận thức, phương pháp tư duy và cách tiếp cận chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh theo lối cực đoan, một chiều, giáo điều, bảo thủ, nhất là thái độ phiến diện, hẹp hòi, máy móc trong ứng xử với các giá trị văn minh nhân loại, đem đối lập chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa xã hội một cách gượng ép theo ý muốn chủ quan, minh họa đơn giản. Điều này vô tình biến những nguyên lý cơ bản, hệ thống lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác- Lênin thành những quan điểm khô cứng, nguyên mẫu, không có mối liên hệ nào với thực tiễn và cuộc sống sinh động của thế giới đang vận động, phát triển; không đến xỉa gì đến tính đặc thù của các quốc gia, dân tộc... Phải tiến hành một cuộc đấu tranh toàn diện trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, lý luận, tuyên giáo nhằm bảo vệ tính cách mạng của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tập trung mũi nhọn đấu tranh bảo vệ vai trò và quyền lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, bảo vệ định hướng xã hội chủ nghĩa.

Cấp ủy đảng các cấp phải thống nhất nhận thức và hành động, quan tâm chỉ đạo thường xuyên, quyết liệt các lực lượng, các ngành, các cấp vào cuộc mà lực lượng xung kích, nòng cốt là cơ quan tuyên giáo, cơ quan truyền thông, thông tin tuyên truyền, cơ quan nghiên cứu khoa học, Hội đồng Lý luận Trung ương, các ban đảng các cấp; lực lượng Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, các nhà nghiên cứu lý luận, các học giả. Tập trung đấu tranh phản bác, vạch trần sự giả dối, xảo biện, phát hiện, ngăn chặn các luận điệu sai trái, độc hại của các thế lực thù địch tấn công phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng gắn với việc tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy lý luận, hoàn thiện hệ thống quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo thông qua các hình thức, phương thức, biện pháp phù hợp để huy động được sức mạnh tổng hợp mọi nguồn lực, trí tuệ, cơ chế chính sách phục vụ cuộc đấu tranh. Điều quan trọng là có đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn đưa đất nước phát triển liên tục, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân, tăng cường uy tín, vị thế, vai trò của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế.

Hai là, quan tâm xây dựng, củng cố và hoàn thiện cơ sở pháp lý làm chỗ dựa vững chắc cho cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng- lý luận.

Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, thành lập các ban chỉ đạo có chức năng, nhiệm vụ là đầu mối cung cấp thông tin, phối hợp chỉ đạo công tác đấu tranh của nhiều lực lượng, như: các cơ quan nghiên cứu, giáo dục lý luận, tuyên giáo, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, truyền thông, báo chí, xuất bản...Điều quan trọng là phải đề ra nội dung phù hợp, kế hoạch, chương trình hành động mang tính toàn diện, có tầm chiến lược trong từng thời kỳ, trên từng mặt, lĩnh vực hoạt động, trên từng địa bàn, cơ quan đơn vị, doanh nghiệp và ở khu dân cư....Đây là những căn cứ, cơ sở lý luận quan trọng để đẩy mạnh cuộc đấu tranh một cách thường xuyên, liên tục, không làm theo lối phong trào.

Thực tiễn, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng diễn ra rất quyết liệt, khó khăn, phức tạp, nhạy cảm, liên quan đến vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do, tôn giáo, dân tộc, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Việc nhanh chóng cụ thể hóa, thể chế hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng để tăng cường, hoàn thiện cơ sở pháp lý thông qua hệ thống luật pháp, các văn bản chỉ đạo của Nhà nước, của Chính phủ và các cơ quan chức năng quản lý nhà nước về an ninh, trật tự là yêu cầu tất yếu, phù hợp với xu thế của thời đại ngày nay. Do vậy, thời gian tới cần tiếp tục nghiên cứu cụ thể hóa, pháp luật hóa đầy đủ các quan điểm chỉ đạo của Đảng về đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ thể chế xã hội chủ nghĩa trong hệ thống pháp luật của Nhà nước một cách phù hợp, nhất là các bộ luật quan trọng liên quan đến nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ba là, coi trọng việc xây dựng bộ máy tổ chức, đội ngũ cán bộ chuyên trách; mô hình, phương thức, biện pháp và cơ chế đấu tranh phù hợp với từng loại đối tượng, trên từng vấn đề, ở từng thời điểm.

Về mặt tổ chức lực lượng, cơ chế, biện pháp đấu tranh đã bước đầu phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, tính thiết thực, tính chiến đấu, tính khoa học của các công trình phản bác, phê phán luận điểm sai trái, thù địch chưa thật thuyết phục. Mô hình tổ chức bộ máy các Ban Chỉ đạo 35 chưa phát huy hết hiệu lực, hiệu quả, thậm chí chồng chéo; việc trao đổi, chia sẻ thông tin, tài liệu còn nhiều bất cập. Vì vậy, cần tiếp tục rà soát, nghiên cứu, sắp xếp kiện toàn bộ máy chỉ đạo, mô hình và cơ chế phương thức lãnh đạo cuộc đấu tranh phù hợp, hiệu quả và thiết thực hơn. Đặc biệt, không nên coi nặng về số lượng công trình, bài viết, cá nhân, đơn vị tổ chức đấu tranh phản bác mà quan trọng hơn là tìm cơ chế, biện pháp, hình thức tổ chức đấu tranh, tuyên truyền phù hợp, tập trung lực lượng mũi nhọn đấu tranh trong từng thời điểm, với từng loại đối tượng, từng vấn đề cụ thể, không để dàn trải, chồng chéo, trùng dẫm, thậm chí trái chiều nhau. Nghiên cứu ban hành quy định phổ biến, tuyên truyền công khai, rộng rãi các công trình nghiên cứu, bài viết phản bác có chất lượng, hàm lượng khoa học cao, sắc sảo, thuyết phục về lý luận và thực tiễn; mang tính hệ thống, toàn diện về mặt học thuật...

Trong quá trình tổ chức cuộc đấu tranh phải hết sức quan tâm chăm lo lựa chọn, bồi dưỡng, đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ lý luận chuyên nghiệp hoặc kiêm nhiệm có đủ bản lĩnh chính trị, năng lực, trình độ, tâm huyết tham gia cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng- lý luận. Đây là nguồn lực quan trọng bảo đảm tính chiến đấu, tính Đảng, tính khoa học, tính thuyết phục của cuộc đấu tranh này trên cả bình diện vĩ mô và vi mô. Bên cạnh đó, phải chú trọng phát huy cao độ lợi thế, tính chiến đấu của các công cụ thông tin, truyền thông hiện đại của Đảng, Nhà nước và các cơ quan ban, ngành, địa phương, bảo đảm tính kịp thời, đồng bộ, thiết thực, hiệu quả và tính lan tỏa xã hội.

