Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị khóa XII ban hành Nghị quyết 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Nghị quyết khẳng định, đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân. Do đó, cần phải phát huy tối đa vai trò, trách nhiệm của tất cả cán bộ, đảng viên, nhân dân trong đó có đội ngũ thanh niên - những chủ nhân tương lai của đất nước.
Thứ Năm, 25 tháng 3, 2021
PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM CỦA THANH NIÊN TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG
Bình Dương phát hiện ca mắc Covid-19 trong cộng đồng
Bình Dương ghi nhận ca mắc Covid-19 mới trong cộng đồng là người đàn ông quốc tịch Trung Quốc. Cơ quan chức năng đã cách ly 8 trường hợp là F1, đồng thời truy vết F2, F3 của ca bệnh này.
Sáng 26/3, ngành y tế tỉnh Bình Dương tiếp tục truy vết các trường hợp F1, F2 có liên quan đến ca mắc Covid-19 mới ghi nhận. Đồng thời thực hiện nghiêm các hoạt động phòng chống lây nhiễm trong khu cách ly, điều tra, lập danh sách các trường hợp F3 và truy vết toàn bộ người tiếp xúc mà ca bệnh đi qua.
Khoảng 16h chiều 25/3, Trung tâm kiểm soát bệnh tật TP.HCM thông báo về trường hợp có kết quả xét nghiệm dương tính SARS-CoV-2 là người quốc tịch Trung Quốc, sinh năm 1977, cư ngụ trong khu dân cư OASIS 2 (phường An Phú, TP Thuận An), các ngành chức năng tỉnh Bình Dương đã khẩn trương thực hiện các biện pháp phòng chống dịch.
Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Bình Dương phối hợp với Trung tâm Y tế TP Thuận An tiến hành điều tra, xác minh. Qua lời khai của vợ bệnh nhân được biết bệnh nhân nhập cảnh vào Việt Nam từ tháng 3/2020, đến khoảng tháng 1/2021 đi đến cửa khẩu Mộc Bài (tỉnh Tây Ninh).
Ngày 22/3, bệnh nhân di chuyển từ cửa khẩu Mộc Bài về nhà tại khu dân cư OASIS 2. Trong 3 ngày 23,24 và 25/3, bệnh nhân tới công ty làm việc tại khu dân cư Việt Sing (phường An Phú, TP Thuận An). Trong sáng 25/3, bệnh nhân bắt Grab đi lên Trung tâm kiểm soát bệnh tật TP.HCM làm xét nghiệm SARS- CoV2 để qua Campuchia thì cho kết quả dương tính
Dân không chỉ “lo sợ” mà “khiếp sợ” nhũng nhiễu!
Trong lịch sử Doanh nghiệp Việt
Nam không sợ đối thủ cạnh tranh, kể cả đương đầu với các công ty lớn, hãng lớn
trên thế giới. Lịch sử đã hơn một lần chứng minh tài trí của doanh nhân Việt
nhưng doanh nghiệp Việt Nam không chỉ lo sợ mà khiếp sợ với sự những nhiễu của
cán bộ, công chức nắm quyền hành. Có lẽ khó có thể nói khác được, sự trì trệ
của nền hành chính cộng với tư tưởng “cai trị dân” của một “bộ phận không nhỏ”
cán bộ, công chức đang là rào cản lớn nhất cho sự phát triển của đất nước hiện
nay. Đặc biệt là đối với các doanh nghiệp.
Trong dân gian,
không hiếm những câu “thành ngữ mới” chỉ đọc lên đã thấy xót xa như “Vỗ béo làm
thịt”, “Trên trải thảm, dưới rải đinh”, “Chim chưa đậu đã nhậu mất chim”…và câu
nói rất nổi tiếng về công chức Thủ đô của ông Phạm Quang Nghị khi còn làm Bí
thư “Hà Nội bôi mà vẫn không trơn”.
Vì sao lại có
những câu nói đau lòng này trong người dân và doanh nghiệp và vì sao lại có sự
trì trệ nhức nhối của nền hành chính hôm nay?
Có lẽ có nhiều
nguyên nhân mà trước hết, phải kể đến là trình độ của “một bộ phận không nhỏ”
cán bộ, công chức yếu kém, không đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước.
Lý do thì nhiều
như hiện tượng “4C – Con cháu các cụ”, tuyển người theo tiêu chí “4 ệ - “hậu
duệ”, “quan hệ”, “tiền tệ” và cuối cùng mới là “trí tuệ”. Đó là chưa kể một số
cán bộ công chức được đào tạo từ xưa, tuy mẫn cán nhưng sức khỏe và năng lực có
phần hạn chế, thiếu đầu óc sáng tạo để tiếp thu những công nghệ mới.
Nguyên nhân thứ
hai, đó là tàn tích của tư tưởng “cai trị dân”. Không ít cán bộ, công chức tự
cho mình cái quyền quản lý và “cai trị”, thậm chí họ tự biến mình thành những
“ông vua con” như lời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng mà quên đi chức năng
phục vụ nhân dân như lời dạy của Hồ Chủ tịch: “Cán bộ là công bộc của dân”.
Thứ ba, là thái
độ nhũng nhiễu có chủ đích, cố tình gây khó khăn để người dân và doanh nghiệp
phải “biết điều” cúng tế, tự cho mình cái quyền bắt dân “cống nạp”.
Có lẽ chính vì
thế, tại Lễ ký cam kết về tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh
nghiệp, thực hiện Nghị quyết 35/NQ-CP của Chính phủ do Phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức tại TPHCM ngày 24/8/2020, Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên
Phó Thủ tướng Chính phủ, hiện là Bí thư thành ủy Hà Nội, ông Vương Đình Huệ đã
tỏ thái độ rất kiên quyết trong vấn đề này: “Cán bộ công chức nhũng nhiễu mà
xem xét kỷ luật theo đúng quy trình thì lâu lắm, vì thế trước khi nói đến việc
xem xét kỷ luật thì tốt nhất là cho nghỉ việc và thay thế, chuyển cán bộ nhũng
nhiễu đi làm việc khác rồi cho ngồi đó mà suy nghĩ về cái ghế của mình. Nhắc
nhở không thay đổi thì luân chuyển người khác. Quán triệt thái độ và cư xử của
cán bộ công chức đối với nhân dân, xử lý nghiêm không là mang tiếng lắm”.
