Thứ Năm, 25 tháng 3, 2021

CẢNH GIÁC TRƯỚC MƯU ĐỒ CHỐNG PHÁ BẦU CỬ

            Không ngoài quy luật, mỗi khi đất nước ta có những sự kiện chính trị quan trọng, các thế lực lại tăng cường chống phá quyết liệt. Thời gian gần đây khi chúng ta đang tích cực làm công tác chuẩn bị cho bầu cử Hội đồng Nhân dân các cấp và bầu cử Quốc hội khóa XV, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị sử dụng chiêu bài “tự ứng cử”, khi không đạt được mục đích họ lại rêu rao, xuyên tạc nhằm “tẩy chay” cuộc bầu cử của chúng ta bằng hoạt động thông qua các trang mạng xã hội để đăng tải các thông tin cố biến tướng, đánh lạc hướng dư luận, hình thành một sự lầm tưởng rằng Đảng, Nhà nước “gây khó dễ” cho những người tham gia ứng cử; tạo cớ cho các “mõ làng” núp bóng báo chí như BBC, VOA, RFA, RFI, Thoibao.de… lên bài vu khống cuộc bầu cử tại Việt Nam là “thiếu tự do, dân chủ”, kích động…

Bầu cử Quốc hội là một sự kiện chính trị rất quan trọng của đất nước, nhằm lựa chọn những đại biểu xứng đáng để bầu vào cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước ta; do đó những kẻ cơ hội chính trị luôn tìm mọi cách để lẻn vào Quốc hội, nhằm biến nghị trường trở thành diễn đàn rêu rao các thông tin, luận điệu sai trái. Thậm chí, nếu có được quyền lực được Nhân dân giao phó, các đối tượng này sẽ tiến hành hướng lái công tác lập pháp, từ đó tiến đến thay đổi thể chế chính trị của đất nước. Đồng thời, chúng ta cũng không thể chủ quan trước nguy cơ đến từ thủ đoạn cài cắm, móc nối, thu thập tình báo, phá hoại nội bộ của các thế lực thù địch.

Thực tế, công tác chuẩn bị bầu cử đã được chuẩn bị rất chu đáo, từ việc đưa ra những tiêu chuẩn đại biểu, giới thiệu đại biểu, tổ chức các hội nghị hiệp thương đã được các cấp tiến hành bài bản, đúng nguyên tắc quy định và công khai, dân chủ, được mọi tầng lớp Nhân dân tích cực ủng hộ.

Từ nay đến ngày bầu cử, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị sẽ tập trung chống phá quyết liệt hơn, với những thủ đoạn tinh vi hơn; mỗi người chúng ta cần nâng cao tinh thần cảnh giác, không mơ hồ trước những thông tin xuyên tạc, cần nhanh chóng, kiên quyết vạch trần các âm mưu, hoạt động chống phá bầu cử mà các đối tượng xấu đang tiến hành để kịp thời đấu tranh, phản bác, ngăn chặn một cách hiệu quả./.

KẾ THỪA, PHÁT TRIỂN NHỮNG GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG VẺ VANG CỦA ĐOÀN

      Với niềm tin sắt son với Đảng, Đoàn trở thành đội dự bị tin cậy của Đảng, lực lượng đông đảo, đội quân xung kích cách mạng, trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên Việt Nam.

     Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức của những người cộng sản trẻ tuổi Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo, rèn luyện thường xuyên, trực tiếp, toàn diện về mọi mặt của Đảng. Với niềm tin sắt son với Đảng, trở thành đội dự bị tin cậy của Đảng, lực lượng đông đảo, đội quân xung kích cách mạng, trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên Việt Nam. Mỗi cán bộ, đoàn viên thanh niên Cộng sản luôn phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng ta là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trong giai đoạn tình hình trong và ngoài nước có rất nhiều biến động khó lường thì việc tiếp tục kế thừa, phát triển những giá trị truyền thống vẻ vang của đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh nhằm góp phần tạo nên động lực to lớn để thực hiện tốt vai trò của tổ chức.

     Những giá trị truyền thống xuyên suốt của Đoàn được hun đúc suốt từ quá trình thành lập đến nay đó là truyền thống yêu nước nồng nàn, gắn bó thiết tha, trung thành tuyệt đối với Đảng, với Nhân dân, với chế độ xã hội chủ nghĩa; truyền thống của đội quân xung kích cách mạng, dám đón lấy những nhiệm vụ nặng nề, dám đi đến những nơi khó khăn, gian khổ, dám suy nghĩ sáng tạo...để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao; truyền thống gắn bó đoàn kết trong lớp người cùng lứa tuổi, trong các tổ chức Đoàn, Hội; đoàn kết gắn bó với Nhân dân; thương yêu giúp đỡ lẫn nhau trong hoạn nạn, sự hòa quyện đoàn kết dân tộc với đoàn kết quốc tế và truyền thống hiếu học, ham hiểu biết để tự mình nâng cao trình độ, chính trị văn hóa, khoa học, kỹ thuật, quản lý và quân sự... say mê sáng tạo trong hoạt động thực tiễn, để cống hiến cho sự nghiệp của dân tộc và của Đảng.

     Những truyền thống quý báu này của Đoàn đã tạo nên động lực tinh thần vô giá xuyên suốt các thời kỳ lịch sử được thể hiện trong hành động cách mạng, nhất là ở những bước ngoặt của lịch sử gần 90 năm qua. Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đã biết lồng ghép, vận dụng linh hoạt những truyền thống đó vào các nội dung hoạt động cụ thể từ công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; chương trình đồng hành cùng với thanh niên; công tác Đoàn tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng và hệ thống chính trị,… Với tinh thần như vậy, đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đã thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW gắn với việc thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng được tăng cường. Công tác giáo dục truyền thống cách mạng, lòng yêu nước, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc cho thanh thiếu nhi được tổ chức thường xuyên, bám sát các sự kiện lịch sử, chính trị, văn hóa của đất nước. Các kênh thông tin truyền thống, phát huy vai trò mạng xã hội để kịp thời cung cấp thông tin, định hướng dư luận xã hội trong đoàn viên, thanh niên. Việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng qua thành lập và duy trì mô hình “Câu lạc bộ lý luận trẻ” và Cuộc vận động “Mỗi ngày một tin tốt - Mỗi tuần một câu chuyện đẹp”. Các sản phẩm tuyên truyền trên Internet và mạng xã hội như infographic, video clip, bộ ảnh, video ca nhạc, poster cổ động, phóng sự, phim ngắn... do các cấp bộ Đoàn xây dựng nhân các ngày lễ lớn… Để phát huy vai trò xung kích, tinh thần tình nguyện, sáng tạo, khơi dậy tiềm năng to lớn của thanh niên các cấp bộ đoàn đã chủ động đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức triển khai phong trào, kịp thời cập nhật các nội dung mới theo tình hình thực tế và theo chỉ đạo của Đảng, Chính phủ đã mang lại hiệu quả tích cực. Đó là phong trào “Thanh niên tình nguyện”, phong trào “Tuổi trẻ sáng tạo”, phong trào “Tuổi trẻ xung kích bảo vệ Tổ quốc” tiếp tục được triển khai hiệu quả, thể hiện vai trò xung kích của tuổi trẻ.

     Trong học tập, tư vấn, hướng nghiệp, khởi nghiệp, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần và các kỹ năng trong cuộc sống cần thiết đối với thanh niên đã được quan tâm, đáp ứng được nhu cầu, lợi ích của đông đảo đoàn viên. Đối với hoạt động phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, các tổ chức Đoàn triển khai nhiều điểm đổi mới, phù hợp hơn ở Chương trình “Rèn luyện đội viên” giai đoạn 2018 - 2022. Trọng tâm chính vẫn là phong trào “Thiếu nhi Việt Nam thi đua làm theo 5 điều Bác Hồ dạy”. Bên cạnh đó việc nâng cao năng lực ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh cho thanh thiếu niên Việt Nam được quan tâm triển khai hiệu quả hướng đến công tác quốc tế thanh niên tiếp tục có đi vào chiều sâu, đóng góp tích cực vào công tác đối ngoại nhân dân. Đối với công tác tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng và hệ thống chính trị thì cuộc vận động “Đoàn viên phấn đấu trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam” đã giới thiệu đoàn viên ưu tú cho Đảng xem xét, kết nạp ngày càng được nâng cao. Các hoạt động phản biện xã hội được tham mưu, triển khai dưới nhiều hình thức, tạo môi trường để cán bộ, đoàn viên, thanh niên tham gia đóng góp ý kiến xây dựng các chủ trương, chính sách, pháp luật liên quan đến thanh niên và công tác thanh niên, đặc biệt tập trung vào góp ý dự thảo Luật Thanh niên (sửa đổi)…Tổ chức đoàn đã mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên tiếp tục được coi trọng và triển khai quyết liệt để thực hiện các chủ trương mới, tiêu biểu: chủ trương 1+2; chủ trương 1+1; xây dựng cơ sở Đoàn 3 chủ động; thực hiện sắp xếp lại bộ máy Đoàn cấp tỉnh được thực hiện quyết liệt, có nhiều cách làm sáng tạo, hiệu quả từng bước nâng cao chất lượng cán bộ đoàn, đoàn viên, tổ chức cơ sở Đoàn. Công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn có chuyển biến tích cực. Nội dung và phương thức đoàn kết tập hợp thanh niên được đổi mới theo hướng đáp ứng với nhu cầu, sở thích của thanh niên, tỷ lệ đoàn kết tập hợp thanh niên tăng so với đầu nhiệm kỳ.

     Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là lực lượng xã hội hùng hậu, có sức khoẻ, có trình độ học vấn, có tiềm năng sáng tạo, có khả năng tiếp cận và làm chủ khoa học hiện đại. Vì thế, đối với giai đoạn cách mạng mới, với bối cảnh thế giới biến động phức tạp, trước những thách thức to lớn của xu thế toàn cầu hoá về kinh tế, sự phát triển của kinh tế tri thức việc phát huy tốt những giá trị truyền thống của Đoàn nhằm thực hiện nhiệm vụ ở giai đoạn mới là điều tất yếu khách quan. Tổ chức Đoàn với phương châm chủ động tìm tòi những hướng đi mới, phù hợp với tiến trình cách mạng của dân tộc, đáp ứng sự kỳ vọng của Đảng, Bác Hồ và Nhân dân dành cho thế hệ trẻ; phù hợp với quy luật phát triển của thời đại và nhu cầu, nguyện vọng của thanh thiếu nhi. Từ đó luôn đổi mới, sáng tạo, kiên trì, quyết liệt, trong đó luôn ưu tiên tập trung hướng về cơ sở, chăm lo giải quyết những vấn đề bức thiết của thanh thiếu niên, góp phần quan trọng của toàn Đảng, hệ thống chính trị, cộng đồng và toàn xã hội chăm lo, bồi dưỡng, giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng./.