Bốn là, nêu cao ý thức cảnh giác cách mạng và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ đảng viên; kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với công tác bảo vệ chính trị nội bộ, phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa.

Thực tiễn cho thấy, cuộc đấu tranh chống lại kẻ thù giai cấp và dân tộc trên mặt trận tư tưởng- chính trị và cả ngay trong nội bộ Đảng diễn ra hết sức quyết liệt và phức tạp, nhạy cảm, nhất là trong bối cảnh hiện nay. Cuộc đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ hệ tư tưởng - lý luận, quan điểm, đường lối của Đảng luôn gắn liền với việc bảo vệ các giá trị lợi ích chân chính của quốc gia, dân tộc. Trong lịch sử cũng như hiện tại, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị không bao giờ từ bỏ cuộc đấu tranh tư tưởng chống lại cách mạng Việt Nam với những thủ đoạn, phương thức, hình thức rất tinh vi xảo quyệt, lúc công khai trắng trợn, lúc ngấm ngầm, âm thầm, thậm chí cũng được che đậy dưới nhiều hình thức, núp dưới những vỏ bọc, danh nghĩa, chiêu bài tinh vi. Vì vậy, phải luôn nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, ý thức trách nhiệm chính trị, bản lĩnh và lập trường giai cấp; kiên định cuộc đấu tranh, gắn việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. Kịp thời phát hiện và khắc phục những yếu kém, lạc hậu trong công tác tư tưởng- lý luận. Đây là đòi hỏi khách quan, là yêu cầu đặt ra đối với mọi tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng.

Trên mặt trận tư tưởng - chính trị, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên tổ chức những đợt tấn công với quy mô lớn, cường độ cao, có tổ chức chặt chẽ, câu kết trong ngoài nhằm chống phá công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước hòng thực ý đồ chuyển hóa chế độ chính trị, tác động thay đổi tư tưởng, tâm lý, làm biến chất đội ngũ cán bộ, đảng viên trở thành “lực lượng chính trị đối lập ở bên trong”, làm ngòi nổ lật đổ, xóa bỏ chế xã hội chủ nghĩa Việt Nam…Do đó, đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải gắn liền với việc không ngừng mở rộng dân chủ trong Đảng, trong xã hội, đề cao trách nhiệm và phát huy vai trò của các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân trong cuộc đấu tranh phê bình và tự phê bình, “tự soi, tự sửa” theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương 4 các khóa XI và khóa XII để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống trong nội bộ, hạn chế đến mức thấp những nhân tố bất ổn từ bên trong.

Tóm lại:

Cuộc đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đang đứng trước nhiều thuận lợi mới, nhưng cũng phải đối mặt với những thách thức to lớn. Thành tựu, kết quả của cuộc đấu tranh là to lớn, có ý nghĩa quan trọng trên cả phương diện chính trị, tư tưởng - lý luận và thực tiễn, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; hệ thống quan điểm, đường lối, chính sách, pháp luật đúng đắn được hình thành; đất nước tiếp tục phát triển vững vàng trên con đường đổi mới và hội nhập quốc tế.

Bài học lớn nhất của cuộc đấu tranh là phải luôn bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới; phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trên cơ sở thống nhất về mục tiêu, lý tưởng đề ra trong cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng, phát huy tốt dân chủ xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết chống các khuynh hướng tư tưởng giáo điều, cực đoan, chủ quan duy ý chí, xa rời thực tiễn. Chủ động phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện hữu khuynh, cơ hội chính trị, mơ hồ, mất cảnh giác, nhụt chí chiến đấu, thiếu kiên quyết, kiên định trong cuộc đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh./.

 


Các thế lực thù địch sử dụng công nghệ mới chống phá rất tinh vi

 Bên lề Đại hội XIII sáng nay 27/1, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,  trao đổi với báo chí xung quanh việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại các thế lực thù địch.

 

 

Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng nhấn mạnh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ quan trọng, đóng góp vào quá trình xây dựng, phát triển Đảng. Đặc biệt 5 năm qua, sau khi có Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái... công việc này được triển khai bài bản, hệ thống, nhất quán và quyết liệt từ Trung ương đến địa phương.

Đồng chí cho biết, lần đầu tiên có Ban chỉ đạo thống nhất cả bảo vệ nền tảng tư tưởng, về lý luận, về công tác tư tưởng, về văn học nghệ thuật. Từ Trung ương đến địa phương đều có các Ban chỉ đạo vào cuộc bài bản, xây dựng được kế hoạch, chương trình có trọng tâm, làm cơ sở cho việc bảo vệ nền tảng một cách thường xuyên, liên tục.

 

Về kết quả, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cho biết, thời gian qua, đã giải quyết mối quan hệ tốt giữa bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng gắn với thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 35 năm đổi mới, phát triển đất nước. Đồng chí cho rằng, đây là kết quả quan trọng, nhiều dấu ấn nổi bật của nhiệm kỳ qua.

Kết quả thứ hai, theo đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Việt Nam đã xây dựng được mạng lưới đấu tranh trên báo chí và trên mạng xã hội, đây là điểm mới. Việc xây dựng luận cứ thuyết phục và hiệu quả, nhất là trên mạng xã hội với những bài viết ngắn gọn, rõ ràng, thuyết phục để tất cả mọi người hiểu sâu được quan điểm, đường lối của Đảng.

"Chúng ta đấu tranh trực diện với những luận điểm sai trái, xuyên tạc đường lối, chủ trương; các thế lực thường lợi dụng những sự kiện lớn hoặc vấn đề nóng để xuyên tạc, gây ra tình trạng mơ hồ. Cuộc đấu tranh này phải thiết thực, đồng bộ trong việc xây dựng luận cứ cũng như các giải pháp về công nghệ, kỹ thuật để gỡ bỏ thông tin xấu độc trên mạng"- Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng nói.

 

Gần 85% thông tin xấu độc được gỡ bỏ trước Đại hội

Thực tế, trước khi vào Đại hội XIII của Đảng, 80-85% thông tin xấu độc, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước đã bị gỡ bỏ.
Trong bối cảnh nhiều thách thức như hiện nay, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng nhận định, đất nước càng thành công thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị càng điên cuồng chống phá.