Có thể nói, ông
Huệ đã nói đúng và nói trúng mong muốn của nhân dân. Người dân đã quá mệt mỏi
với những thủ tục rườm rà, nhiêu khê, sự nhũng nhiễu của cán bộ, công chức và
còn chán nản hơn, mỗi khi thấy kỉ luật một ai đó vi phạm lại vấp phải cái qui
tình dài “lằng nhằng, loẵng nhoẵng” với kết quả thường là “đầu voi, đuôi
chuột”, phổ biến là hình thức “rút kinh nghiệm” sau khi “kiểm điểm nghiêm
khắc”. Người dân mong mỏi Chính phủ chỉ đạo làm ngay, làm quyết liệt, làm thật
thậm chí đuổi thẳng tay những cán bộ, công chức hạch xách, hoạnh họe, nhũng
nhiễu dân.
Doanh nghiệp
Việt Nam không sợ đối thủ cạnh tranh, kể cả đương đầu với các công ty lớn, hãng
lớn trên thế giới. Lịch sử đã hơn một lần chứng minh tài trí của doanh nhân
Việt nhưng doanh nghiệp Việt Nam không chỉ lo sợ mà khiếp sợ với sự những nhiễu
của cán bộ, công chức nắm quyền hành. Nếu dẹp bỏ được những cán bộ, công chức
nhũng nhiễu dân, kinh tế nước mình không có lý gì không phát triển mạnh mẽ.
Vì vậy, người
dân mong muốn Chính phủ của nhiệm kỳ mới cần có sự nghiêm khắc, quyết liệt hơn
nữa, thẳng tay cho nghỉ việc ngay lập tức những cán bộ, công chức nhũng nhiễu
dân như lời của ông Huệ?
PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VÔ CĂN CỨ CỦ TỔ CHỨC XƯNG DANH FEEDOM HOUSE
Một trong những căn cứ Freedom House (tổ chức NGO “Ngôi nhà tự do”) xếp hạng Việt Nam là nước “không có tự do” trong Báo cáo về tự do chính trị và dân sự toàn cầu năm 2021 đối với 195 quốc gia và lãnh thổ với cho rằng các cuộc bầu cử ở Việt Nam đều bị Đảng quản lý, giám sát, không có bầu cử tự do, công bằng, các vị trí chủ chốt, quan trọng trong chính quyền đều được sắp xếp, chỉ định trước, tỷ lệ người dân tộc thiểu số, phụ nữ có vị trí cao trong chính quyền rất thấp… Những luận cứ Freedom House đưa ra mang nặng sự kỳ thị, áp đặt đối với thể chế chính trị mà nó chống lại bằng mọi cách, thâm căn cố đế.
Cần đổi mới trong phát triển kinh tế tư nhân
Trên thực tế, gánh nặng thanh, kiểm tra vẫn
"đè" doanh nghiệp, mà muốn kinh tế bứt phá thì không
thể cứ "nã" doanh nghiệp! vấn đề này đã được báo chi đưa tin rất
nhiều trong thời gian qua. Đặc biệt trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 cũng vẫn
bị kiểm tra khiến doanh nghiệp gặp nhiều rủi ro.
Chẳng hạn như vụ án
thanh tra ở BXD chúng ta thấy rõ mục đích thanh tra chưa phải là "làm cho
đúng pháp luật" mà còn là kiếm tiền. Thanh kiểm tra chính là con mắt của
chính quyền, vì vậy nếu mắt cố tình lác, hiểng...thi bắt buộc phải múc bỏ mắt
và thậm chí phạt thật nặng. Hoặc vụ mà nhiều độc giả vẫn còn nhớ là vụ việc quán "cà phê Xin
Chào" cách đây ít lâu. Sự việc này đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về
tình trạng lạm quyền trong vấn đề thanh, kiểm tra doanh nghiệp. Còn nữa, trong
trường hợp doanh nghiệp đã chia cổ tức hằng năm. Vài năm sau, cơ quan thanh tra
vào cuộc, yêu cầu truy thu thuế, doanh nghiệp không biết xử lý như thế nào?
Dù thời gian qua
lãnh đạo Chính phủ rất quyết liệt trong chủ trương chính sách để tạo điều kiện
cho doanh nghiệp phát triển, được làm những gì mà pháp luật không cấm, thế
nhưng, không ít nơi, các chủ doanh nghiệp vẫn quá "ngán", phải
"kêu trời" với tình trạng "canh me", quyết "trị bằng
được" của một số cấp cơ sở.
Luật Thanh tra
yêu cầu việc thanh tra phải có kế hoạch hàng năm, trường hợp thanh tra định kỳ
phải có quyết định thanh tra và gửi trước cho doanh nghiệp, doanh nghiệp được
phép giải trình đối với dự thảo kết luận thanh tra và kết luận cuối cùng phải
được cung cấp cho doanh nghiệp. Luật cũng có quy định các khoảng thời gian cụ
thể cho từng bước của một cuộc thanh tra. Tuy nhiên, đối với hoạt động kiểm tra
thì hiện nay không có các quy định như vậy. Trong khi đó, có sự trùng lặp giữa
việc thanh tra và kiểm tra doanh nghiệp về nội dung và hệ quả pháp lý của hai
hoạt động này. Chính vì vậy, tình trạng nhiều cơ quan nhà nước lạm dụng hoạt
động kiểm tra để nhũng nhiễu doanh nghiệp vẫn diễn ra. Đây cũng là một biểu
hiện của tình trạng "trên nóng dưới lạnh" đang khá phổ biến, thậm chí
không ít nơi "nói một đường làm một nẻo", kêu gọi doanh nghiệp về đầu
tư nhưng "trên rải thảm, dưới rải đinh" khiến doanh nghiệp "đi
mắc núi về mắc sông", muốn đầu tư lắm mà triển khai thì… chịu!
Đã có vị lãnh
cao cấp của VCCI có lần ví von: "Con đường dài nhất Việt Nam không phải là
từ Mục Nam Quan đến Mũi Cà Mau mà là từ lời nói đến việc làm của nhiều cấp
chính quyền và công chức". Câu than thở nghe thì hài hước, mà ngẫm lại
thấy sao chua cay đến thế!
"Đối thoại
2045" với các doanh nhân, trí thức tiêu biểu, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn
Xuân Phúc nhắc lại một trong những di nguyện lớn nhất của Bác Hồ chính là đất
nước trở nên vẻ vang, sánh vai với các cường quốc năm châu.
Mà muốn vậy,
chúng ta phải có những doanh nghiệp lớn mạnh, những thương hiệu có sức cạnh
tranh khu vực và toàn cầu, đặc biệt có nguồn nhân lực xuất sắc để đảm đang
những công việc lớn của đất nước.