Thứ Tư, 24 tháng 3, 2021

Cán bộ, đảng viên ứng xử lành mạnh, chuẩn mực trên môi trường mạng

 Cán bộ, đảng viên là “Hình ảnh thể chế, hình ảnh quốc gia, hình ảnh chính quyền” thu nhỏ trong con mắt người dân, do đó họ phải có trách nhiệm chung tay góp sức tạo dựng, lan tỏa “hình ảnh thể chế, hình ảnh quốc gia, hình ảnh chính quyền” ngày càng tốt đẹp trong xã hội. Ngoài đời thực đã vậy thì trên mạng xã hội cũng phải vậy.

Cảnh giác với âm mưu phá hoại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026

 Chủ động nhận diện và đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn thâm độc, nguy hiểm của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị là việc làm hết sức quan trọng góp phần tổ chức thành công cuộc bầu cử.

Hồ Chí Minh “Nhà yêu nước vĩ đại”

Hồ Chí Minh là Nhà yêu nước Việt nam đầu tiên đến với chủ nghĩa Mác-Lênin và Cách mạng Tháng mười Nga để tìm ra con đường đúng đắn đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi của ngày hôm nay. Người nhận rõ chân lý thời đại: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”; bởi vì “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên trái đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc”. Trong đấu tranh cách mạng việc xác định hình thức, phương pháp đấu tranh không thể chủ quan, tùy tiện, mà phải căn cứ vào bản chất, phương thức hoạt động của kẻ thù. Trong Bài giảng vê “Đường cách mệnh” (năm 1925), Người đã chỉ rõ rằng, tự bản thân chủ nghĩa thực dân đã là một hành động bạo lực, vì vậy cách mạng Việt Nam chỉ có thể giành thắng lợi bằng con đường cách mạng bạo lực để chống lại bạo lực phản cách mạng của thực dân xâm lược Pháp.

Có đường lối đúng, tổ chức chặt chẽ, phát huy được sức mạnh của toàn dân tộc, cách mạng Việt Nam đã trải qua những chặng đường oanh liệt và thắng lợi vẻ vang: 15 năm sau khi Đảng ra đời, Cách mạng Tháng tám (năm 1945) đã nổ ra và giành thắng lợi, lật đổ ách đô hộ của thực dân Pháp gần một trăm năm, ách thống trị của chế độ phong kiến gần một nghìn năm, lập nên Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; 30 năm chiến tranh cách mạng (1945-1975), nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ đã đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, giành thắng lợi trọn vẹn giành lại độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Gần 35 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước do Đảng ta khởi xướng, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam trong hành động cách mạng, trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp đất nước chồng chất khó khăn, những thành tựu đạt được của sự nghiệp đổi mới là rất to lớn và có ý nghĩa lịch sử, khẳng định lý tưởng cộng sản cao đẹp, sức sống bền vững của chủ nghĩa xã hội hiện thực.

Tên tuổi và sự nghiệp cách mạng của Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh gắn liền với sự nghiệp cách mạng vĩ đại của dân tộc Việt Nam suốt thế kỷ XX cho đến ngày nay và cả mai sau. Người đã hiến dâng cả cuộc đời cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người, nêu tấm gương sáng ngời về đức hy sinh, tinh thần tận tụy, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị ... Người là hiện thân của những phẩm chất cao quý nhất của con người Việt Nam: Yêu nước, thương dân, thông minh, cần cù, sáng tạo, anh hùng, vì nghĩa lớn ... Người đã hiến dâng cho tất cả chỉ quên mình. Khẳng định công lao, đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với dân tộc và nhân loại, UNESCO đã tôn vinh Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới”.

TRƯỜNG TỒN

 

Cảnh giác các thế lực lợi dụng “dân chủ”, “tôn giáo” vu cáo Việt Nam

 

Các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, phủ nhận những thành tựu cách mạng, lợi dụng các vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ tự do báo chí”, những tiêu cực trong xã hội để chống phá vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ trong thời gian qua.

Chúng xuyên tạc, phủ nhận Chủ nghĩa Mác - Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, ngợi ca, kích thích chủ nghĩa tự do, thực dụng. Những quan điểm “đa nguyên chính trị”, đa đảng đối lập cùng với những luận điệu bóp méo sự thật “Việt Nam vi phạm dân chủ, mất dân chủ”, vu khống Đảng Cộng sản Việt Nam là “trở lực” cho việc thực hiện dân chủ do các thế lực thù địch bên trong và bên ngoài kết hợp chặt chẽ với nhau liên tiếp tung ra trong suốt hơn ba mươi năm đổi mới, lại rộ lên hiện nay với sắc thái biểu hiện mới.

Mở rộng dân chủ trong Đảng và trong toàn xã hội là vấn đề lâu dài, trọng yếu mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã, đang và tiếp tục nỗ lực phấn đấu đề từng bước đạt tới. Điều đó cũng dễ hiểu, vì dân chủ là bản chất của xã hội phát triển, là ước mơ của loài người, là thước đo trình độ phát triển của một xã hội. Nghĩa là, nó được thiết lập đồng thời với sự phát triển của đất nước. Đất nước Việt Nam bước ra khỏi chiến tranh với cơ sở hạ tầng, nền tảng khoa học kĩ thuật thấp kém đến mức độ nào, nên hiện nay mặc dù là nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, khá bền vững, nhưng Việt Nam vẫn là nước nghèo thu nhập bình quân vẫn còn thấp. Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam còn đang khắc phục hậu quả do thiên tai và chiến tranh để lại; nỗ lực xóa đói, giảm nghèo, lo đủ ăn, đủ mặc, lo học hành cho người dân, khắc phục tình trạng phân hóa giàu nghèo trong quá trình phát triển, phấn đấu xây dựng một xã hội ngày càng dân chủ và công bằng . . .

Dù còn nhiều khiếm khuyết trong tiến trình dân chủ hóa xã hội, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, không thể phủ nhận, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân chủ đã là một thực tiễn sống động và đang trên đà phát triển được thể hiện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và là một trong những thành tựu nổi bật của công cuộc đổi mới hơn 30 năm qua. Nếu so sánh với chính mình thì chưa bao giờ Việt Nam mạnh như hôm nay, chưa có chế độ nào, đảng nào mang lại độc lập tự do, cơm ăn, áo mặc ai cũng được cắp sách tới trường...

CÔNG NHÂN

 

NGĂN NGỪA SỰ LỆCH CHUẨN ĐỂ THANH NIÊN XỨNG ĐÁNG LÀ "RƯỜNG CỘT NƯỚC NHÀ"

Với đặc thù tâm lý lứa tuổi, các thế lực thù địch luôn xác định giới trẻ là đối tượng đặc biệt để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam. Trong đó, chúng sử dụng các thủ đoạn tinh vi, thâm độc hòng thúc đẩy quá trình “tự diễn biến” “tự chuyển hóa”, gây mục ruỗng từ bên trong; kích hoạt các biểu hiện mơ hồ chính trị, bào mòn lý tưởng và gây xuống cấp đạo đức, lối sống trong thanh niên.


Chính vì vậy, trong khi chúng ta đẩy mạnh cuộc đấu tranh tư tưởng với các thế lực chống phá cách mạng, phải đồng thời triển khai quyết liệt nhiệm vụ ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận giới trẻ hiện nay.

1. Khi tháng ba - Tháng Thanh niên sục sôi với nhiều hoạt động chính trị xã hội (CTXH) giàu ý nghĩa của tuổi trẻ cả nước, thì trên các diễn đàn mạng xã hội (MXH), nhiều tài khoản ở nước ngoài và bloger trong nước đã “trải lòng” bằng những bài viết có nội dung bịa đặt, ngụy tạo ra bức tranh viễn tưởng, rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam và hệ thống chính trị Việt Nam hiện chưa coi trọng vai trò của tuổi trẻ; cho rằng tiếng nói của tuổi trẻ chỉ là những âm thanh “thấp cổ, bé họng” trong xã hội, dù đã được “gắn” cái mác là “lực lượng tiên phong” hay “cánh tay phải đắc lực của Đảng”.

Thế nhưng, điều đáng bàn và đáng buồn ở đây chính là sự cổ xúy, a dua... một cách mù quáng của không ít bạn trẻ trên không gian MXH. Dù chưa biết rõ trắng - đen, đúng - sai về thông tin bài viết, một số bạn trẻ vẫn tích cực ủng hộ, comment, chia sẻ. Một số bạn đã “bày tỏ tâm huyết” trước quan điểm, nội dung các bài viết, cho rằng: Tuổi trẻ ở Việt Nam hiện không được cơ cấu vào bất kỳ vị trí công tác quan trọng nào trong hệ thống chính trị. Do đó, các bạn ủng hộ việc phát đi thông điệp, kêu gọi giới trẻ không nên để tâm, quan tâm đến chính trị, mà chỉ nên hướng vào một việc duy nhất là tự chăm lo, vun vén cho lợi ích bản thân. Các bạn hồn nhiên và mặc nhiên bày tỏ quan điểm cá nhân, hùa theo tư tưởng phản động, nói xấu chế độ... mà không hề biết đã mắc bẫy các thế lực thù địch. Hậu quả là, vì phút nông nổi, kém hiểu biết lại bỗng trở thành những kẻ tội đồ - “nối giáo cho giặc”.