Hiện, thế giới có nhiều biến động nhanh, phức tạp, khó dự đoán, chủ nghĩa cực đoan, chủ nghĩa nước lớn...đang chi phối rất mạnh. Nền tảng công nghệ phát triển cũng bao gồm hai mặt, mang đến cơ hội mới đồng thời chứa đựng nhiều thách thức mới.

Đồng chí lưu ý, các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ âm mưu, sử dụng công nghệ mới để chống phá đất nước một cách rất tinh vi. Vì vậy, đây là cuộc đấu tranh bền bỉ, thường xuyên, quyết liệt, đồng bộ, với sự tham gia của tất cả mọi người trong mặt trận tư tưởng, lý luận. 

Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương cho rằng, những người làm công tác lý luận, những cơ quan thông tin truyền thông cần xây dựng những giải pháp tích cực.

Đồng chí phân tích: "Chiêu trò của các thế lực thù địch đa dạng, với âm mưu ghê gớm, đặc biệt là sử dụng các trang mạng, có kịch bản, thậm chí xây dựng giao diện tương tự giống chúng ta tạo lẫn lộn, gây mơ hồ cho người dân, không biết được đâu đúng, đâu sai".

Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng cho hay, công tác then chốt là xây dựng Đảng cần phải được  thực hiện toàn diện về tư tưởng, chính trị, đạo đức, tổ chức và cán bộ nhưng phải bám rất sát các nguyên tắc của Đảng. Đó là nguyên tắc đoàn kết, tập trung dân chủ. 

"Chỉ có đoàn kết mới có được sức mạnh, đây là nguyên tắc rất quan trọng, thắt chặt mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân"- đồng chí Nguyễn Xuân Thắng nói.

Về cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng với những kết quả ban đầu rất tốt thời gian qua đã củng cố niềm tin của nhân dân nhưng đây mới là kết quả bước đầu. Theo Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,  điều quan trọng nhất phải xây dựng được một thể chế để cho cá nhân trong hệ thống chính trị không có cơ hội, không dám và không thể tham nhũng.

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là cội nguồn thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong thời đại hiện nay

 

 

       Trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay, vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội luôn là một trong những chủ đề nóng bỏng nhất mà các thế lực thù địch luôn công kích với những luận điệu ngang trái, giả dối và hằn học. Họ cho rằng, chủ nghĩa xã hội sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu, thế giới đương đại là thế giới toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, hầu hết các nước trên thế giới đi theo con đường tư bản chủ nghĩa nên Việt Nam không thể giữ mãi định hướng xã hội chủ nghĩa. Những luận điệu đó không phải không có những tác động nhất định đối với một số người nhẹ dạ, cả tin. Chính vì thế, rất cần phải lý giải một cách cặn kẽ hơn việc Việt Nam kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

        Trong nhiều văn kiện của Đảng ta, vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội luôn được khẳng định một cách mạnh mẽ và dứt khoát. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định một trong những bài học kinh nghiệm lớn của cách mạng nước ta là: “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội – ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau”(1). Văn kiện Đại hội XI của Đảng lại một lần nữa nhấn mạnh: “Trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”(2). Văn kiện Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới”(3). Nhất quán với các đại hội trước, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng trong các quan điểm chỉ đạo định hướng phát triển đất nước trong thời gian tới đã xác định: “Kiên định vận dụng phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. 

        Nhìn ra bên ngoài và nhìn lại lịch sử Việt Nam trong thế kỷ XX và hai thập niên đầu thế kỷ XXI, chúng ta càng thấy rằng sự lựa chọn của Đảng ta, của nhân dân ta là hoàn toàn chính xác. Chính vì thế, chúng ta có đầy đủ luận cứ để khẳng định độc lập gắn liền với chủ nghĩa xã hội là mục tiêu cao đẹp, bất di bất dịch của nước ta.

 

          1. Như chúng ta biết, dân tộc ta có truyền thống yêu nước, anh dũng bất khuất, đã từng chiến thắng nhiều đế quốc phong kiến hung hãn. Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, phong trào yêu nước đã dấy lên hết sức mạnh mẽ. Liên tiếp nổ ra các cuộc nổi dậy trên khắp mọi miền đất nước, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, các bậc sĩ phu, kể cả một bộ phận quan lại phong kiến. Các phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế; các phong trào Duy Tân, Đông Du, khởi nghĩa Yên Bái và hàng chục cuộc đấu tranh khác nữa đều bị thực dân Pháp thẳng tay đàn áp và thất bại. Điều đó chứng tỏ rằng, vẫn là nhân dân giàu lòng yêu nước, có truyền thống chống giặc ngoại xâm, sẵn sàng ủng hộ và tham gia các phong trào yêu nước; còn các bậc sĩ phu, các nhà lãnh đạo các phong trào chống thực dân Pháp đều có trí dũng, không thiếu quyết tâm, nhưng cả họ, cả giai cấp phong kiến và đại diện cho thế lực tư sản khi đó đều không giải quyết được vấn đề dân tộc ở nước ta.

          Trong bối cảnh đó, chưa bao giờ như lúc bấy giờ, độc lập dân tộc càng trở nên là yêu cầu cơ bản, khách quan của xã hội Việt Nam - xã hội thuộc địa, nửa phong kiến. Công cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam khi ấy ở trong "tình hình đen tối như không có đường ra". Bằng con đường nào và giai cấp nào có khả năng gánh vác sứ mệnh trọng đại đó?

          Nhưng rồi lịch sử có lời giải đáp. Chủ nghĩa Mác ra đời đã vạch ra cái tất yếu từng bị che lấp bởi màn sương mù trong lịch sử. Chủ nghĩa Mác khẳng định chủ nghĩa tư bản nhất định bị thay thế bằng một chế độ tốt đẹp hơn - chế độ cộng sản chủ nghĩa không có người bóc lột người và người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản chính là giai cấp công nhân - sản phẩm của nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa. Đó là một tiếng sét trong lòng chủ nghĩa tư bản ở vào thời thịnh trị, sau khi nó chiến thắng các chế độ chuyên chế phong kiến, và đã bành trướng ra khắp thế giới. Các nước tư bản phát triển khi ấy đang trở thành "trung tâm vũ trụ" chi phối và làm mưa làm gió mọi mặt đời sống xã hội loài người.