Chính phủ khẳng
định tầm quan trọng của doanh nghiệp tư nhân trong mục tiêu đầy tham vọng, trở
thành một nền kinh tế phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Dù sòng phẳng mà
nói, vẫn có những có những doanh nghiệp vi phạm, sai phạm nhưng công tác thanh,
kiểm tra phải đúng chức năng: làm trong sạch môi trường kinh doanh, tạo cơ hội
bình đẳng cho mọi doanh nghiệp; chứ không phải phục vụ lợi ích trước mắt, động
cơ không trong sáng của một nhóm người, cản trở mục tiêu chung của cả nền kinh
tế!
Kiên quyết, kiên trì và tích cực làm trong sạch đội ngũ của Đảng Theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Bôn
ba khắp năm châu, bốn biển để nghiên cứu, tìm hiểu về các cuộc cách mạng điển
hình, kiểm nghiệm nhiều học thuyết, nhiều con đường đấu tranh của giai cấp công
nhân, nhân dân các nước thuộc địa, cuối cùng Người đã đến với chủ nghĩa Mác -
Lênin, tìm thấy ở đó ánh sáng chân lý của thời đại, con đường giải phóng dân
tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Mùa Xuân năm 1930, Người chủ trì
Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và thông qua Cương lĩnh chính trị đầu
tiên của Đảng. Sự ra đời của Đảng khẳng định tầm nhìn, vai trò, bản lĩnh, trí
tuệ và uy tín của Hồ Chí Minh; là cống hiến to lớn và đầy sáng tạo của Người
trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào việc thành lập một đảng cách mạng
chân chính để lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Tư
tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những
vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; là kết quả của cả một quá trình vận dụng
và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế
thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh
hoa văn hoá nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý báu của Đảng
và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta
đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác; góp phần vào cuộc đấu tranh chung của
các dân tộc trên thế giới, vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã
hội.
Là
người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm
đặc biệt đến công tác xây dựng Đảng, để Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh,
thật sự là một Đảng cách mạng chân chính, là đạo đức, là văn minh. Trong Di
chúc, Người căn dặn, phải ra sức giữ gìn, củng cố sự đoàn kết nhất trí của
Đảng: "Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta.
Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí
của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình". Trên tinh thần phát huy dân
chủ; nghiêm túc thực hiện tự phê bình và phê bình; giữ vững kỷ luật, kỷ cương; tăng
cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân; thường xuyên chỉnh
đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; kiên quyết đấu tranh
chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng
phải gắn với xây dựng Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, xây
dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Người chỉ rõ: Nước ta là nước dân chủ, bao
nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều ở nơi dân; dân chủ là của quý
báu nhất trên đời của dân; thực hành dân chủ rộng rãi là chiếc chìa khoá vạn
năng để giải quyết mọi nhiệm vụ, vượt qua mọi khó khăn, phải lắng nghe tiếng
nói của nhân dân, lấy dân làm gốc, "đem tài dân, sức dân làm lợi cho
dân".
Với
trí tuệ sáng suốt, tư duy chính trị nhạy bén, Người đã sớm nhận thức được đặc
điểm và xu thế phát triển của thời đại để từ đó gắn kết cách mạng Việt Nam với
cách mạng thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nhân tố
quan trọng tạo nên sức mạnh tổng hợp của cách mạng nước ta. Tư tưởng Hồ Chí
Minh và sự nghiệp cách mạng vô cùng phong phú, vĩ đại của Người không những là
tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam, nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam của cách
mạng Việt Nam mà còn là đóng góp quý báu của Người vào sự nghiệp cách mạng của
các dân tộc bị áp bức trên thế giới, vào sự phát triển những tinh hoa tư tưởng
và văn hoá nhân loại.
Hồ
Chí Minh là Tấm gương sáng ngời, mẫu mực về đạo đức cách mạng. Người là biểu
tượng về ý chí, nghị lực và sự phấn đấu nỗ lực không mệt mỏi để vượt qua mọi
khó khăn, thử thách. Người luôn nêu gương sáng về tính kiên định, bản lĩnh,
lòng trung thành tuyệt đối với mục tiêu, lý tưởng cách mạng; tấm gương gần dân,
tin dân, yêu thương, quý trọng nhân dân, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc,
phục vụ nhân dân; cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Người là hiện thân của
tinh thần khoan dung, nhân ái Việt Nam; biểu tượng của đạo đức cách mạng cao
đẹp, tinh thần quốc tế trong sáng, thuỷ chung, là sứ giả của hoà bình, hữu nghị
giữa các dân tộc. Những phẩm chất đạo đức cách mạng cao quý của Hồ Chí Minh
không phải tự nhiên mà có. Đó là kết quả của cả một quá trình không ngừng tự tu
dưỡng, tự rèn luyện và hoàn thiện bản thân mình. Vì thế, Người luôn căn dặn cán
bộ, đảng viên phải không ngừng tự tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức để trở thành
những người chiến sĩ cách mạng mẫu mực. Người là hiện thân của nếp sống giản
dị, trong sáng, yêu lao động, coi khinh sự xa hoa, không một chút ham muốn công
danh phú quý cho bản thân. Cả cuộc đời Người dấn thân chỉ với một mục đích
"phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân". Đạo đức,
phong cách Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động, giữa lời
nói và việc làm, đã trở thành lẽ sống tự nhiên. Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân
dân ta đều tìm thấy trong những lời dạy của Người và từ tấm gương đạo đức cao
đẹp của Người, từ phong cách Hồ Chí Minh những chuẩn mực cần học tập, tu dưỡng,
rèn luyện để mỗi ngày càng trở nên hoàn thiện hơn, vươn tới những giá trị văn
hoá chân - thiện - mỹ trong cuộc sống.
Như lời của TBT, Chủ tịch nước
Nguyễn Phú Trọng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và
uy tín quốc tế như ngày nay; có thêm nhiều điều kiện, tiền đề thuận lợi để vững
bước trên con đường mà Đảng ta, nhân dân ta và Bác Hồ kính yêu đã lựa chọn.
Thành tựu của 35 năm đổi mới đã khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta dựa
trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là đúng đắn, sáng
tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại”.