     Thực tế trên cho thấy, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã hình thành khá rõ nét trong một bộ phận giới trẻ. Đây là dấu hiệu và mầm mống của nhiều căn bệnh tư tưởng, tâm lý đặc biệt nguy hiểm. Nó như những luồng khí độc lan tỏa; từng bước nhồi nhét vào đầu không ít bạn trẻ những nghĩ suy lệch chuẩn về vai trò, vị trí của bản thân và thế hệ trẻ đối với công việc chung của Đảng, Nhà nước, dân tộc. Đó cũng chính là nguyên nhân lý giải vì sao, nhiều bạn trẻ dù được học tập, trở thành sinh viên các trường đại học, cao đẳng, có học vị và trình độ cao... nhưng không nhận thức đúng, đủ về các vấn đề chính trị của đất nước. Cá biệt, nhiều bạn trẻ không tích cực tham gia công tác Đoàn và các hoạt động cộng đồng giàu ý nghĩa nhân văn; một số thanh niên không muốn vào Đảng hoặc động cơ vào Đảng thiếu lành mạnh, đúng đắn; một số thanh niên còn chối bỏ trách nhiệm công dân với Tổ quốc, dân tộc, bằng mọi giá trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự. Lại có một số thanh niên chưa thực sự vững tin vào tương lai phát triển của đất nước, giảm sút ý chí phấn đấu vươn lên, ngại khó khăn, gian khổ, lệch lạc trong suy nghĩ và hành động.

     Rất đáng lo ngại khi một số bạn trẻ bị ảnh hưởng lối sống thực dụng, khơi dậy ham muốn bản năng, không chịu học tập, làm việc, cống hiến. Căn bệnh “nhạt Đảng, khô Đoàn, chán chính trị” đang là hiện trạng có thật ở một số ít người trẻ tuổi. Và một khi sự ham muốn bản năng trở thành mục đích duy nhất thì tất yếu dẫn đến sao nhãng quá trình học tập và rèn luyện; sự bồng bột, thiếu thực tế, dễ dao động, dễ bị lôi kéo, ảnh hưởng của lối sống đua đòi, dẫn đến một bộ phận giới trẻ coi trọng lối sống vật chất, xem nhẹ giá trị tinh thần; trở nên bàng quang, vô cảm, không đấu tranh với cái sai và cũng không ủng hộ, bảo vệ cái đúng.

     2. Tất nhiên, cần thấy rằng, trong điều kiện mới, nhất là những tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường, sự trải nghiệm cuộc sống của giới trẻ chưa đủ để có thể sàng lọc, miễn dịch trước những tiêu cực xã hội đa chiều, phức tạp. Hơn nữa, với dã tâm có sẵn, các thế lực thù địch lợi dụng những đặc điểm của tâm lý tuổi trẻ là dễ tiếp cận cái mới, thích khẳng định mình, nhưng nhận thức các vấn đề CTXH còn non kém, chưa đủ độ chín, đã tìm mọi cách tuyên truyền, kích động, mua chuộc; gieo rắc virus độc hại, gây mầm bệnh cho “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Do đó, để giải quyết tận gốc những lệch lạc trong suy nghĩ và hành động của giới trẻ, toàn Đảng và hệ thống chính trị cần quan tâm làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục đoàn viên, thanh niên, người trẻ tuổi về vai trò, nhiệm vụ của thanh niên trong thời đại mới. Cần nhắc nhớ và khắc sâu lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Một dân tộc muốn hồi sinh, trước hết phải hồi sinh thanh niên...".

     Thực tiễn lịch sử cho thấy, trải qua các giai đoạn cách mạng, tuổi trẻ Việt Nam luôn là lực lượng đi đầu, chủ yếu trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; khẳng định rõ vai trò là "rường cột nước nhà"; được Đảng, Nhà nước trọng dụng, sử dụng, phát huy cao nhất trách nhiệm, trí tuệ và sức mạnh nội sinh. Đảng Cộng sản Việt Nam đã trải qua 13 kỳ đại hội, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng đều hoạch định những chủ trương sát đúng để lãnh đạo phát huy vai trò, quy tụ sức mạnh của tuổi trẻ tham gia vào sự nghiệp cách mạng; đồng thời lãnh đạo, chỉ đạo để tuổi trẻ hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của mình trước Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Trong thời điểm trước, trong và sau Đại hội lần thứ XIII của Đảng, tiếng nói của cán bộ trẻ và tuổi trẻ Việt Nam được Đảng ta đặc biệt lắng nghe, ghi nhận. Trước đại hội, dự thảo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng được gửi đến tổ chức đoàn các cấp để xin ý kiến với sự kỳ vọng lớn lao về những ý tưởng mới, giải pháp đột phá mạnh mẽ mà tuổi trẻ đề xuất, hiến kế. Chính điều đó mang đến một thực tế hoàn toàn khác xa, trái ngược với những luận điệu lật lọng, quy chụp mà các lực lượng thù địch cố tình bịa đặt và những suy nghĩ, nhận thức lệch lạc của một bộ phận nhỏ trong giới trẻ hiện nay.

     3. Để nâng cao nhận thức của tuổi trẻ, các cấp ủy, chính quyền cần đẩy mạnh quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật Nhà nước về thanh niên và công tác thanh niên, tạo sự thống nhất cao trong nhận thức và hành động. Phải giáo dục để tuổi trẻ nhận thức rõ việc chăm lo, phát triển thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước; là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, lâu dài của toàn dân và cả hệ thống chính trị. Phát biểu tại Lễ kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (26/3/1931 - 26/3/2021) ngày 23-3 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nói: "Đảng ta đã nhiều lần xác định: Thanh niên là lực lượng nòng cốt của dân tộc, là chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thanh niên được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người. Chăm lo, phát triển thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định và phát triển vững bền của đất nước".

     Cùng với đó, phải sớm cung cấp thông tin, đẩy mạnh đối thoại trực tiếp và tổ chức các diễn đàn, hội thảo... vạch trần bản chất âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; nhận diện những biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở giới trẻ trong giai đoạn hiện nay.

     Đồng thời, mọi cấp, mọi ngành, địa phương cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt việc tập hợp thanh niên vào các tổ chức đảng, đoàn thể và tổ chức CTXH. Đây là một phương thức quan trọng được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta rất quan tâm trong giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho thanh niên qua các thời kỳ cách mạng. Tập hợp thanh niên vào tổ chức sẽ tạo ra môi trường thuận lợi để họ học tập, rèn luyện, phát triển và cống hiến; coi trọng giáo dục ý thức cách mạng để thanh niên biết nhận diện, đề phòng và tránh xa những cám dỗ vật chất tầm thường. Cũng qua thực tiễn, cần đẩy mạnh các hoạt động, phong trào thi đua yêu nước trong giới trẻ; coi trọng việc tiếp nhận, ghi nhận, trân trọng những ý kiến, ý tưởng sáng tạo của tuổi trẻ; phát huy cao nhất tính tiên phong của thanh niên trong một số lĩnh vực có thế mạnh, nhất là lĩnh vực công nghệ và khoa học. Kịp thời tôn vinh những tập thể, cá nhân năng động, sáng tạo, có thành tích; từ đó lan tỏa những giá trị tốt đẹp ra cuộc sống, tạo động lực tinh thần để giới trẻ cống hiến, trưởng thành.

     Tập hợp giới trẻ trong điều kiện xã hội số hiện nay cần phải đặc biệt quan tâm đến đời sống tinh thần của họ trên không gian MXH. Theo đó, phải quy tụ người trẻ tuổi tham gia vào các câu lạc bộ, diễn đàn xã hội một cách có tổ chức theo hướng tích cực. Cần quản trị, quản lý tốt các tài khoản cá nhân trên các tiện ích công nghệ; kết hợp với kết nối, tạo nhóm cộng đồng xã hội để duy trì các hoạt động vừa phục vụ nhu cầu chia sẻ, giao tiếp cá nhân, vừa tạo môi trường học tập, làm việc, cống hiến lành mạnh. Khi sử dụng MXH, người trẻ tuổi cần nắm bắt, thực hiện nghiêm túc, triệt để các quy định của pháp luật, vừa phải chấp hành nghiêm các điều lệ, quy định của tổ chức mà mình là thành viên, trên cơ sở đó định hình thái độ và cách hành xử đúng đắn trên MXH. Trong quá trình đó, cấp ủy, tổ chức quần chúng, cơ quan chức năng... cần tăng cường các biện pháp quản trị, quản lý; kịp thời định hướng, động viên, kết hợp với xử lý nghiêm các vi phạm quy định pháp luật và những nguyên tắc cần tuân thủ khi tham gia MXH.

     Thiết thực quan tâm, chăm lo thế hệ trẻ, thời gian qua, Đảng ta đã và đang quyết liệt đổi mới tư duy trong việc sử dụng, trọng dụng cán bộ trẻ nói riêng, nguồn lực trẻ nói chung, phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Đảng đã sáng tạo huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội tham gia vào quá trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ, tạo việc làm, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống cho giới trẻ. Trong thời gian tới, bám sát tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, tổ chức đại diện của giới trẻ cần tiếp tục làm tốt công tác tham mưu các chính sách trọng dụng tài năng trẻ, tạo bước đột phá trong sử dụng cán bộ trẻ trên các lĩnh vực; nâng cao năng lực hội nhập quốc tế cho tuổi trẻ, để họ thực sự là lực lượng chủ đạo và chủ động trong quá trình hội nhập quốc tế... Đặc biệt, để tuổi trẻ thật sự quan tâm thiết thân đến các vấn đề chính trị, thì ngay từ những bài học chính trị ở mái trường XHCN phải có sự đổi mới quyết liệt về nội dung, phương pháp, hình thức; quyết tâm đẩy lùi tâm lý ngại học chính trị vì “khô, khó, khổ”. Cần làm tốt việc định hướng chính trị bằng việc tạo ra môi trường, điều kiện để tuổi trẻ thích học tập, nghiên cứu về chính trị và tham gia hoạt động chính trị./.

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG CÔNG TÁC BẦU CỬ QUỐC HỘI KHÓA XV VÀ HĐND CÁC CẤP

 


Đã thành thói quen mỗi khi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta tập trung vào nhiệm vụ gì, nội dung công tác nào thì các thế lực thù địch, phản động lại chĩa mũi nhọn chống phá vào nhiệm vụ ấy, công tác ấy. Không là ngoại lệ, tiếp theo các hoạt động chống phá Đại hội XIII, các thế lực thù địch lại tập trung vào chống phá công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Một nội dung mà chúng đang khoét sâu là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.