Nghiên cứu lịch sử xã hội loài người, Mác đã khái quát nó qua sự phát triển của các phương thức sản xuất kế tiếp nhau. Theo quan điểm của Mác, sự thay đổi hình thái kinh tế -xã hội này bằng hình thái kinh tế xã hội khác nhất định phải có điều kiện hình thái kinh tế xã hội cũ đã mất khả năng tự phát triển và trở thành lực cản xã hội. Chủ nghĩa tư bản tất yếu bị thay đổi bằng chủ nghĩa xã hội, và điều đó sẽ xảy ra ở những nước mà chủ nghĩa tư bản phát triển đến đỉnh cao. Chính Lê nin và Đảng bôn sê vích Nga đã vận dụng sáng tạo các luận điểm của Mác vào hoàn cảnh lịch sử của nước Nga bằng việc, trước tiên giai cấp công nhân giành lấy chính quyền, rồi sau đó dựa vào chính quyền của mình xây dựng chủ nghĩa xã hội.

          Vậy là, chính vào thời điểm chủ nghĩa tư bản tưởng như đang cực thịnh ấy, thì Cách mạng Tháng Mười Nga đã nổ ra. Sự đột phá Tháng Mười mở đầu cho một xu thế phát triển mới của lịch sử thế giới. Nếu trước Cách mạng Tháng Mười Nga, chế độ tư bản chủ nghĩa phát triển đến mức người ta rêu rao như một "định mệnh", như một "trật tự vĩnh hằng", thì sau Tháng Mười năm 1917, không ai không thấy cái "xiềng xích" giam hãm thế giới đã bị chặt đứt, điều định mệnh ấy thành ảo tưởng, các trật tự ấy bị lật nhào, tạo ra phản ứng dây chuyền của hàng loại cuộc đấu tranh giải phóng có quy mô to lớn và chiều sâu cách mạng chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại.

          Rõ ràng, Cách Mạng Tháng Mười Nga "rung chuyển thế giới" đã làm cho tính chất thời đại thay đổi, giai cấp trung tâm của thời đại thay đổi, vai trò lãnh đạo cách mạng cũng thay đổi; vì vậy con đường để giải quyết mâu thuẫn của xã hội, lực lượng cách mạng và phương pháp cách mạng cũng thay đổi. Lý tưởng Tháng Mười đã không chỉ là ngọn đèn pha dẫn đường tỏa sáng, mà còn có những đóng góp thực tế to lớn. Cách mạng Tháng Mười Nga là tiếng chuông đánh thức lịch sử, báo hiệu một trang sử mới của thế giới. Thế giới trước Cách mạng Tháng Mười Nga là một thời kỳ u mê, an phận, là thời đại của chủ nghĩa tư bản. Sự đột phá Tháng Mười làm cho chủ nghĩa tư bản bị đổ vỡ, mất mát lớn. Thế giới bừng tỉnh, bung ra với sức mạnh của sự hình thành và phát triển chủ nghĩa xã hội, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Thành quả của Cách mạng Tháng Mười Nga đã tạo cho loài người có khả năng kìm giữ sự lộng hành của chủ nghĩa tư bản, làm thay đổi cả những yếu tố bên trong của chủ nghĩa tư bản. Cách mạng Tháng Mười Nga là niềm vinh quang của những người vô sản cùng với hàng trăm triệu người lao động thành thị và nông thôn nước Nga. Họ đã lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản và phong kiến, giành quyền làm chủ cuộc sống của mình. Đó là thắng lợi của một xu thế mới: độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội và gắn kết với chủ nghĩa xã hội.

          Toàn bộ tình hình đó của thế giới, bằng nhiều con đường, dội vào và thấm sâu trong mảnh đất Việt Nam - nơi mà chính "sự tàn bạo của chủ nghĩa tử bản đã chuẩn bị đất rồi; chủ nghĩa cộng sản chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt của công cuộc giải phóng nữa thôi". Hơn ai hết, chính Nguyễn Ái Quốc là người gieo hạt, gây mầm cách mạng Việt Nam. Người đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa xã hội. Ở người, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, bản lĩnh và tố chất đặc biệt Việt Nam đã "bắt gặp" chủ nghĩa Mác - Lênin, nói như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng - một cuộc gặp gỡ đẹp như cùng hẹn trước - đã chung đúc nên tư tưởng Hồ Chí Minh. Với kỳ công của Nguyễn Ái Quốc, chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với phong trào yêu nước và phong trào công nhân Việt Nam chuyển hoá thành một tất yếu đưa đến một sự kiện trọng đại: năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Sự kiện này là mốc son đánh dấu sự kết hợp các nhân tố dân tộc và giai cấp, quốc gia và quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong bản chất của Đảng. Vừa ra đời, Đảng tuyên bố: "Chủ trương tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản". Lời tuyên bố ấy cũng đồng nghĩa với lời bác bỏ thẳng thừng chế độ phong kiến và chế độ tư bản chủ nghĩa; và nhìn rộng hơn, cũng bác bỏ bất cứ một con đường nào khác. Một cách tự nhiên là, ngay sau lời tuyên bố ấy của Đảng, chủ nghĩa xã hội không chỉ là mục tiêu lựa chọn mà đã thực sự thúc đẩy lịch sử dân tộc Việt Nam chuyển mình, là con đường dân tộc Việt Nam đã và đang đi dọc theo thế kỷ XX, sang thế kỷ XXI, và tiếp tục cho tới đích cuối cùng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ; chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người, không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc, có một xã hội tốt lành gắn liền với tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no; bảo đảm việc làm cho mọi người, tất cả vì niềm vui, hoà bình, hạnh phúc của con người.

          Rõ ràng, sự lựa chọn mục tiêu độc lập dân tộc gắn chặt với chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta, xét về lôgíc là một tất yêu khách quan; xét về lịch sử, là hoàn toàn phù hợp với sự vận động của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; xét về nhu cầu, là hoàn toàn xuất phát từ điều kiện cụ thể của một nước thuộc địa, nửa phong kiến và nguyện vọng cháy bỏng của nhân dân Việt Nam; và xét về mặt xã hội, đó là một hệ giá trị cơ bản nhất quyết định sự phát triển của đất nước Việt Nam hôm nay và mai sau.

          Có thể khẳng định như vậy bởi vì việc giải quyết vấn đề độc lập dân tộc theo ý thức hệ phong kiến và tư sản, trong khuôn khổ của chế độ phong kiến và chế độ tư bản chủ nghĩa không tránh khỏi những mâu thuẫn và những hạn chế bắt nguồn từ bản chất kinh tế và chính trị của các chế độ ấy - những hình thái kinh tế - xã hội dựa trên các quan hệ tư hữu về tư liệu sản xuất và các quan hệ đối kháng giai cấp.