Càng
phấn khởi, tự hào, chúng ta càng tuyệt đối không chủ quan, thoả mãn với những
kết quả, thành tích đã đạt được. Đất nước ta vẫn đang đứng trước nhiều khó
khăn, thách thức. Trong lãnh đạo, quản lý, trong tổ chức thực hiện, chúng ta
vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém; vẫn còn những vấn đề chưa được giải quyết
triệt để, nhiều điểm nghẽn chưa được tháo gỡ; trong khi những yêu cầu, nhiệm vụ
mới, thách thức và mâu thuẫn mới, những vấn đề lớn, phức tạp tiếp tục phát
sinh. Các thế lực thù địch vẫn luôn tìm mọi cách phá hoại sự nghiệp cách mạng
của nhân dân ta; xuyên tạc, kích động, chia rẽ hòng làm tan rã Đảng ta, chế độ
ta. Sự bảo thủ, trì trệ; tư duy cục bộ, lợi ích nhóm; sự tha hoá quyền lực,
"tự diễn biến", "tự chuyển hoá", tình trạng tham nhũng,
lãng phí, xuống cấp về mặt đạo đức và trách nhiệm xã hội v.v... cũng là những
thứ giặc nội xâm vô cùng nguy hiểm, đe doạ vai trò lãnh đạo và sứ mệnh của
Đảng, sự tồn vong của chế độ, vận mệnh của đất nước, dân tộc. Những khó khăn,
hạn chế, khuyết điểm đó đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, cả hệ thống chính trị phải
nghiêm túc nhìn nhận, có quyết tâm chính trị cao hơn nữa, nỗ lực phấn đấu nhiều
hơn nữa để khắc phục cho bằng được.
Thấm
nhuần sâu sắc những di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta cần phải tiếp
tục tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch,
vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; nâng cao năng lực lãnh
đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa thật sự "của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân".
Phải tiếp tục phát huy truyền thống gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân; dựa
vào nhân dân để xây dựng Đảng; ra sức phát huy dân chủ và quyền làm chủ của
nhân dân, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng "như giữ gìn con ngươi
của mắt mình" để Đảng ta mãi mãi "là đạo đức, là văn minh" - như
lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh; xứng đáng với vai trò, sứ mệnh lãnh đạo
cách mạng và sự tin cậy, kỳ vọng của nhân dân.
Làm
theo chỉ dẫn của Bác về "Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa
cá nhân", chúng ta cần kiên quyết, kiên trì và tích cực làm trong sạch đội
ngũ của Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng, sự suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, tình trạng "tự diễn
biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ; tiếp tục đưa việc đẩy mạnh
học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành sinh
hoạt chính trị thường xuyên, trở thành một nhu cầu văn hoá trong Đảng, trong
dân. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nghiêm túc thực hiện trách nhiệm nêu gương;
người có chức vụ càng cao, cương vị càng lớn, nhất là người đứng đầu các cơ
quan, đơn vị trong Đảng và trong bộ máy chính quyền lại càng phải gương mẫu
trong tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong,
lề lối công tác để quần chúng, nhân dân noi theo, như lời Bác dạy: "một
tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền".
Chúng
ta cần tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm "Dân là gốc". Nhân dân
là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới; thực hiện đúng nguyên tắc: Mọi
chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích
chính đáng, hợp pháp của nhân dân; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục
tiêu phấn đấu. Trước hết, cần chăm lo đầy đủ và sâu sắc đến đời sống, lợi ích
thiết thực của nhân dân; thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân
dân. Lời Bác dạy "Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế
giới, không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân" là bài học sâu
sắc, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng khi đất nước đang ở bước ngoặt có tính lịch
sử, cần huy động những nguồn lực vật chất và tinh thần to lớn để tiếp tục bứt
phá vươn lên. Thời gian qua, trong vô vàn khó khăn của dịch bệnh, thiên tai,
chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn bản chất tốt đẹp của chế độ ta, của hệ
thống chính trị ở nước ta, sức mạnh của truyền thống yêu nước, của ý chí đoàn
kết, thống nhất hành động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, được thế
giới ghi nhận và đánh giá rất cao. Thực tiễn đó khẳng định giá trị to lớn của
lòng yêu nước, đạo lý nhân văn, tinh thần và ý chí Việt Nam; cơ sở rất quan
trọng để tiếp tục củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và tiền đồ tươi
sáng của Dân tộc.
Tình
hình quốc tế và trong nước có nhiều thời cơ, thuận lợi nhưng cũng có không ít
khó khăn, thách thức đan xen, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta cần
đoàn kết, phấn đấu với quyết tâm cao và nỗ lực lớn, năng động, sáng tạo hơn nữa
để hoàn thành thật tốt những mục tiêu, nhiệm vụ đã đặt ra, trước hết là khắc
phục những thách thức và tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19, bảo đảm thật
tốt an sinh và phúc lợi xã hội cho nhân dân; đồng thời chủ động, nhạy bén nắm
bắt thời cơ, phấn đấu hoàn thành ở mức cao nhất các nhiệm vụ phát triển kinh tế
- xã hội của năm 2021; từ đó góp phần hoàn thành tốt các nhiệm vụ phát triển
kinh tế - xã hội của nhiệm kỳ Đại hội XIII và giai đoạn 2021 - 2025; chuẩn bị
và tổ chức thật tốt bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đông nhân dân các cấp; tiếp
tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, tăng cường sự gắn bó
máu thịt giữa Đảng và nhân dân. Tiếp tục đi theo con đường cách mạng vẻ vang mà
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta đã vạch ra, toàn Đảng, toàn dân và
toàn quân ta nguyện kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp vĩ đại của Người;
kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất
và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; xây dựng đất nước Việt Nam "dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", vững bước đi lên CNXH; để đất
nước ta "ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn" như Bác Hồ kính yêu
hằng mong muốn.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác đối ngoại hiện nay
Trong
bối cảnh hiện nay, việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ
Chí Minh trong công tác đối ngoại của Đảng càng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
sâu sắc. Đó là,
Giữ vững các quyền dân tộc cơ bản gắn với độc lập
tự chủ, tự lực, tự cường. Ngay trong Tuyên ngôn
Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
khẳng định các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam theo tinh thần “tất cả các dân
tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền
sung sướng và quyền tự do”. Việc bảo đảm các quyền dân tộc cơ bản phải gắn với
độc lập tự chủ, tự lực, tự cường thì mới bền vững. Bác đã dặn: “Muốn người ta
giúp cho, thì trước hết mình phải tự giúp lấy mình đã”; “Muốn làm gì cũng cần
vì lợi ích của dân tộc mà làm”; “Ta có mạnh thì họ mới chịu đếm xỉa đến. Ta yếu
thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dẫu kẻ ấy có thể là bạn đồng
minh của ta vậy”(2). Người cũng đã đúc kết thành chân lý: “Không có
gì quý hơn độc lập, tự do”. Và chân lý ấy, đến ngày nay vẫn là một yêu cầu
thiết yếu trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế.