Chúng tung ra những luận điệu hết sức sai trái, gieo rắc sự hoài nghi về cuộc bầu cử Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp. Trên một vài trang mạng thiếu thiện chí với Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội tung ra những bài viết, bài phỏng vấn cho rằng cuộc bầu cử chỉ là “màn kịch dân chủ” do Đảng Cộng sản Việt Nam đạo diễn; là cuộc bầu cử “không chính danh”, “không dân chủ”. Chúng gọi cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 của ta là cuộc “Đảng cử” và Quốc hội là “Đảng hội”, “Dân biểu” là “Đảng biểu”. Sau khi Ủy ban TVQH ban hành Nghị quyết về việc dự kiến số lượng, cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội khóa XV, chúng cho rằng cơ cấu số lượng đại biểu là người ngoài Đảng từ 5-10% là quá ít và đưa ra đòi hỏi phải số lượng đại biểu Quốc hội là người trong Đảng với số lượng đại biểu Quốc hội là người ngoài Đảng phải là 50-50. Chúng kiến nghị phải loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và thay đổi cơ chế bầu cử theo hướng tự do như các nước TBCN...


Điểm qua như vậy để thấy các thế lực thù địch, phản động đang bày ra mọi thủ đoạn, chiêu trò hòng phá hoại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Chúng mưu toan cài cắm vào các cơ quan của Quốc hội và HĐND những “mầm mống dân chủ” để từng bước biến nghị trường thành diễn đàn nhằm thực hiện những âm mưu, thủ đoạn chống phá, hình thành lực lượng đối lập trong cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hòng làm ta suy yếu từ bên trong.


Chúng ta chẳng lạ những điều ẩn khuất đằng sau mưu đồ chính trị đen tối của các thế lực thù địch. Thực chất của các chiêu trò ấy vẫn không nhằm mục tiêu nào khác đó là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ XHXN ở Việt Nam. Cho dù có tinh vi và biến ảo tới đâu đi chăng nữa chúng cũng không thể phủ nhận được thực tế.


Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 là một nhiệm vụ chính trị trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong năm 2021, là đợt sinh hoạt dân chủ rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân, là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước. Mục tiêu của cuộc bầu cử là nhằm lựa chọn, bầu ra những đại biểu ưu tú, tiêu biểu, xứng đáng, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, tích cực góp phần xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN – Nhà nước của dân, do dân, vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.


Đảng ta khẳng định vai trò lãnh đạo bầu cử là hoàn toàn đúng Hiến pháp. Điều 4, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam,... là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Khẳng định vai trò lãnh đạo bầu cử nhưng Đảng ta không bao biện, không làm thay như giọng điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Thực tế đã chứng minh sự lãnh đạo của Đảng không hề làm mất đi tính dân chủ mà đó chính là cơ sở để bảo đảm mở rộng dân chủ, cơ sở để cử tri lựa chọn, bầu ra những đại biểu ưu tú, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân tham gia Quốc hội và HĐND các cấp. Mặt khác, bên cạnh những thuận lợi, đất nước ta đang đối mặt với nhiều nguy cơ, thách thức, vai trò lãnh đạo của Đảng là điều kiện quan trọng, mang tính quyết định bảo đảm cho công tác bầu cử được tiến hành thống nhất và thành công.


Để tổ chức cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 theo đúng các quy định của Luật Bầu cử, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết; Bộ Chính trị đã ra chỉ thị lãnh đạo. Mọi công tác chuẩn bị cho cuộc bầu cử đang được tiến hành đúng tiến độ, các khâu, các bước trong quy trình bảo đảm dân chủ, chặt chẽ, công khai, minh bạch. Việc phân bổ số lượng, cơ cấu đại biểu được tính toán kỹ lưỡng, khoa học bảo đảm sự phù hợp, tính đại diện cao cho các tầng lớp nhân dân, các thành phần xã hội và các vùng miền trong cả nước. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội đưa ra đòi hỏi “cân bằng quyền lực” là hoàn toàn trái luật.


Chúng ta không ngăn cấm, cản trở công dân tự ứng cử, nhưng người tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp phải bảo đảm các tiêu chuẩn cơ bản theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của các cơ quan chức năng. Để đáp ứng các yêu cầu ấy, những người tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp trước hết phải là những người: “Trung thành với Tổ quốc, nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác; có trình độ văn hóa, chuyên môn, có đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội; Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm…”; “Không giới thiệu và đưa vào danh sách ứng cử người có biểu hiện cơ hội, tham vọng quyền lực; có tư tưởng cục bộ, bảo thủ, trì trệ; đang bị thanh tra, kiểm tra dấu hiệu vi phạm; người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra vụ, việc tham nhũng, lãng phí, mất đoàn kết;...”(Hướng dẫn số 36-HD/BTCTW ngày 20/01/2021 của Ban Tổ chức Trung ương). Như vậy, dù các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị có tung hô, tô vẽ đến đâu đi chăng nữa thì các “nhà dân chủ” ứng cử tự do cũng không thể có đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp.


Để công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp được tiến hành dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật, đúng nguyên tắc, an toàn, tiết kiệm và thành công tốt đẹp, hơn lúc nào hết, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền làm cho mọi người dân và toàn xã hội về nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp. Chỉ có nhận thức đúng chúng ta mới tạo được sự thống nhất cao trong toàn xã hội, tạo sự đồng thuận trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước và nhân dân nhằm tạo sức mạnh tổng hợp tổ chức thành công cuộc bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp.


Thông qua đẩy mạnh công tác tuyên truyền chúng ta cần cung cấp kịp thời các thông tin chính thống về công tác chuẩn bị cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp. Tạo điều kiện để người dân tiếp cận với các thông tin chính thống đó vừa là cách để nâng cao ý thức trách nhiệm của nhân dân đối với cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp. Mặt khác, trong thời điểm hiện nay các thế lực thù địch, phản động đang gia tăng xuyên tạc, chống phá công cuộc bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp thì việc đẩy mạnh tuyên truyền cũng là biện pháp nâng cao sức “đề kháng”, giúp người dân tỉnh táo nhận diện đầy đủ, rõ ràng và kiên quyết vạch trần, đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái, phản động hòng phá hoại cuộc bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Hải Đăng ST

Vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của công cuộc đổi mới trong giai đoạn cách mạng mới.

  Việt Nam đang đứng trước thời cơ và thách thức, nguy cơ lớn của sự phát triển. Tình hình đó, đặt ra cho Đảng ta phải biết nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, nguy cơ, có năng lực lãnh đạo, cầm quyền cao, có bản lĩnh chính trị kiên cường, có tầm tư duy sáng suốt. Một vấn đề đặt ra là, nếu Đảng cầm quyền bị thoái hóa, biến chất; Đảng không khắc phục và đẩy lùi được tình trạng một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; không đề phòng, ngăn chặn và khắc phục “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến”, thì Đảng sẽ bị mất vai trò lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội. Nắm lấy thời cơ, vượt qua thách thức, nguy cơ, sẽ phụ thuộc vào chất lượng Đảng cầm quyền. Do đó, Đảng phải thường xuyên, tích cực xây dựng và chỉnh đốn, phải vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng vào điều kiện cụ thể từng lúc, từng nơi.

Đảng nâng cao năng lực cầm quyền đặt ra yêu cầu phải nắm bắt một cách chính xác tình hình để đề ra đường lối, chủ trương phù hợp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Năng lực cầm quyền của Đảng là sự tổng hòa trình độ, khả năng, bản lĩnh chính trị để giải quyết các yêu cầu, nhiệm vụ do tình hình đất nước đặt ra nhằm đạt mục tiêu phát triển. Muốn đề ra đường lối, chủ trương phù hợp, phải nắm chắc tình hình mọi mặt ở trong nước và quốc tế. Đây chính là quá trình dựa trên cơ sở vững chắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Phải tránh bảo thủ, trì trệ trong xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng. Trong đổi mới, vừa phải chú ý đến những vấn đề mới nảy sinh, kịp thời nghiên cứu, tổng kết, mạnh dạn bổ sung, phát triển để đưa vào cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước những vấn đề đã rõ, đã “chín”. Bảo thủ, trì trệ, không chịu bổ sung, phát triển cương lĩnh, đường lối, chủ trương khi tình hình trong nước và quốc tế có sự biến chuyển, thay đổi là không xứng đáng với một đảng tiên phong, một đảng năng động, sáng tạo, một chủ thể khởi xướng đổi mới toàn diện đất nước, đưa đất nước Việt Nam tiến nhanh, mạnh, đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trong 35 năm đổi mới vừa qua. Ở đây, việc “thiết kế” nội dung đường lối có tầm quan trọng đặc biệt, vì “sai một ly đi một dặm”. Phải tính toán cẩn trọng trên cơ sở nghiên cứu khoa học lý luận chính trị, phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, kết hợp tính khoa học với tình hình thực tế của đất nước và thế giới để đề ra đường lối, chủ trương phù hợp. Nhưng, không chú trọng dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà vội vàng, nôn nóng, duy ý chí đề ra và thực hiện những vấn đề không phù hợp với hoàn cảnh đất nước thì cũng là con đường đi đến thất bại.

Đảng cầm quyền phải trong sạch, vững mạnh. Sự cầm quyền của Đảng không phải cứ tự nhận mà được. Sự cầm quyền đó là kết quả của một quá trình Đảng chứng tỏ được với toàn xã hội sức mạnh và uy tín của mình, được toàn dân tộc thừa nhận vai trò cầm quyền đó. Tính chính đáng của sự cầm quyền đó là có căn cứ thực tế, không ai có thể phủ nhận được. Nhưng, Đảng sẽ không còn ở vị trí cầm quyền nữa, nếu Đảng bị suy yếu, không trong sạch, vững mạnh, niềm tin của nhân dân vào Đảng bị suy giảm và mất đi. Điều này giống như chỉ dẫn của Hồ Chí Minh: một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân. Vì vậy, vai trò cầm quyền của Đảng cũng như việc phải luôn tự đổi mới và tự chỉnh đốn là hai vế đồng thời vận hành trong cùng một cơ thể sống của Đảng. Điều này làm cho chúng ta thấu hiểu hơn lý do tại sao Đảng ta lại xác định xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Tính chất then chốt của nhiệm vụ đó thể hiện ở việc Đảng phải nâng cao tầm trí tuệ và năng lực lãnh đạo, cầm quyền cũng như sức chiến đấu của mình trong giai đoạn mới. Sự nghiệp xây dựng đất nước đặt ra cho Đảng và Nhân dân Việt Nam một tầm nhìn và một năng lực sáng tạo vượt bậc. Đảng phải tự tìm tòi, tự tổng kết thực tiễn để đề ra lý luận đổi mới, trong đó có lý luận về Đảng cầm quyền trong thế giới hội nhập. Đường lối, dù là cực kỳ quan trọng và đúng đến mấy, đều phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng cơ bản nhất vẫn là phụ thuộc vào năng lực, trí tuệ, phẩm chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Cần có đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, tầm cao trí tuệ, đầy tinh thần trách nhiệm trước Đảng, trước dân tộc, năng động, dám nghĩ, dám làm.