 

          2. Vượt qua những mâu thuẫn và những hạn chế trong công việc giải quyết vấn đề độc lập theo lập trường phong kiến và tư sản chỉ có thể là con đường gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, tức là giải quyết độc lập dân tộc theo lập trường của giai cấp công nhân, của chủ nghĩa xã hội khoa học. Đó là: Độc lập dân tộc thực sự phải là độc lập về chính trị, kinh tế, văn hoá, đối ngoại. Độc lập dân tộc thực sự đòi hỏi phải xoá bỏ tình trạng áp bức bóc lột và nô dịch của dân tộc này đối với dân tộc khác về kinh tế, chính trị và tinh thần. Do đó, độc lập gắn liền với tự do và bình đẳng, công việc nội bộ quốc gia - dân tộc phải do quốc gia - dân tộc đó giải quyết, không có sự can thiệp từ bên ngoài.

          Bản chất của chủ nghĩa xã hội là thực hiện triệt để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Chủ nghĩa xã hội sẽ xoá bỏ căn nguyên kinh tế sâu xa của tình trạng người bóc lột người do chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất sinh ra. Nhờ đó, nó xoá bỏ cơ sở kinh tế sinh ra ách áp bức con người về chính trị và sự nô dịch con người về tinh thần, ý thức và tư tưởng.

          Chủ nghĩa xã hội thực hiện độc lập dân tộc để mở đường đưa dân tộc tới sự phát triển phồn vinh về kinh tế và sự phát triển phong phú, đa dạng về văn hoá, tinh thần, sự thực hiện đầy đủ nhất quyền lực của nhân dân. Chỉ với chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc mới đạt tới mục tiêu phục vụ lợi ích và quyền lực của mọi người lao động, làm cho mọi thành viên của cộng đồng dân tộc trở thành người chủ thực sự, có cuộc sống vật chất ngày càng đầy đủ và đời sống tinh thần ngày càng phong phú. Chính điều đó làm cho nền tảng của sự độc lập tự chủ càng thêm vững chắc, khả năng bảo vệ nền độc lập dân tộc càng đầy đủ mạnh mẽ.

          Sự phát triển thực chất và bền vững của độc lập dân tộc được đo bằng những khả năng và điều kiện bảo đảm cho dân tộc thoát khỏi tình cảnh nô lệ, phụ thuộc, bị áp bức bóc lột và nô dịch. Nó cũng bảo đảm cho dân tộc vượt qua tình trạng đói nghèo, lạc hậu và tụt hậu trong tương quan với các dân tộc khác trong thế giới và ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn để đạt tới sự bình đẳng trong các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cộng đồng dân tộc này với cộng đồng dân tộc khác. Toàn bộ khả năng và điều kiện bảo đảm đó chỉ có thể được tìm thấy và giải quyết bằng con đường phát triển chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trở thành hệ giá trị phát triển của Việt Nam, dưới ngọn cờ của Đảng, trong thời đại ngày nay. Đó cũng chính là cái lôgíc phát triển lịch sử của dân tộc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, làm nên cốt cách Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam và vị thế Việt Nam trước thế giới.

          Nhận thức và hành động theo sự lựa chọn và theo hệ giá trị đó, từ năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa nước ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, đại thắng Mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

 

          3. Qua hơn 75 năm giành và giữ độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt 35 năm đổi mới, với hệ giá trị đó, Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng tiêu biển cho bản lĩnh Việt Nam trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, đã tỏ rõ tính độc lập tự chủ trong mọi đường lối, chính sách đối nội và đối ngoại, đưa nước ta từ một xứ thuộc địa, nửa phong kiến trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta ra khỏi tình trạng đói nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế; có quan hệ quốc tế ngày càng rộng mở, có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế. Tất nhiên trong suốt hành trình cách mạng sáng tạo nhưng cũng gặp phải nhiều trở ngại, gian nan, chúng ta không phải không có những hạn chế yếu kém khi thực hiện những nhiệm vụ cụ thể của việc xây dựng nền độc lập dân tộc và hướng tới chủ nghĩa xã hội.

          Như vậy, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với Việt Nam không chỉ là mục tiêu, là nhu cầu, là cương lĩnh hành động, là ngọn cờ hiệu triệu, mà còn là động lực, là niềm tin sắt son của dân tộc Việt Nam ta. Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là sự gắn kết hai sức mạnh thành một sức bật mới; là cội nguồn thắng lợi của cách mạng Việt Nam hôm qua, hôm nay và mai sau.

 

          4. Đã qua hai thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, thiên niên kỷ thứ ba của một thế giới đầy biến động, cũng đồng thời mở ra một kỷ nguyên hội nhập, đua tranh gay gắt của cộng đồng quốc tế. Thế giới đã chứng kiến bao cảnh đau thương của nhiều dân tộc ở châu Phi, ở Trung Đông, dù đã giành được độc lập nhưng đất nước bị hoang tàn bởi các xung đột chia rẽ trong nội bộ và sự can thiệp từ bên ngoài. Ngay một số nước dù có độc lập dân tộc nhưng việc tranh giành giữa các lực lượng chính trị trong nước làm cho tình hình luôn nóng bỏng, cuộc sống của nhân dân không được bình yên. Vậy nên, dù thời cuộc biến đổi xoay vần ra sao, dù phải đối mặt với xu thế toàn cầu hoá, với tất cả mặt tích cực và tiêu cực, bất trắc; dù cho ai đó bị loá mắt bởi những bộ áo cánh sặc sỡ cả chủ nghĩa tư bản thì hệ giá trị độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trong ý thức và trong hành động vẫn là mục tiêu, lý tưởng, là quốc bảo phù hợp xu thế thời đại. Mãi mãi giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta tiếp tục giành thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, đưa đất nước ta sánh vai cùng các nước trong khu vực và trên thế giới

Bịa đặt, bôi nhọ đời tư của cán bộ lãnh đạo - một thủ đoạn thâm độc của các thế lực chống đối, thù địch

 1. Nhận diện thủ đoạn, mục đích và sự nguy hại của việc tung tin bịa đặt, bôi nhọ đời tư lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước

Để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, đất nước ta, các thế lực chống đối, thù địch không từ một thủ đoạn nào, một lĩnh vực nào, từ xuyên tạc, phê phán, bôi nhọ, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đánh thẳng vào nền tảng tư tưởng của Đảng, tới phê phán, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, kết quả, thành tựu phát triển của đất nước; thổi phồng, xuyên tạc những hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; bịa đặt, vu cáo những vấn đề về dân chủ, nhân quyền... để bôi nhọ, làm mất uy tín của Đảng, Nhà nước, chia rẽ nhân dân với Đảng, Nhà nước, kích động hoạt động chống đối Đảng, Nhà nước trong xã hội. Trong các hoạt động chống phá đó, có việc đưa ra những thông tin bịa đặt, xuyên tạc, vu cáo, bôi nhọ đời tư của lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước. Đây là một hoạt động, một thủ đoạn chống phá hết sức xấu xa, thâm độc và nguy hiểm.