Hiện nay, Việt Nam đang thực
hiện tốt trách nhiệm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và
Chủ tịch ASEAN, đề cao vai trò của Liên hợp quốc trong việc bảo đảm các quyền
dân tộc cơ bản gắn với độc lập tự chủ của các nước, nâng cao vai trò trung tâm
của ASEAN trong khu vực, đóng góp tích cực vào công việc chung của thế giới,
trong đó có tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc… Việt Nam
cũng đã chủ động, tích cực thúc đẩy đàm phán, hợp tác giải quyết những tồn tại
trong phân định biên giới trên bộ và trên biển, vừa bảo vệ được chủ quyền,
quyền chủ quyền và quyền tài phán của ta theo phương châm đã được Tổng Bí thư,
Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nêu rõ là “phải luôn kiên trì, bình tĩnh, sáng
suốt xử lý đúng đắn mọi vấn đề phức tạp, trong đó có vấn đề chủ quyền, lãnh
thổ”, “thực hiện phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”, nhất là giữ “trái tim
nóng, cái đầu lạnh” và “kiên quyết, kiên trì” để xử lý các thách thức đối
ngoại”. Việt Nam đang thể hiện lập trường chủ động, mạnh mẽ, tích cực hơn về
các vấn đề lợi ích cốt lõi của mình nhằm dẫn dắt dư luận, tạo sự ủng hộ rộng
rãi của quốc tế.
Tư tưởng kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời
đại. Trong đó, tư tưởng chủ đạo là độc lập tự chủ, tự lực, tự cường
gắn với đoàn kết và hợp tác quốc tế. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “cái gốc, cái
điểm mấu chốt về chính trị, quân sự, kinh tế, nội chính, ngoại giao của ta là
tự lực cánh sinh”. Người nhấn mạnh: “Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi.
Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to, tiếng mới
lớn”. Bác Hồ cũng đã chú trọng xây dựng và phát huy sức mạnh của công tác đối
ngoại nhân dân, nhờ đó đã vận động được nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Người đã nêu rõ: “Sức mạnh, sự vĩ đại và sự bền bỉ
của nhân dân Việt Nam cơ bản là ở sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam và sự ủng
hộ của nhân dân thế giới...”.
Hiện
nay, chúng ta đang tiếp tục tăng cường thế và lực, phát huy sức mạnh của dân
tộc theo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, bao gồm cả sức mạnh vật chất và tinh
thần; cả vị trí chiến lược quan trọng ở khu vực và các giá trị lịch sử, truyền
thống, văn hóa, lòng yêu nước, tinh thần cần cù lao động và ý chí quật cường
của dân tộc Việt Nam... Đồng thời, Đảng ta chủ trương kết hợp sức mạnh đó với
sức mạnh thời đại là các trào lưu tiến bộ chính trên thế giới, cuộc cách mạng
công nghiệp 4.0 và nền kinh tế tri thức, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập
quốc tế, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển, đổi mới mô hình tăng trưởng...
Sau đại dịch SARS-CoV-2, Đảng và Chính phủ đang tận dụng tối đa khả năng các
nước và tập đoàn kinh tế lớn chuyển hướng tới thị trường Việt Nam; đồng thời,
tiếp tục thu hút nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cho sự
phát triển đất nước.
Tư tưởng yêu chuộng hoà bình, chống chiến tranh xâm
lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên định thực hiện mục tiêu cao
cả nhất của cách mạng là hòa bình, độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, chống
chiến tranh xâm lược với tinh thần: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định
không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Trong khi kiên quyết giữ
vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự xâm lược, đô hộ của
ngoại bang, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên trì đường lối hòa bình, hữu nghị,
hợp tác với các nước, trước hết là các nước lớn và các nước láng giềng, qua đó
đã thu hút được sự đoàn kết và ủng hộ của đông đảo nhân dân trên thế giới, ngay
cả nhân dân của các nước xâm lược từ bản xứ.
Trong
bối cảnh hiện nay, xu hướng chung của thế giới và khu vực vẫn là hòa bình, ổn
định, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển. Tuy nhiên, tình hình thế
giới có những thay đổi nhanh chóng, phức tạp, khó lường với những bất ổn như
xung đột ở Trung Đông, châu Phi, chủ nghĩa khủng bố, cạnh tranh chiến lược giữa
các nước, chủ nghĩa đơn phương, chính trị cường quyền, thiếu tôn trọng luật
pháp quốc tế, khiến thế giới đang phải đối mặt với nhiều vấn đề an ninh phi
truyền thống, đòi hỏi Đảng và Chính phủ ta phải vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ
Chí Minh trong các đối sách ngoại giao và hợp tác quốc tế.
Tư tưởng hòa hiếu, thêm bạn bớt thù. Từ
hoàn cảnh cách mạng, có lúc phải đối phó với nhiều đối thủ, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã nêu bật phương châm“... làm cho nước mình ít kẻ thù và nhiều bạn
đồng minh hơn hết”. Bác Hồ và Đảng ta phân biệt rõ bạn, thù, bạn gần, bạn
xa, bạn lâu dài, bạn nhất thời, tìm cách giảm bớt kẻ thù, để tập trung đấu
tranh với kẻ thù chính. Ngay khi còn trong nhà tù ở Trung Quốc (1942-1943), Bác
Hồ đã bày tỏ đoàn kết với phong trào chống thực dân của Ấn Độ. Năm 1944, Người
đích thân đưa Trung úy phi công W. Shaw đi Côn Minh trao trả cho Mỹ, qua đó để
Mỹ hiểu cuộc chiến đấu của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh. Người
cũng giáo dục nhân dân ta phân biệt rõ bạn, thù, phân biệt thực dân Pháp và đế
quốc Mỹ với nhân dân Pháp và nhân dân Mỹ để tranh thủ sự đoàn kết và ủng hộ của
họ, cô lập và chĩa mũi nhọn đấu tranh vào thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Đề
cao tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta chủ trương tiếp tục kiên trì nguyên tắc giữ
vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, đồng thời nêu cao tinh thần hòa hiếu
với tất cả các nước, đặc biệt các nước lớn và láng giềng; vận dụng phương châm
mà Bác Hồ đã chỉ đạo là “biến đại sự thành tiểu sự, tiểu sự thành vô sự”, cố
gắng không để bùng phát những vấn đề gây cấn, bất lợi trong quan hệ, ảnh hưởng
đến hòa bình, ổn định, an ninh, hợp tác và phát triển của ta.