Phải tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Dù có đường lối đúng, nhưng phương thức lãnh đạo không phù hợp thì không thể đưa được đường lối, chủ trương của Đảng cầm quyền vào cuộc sống. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, cần dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, càng phải đặt trọng tâm vào việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Nói đến “cầm quyền” của bất kỳ đảng chính trị nào là trước hết nói đến đảng lãnh đạo nhà nước; rằng, trong xã hội nói chung và nhà nước pháp quyền nói riêng, nhà nước là trung tâm quyền lực, thể hiện ý chí và quyền lực của nhân dân, thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại. Xét trong mối quan hệ với Đảng cầm quyền thì chính Nhà nước và chỉ có Nhà nước mới có chức năng, nhiệm vụ thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng. Nói đến “cầm quyền” của Đảng, còn phải đề cập tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội thông qua các tổ chức chính trị - xã hội của nhân dân. Trong xã hội hiện đại, vai trò phản biện xã hội ngày càng lớn, nhất là trong hội nhập quốc tế. Đảng sẽ thực thi chức năng, nhiệm vụ cầm quyền của mình trong sự so sánh, đối chiếu với các ý kiến tư vấn, phản biện của các tổ chức đoàn thể; qua đó, tự nhìn lại mình để bổ sung, phát triển, điều chỉnh đường lối, chủ trương, để đổi mới phương thức lãnh đạo đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Để chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng phát triển và giương cao ngọn cờ Cộng sản dẫn dắt nhân dân Việt Nam tiến lên, thì phải kiên định và củng cố vững chắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng.  

Thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng.

           Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: Đảng Cộng sản là một tổ chức chặt chẽ, mang tính chiến đấu vì mục tiêu cao cả là giải phóng con người với xã hội tốt đẹp. Vì thế, cần kiên định vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trên những nguyên tắc sau:

Tập trung dân chủ. Đây là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và sinh hoạt Đảng. C.Mác, Ph. Ăngghen, đặc biệt là V.I. Lênin đặt trọng tâm xây dựng Đảng Cộng sản vào nguyên tắc này. Hồ Chí Minh coi tập trung và dân chủ trong Đảng là một thể thống nhất và có liên quan mật thiết với nhau: tập trung trên nền tảng dân chủ, dân chủ phải đi đến tập trung. Người nhấn mạnh, phải làm cho mọi đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình ở trong Đảng, tức là khơi dậy tinh thần trách nhiệm và tính tích cực chủ động của tất cả đảng viên; khi đã thảo luận, bày tỏ ý kiến rồi thì đi đến tập trung, tức là đề cập ý chí thống nhất, hành động thống nhất, như thế mới có sức mạnh; và lúc ấy quyền tự do của đảng viên hóa ra quyền phục tùng chân lý, mà chân lý là những gì có lợi cho cách mạng, cho nhân dân, cho Tổ quốc.

Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Để nhấn mạnh tính chất này, có hai điều cần tránh trong hoạt động của Đảng cầm quyền: độc đoán, chuyên quyền; dựa dẫm, không dám quyết đoán. Đảng cầm quyền phải dám chịu trách nhiệm trước vận mệnh của Tổ quốc, lợi ích của nhân dân và toàn dân tộc trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với bản lĩnh chính trị và tầm trí tuệ cao.

Tự phê bình và phê bình. Phải thường xuyên giáo dục cho toàn Đảng tinh thần tự phê bình và phê bình làm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh theo đúng nguyên lý xây dựng Đảng kiểu mới của V.I. Lênin và Hồ Chí Minh coi tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng. Mục tiêu tự phê bình và phê bình là làm cho phần tốt trong mỗi con người, trong mỗi tổ chức nẩy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi; muốn thế phải có phương pháp đúng đắn, phù hợp trên “tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.

Đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Có đoàn kết, thống nhất trong Đảng thì mới có đoàn kết, thống nhất toàn dân tộc. Đảng đoàn kết, thống nhất trên cơ sở có chung một mục tiêu thể hiện ở cương lĩnh, đường lối đúng đắn. Đảng phải có kỷ luật, “kỷ luật sắt”, nghĩa là mọi đảng viên tuân thủ Điều lệ, chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết và các quy định của Đảng. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, đảng viên còn phải là công dân gương mẫu, chấp hành tốt pháp luật của Nhà nước.

Hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Mọi cán bộ, đảng viên đều có trách nhiệm tôn trọng và nghiêm chỉnh thực thi pháp luật trong điều kiện Đảng cầm quyềnNhư vậy, trong xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, với ý nghĩa Hiến pháp và pháp luật là quyền lực điều chỉnh mọi quan hệ xã hội, thì trong Hiến pháp, pháp luật đó đã hàm chứa tinh thần nội dung của cương lĩnh, đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng. Vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, do đó, là sự biểu đạt vai trò cầm quyền của Đảng. Đảng là hạt nhân của hệ thống chính trị đồng thời là người lãnh đạo hệ thống ấy, đặc biệt là lãnh đạo Nhà nước.


Giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng.

          Đảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân là vấn đề có tính nguyên tắc. Hồ Chí Minh đã vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin khi nhấn mạnh quan điểm: Đảng Cộng sản Việt Nam phải luôn giữ vững bản chất giai cấp công nhân; trong thành phần của Đảng, phải chú trọng kết nạp những công nhân đủ tiêu chuẩn, đồng thời thu hút cả những người thuộc các giai tầng khác vào Đảng khi những người này tán thành cương lĩnh của Đảng, tự nguyện tuân thủ Điều lệ Đảng, chứng tỏ trên thực tế bản thân mình có đủ tiêu chuẩn trở thành đảng viên của Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vững bản chất giai cấp công nhân có nghĩa là Đảng không hòa tan vào dân tộc mà là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong, đại diện trung thành cho lợi ích của nhân dân lao động và toàn dân tộc. Cho nên cơ sở xã hội của Đảng là khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nòng cốt là liên minh công - nông - trí, do giai cấp công nhân mà đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Với bản chất giai cấp công nhân như thế và với cơ sở xã hội thể hiện trong khối đại đoàn kết như vậy, Đảng ta đã kết hợp được sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong suốt quá trình hoạt động của mình. Đây chính là một trong những nét nổi bật nhất trong tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo, trở thành một bài học quý trong xây dựng Đảng cần được phát huy trong giai đoạn cách mạng tới.


Khẳng định quyết tâm chính trị và sức mạnh tổng hợp

 

Hội thao quân sự quốc tế (Army Games) do Bộ Quốc phòng Liên bang Nga khởi xướng và chủ trì, phối hợp tổ chức từ năm 2014.

Ngăn ngừa sự lệch chuẩn để thanh niên xứng đáng là "rường cột nước nhà"

 

Với đặc thù tâm lý lứa tuổi, các thế lực thù địch luôn xác định giới trẻ là đối tượng đặc biệt để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam. Trong đó, chúng sử dụng các thủ đoạn tinh vi, thâm độc hòng thúc đẩy quá trình “tự diễn biến” “tự chuyển hóa”, gây mục ruỗng từ bên trong; kích hoạt các biểu hiện mơ hồ chính trị, bào mòn lý tưởng và gây xuống cấp đạo đức, lối sống trong thanh niên.

Đừng lợi dụng nhân quyền để "chọc gậy bánh xe"

 

Vừa qua, cái gọi là tổ chức nhân quyền Safeguard Defenders công bố xuất bản một cuốn sách bằng tiếng Việt với mục đích hướng dẫn áp dụng Luật Magnitsky của Hoa Kỳ để trừng phạt vi phạm nhân quyền ở Việt Nam. Đây là hành động không thể chấp nhận vì đã can thiệp thô bạo, tinh vi vào nội bộ tình hình Việt Nam, tiếp tay cho những thế lực thù địch, chống phá Nhà nước và nhân dân Việt Nam.

Các mục tiêu chính của Đại hội XIII là hiện thực, khách quan, đáp ứng trúng đòi hỏi phát triển của đất nước ​

 

 

1. Các luận điệu sai trái, xuyên tạc cho rằng việc đề ra “các mục tiêu chính của Đại hội XIII là chủ quan, duy ý chí, không thực hiện được”

- Trong thời gian qua, nhất là trước thềm Đại hội XIII của Đảng, có nhiều ý kiến, bài viết trên blog, facebook cá nhân, trên các trang mạng xã hội xuyên tạc về thực hiện “ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, họ cho rằng đã là “ kinh tế thì trường thì không thể có định hướng xã hội chủ nghĩa”, đây chẳng qua là “mị dân”, không tôn trọng quy luật khách quan, không tưởng; không có nền kinh tế nào là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; kinh tế thị trường,các quy luật của kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là những yếu tố đối lập nhau, loại trù nhau; ghép định hướng xã hội chủ nghĩa vào kinh tế thị trường là sự gán ghép chủ quan, duy ý chí, không có cơ sở khoa học, không thuyết phục, làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn; nếu bỏ cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” thì đất nước còn phát triển nhanh hơn, kết quả đạt được còn lớn hơn nhiều. Họ cố tình không hiểu những mặt hạn chế, tiêu cực của kinh tế thị trường, tác động ảnh hưởng đến đời sống của người dân, rất cần đến chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa vì hạnh phúc của nhân dân.

- Lợi dụng “góp ý” vào Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị tập trung xuyên tạc việc xác định các mục tiêu, họ cho rằng, đưa ra quá cao là“ chủ quan, duy ý chí”, “ không có cơ sở khoa học”, trong khi bối cảnh, tình hình trong nước và quốc tế luôn có nhiều biến động khó lường, không thực hiện được. Thực chất là họ muốn phủ nhận những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, cản trở bước tiến của đất nước trong những năm sắp tới mà Đảng ta đã xác định mục tiêu phấn đấu vì sự hùng cường, thịnh vượng của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân.