Việc chống phá bằng thông tin bịa đặt, bôi nhọ đời tư lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước của các phần tử chống đối, thù địch được thực hiện hết sức đa dạng, từ những lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước ở các thời kỳ trước đây đến lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước hiện nay; từ bịa đặt, bôi nhọ về nguồn gốc xuất thân, gia đình, ông bà, bố mẹ tới bản thân người cán bộ; từ quá trình trưởng thành, học hành kém cỏi, thành tích bất hảo, tư cách đạo đức yếu kém trong những năm tuổi trẻ đến việc được nâng đỡ, ưu ái khuất tất của những người có chức, có quyền đối với cán bộ trong quá trình công tác; từ năng lực kém cỏi, dốt nát, không chịu học hỏi, không biết lắng nghe đến suy thoái đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, quan hệ nam nữ bất chính, quan hệ “thân hữu” với các doanh nghiệp “sân sau” để vợ, con, anh em trong gia đình, họ hàng lợi dụng, trục lợi đến việc có khối lượng tài sản lớn, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều cổ phần, cổ phiếu, nhiều tiền, vàng gửi ở ngân hàng trong nước và nước ngoài, mà nguồn gốc của những tài sản đó không thể giải thích được, chỉ có thể có được từ tham nhũng, chiếm đoạt tài sản của Nhà nước, của xã hội... tức là tất cả những gì xấu xa của con người, có trong xã hội, ở chỗ này, chỗ kia, ở người này, người kia, được góp lại, gán ghép cho một người để bôi nhọ, làm mất uy tín của họ.

Tung ra những thông tin bịa đặt, bôi nhọ đời tư của lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước là việc các thế lực chống đối, thù địch thực hiện thường xuyên, liên tục, gắn liền với việc phê phán, xuyên tạc nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, thành tựu phát triển của đất nước, xem những người lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước là nguyên nhân, là người phải chịu trách nhiệm về những yếu kém của đất nước, của những hiện tượng xấu diễn ra trong xã hội. Nhưng, đồng thời, những hoạt động chống phá này đặc biệt tăng lên vào những dịp có những ngày kỷ niệm lớn, sự kiện lớn của Đảng, của đất nước, như thời gian kỷ niệm ngày thành lập Đảng, thành lập Nước, khi tổ chức Đại hội Đảng toàn quốc bầu các chức danh lãnh đạo cấp cao của Đảng, khi bầu cử Quốc hội, Quốc hội bầu các chức danh lãnh đạo cấp cao của Nhà nước... để làm mất uy tín cán bộ, gây rối nội bộ, gây khó khăn cho công tác lựa chọn cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước, phá hoại thành công của Đại hội Đảng, của bầu cử và các kỳ họp của Quốc hội...

Mục đích trực tiếp của thông tin bịa đặt, xuyên tạc, vu cáo về đời tư của lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước là bôi nhọ, làm mất uy tín những cán bộ này, nhưng sâu xa hơn, nguy hiểm hơn là bôi nhọ, làm mất uy tín của Đảng, Nhà nước; gây rối, chia rẽ nội bộ, phá hoại công tác tổ chức, xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước; phá hoại, làm giảm lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chia rẽ nhân dân với Đảng, Nhà nước, nuôi dưỡng, kích động tâm lý chống đối Đảng, Nhà nước trong xã hội để cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước là những người đại diện cho Đảng, Nhà nước, những người đã qua rèn luyện, thử thách, tiêu biểu cho hàng triệu cán bộ, đảng viên cả về trí tuệ, năng lực, phẩm chất đạo đức, về uy tín trong Đảng, trong nhân dân, là nòng cốt, trụ cột trong tổ chức Đảng, Nhà nước. Bảo vệ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo cấp cao, cấp chiến lược là yếu tố sống còn, gắn liền với sự tồn vong của Đảng. Lòng tin của nhân dân, sự gắn bó, ủng hộ của nhân dân đối với Đảng là nền móng vững chắc của chế độ ta. Chính vì vậy, bịa đặt, vu cáo, xuyên tạc để bôi nhọ đời tư, phá hoại uy tín của những cán bộ lãnh đạo này, hạ bệ thần tượng, là một thủ đoạn thâm độc mà các thế lực chống đối, thù địch luôn đặc biệt chú ý, làm việc này là đánh thẳng vào một trong những “huyệt đạo” quan trọng, liên quan tới vận mệnh của Đảng, của đất nước, đánh thẳng vào yếu tố nền tảng của xã hội, của chế độ.

Mọi thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đều nguy hại đối với đất nước, đối với chế độ. Nhưng tùy theo nội dung, lĩnh vực chống phá, đối tượng, phạm vi và mức độ tác động mà mức độ nguy hại của các thủ đoạn chống phá có khác nhau. Trong đó, chống phá bằng thủ đoạn bịa đặt, vu cáo, bôi nhọ đời tư lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước là một trong những thủ đoạn chống phá có tác động nguy hại cao. Khi các thế lực thù địch, chống đối vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền thì tác động chính là bôi nhọ, làm giảm uy tín của đất nước ta trên thế giới, khả năng, phạm vi, mức độ tác động đến các tầng lớp nhân dân có mức độ, khó thuyết phục được tuyệt đại đa số nhân dân ta. Khi họ thổi phồng, khoét sâu vào những hạn chế, yếu kém, phủ nhận những thành tựu của đất nước, phê phán một chủ trương, đường lối, chính sách cụ thể nào đó của Đảng, Nhà nước thì họ cũng chỉ tác động được đến một số người, một bộ phận nào đó trong xã hội. Ngay cả khi họ tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, phê phán, đòi loại bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa, đòi thực hiện tam quyền phân lập, phát triển xã hội dân sự (những vấn đề hệ trọng của Đảng, của đất nước), thì cũng chỉ có thể tác động, thu hút được sự quan tâm của một số người, nhất là trong tầng lớp trí thức. Nhưng khi họ bịa đặt, bôi nhọ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước thì chắc chắn thu hút được sự quan tâm của toàn xã hội, của đông đảo các tầng lớp nhân dân, nhất là khi trong xã hội, trong các tầng lớp nhân dân đã vốn có sẵn những bức xúc, có tâm lý bất bình với tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, với tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, những người có chức có quyền. Truyền thống của dân tộc ta là đề cao, coi trọng phẩm chất đạo đức, nhân dân ta không thể chấp nhận những người lãnh đạo đất nước mà suy thoái đạo đức, quan liêu, tham nhũng, lãng phí... như những bịa đặt, vu cáo, bôi nhọ của các thế lực chống đối, thù địch. Mức độ nguy hại của thủ đoạn chống phá này của các thế lực thù địch, do đó, là rất lớn.