Do
quan hệ quốc tế phức tạp, đa chiều, lợi ích các quốc gia, dân tộc nhiều khi đan
xen hoặc đối lập, Đảng ta đã có cách nhìn nhận biện chứng với phương châm “gác
lại quá khứ, hướng tới tương lai”; xác định đồng minh, đối thủ là bộ phận quan
trọng trong sách lược cách mạng, giúp xử lý hiệu quả các mâu thuẫn, thu hút sự
ủng hộ của bạn bè và cô lập kẻ thù. Tính biện chứng còn được thể hiện ở chỗ xác
định rõ các khái niệm “đối tác”, “đối tượng” nhằm phân biệt rõ “đối tác” cần
hợp tác và “đối tượng” cần đấu tranh trong từng trường hợp cụ thể. Đảng và Nhà
nước ta cũng đã thực hiện tốt các chủ trương từ “thêm bạn, bớt thù” trước đây
đến “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng
đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập, hợp tác và phát triển”. Tư tưởng
đó đã phát huy hiệu quả, đưa vai trò và vị thế quốc tế của Việt Nam lên một tầm
cao mới.
Tư tưởng mở cửa và hợp tác quốc tế. Chủ
tịch Hồ Chí Minh luôn thấu hiểu tầm quan trọng của việc mở cửa và hợp tác quốc
tế, ngay đầu tháng 12-1946, trong Lời kêu gọi gửi Liên hợp quốc, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã khẳng định: “Đối với các nước dân chủ, Việt Nam sẵn sàng thực thi
chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực”; đón nhận đầu tư của các nhà
tư bản và công nghệ nước ngoài; mở rộng các hải cảng, sân bay và đường sá giao
thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế; chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp
tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc...
Thấm
nhuần tư tưởng của Người, Đảng ta đã đề ra và kiên trì thực hiện chủ
trương mở cửa và hợp tác quốc tế. Nghị quyết số 22- NQ/TW
(10-4-2013) của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, “Chiến lược tổng thể về hội
nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” và Nghị quyết số 06-NQ/TW
(5-11-2016) của Ban Chấp hành TƯ khóa XII về thực hiện có hiệu quả tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh Việt
Nam hội nhập ngày càng sâu rộng, tham gia hàng chục hiệp định kinh tế và FTA
thế hệ mới cả song phương, khu vực và đa phương thể hiện rõ chủ trương lớn của
Đảng về công tác đối ngoại.
Quá
trình mở cửa, hội nhập quốc tế của Việt Nam được đẩy mạnh cả về tư duy và thực
tiễn, đã chuyển mạnh từ phạm vi “hội nhập kinh tế” sang “hội nhập toàn diện”
với các nội dung chủ yếu là: hội nhập về kinh tế, chính trị, quốc phòng-an
ninh, văn hóa - xã hội, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và các lĩnh
vực khác như lao động, y tế, thể thao... Trong hợp tác chính trị và quốc phòng
- an ninh, Việt Nam đã tích cực tham gia các cơ chế như Cộng đồng Chính trị -
An ninh ASEAN (APSC), Hiệp ước thân thiện và hợp tác ASEAN (TAC, 1976), Hiệp
ước Khu vực phi vũ khí hạt nhân Đông Nam Á (SEANWFZ, 1995) cũng như các cơ chế
Đối thoại về an ninh như Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc
phòng ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+), Hội
nghị Cấp cao Đông Á (EAS).
Tư tưởng “Ngoại giao là một mặt trận”. Lịch
sử đấu tranh của dân tộc ta chống các kẻ thù xâm lược mạnh hơn gấp nhiều lần đã
hình thành nên nghệ thuật kết hợp giữa ba hình thức đấu tranh: chính trị, quân
sự và ngoại giao. Trong đó, ngoại giao là một mặt trận, là một trong những nội
dung cốt lõi. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Dùng binh giỏi nhất là đánh bằng
mưu. Thứ hai đánh bằng ngoại giao. Thứ ba mới là đánh bằng binh”, và cũng theo
quan điểm của Người: “Sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là một vấn đề cần yếu
cho một nước độc lập”. Trên thực tế, đấu tranh ngoại giao khôn khéo có thể
tránh được xung đột hay chiến tranh hoặc có thể “lấy ít địch nhiều, lấy yếu
thắng mạnh”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh “ngoại giao ai thuận lợi
hơn, thì thắng” và “có thể thắng trước kẻ thù xâm lược mạnh hơn ta nhiều
lần”.
Trong
công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, nước ta đã duy trì được hòa
bình, ổn định, nguy cơ chiến tranh bị đẩy lùi nhưng công tác đối ngoại vẫn có
vai trò to lớn trong xử lý các vấn đề quốc tế. Đảng và Nhà nước ta tiếp tục đề
cao tầm quan trọng của mặt trận đối ngoại, kết hợp chặt với mặt trận chính trị
và bảo vệ quốc phòng - an ninh, tạo sức mạnh tổng hợp, giữ gìn hòa bình, ổn
định và thúc đẩy hợp tác phát triển. Mặt trận đối ngoại luôn được triển khai
chủ động, tích cực và toàn diện gồm ngoại giao chính trị, ngoại giao quốc phòng
- an ninh, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa. Trong đó, ngoại giao cùng
với quốc phòng, an ninh “tạo thành thế chân kiềng vững chắc, tiếp tục đóng góp
chủ động, tích cực vào việc bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước
còn chưa nguy, phục vụ thiết thực các lợi ích an ninh, phát triển, nâng cao vị
thế đất nước”.
Tư tưởng “dĩ bất biến ứng vạn biến” như một phương
pháp, phong cách và nghệ thuật đối ngoại của Hồ Chí Minh. Truyền
thống đấu tranh ngoại giao của cha ông ta đã hình thành một phương cách ứng xử
kiên trì về nguyên tắc nhưng linh hoạt, mềm mỏng, khéo léo về sách lược. Chủ
tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Mục đích bất di bất dịch của chúng ta vẫn là hoà
bình, thống nhất, độc lập, dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng
sách lược của ta thì linh hoạt”. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên trì giữ vững
mục tiêu cách mạng, đồng thời ứng phó linh hoạt, phù hợp với mọi sự biến chuyển
nhanh chóng và khó lường của tình hình, tương quan và tập hợp lực lượng, ý đồ
của các nước lớn…
Trong
bối cảnh mới, việc vận dụng tư tưởng “dĩ bất biến ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ
Chí Minh vẫn là một yêu cầu quan trọng. Cái “bất biến” vẫn là lợi ích quốc gia,
dân tộc, mà cốt lõi là độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh
thổ và biển đảo của Tổ quốc, chế độ XHCN, vai trò và quyền lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam. Cái “vạn biến” là sự biến chuyển nhanh chóng, khó lường của
tình hình, sự điều chỉnh chiến lược và chính sách của các nước, của tương quan
và tập hợp lực lượng, sự chuyển hóa của “đối tác”, “đối tượng”… Đảng và Nhà
nước ta đã và đang kiên trì nguyên tắc bất biến là “thực hiện nhất quán đường
lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển”, đồng thời tiếp
tục thực hiện đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, xác định đúng đắn
một cách biện chứng về “đối tác” và “đối tượng” trong từng vấn đề thuộc lợi ích
quốc gia, dân tộc để kịp thời đề ra những chính sách, biện pháp hợp tác và đấu
tranh phù hợp và hiệu quả.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã đạt được những
thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp giành độc lập dân tộc, giải phóng và thống
nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những thành tựu vĩ đại của dân tộc
có phần đóng góp hết sức quan trọng của công tác ngoại giao. Ngoại giao Việt
Nam đã luôn đồng hành cùng dân tộc trong mọi giai đoạn cách mạng. Ngày nay,
trong bối cảnh tình hình mới, ngoại giao Việt Nam tiếp tục vận dụng sáng tạo tư
tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại, đi tiên phong kiến tạo môi trường hòa bình, an
ninh, ổn định, hợp tác và kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời
đại nhằm phục vụ hiệu quả nhất cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng
cao uy tín và vị thế quốc tế của Việt Nam.