 

 

2. Luận cứ phê phán

2.1.Cần nhận thức đúng đắn, khách quan, cơ bản về mục tiêu và việc xác định mục tiêu phát triển của một quốc gia là rất quan trọng và rất cần thiết

Như chúng ta đã biết, mục tiêu là một ý tưởng của tương lai, hoặc kết quả mong muốn của một người hay một nhóm người đã hình dung ra, kế hoạch và cam kết thực hiện để đạt được. Những nỗ lực để đạt được mục tiêu trong một hữu hạn thời gian, bằng cách đặt ra hạn cuối cùng. Từ đó mà mỗi chủ thể đều có thể đặt mục tiêu cho riêng mình. Một quốc gia có thể đặt mục tiêu đạt mức thu nhập, đạt trình độ phát triển nào đó khi đến mốc thời gian xác định nào đó trong tiến trình phát triển. Khi xác định mục tiêu phải trả lời được hai câu hỏi đó là: Kết quả mong muốn đạt được là gì? Thời hạn đạt được kết quả đó trong bao lâu? Còn việc sử dụng phương pháp nào; lộ trình ra sao; cần chuẩn bị những công cụ, phương tiện nào… để thực hiện mong muốn đạt được mục tiêu đã đề ra là vấn đề thuộc chủ thể đặt ra mục tiêu phải tiến hành, nó không thuộc phạm vi nội hàm của mục tiêu.Xuất phát từ thực tiễn, có các cách tiếp cận phân định mục tiêu khác nhau, nếu phân định theo thời gian, mục tiêu có thể là dài hạn, trung hạn hoặc ngắn hạn. Sự khác biệt ở cách phân định này chính là thời gian cần thiết để đạt được mục tiêu đó. Nếu phân định theo kết quả mong muốn, mục tiêu có thể là mục tiêu tổng thể và mục tiêu cụ thể. Điểm căn cốt trong cách phân định này là mức độ, trình độ hay các điều kiện đảm bảo của chủ thể hiện có và tiềm năng để có thể đạt được mục tiêu đã xác định. Điều này đồng nghĩa với tính khả thi hay mức độ hiện thực của mục tiêu mà chủ thể xác định. Trên thực tế, các cách phân định này thường được sử dụng đồng thời, đan xen, trong đó với các tổ chức, quốc gia, cách phân định mục tiêu theo kết quả mong muốn sẽ được xem xét trước, trên cơ sở đó, mỗi đối tượng thuộc cấu phần của chủ thể mục tiêu tổng thể sẽ có những phân định mục tiêu theo thời gian trong lộ trình thực hiện mục tiêu tổng thể hoặc đó là sự cụ thể hóa của những mục tiêu cụ thể.

 Với mỗi quốc gia, trước hết, việc xác định mục tiêu phát triển sẽ được tiếp cận theo kết quả mong muốn, với cách phân định dựa trên kết quả mong muốn. Theo đó, mọi quốc gia luôn xác định mục tiêu tổng thể và mục tiêu cụ thể trên cơ sở đánh giá tổng quát về thực trạng phát triển, trình độ phát triển, bối cảnh phát triển, tiềm năng phát triển... trên cơ sở đó xác định tầm nhìn, xác định mục tiêu phát triển tổng thể và mục tiêu cụ thể của quốc gia. Chính vì vậy, mục tiêu phát triển ở mỗi quốc gia là không giống nhau kể cả có cùng trình độ phát triển.Từ thực tiễn vận hành các quốc gia cho thấy, xác định mục tiêu quốc gia là việc cụ thể hóa, hiện thực hóa tầm nhìn của lãnh đạo quốc gia về sự phát triển trong tương lai của quốc gia đó bằng việc định lượng những kết quả mong muốn mà quốc gia cần đạt được trong những khoảng thời gian xác định. Tuy nhiên, để xác định được mục tiêu quốc gia, đòi hỏi phải dựa trên việc phân tích, đánh giá đúng bối cảnh, diễn biến của tình hình quốc tế, xu thế phát triển của thời đại; nhận diện những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức đang đặt ra, những mâu thuẫn lớn, cơ bản cần phải giải quyết để phát triển đất nước. Phân tích, đánh giá đúng hiện trạng phát triển của đất nước để có cơ sở lượng hóa tiềm năng phát triển của đất nước. Đây là những căn cứ quan trọng để xác định nhiệm vụ cần phải thực hiện để đạt được mục tiêu đã xác định.

2.2. Các căn cứ xác định mục tiêu phát triển của Việt Nam giai đoạn 2021- 2030 và tầm nhìn đến năm 2045

Từ thực tiễn lịch sử đấu tranh giành chính quyền, thống nhất Tổ quốc, xây dựng và phát triển đất nước hơn 90 năm qua kể từ khi có Đảng, hơn 75 năm có chính quyền; đặc biệt là 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, cho thấy việc xác định đúng đắn mục tiêu trong từng giai đoạn phát triển là yếu tố quyết định thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam. Chính vì vậy, để lãnh đạo đất nước, mỗi khi chuẩn bị cho các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc, Đảng chỉ đạo nghiêm túc, bài bản, khoa học việc xây dựng dự thảo các Văn kiện trình Đại hội, trong đó quan trọng là Báo cáo chính trị - văn kiện trung tâm của Đại hội, vừa có giá trị tổng kết thực tiễn, kinh nghiệm, vừa xác định mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và khâu đột phá chiến lược trên các lĩnh vực, các mặt công tác trong cả nhiệm kỳ cần phải thực hiện. Chuẩn bị cho Đại hội lần thứ XIII của Đảng tổ chức vào đầu năm 2021. Đảng đã chỉ đạo xây dựng dự thảo các văn kiện trình Đại hội. Do tầm quan trọng đặc biệt của Đại hội lần này, hướng tới kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng vào năm 2030 và 100 năm Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) vào năm 2045, dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội được yêu cầu không chỉ xác định mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước trong 5 năm 2021 - 2025, mà còn phải xác định mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Đây là sự chỉ đạo có ý nghĩa quan trọng, mang tầm chiến lược; là sự kế thừa, phát huy những bài học kinh nghiệm, truyền thống quý báu của Đảng, là yêu cầu khách quan về sự phù hợp, đảm bảo tính thực tiễn và tính khả thi của mục tiêu phát triển và cũng là cơ sở để xác định chính xác những định hướng, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, phát triển đất nước, tạo sự đồng thuận, thống nhất về nhận thức, hành động của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Thực hiện dân chủ, cầu thị, lắng nghe ý kiến của các đại biểu quốc hội, các nhà khoa học, các chuyên gia, các nhà quản lý, quản trị, các bậc lão thành cách mạng và ý kiến đóng góp của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và các tầng lớp nhân dân về Dự thảo các văn kiện của Đảng - trung tâm là Báo cáo chính trị, trong đó có xác định các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2025, năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Đây là vấn đề rất hệ trọng, trong các lần hội thảo, toạ đàm, thảo luận rất sôi nổi, tựu trung có hai loại ý kiến: Loại ý kiến thứ nhất nhấn mạnh mục tiêu trở thành nước công nghiệp theo ý tưởng trong Văn kiện (từ Văn kiện Đại hội VIII đến nay), trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá đọ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), một số nghị quyết Trung ương, Bộ Chính trị từ khóa IX đến khóa XII, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020. Theo đó, xác định mục tiêu phấn đấu đưa nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại với ba mốc quan trọng: đến năm 2025, cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; đến năm 2030, trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; đến năm 2045 trở thành nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Loại ý kiến thứ hai cho rằng cần tham khảo cách phân loại các quốc gia theo xu hướng hiện nay của các tổ chức quốc tế. Theo đó, nên xác định mục tiêu theo trình độ phát triển.Để thống nhất nhận thức, thống nhất hành động cần có những phân tích căn bản, khoa học để có được căn cứ xác đáng cho việc xác định đúng mục tiêu phát triển đất nước - một vấn đề hệ trọng của đất nước.

Từ thực tiễn, chúng ta thấy rằng, không chỉ ở Việt Nam, mà ngay thế giới cũng đang tồn tại sự khác nhau trong cách phân loại quốc gia, thông qua việc hoạt động được thực hiện dựa trên việc đánh giá thành quả phát triển của mỗi quốc gia và sự khác nhau về cách tiếp cận. Với chức năng là những tổ chức quốc tế hình thành vì sự phát triển, các tổ chức quốc tế, như Liên Hợp quốc (UN), Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), Tổ chức Phát triển công nghiệp của Liên Hợp quốc (UNIDO) đã thường xuyên thực hiện việc phân loại các quốc gia để có những sự lựa chọn hỗ trợ phát triển phù hợp theo chức năng, nhiệm vụ của mình.Hiện đang tồn tại nhiều cách phân loại các quốc gia trên thế giới, một mặt, do những tổ chức này, có các chức năng, mục tiêu khác nhau nên đưa ra các cách phân loại khác nhau, nhưng có tham khảo, phối hợp, thống nhất với nhau ở nhiều nội dung; mặt khác, cũng do cách tiếp cận đánh giá phân loại, xác định mức độ, trình độ phát triển quốc gia còn có những phương cách khác nhau khi xác định mục tiêu phát triển quốc gia. Hiện nay, Liên Hợp quốc phân chia các nước trên thế giới thành ba loại: Nước kém phát triển; nước đang phát triển; nước phát triển, dựa trên cơ sở thu nhập bình quân đầu người. Mức thu nhập này được điều chỉnh theo các giai đoạn phát triển, dựa trên các số liệu của Ngân hàng Thế giới. Ngân hàng Thế giới phân loại các nước dựa trên thu nhập bình quân đầu người (GNI/người) thành bốn nhóm: Nước có thu nhập thấp; nước có thu nhập trung bình thấp; nước có thu nhập trung bình cao; nước có thu nhập cao.T ổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế định kỳ ba năm một lần rà soát và lựa chọn các nước đủ điều kiện nhận vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cũng dựa trên chỉ số thu nhập bình quân đầu người để phân loại quốc gia được nhận hay không được nhận ODA, theo đó, phân loại thành các nước kém phát triển, đang phát triển hay nước phát triển. Riêng với UNIDO, do vai trò, chức năng của một tổ chức thúc đẩy phát triển công nghiệp ở các nước trên thế giới, nên thường sử dụng thuật ngữ “công nghiệp hóa” nhiều hơn là “phát triển”. Chính vì vậy, UNIDO lấy chỉ số giá trị gia tăng ngành công nghiệp chế biến (MVA) bình quân đầu người (MVA/người) làm tiêu chí xác định nước công nghiệp. Dựa trên tiêu chí này, UNIDO chia các nền kinh tế trên thế giới thành bốn nhóm: Các nước đã công nghiệp hóa; các nước công nghiệp mới nổi; các nước đang phát triển khác; các nước kém phát triển. Song, trong cách phân định này, UNIDO vẫn phải dựa trên chỉ số bình quân thu nhập đầu người, mặc dù bình quân thu nhập đầu người dựa trên gía trị gia tăng ngành công nghiệp chế biến (MVA/người). Điều này một mặt khẳng định chỉ số thu nhập bình quân đầu người là căn cứ quan trọng hàng đầu đối với mỗi quốc gia, là kết quả, là mục tiêu cần xác lập của mỗi quốc gia; mặt khác, cũng cho thấy điều chưa thực sự toàn diện trong cách phân loại quốc gia của UNIDO, vì chỉ số gia tăng công nghiệp chế biến chưa thể đủ bao quát, đại diện cho sự phát triển của một quốc gia, kể cả quốc gia đó là quốc gia thuần công nghiệp; hơn nữa, cũng chưa bao hàm được quốc gia mà sự phát triển không dựa trên công nghiệp do đặc thù riêng; đồng thời, với cách phân loại này cũng chưa đảm bảo tính thống nhất về tiêu chí: Nước đã công nghiệp hóa, hay nước công nghiệp mới nổi về thực chất là phản ánh quy trình chủ đạo vận hành nền kinh tế; các nước đang phát triển, các nước kém phát triển về bản chất chính là nói lên trình độ phát triển của một quốc gia trong điều kiện cụ thể.