Thủ đoạn chống phá bằng cách tung tin bịa đặt, bôi nhọ lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước của các thế lực chống đối, thù địch không phải là mới, không phải bây giờ mới có. Tuy nhiên, từ khi có Internet, có các trang mạng xã hội, thì hoạt động chống phá này tăng lên nhiều, phạm vi tác động, mức độ nguy hại mà nó gây ra, do đó, cũng tăng lên. Internet, các mạng xã hội tạo điều kiện cho mọi người có thể tạo ra các sản phẩm thông tin, thể hiện quan điểm của mình để trao đổi với mọi người, cũng như thể hiện ý kiến của mình về những quan điểm của người khác, tạo nên những hiệu ứng tích cực. Tuy nhiên, Internet, các mạng xã hội cũng tạo cơ hội cho những người xấu, vì nhiều nguyên nhân, nhiều động cơ, mục đích khác nhau đưa ra, lan truyền những thông tin sai sự thật, bịa đặt, vu cáo, xuyên tạc, lừa đảo mà họ có thể ẩn danh, mạo danh để trốn tránh trách nhiệm, trốn tránh sự phê phán, lên án của cộng đồng, của dư luận xã hội, trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật. Trong khi đó, những thông tin bịa đặt, xuyên tạc của họ được phát tán, lan truyền rất nhanh, rất rộng, có thể tới từng người, từng nhà, tất cả các tầng lớp xã hội, ở tất cả các vùng, miền, từ thành phố tới nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo, kể cả ra nước ngoài, tới cộng đồng quốc tế, hết sức nguy hại.

 

2. Thông tin bịa đặt, bôi nhọ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước là thủ đoạn xấu xa, cần phải lên án mạnh mẽ về mặt đạo đức

Nhân vô thập toàn, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức của Đảng, Nhà nước nói chung, kể cả cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước nói riêng, không thể nào không có khuyết điểm, sai lầm. Vấn đề là phải hạn chế tối đa việc để xảy ra những sai lầm, khuyết điểm này, nếu xảy ra phải được phát hiện, sửa chữa, khắc phục kịp thời, hạn chế tối đa ảnh hưởng, tác động tiêu cực của nó. Đảng, Nhà nước có điều lệ, quy định của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước, có nhiều cơ chế, cách thức để làm việc này, để giám sát, thanh tra, kiểm tra hoạt động của cán bộ, đảng viên, nhắc nhở, cảnh cáo, ngăn ngừa sai phạm và xử lý sai phạm khi đã phát sinh. Đồng thời, Đảng, Nhà nước có cơ chế động viên, khuyến khích nhân dân, các tổ chức xã hội giám sát hoạt động của các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức để tham gia, đóng góp vào công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước. Trong khi đó, việc tung tin bịa đặt, vu cáo để bôi nhọ đời tư của lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước hoàn toàn khác về bản chất, về nội dung, động cơ, mục đích với việc nhân dân giám sát, phát hiện cho Đảng, Nhà nước về những hạn chế yếu kém, sai phạm, sự suy thoái tư tưởng đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức các cấp, kể cả cán bộ cấp cao, để góp phần xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh. Nội dung mà họ tung ra là do họ bịa đặt, hư cấu, tạo dựng chỉ để thực hiện mục đích là bôi nhọ, làm mất uy tín cán bộ, chống phá Đảng, Nhà nước.

Bịa đặt, hư cấu, tạo dựng những thông tin về đời tư của một người để xúc phạm, bôi nhọ danh dự của một người khác, dù người đó là ai, đều là việc làm xấu xa, trái với đạo đức truyền thống của dân tộc ta, nhân dân ta, phải bị lên án. Uy tín, danh dự là giá trị, tài sản mà mỗi người đều muốn tạo dựng, giữ gìn. Bịa đặt, vu cáo, đặt điều, gán cho một người lương thiện làm những việc xấu xa để bôi nhọ, hạ uy tín là xúc phạm nhân phẩm, làm nhục người khác. Việc này có thể dẫn đến hủy hoại sự nghiệp, giết chết một con người lương thiện, hủy hoại cuộc sống của một gia đình, thậm chí của cả một gia tộc, ảnh hưởng đến lòng tin, sự kính trọng của con cái đối với cha mẹ, tạo nên mặc cảm tội lỗi của những người thân của cán bộ bị bôi nhọ trước mọi người... Khi không thể thanh minh nổi, không thể tự bảo vệ được mình, không ít trường hợp, người bị bôi nhọ phải bỏ quê hương, nơi ở cũ để đến nơi ở mới, bắt đầu lại cuộc đời. Khi người bị vu cáo, bôi nhọ không chỉ là người tốt, người lương thiện mà còn là lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước thì hậu quả, nạn nhân của nó không chỉ là cá nhân, gia đình, mà cả xã hội, cả đất nước. Người lương thiện, có đức, có tài vì bị bôi nhọ, vu cáo, có thể bị loại ra khỏi vị trí lãnh đạo, mà thay vào đó có thể là người không xứng đáng bằng, nếu không bị loại khỏi vị trí lãnh đạo thì khi uy tín bị sứt mẻ, không thể không ảnh hưởng tới hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo. Một người, mới ngày hôm qua, còn là người được xã hội kính trọng, ngưỡng mộ, ngày hôm sau, trên hệ thống mạng lan truyền những thông tin về những việc làm xấu xa của người ấy, mà thực chất là bịa đặt, vu cáo nhưng được tính toán, dàn dựng tinh vi, tỉ mỉ, nhất định sẽ làm nhiều người hoang mang, lo lắng, mất lòng tin vào con người, vào xã hội, vào Đảng, Nhà nước. Hình ảnh của đất nước trong mắt bạn bè quốc tế cũng bị tổn thương. Đây là những mất mát vô hình nhưng rất lớn, nghiêm trọng.