Cảnh báo nguy cơ về "Lợi ích nhóm" và chủ nghĩa tư bản thân hữu
Lợi ích chính đáng (của một
người, một nhóm) là lợi ích phù hợp với lợi ích chung của quốc gia, dân tộc,
góp phần và bổ trợ cho lợi ích chung; không mâu thuẫn, không gây thiệt hại cho
lợi ích chung. Lợi ích chính đáng luôn là mục tiêu và động lực đối với hoạt
động của con người, cần được tôn trọng, bảo vệ và khuyến khích. Quên điều này,
không quan tâm đến lợi ích chính đáng của con người, ngăn cản các lợi ích chính
đáng ấy, thì sự lãnh đạo và quản lý xã hội không thể thành công, trước sau cũng
nhất định thất bại.
Ngược lại, “lợi
ích nhóm” (theo nghĩa tiêu cực) thì mâu thuẫn với lợi ích chung của quốc gia,
dân tộc; gây hại cho lợi ích chung, cho cộng đồng, làm suy yếu và gây tổn thất
nghiêm trọng đối với lợi ích chung. “Lợi ích nhóm” là nguyên nhân trực tiếp dẫn
đến việc hình thành các “nhóm lợi ích”. Đặc điểm của các “nhóm lợi ích” là có
sự kết hợp cùng mục tiêu lợi ích, cùng hành động, cùng phân chia lợi ích, giữa
những người có nhiều tiền với những người có quyền lực trong nhà nước và trong
Đảng cầm quyền. Có tiền chuyển hóa thành có quyền lực. Có quyền lực chuyển hóa
thành có tiền. Người có tiền sẽ có quyền lực và người có quyền lực sẽ có tiền.
Họ cùng nhau hành động để có quyền lực và có tiền ngày càng nhiều hơn. Đồng
tiền cộng với quyền lực tạo thành sức mạnh khống chế, lũng đoạn tổ chức và xã
hội. Nhận thức sự quan trọng của thông tin, “nhóm lợi ích” còn móc nối, “kết
nạp”, kết hợp với một số nhóm truyền thông không lành mạnh để tác động chi phối
dư luận theo hướng có lợi cho “nhóm lợi ích” và xuyên tạc vu cáo những người,
những doanh nghiệp không cùng nhóm để tranh quyền lực và lợi ích. “Lợi ích
nhóm” sẽ kéo theo và song hành với tham vọng quyền lực cùng với tham vọng tiền
bạc.
Ở nước ta, trong
lãnh đạo, người đầu tiên công khai hóa và nêu lên sự cần thiết phải đấu tranh
với “lợi ích nhóm” là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đồng chí đã phát biểu tại
Hội nghị Trung ương 3 (khóa XI), và sau đồng chí, một vài đồng chí lãnh đạo
khác của Đảng và Nhà nước cũng có nói đến, mặc dù chỉ mới thoáng qua và nhìn
chung, chưa có chỉ đạo gì quyết liệt trong việc ngăn ngừa, phòng chống “lợi ích
nhóm”. Trong giới khoa học của Việt Nam đã có một số nghiên cứu, nhưng chưa
nhiều, và mới ở dạng lý thuyết chung, chưa gắn với thực tế tình hình nước ta.
Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã có nhiều tài liệu nghiên cứu vấn đề này,
gắn với quá trình phát triển của một số quốc gia. Nghị quyết Hội nghị Trung
ương 4 khóa XI của Đảng Cộng sản Việt Nam về “Một số vấn đề cấp bách về xây
dựng Đảng hiện nay” đã xác định nhiệm vụ quan trọng phải đấu tranh chống “lợi
ích nhóm”.
Hiện nay, “lợi
ích nhóm” và hoạt động của “nhóm lợi ích” ở nước ta đã và đang diễn ra ở hầu
hết các lĩnh vực quan trọng. Đó là trong quản lý doanh nghiệp nhà nước, quản lý
dự án đầu tư, nhất là đầu tư công; trong quản lý ngân sách, thuế, quản lý ngân
hàng-tín dụng; trong quản lý các nguồn vốn và chương trình đầu tư về xã hội,
trong quản lý tài sản, đất đai, bất động sản, tài nguyên khoáng sản, xuất nhập
khẩu; trong công tác cán bộ, quản lý biên chế; trong quản lý các loại cấp giấy
phép; kể cả trong các vụ án, trong tham mưu về chủ trương, chính sách và trong
điều hành. Đi sâu vào nghiên cứu các vụ tiêu cực, tham nhũng có tổ chức, các vụ
việc mà dư luận có nhiều ý kiến thì sẽ có nhiều thông tin cụ thể về tình hình
“lợi ích nhóm” ở Việt Nam. Tức là tình hình xấu đã lan rộng, khá phổ biến và
khá ngang nhiên, nghiêm trọng đến mức báo động.
“Lợi ích nhóm”
và “nhóm lợi ích” có tác hại gì? Trước nhất là nó làm cho đất nước bị tổn thất
các nguồn lực và giảm hiệu quả đầu tư, bị kìm hãm không thể phát triển nhanh,
thậm chí không thể phát triển bình thường, mất sức sống, nền kinh tế sẽ bị
khiếm khuyết, dị tật, kinh tế “ngầm”, thị trường “ảo”, chụp giật, hoang dã,
khống chế và “thanh toán” lẫn nhau để giành độc quyền, làm hỏng môi trường phát
triển lành mạnh và bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp. Hầu hết các nước bị
“bẫy” thu nhập trung bình kéo dài nhiều thập kỷ, thậm chí kéo dài hàng thế kỷ,
loay hoay mãi, lùng nhùng mãi, không làm sao thoát ra được để trở thành một
quốc gia phát triển, là do “lợi ích nhóm” – nguyên nhân trực tiếp và hàng đầu.