Từ nhận thức trên, chúng ta thấy đến nay tạm thời đang tồn tại hai cách phân chia các quốc gia đó là chia các quốc gia thành: nước kém phát triển; nước đang phát triển và nước phát triển. Chia các quốc gia thành: Nước có thu nhập thấp; nước có thu nhập trung bình thấp; nước có thu nhập trung bình cao; nước có thu nhập cao. Hai cách phân loại này có sự liên thông, tương hỗ với nhau và đều dựa trên chỉ số thu nhập bình quân đầu người ở mỗi quốc gia. Các nước kém phát triển là những nước có thu nhập thấp, những nước đang phát triển là những nước có thu nhập trung bình, nước phát triển là những nước có thu nhập cao. Mặc dù không có một quy định chính thức, nhưng thuật ngữ “nước phát triển” và “nước đã công nghiệp hóa” được sử dụng thay thế nhau ở các văn bản của các tổ chức quốc tế. Việc đạt được chỉ số thu nhập bình quân đầu người ở mức độ nào phụ thuộc vào điều kiện thực tiễn, hiện trạng nền kinh tế và cách thức vận hành nền kinh tế phù hợp hay không phù hợp với bối cảnh trong nước và quốc tế.

Từ sự phân tích một cách cơ bản, khách quan, khoa học về mục tiêu và việc xác định mục tiêu phát triển của một quốc gia; căn cứ vào sự hợp lý trong các cách tiếp cận phân loại quốc gia và xuất phát từ hiện thực phát triển đất nước trong thời gian qua, giúp chúng ta thấy được những căn cứđể xác định đúng mục tiêu phát triển đất nước trong thời gian tới, đó là:

- Khi nói đến mục tiêu cần xác định hai vấn đề cơ bản: Kết quả mong muốn đạt được là gì? Thời hạn đạt kết quả đó trong bao lâu/khi nào? Xác định mục tiêu quốc gia là việc cụ thể hóa, hiện thực hóa tầm nhìn của lãnh đạo quốc gia về sự phát triển trong tương lai của quốc gia bằng việc định lượng những kết quả mong muốn mà quốc gia cần đạt được trong những khoảng thời gian được xác định.

 - Mục tiêu phát triển là dự báo tương lai, là đích phát triển mà quốc gia cần đạt được, nên phải là những thông số đo lường được, định lượng được. Điều kiện thực tiễn, bối cảnh phát triển, tiềm năng, giới hạn của sự phát triển, cách thức tổ chức, vận hành kinh tế - xã hội... là những căn cứ rất quan trọng cho việc xác định mục tiêu phát triển đối với mỗi quốc gia.

- Sự khác nhau trong các điều kiện phát triển, cũng không giống nhau trong cách thức tổ chức vận hành kinh tế-xã hội, nhưng để khẳng định sự phát triển của quốc gia trực tiếp hay gián tiếp, thì cuối cùng chỉ số thu nhập bình quân đầu người vẫn là căn cứ quan trọng hàng đầu đối với mỗi quốc gia, là kết quả, là mục tiêu, là đích đến của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn phát triển.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam là một sự kiện chính trị trọng đại của dân tộc; là thời điểm nhìn lại chặng đường đất nước trải qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh 1991), trong đó có 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển 2011) và 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020; đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 – 2025 (năm kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất đất nước); xác định mục tiêu, phương hướng đến năm 2030 (năm kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Đảng) và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045 (năm kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Đây là những dấu mốc quan trọng, có ý nghĩa định hướng tương lai, cổ vũ, động viên sự đồng lòng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững vì mục tiêu “ dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Việt Nam tiến hành Đại hội Đảng trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn; song các mối đe dọa an ninh truyền thống, phi truyền thống, biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng gay gắt và đại dịch COVID-19, diễn tiến rất phức tạp, khó đoán định. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức, kinh tế số và xu hướng quốc tế hóa nguồn nhân lực vừa là thời cơ, vừa là thách thức đan xen với mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Việc xác định mục tiêu phát triển đất nước là vô cùng quan trọng, bởi chỉ khi xác lập chính xác mục tiêu sẽ giúp cho chúng ta biết nên tập trung vào những lĩnh vực trọng yếu của quốc kế, dân sinh và chuẩn bị những điều kiện cơ bản, thiết yếu trong xây dựng kế hoạch, hoạch định lộ trình phát triển phù hợp với thực tiễn. Đảng và Nhà nước luôn chú trọng xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội với các mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp tổng thể. Trong Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định các mục tiêu:

- Phấn đấu đến năm 2025 : là nước công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp.

-  Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao.

-  Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập Nước: Trở thành nước phát triển,theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có thu nhập cao.

      Việc xác định mục tiêu trên đây, có tính tới yếu tố Việt Nam vốn là nước nông nghiệp và phát triển trong bối cách của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, đang là xu hướng chủ đạo, nên việc ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ trong từng ngành, lĩnh vực, trong từng lộ trình phát triển là một tất yếu khách quan, phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới. Việc xác định mục tiêu gắn liền một cách chặt chẽ, nghiêm túc, khoa học với việc xây dựng các tiêu chí cụ thể và xác định được các khâu đột phá, để thực hiện mục tiêu có hiệu quả. Với ý nghĩa đó, đột phá chiến lược phản ánh các lựa chọn ở tầm vĩ mô, có ý nghĩa quyết định chiến lược. Đồng thời, đột phá chiến lược cũng hàm nghĩa tác động vào các khâu, các vấn đề, nội dung then chốt, cốt lõi để thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Việc xác định đúng và trúng các tiêu chí và các khâu đột phá chiến lược có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân. Xác định đột phá chiến lược phải dựa vào mục tiêu ưu tiên. Nội dung của cách tiếp cận xác định đột phá chiến lược dựa vào mục tiêu ưu tiên là: Xác định các mục tiêu ưu tiên và sắp xếp theo thứ tự ưu tiên phù hợp với từng giai đoạn và bảo đảm tính nhất quán trong khoảng thời gian thực hiện chiến lược; đồng thời,xác định các giải pháp tổng thể và các chính sách cơ bản để thực hiện các mục tiêu ưu tiên một cách có hiệu quả nhất. Thực chất, đó là quá trình xác định các đột phá cần phải thực hiện để đạt được các mục tiêu đã đề ra.

 

 

2.3. Việt Nam lựa chọn đột phá chiến lược giai đoạn 2021 – 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 để thực hiện mục tiêu phát triển đất nước

Xuất phát từ những yêu cầu đặt ra trong bối cảnh mới. Trong thời gian sắp tới, tình hình thế giới và khu vực sẽ tiếp tục có sự thay đổi nhanh chóng và diễn biến phức tạp, trong đó cần đặc biệt chú ý đến sự chuyển dịch quyền lực chính trị giữa các nước lớn, sự cạnh tranh chiến lược tại nhiều khu vực trên thế giới, trong đó có khu vực Đông Nam Á. Đồng thời, xu hướng bảo hộ và tự do hóa thương mại cùng duy trì và cạnh tranh nhau gay gắt. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là xu hướng toàn cầu, đang tác động mạnh mẽ và tạo ra những thời cơ cũng như thách thức trong chiến lược phát triển của các quốc gia. Hơn nữa, biến đổi khí hậu cũng đang ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn, tác động đến hàng loạt vấn đề về môi trường và xã hội trên toàn cầu. Dịch bệnh covid-19 với những hệ lụy, có thể kéo theo một cuộc suy thoái hoặc khủng khoảng kinh tế trên phạm vi toàn thế giới.

 Thực tiễn phát triển đất nước cho thấy, yêu cầu phát triển nhanh, bền vững được đưa ra trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 vẫn tiếp tục phù hợp với giai đoạn tiếp theo. Phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển của Việt Nam giai đoạn tới 2025, 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội là hữu hạn, do vậy cần tập trung giải quyết trước những khâu yếu, “điểm nghẽn” đang cản trở sự phát triển. Con đường để Việt Nam trở thành một nền kinh tế phát triển và những thành tựu đạt được trong thời gian qua mới chỉ là bước đầu. Tác động của những cải cách thể chế và mô hình phát triển trong giai đoạn đầu dường như đã đạt đến giới hạn. Một vấn đề cấp thiết được đặt ra là việc điều chỉnh và thay đổi mô hình tăng trưởng để Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình, trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và là nước có thu nhập cao vào năm 2045.Việc khai thác, sử dụng và phát huy có hiệu quả các nguồn lực sẽ tạo xung lực mới, có sức mạnh lan tỏa, giải phóng mọi tiềm năng cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Việt Nam là một quốc gia có sự đa dạng đối với các thành phần trong cơ cấu kinh tế. Điều này là một lợi thế, nhưng cũng có rất nhiều khó khăn trong quá trình phát triển của đất nước, đòi hỏi cần có sự quản lý phù hợp và có sự đột phá, nhằm tạo ra sự lan tỏa, đem lại chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế.