Tôn trọng, đề cao đạo đức cũng là phẩm chất, truyền thống của hầu hết các dân tộc trên thế giới, từ cổ đại cho đến hiện đại. Ngày nay, ở các nước kinh tế phát triển trên thế giới, những nước là khởi nguồn của Internet, các mạng xã hội, có hệ thống pháp luật lâu đời, mặc dù đề cao tự do cá nhân, đề cao tự do ngôn luận, nhưng ở những nước này, quyền riêng tư, những bí mật cá nhân vẫn được tôn trọng, bảo vệ. Những cá nhân đưa tin sai sự thật, bịa đặt, xuyên tạc, vu cáo để bôi nhọ người khác, xâm phạm quyền riêng tư của người khác tùy theo mức độ có thể bị xử lý bằng pháp luật; nếu không bị xử lý bằng pháp luật thì cũng bị xã hội lên án về đạo đức; còn những trang mạng không thể kiểm soát, ngăn chặn những hành vi như vậy cũng bị Nhà nước nhắc nhở, bị xã hội phản đối, tẩy chay. Như vậy, dù đánh giá dưới góc độ nào thì việc bịa đặt, bôi nhọ đời tư của lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước cũng đều phải khẳng định là việc làm xấu xa, cần phải lên án về mặt đạo đức. Do đó, rất cần tạo ra dự luận xã hội phê phán, lên án mạnh mẽ việc làm này của các thế lực chống đối, thù địch để cảnh báo, ngăn chặn, để nâng cao ý thức cảnh giác, nâng cao sức đề kháng của mỗi người dân trước những thủ đoạn chống phá này.

 

3. Tung tin bịa đặt, bôi nhọ đời tư lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước là hành vi vi phạm pháp luật, cần phải xử lý nghiêm minh theo pháp luật

Ngày nay, việc tung tin bịa đặt để bôi nhọ một người khác, ở nhiều nước trên thế giới, không chỉ bị phê phán, lên án về mặt đạo đức, mà còn được xác định là hành vi vi phạm pháp luật, tùy theo mức độ nghiêm trọng, nhất là hậu quả do nó gây ra, mà còn bị xét xử theo pháp luật. Ở nhiều nước, những bí mật cá nhân, đời tư, danh dự, uy tín của một con người, một công dân được pháp luật bảo vệ. Công bố, tiết lộ những bí mật đời tư của một người, ngay cả khi điều đó là có thật, nhưng chưa được phép của người đó đã là hành vi vi phạm pháp luật. Bịa đặt, xuyên tạc, vu cáo để bôi nhọ đời tư của  người khác thì mức độ vi phạm pháp luật còn cao hơn, nặng hơn. Đã có rất nhiều phiên tòa xét xử những vụ việc như vậy, rất nhiều người cố ý bịa đặt để bôi nhọ đời tư, bôi nhọ danh dự, uy tín người khác đã bị kết án từ phạt tiền để đền bù danh dự đến phạt tù để răn đe người khác, để người vi phạm pháp luật phải trả giá cho hành vi của mình. Đây là những quy định, là cơ chế cần thiết trong quản lý xã hội để bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền con người, bảo vệ danh dự, phẩm giá của họ.

Để ngăn chặn, chống lại việc bịa đặt, xuyên tạc, vu cáo, bôi nhọ đời tư những người đứng đầu, lãnh đạo đất nước, luật pháp của nhiều nước trên thế giới còn có những quy định chặt chẽ hơn, có những hình phạt nghiêm khắc hơn. Những quốc gia theo thể chế quân chủ lập hiến, như Nhật Bản, Anh, Thái Lan, Campuchia,... Nhật hoàng, Nữ hoàng Anh, nhà vua Thái Lan, Quốc vương Campuchia là người đứng đầu Nhà nước, dù chỉ có tính chất biểu tượng, đều có những quy định của pháp luật nghiêm cấm, trừng phạt nghiêm khắc những người có lời nói, hành động xúc phạm đến những nhân vật tôn quý này. Đối với những người lãnh đạo, đứng đầu Nhà nước khác, như Tổng thống, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội..., các nước đều có những quy định của luật pháp bảo vệ, không chỉ bảo vệ an ninh, an toàn thân thể con người, mà bảo vệ cả uy tín, danh dự, đặc biệt trước những điều bịa đặt, vu cáo để bôi nhọ nhân phẩm, để bảo vệ uy tín, bảo vệ tôn nghiêm, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan lãnh đạo đất nước, bảo vệ hình ảnh của đất nước trong cộng đồng quốc tế.

Ở nước ta, Hiến pháp và pháp luật có nhiều điều khoản bảo vệ quyền con người, bảo vệ danh dự, uy tín, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, nghiêm cấm các hành vi bịa đặt, xuyên tạc, vu cáo, bôi nhọ, xâm phạm các quyền này của con người. Hiến pháp (năm 2013) quy định “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn” (Điều 21). Luật dân sự (2015) quy định “Danh dự, nhân phẩm, uy tín cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ” (Điều 34), “Người nào có hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác thì phải bồi thường” (Điều 584) với mức bồi thường và phương thức bồi thường do Luật định. Luật hình sự (2015) quy định người nào thực hiện các hành vi “Bịa đặt hoặc loan tin những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác” là phạm tội vu khống, sẽ bị phạt tiền từ 10 đến 50 triệu, phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm (Điều 156); nếu mức độ bịa đặt, vu cáo, bôi nhọ là nghiêm trọng thì người bịa đặt, vu cáo, bôi nhọ phạm tội làm nhục người khác, có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm (Điều 155). Khi người bị vu khống, bôi nhọ là lãnh đạo Đảng, Nhà nước, hành vi tung tin bịa đặt, xuyên tạc, vu khống, bôi nhọ được thực hiện với mục đích là chống lại Đảng, chống lại Nhà nước, thì người thực hiện hành vi này phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia theo quy định của Luật hình sự (2015). Điều 117 Luật hình sự quy định “Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ 5 năm đến 12 năm: Làm, tàng trữ, phát tán, hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền; làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu vật phẩm có nội dung bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng có thể bị phạt tù từ 10 đến 20 năm”...

Những quy định của Hiến pháp, pháp luật như vậy là đúng đắn, phù hợp với văn hóa, đạo đức truyền thống của dân tộc ta, cũng như các dân tộc khác, phù hợp với thông lệ quốc tế, tương đồng với luật pháp của các nước trên thế giới ngày nay. Cùng với công tác tuyên truyền, giáo dục, việc thực hiện nghiêm minh các quy định của Hiến pháp và pháp luật, xử lý nghiêm các hành vi bịa đặt, bôi nhọ đời tư, xúc phạm nhân phẩm, uy tín, danh dự người khác, nhất là lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước đã góp phần bảo vệ, phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, giữ vững sự ổn định chính trị, xã hội để phát triển, nâng cao uy tín quốc tế của đất nước.