 Những vấn đề đạt ra trong xác định các đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và tầm nhìn đến năm 2045:

Thứ nhất, đột phá chiến lược cần tập trung vào các khâu trọng yếu. Dựa vào cách tiếp cận nhằm xác định chiến lược phát triển của các quốc gia trên thế giới, có thể thấy những điểm đột phá nhằm tác động đến phát triển kinh tế đều tập trung vào các khâu trọng yếu của nền kinh tế. Đó là các yếu tố có tác động mạnh mẽ, mang tính quyết định đến chất lượng đầu ra của nền kinh tế, như nguồn nhân lực và vốn. Phát triển con người là nền tảng cốt lõi, cũng là mục tiêu cao nhất của phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, yếu tố vốn cũng đóng vai trò rất quan trọng đối với các quốc gia đang phát triển như nước ta. Ngoài ra, còn có năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) cũng chiếm một phần ngày càng lớn trong tỷ lệ đóng góp cho tăng trưởng kinh tế. Các yếu tố tác động đến TFP có thể kể đến, như năng suất lao động, trình độ khoa học - công nghệ, hay thể chế kinh tế. Các yếu tố này đều là các khâu trọng yếu của nền kinh tế, là nền tảng giúp cho “cỗ máy” vận hành trơn tru, có tính lan tỏa đến các thành phần khác trong nền kinh tế, giúp nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững.

Thứ hai, đột phá chiến lược cần tập trung vào giải quyết các “điểm nghẽn” của nền kinh tế. Như đã đề cập ở trên, một nền kinh tế luôn phải giải quyết rất nhiều vấn đề để tăng trưởng, tuy nhiên, nguồn lực cho việc đó lại là hữu hạn và rất khan hiếm. Vì thế, việc lựa chọn sử dụng nguồn lực như thế nào cho hợp lý cũng rất quan trọng. Để làm được điều này, cần xác định đâu là “điểm nghẽn” của nền kinh tế, là “nút thắt” gây trở ngại cho sự phát triển của quốc gia. Từ đó, có thể tìm ra giải pháp thích hợp và đầu tư tập trung giải quyết, tháo gỡ khó khăn cho lĩnh vực đó, tránh đầu tư dàn trải gây thất thoát, lãng phí và thiếu hiệu quả.

Thứ ba, đột phá chiến lược cần đón bắt được thời cơ, hóa giải thách thức trong quá trình phát triển. Để xác định được điểm đột phá chiến lược cho nền kinh tế, không những cần quan tâm đến đặc điểm, điều kiện của quốc gia, mà còn phải nắm bắt được tình hình, bối cảnh quốc tế trong tương lai. Cần làm rõ những xu hướng về chính trị - kinh tế - xã hội trong thời gian sắp tới để đưa ra những dự báo, những tình huống giả định và đề ra những đường lối phát triển quốc gia sao cho phù hợp nhất. Nhận thức được những lợi thế và khó khăn của đất nước, đồng thời nắm bắt được cơ hội, phòng tránh và giải quyết các thách thức trong phát triển sẽ là chìa khóa quan trọng dẫn đến sự thành công phát triển của đất nước.

Thứ tư, đột phá chiến lược cần phát huy và khai thác tối đa lợi thế cạnh tranh. Lợi thế cạnh tranh quốc gia luôn được nhấn mạnh trong các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, không chỉ ở các quốc gia đang phát triển mà cả các quốc gia phát triển. Đây là yếu tố quyết định để cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Xác định được lợi thế cạnh tranh quốc gia nhằm đưa ra giải pháp đột phá chiến lược mới có thể khai thác tối đa lợi thế này.

Thứ năm, thực hiện các đột phá chiến lược cần tạo động lực thúc đẩy phát triển, thực hiện các mục tiêu trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Các chiến lược phát triển luôn đề ra đường lối và cụ thể hóa bằng những mục tiêu, chỉ số cơ bản của không chỉ nền kinh tế mà còn của lĩnh vực văn hóa - xã hội, môi trường, quốc phòng - an ninh. Để đạt được điều này, việc xác định các khâu đột phá cần chú ý tới các chỉ tiêu quan trọng trong các lĩnh vực của Chiến lược phát triển, vì đây là thước đo rõ ràng nhất cho sự thành công của sự phát triển đất nước.

Nhìn lại ba đột phá chiến lược trong giai đoạn 2011 - 2020 cho thấy, Việt Nam đang ưu tiên lựa chọn đột phá chiến lược dựa vào tiếp cận “điểm nghẽn”. Đây là lựa chọn đúng trong giai đoạn 10 năm vừa qua và thực tiễn cho thấy, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu, tạo tiền đề cho phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn tiếp theo. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới, bối cảnh mới, tiếp cận mới, sự lựa chọn đột phá chiến lược cho giai đoạn 2021 - 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, vừa cần bảo đảm khai thông “điểm nghẽn”, vừa cần kích hoạt các động lực cho tăng trưởng, đồng thời cần đạt được các mục tiêu ưu tiên đề ra trong phạm vi nguồn lực là hữu hạn. Với yêu cầu đó, phải lựa chọn trọng tâm, trọng điểm của các đột phá giai đoạn trước, đồng thời bổ sung những nội dung mới, những điểm đột phá mới là yêu cầu cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay.Đột phá trong giai đoạn tới cần vừa kế thừa các đột phá chiến lược đã được đề xuất trong giai đoạn 2011 - 2020, đồng thời từ thực tiễn tình hình trong nước cũng như quốc tế có nhiều thay đổi, cần vừa cụ thể hóa và vừa bổ sung một số nội dung mới sau đây:

Một là, bổ sung nội dung hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Nội dung này nhấn mạnh hơn tới sự hoàn thiện thể chế phát triển, với trung tâm là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đi cùng là bộ máy quản lý gọn nhẹ, với đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức, liêm chính, trong sạch, có năng lực chuyên môn giỏi, sáng tạo, hết lòng phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đây là những điều kiện quan trọng hàng đầu để bảo đảm nâng cao chất lượng thể chế.

Hai là, cụ thể hóa và bổ sung nội dung về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, có kỹ năng đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; thúc đẩy mạnh mẽ năng lực đổi mới sáng tạo; tập trung đào tạo, bồi dưỡng, thu hút nhân tài. Trong những năm cuối của thập niên vừa qua, thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã tác động mạnh, rộng lớn, sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Những thành tựu công nghệ mới, như trí tuệ nhân tạo (AI), phân tích dữ liệu lớn (big data), intơnét vạn vật (IoT), công nghệ rô-bốt, công nghệ sinh học, vật liệu mới tạo ra những phương tiện, phương thức sản xuất, giao tiếp, sinh hoạt chưa từng có trong lịch sử loài người; thúc đẩy sự hình thành và phát triển của các mô hình phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức, quản trị, quản lý,... hoàn toàn mới. Trên nền tảng đó, yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao phải thay đổi, phải gắn với bối cảnh mới. Do đó, nhân lực đòi hỏi phải có nhiều kỹ năng mới mà đổi mới sáng tạo là yếu tố quyết định. Cùng với phát triển nhân lực chất lượng cao, chính sách bồi dưỡng, thu hút nhân tài cần được thực hiện một cách căn cơ, bài bản và mang tính chiến lược.

Ba là, cụ thể hóa và bổ sung nội dung về phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam; khơi dậy tinh thần yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, khát vọng phát triển và sức sáng tạo của nhân dân. Lịch sử Việt Nam cũng như thực tiễn ở các quốc gia phát triển thành công trên thế giới cho thấy, sự hùng cường của một quốc gia, dân tộc do nhân tố con người quyết định. Sự hùng cường được hun đúc nên từ cả nền tảng vật chất và giá trị tinh thần, như tinh thần yêu nước, đoàn kết dân tộc, đặc biệt là khát vọng phát triển và sức sáng tạo của nhân dân. Sự phát triển của Việt Nam năm đến 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và những năm tiếp theo phụ thuộc vào Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tổng thể, dài hạn và toàn diện nhưng chắc chắn, sự thành công trong tương lai đòi hỏi con người Việt Nam cần có một khát vọng phát triển mãnh liệt, không ngừng sáng tạo và tinh thần yêu nước nồng nàn.

Bốn là, bổ sung nội dung tăng cường kết nối với khu vực và thế giới. Phát triển mạnh kết cấu hạ tầng, đặc biệt là kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin, hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia, tạo nền tảng để phát triển nền kinh tế số, xã hội số. Trong những năm tới, để đi xa hơn, tiếp cận được nhiều thị trường, kết cấu hạ tầng giao thông của Việt Nam cần tiếp tục kết nối với khu vực và thế giới. Kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin, tài nguyên, dữ liệu số cần phát triển tương xứng và đáp ứng xu hướng phát triển nền kinh tế số, xã hội số.

Năm là, bổ sung đột phá phát triển mạnh mẽ khoa học - công nghệ; xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách để thúc đẩy ứng dụng công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển; hình thành hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, lấy doanh nghiệp là trung tâm nghiên cứu phát triển, ứng dụng và chuyển giao công nghệ. Lý thuyết và thực tiễn ở các quốc gia đã khẳng định vai trò quan trọng của khoa học - công nghệ trong nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả trên tất cả các lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội. Khoa học - công nghệ không những quyết định việc “sản xuất ra cái gì” mà còn “bằng phương thức nào”. Đây cũng là nhân tố quyết định sự khác biệt cũng như trình độ phát triển của mỗi quốc gia.

 Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Với hướng đi đúng đắn, hợp quy luật, ý chí vươn lên mãnh liệt, tinh thần đổi mới sáng tạo và quyết tâm chính trị cao, đất nước ta nhất định sẽ lập nên kỳ tích phát triển mới, sẽ bước vào một giai đoạn phát triển mới vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và khát vọng phát triển đất nước hùng cường, thịnh vượng của toàn dân tộc”[1]

Chúng ta tin tưởng rằng, dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, với sự đồng lòng, đồng thuận cao của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, nhất định chúng ta sẽ đặt được những mục tiêu đã đề ra và giành được nhiều thắng lợi mới to lớn hơn nữa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.