Với sự chi phối của các “nhóm lợi ích”, nguồn lực quốc gia bị phân bổ và sử
dụng không vì lợi ích chung của quốc gia, mà nhằm hướng phục vụ cho “lợi ích
nhóm”; việc bố trí đầu tư, sắp xếp dự án và kể cả ban hành chính sách, điều
hành xử lý công việc cũng vậy.
Nước ta sau mấy
chục năm công nghiệp hóa, đến nay năng suất lao động xã hội vẫn quá thấp, vào
loại thấp nhất khu vực Đông Á, hiệu quả đầu tư rất kém, nợ nần nhiều mà chưa rõ
trả bằng cách nào, khi mà hiệu quả đầu tư (sử dụng nguồn vay ấy) quá kém; thu
nhập rất thấp, sản phẩm công nghiệp xuất khẩu hầu như không có, các chương
trình nội địa hóa không thành công, chủ yếu là làm thuê và cho thuê mặt bằng,
nền kinh tế Việt Nam đang rơi vào “bẫy” thu nhập trung bình thấp. Nhìn lại
nguyên nhân các nước bị “bẫy” thu nhập trung bình và nhìn lại tình hình nền
kinh tế của ta thì đáng lo ngại.
Hậu quả thứ hai
do “nhóm lợi ích” gây ra là nhất định sẽ chệch hướng khỏi mục tiêu xã hội chủ
nghĩa chân chính (và cũng xa lạ với chủ nghĩa tư bản hiện đại), đất nước đi
theo một con đường khác, sang CNTB thân hữu, đó là con đường không có tiền đồ
và nguy hiểm, không có tự do và dân chủ (vì bị nhóm lợi ích độc quyền về kinh
tế và chính trị thâu tóm, lũng đoạn), để lại hậu quả lâu dài mà dân tộc phải
gánh chịu. Chúng ta mong muốn xây dựng một xã hội trên nền tảng của các giá trị
nhân cách thì “nhóm lợi ích” lại thúc đẩy đồng tiền cộng với quyền lực chiếm
địa vị thống trị. Thực chất “nhóm lợi ích” là đồng tiền (tư bản) chi phối quyền
lực, trực tiếp tham gia giành và chiếm giữ quyền lực, làm cho quyền lực không
còn là của nhân dân, cũng có nghĩa là chệch khỏi mục tiêu XHCN (chân chính).
“Lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích” có từ rất sớm, ít nhất là từ buổi đầu của thời
kỳ phong kiến; nhưng sang thời kỳ TBCN thì nó phát triển và diễn biến phức tạp
hơn, kể cả trình độ, quy mô và tính chất. Trong Chủ nghĩa tư bản “hoang dã”,
“mông muội”, các “nhóm lợi ích” hoạt động phổ biến, công khai, tích lũy và tập
trung tư bản bằng mọi thủ đoạn, kể cả bạo lực và giết người.
Nhân đây, trước khi nói đến hậu quả thứ
ba do “nhóm lợi ích” gây ra, xin nói rõ hơn về CNTB thân hữu. Suốt mấy trăm năm
nay, qua quá trình cạnh tranh, qua đấu tranh xã hội, chịu sự tác động của các
quy luật khách quan về kinh tế và xã hội, CNTB buộc phải liên tục điều chỉnh,
nhờ vậy mà tiến bộ dần. Ngày nay CNTB hiện đại đã có những tiến bộ đáng ghi
nhận; họ đã tạo ra nhiều thành tựu và một số nước phát triển cao, tính chất xã
hội hóa cao hơn, đang dần dần từng bước tạo ra các nhân tố mới của xã hội tương
lai (XHCN). Đồng thời với quá trình tiến hóa tự nhiên ấy, trong thực tiễn thế
giới tư bản còn xuất hiện một khuynh hướng khác, một khuynh hướng không lành
mạnh, không bình thường, một khuynh hướng tha hóa, đó là CNTB thân hữu, một
loại hình nguy hại cho sự phát triển của các quốc gia. Nước nào rơi vào “CNTB
thân hữu” thì không ngóc đầu lên được. CNTB thân hữu thực chất là sự bành
trướng, biến dạng, biến tướng, sự thoái hóa cao độ của “nhóm lợi ích” gây ra.
Đây là một loại hình rất lạc hậu, khác xa so với CNTB hiện đại (CNTB hiện đại
cũng có nhiều mặt tiến bộ, mà chúng ta cần nghiên cứu để học tập kinh nghiệm
của họ) và tất nhiên là càng xa lạ với CNXH văn minh.
CNTB thân hữu
còn có các cách gọi khác nhau, là “CNTB lợi ích”, “CNTB bè phái”, “CNTB bè
cánh”, “CNTB lũng đoạn”… CNTB thân hữu không phải là một giai đoạn của CNTB, mà
là một hiện tượng, một khuyết tật, một sự tha hóa của CNTB. Đây là loại hình
“phát triển” mà trong đó các doanh nghiệp dựa vào ưu thế về mối quan hệ với
những người có quyền lực để tạo ra nguồn thu tài chính cho cá nhân và đơn vị
mình. Các doanh nghiệp này tập trung đầu tư vào “quan hệ”, vào “quan chức” để
từ đó mà dùng quyền lực tạo ra lợi nhuận siêu ngạch. Đặc trưng của “CNTB thân
hữu” là có sự cấu kết, xâm nhập lẫn nhau giữa nhóm đặc quyền kinh tế và nhóm
đặc quyền chính trị, người kinh doanh cũng đầu tư vào quyền lực và người có
quyền lực cũng tham gia “kinh doanh”, làm quan chức để làm giàu, họ cùng nhau
bóc lột “mềm” toàn xã hội, bóc lột cả dân tộc, họ thâu tóm các nguồn tài chính,
của cải và thâu tóm quyền lực chính trị, biến bộ máy nhà nước thành công cụ của
một nhóm người (nhân danh nhà nước và đảng cầm quyền) thực hiện độc quyền kinh
tế kết hợp với độc quyền chính trị. Nói họ thực hiện bóc lột “mềm” là vì không
có hình thức tổ chức sản xuất – kinh doanh cụ thể để trực tiếp bóc lột giá trị
thặng dư của lao động, sự bóc lột của họ tinh vi hơn, nhưng tai hại hơn, gây
hậu quả rất nghiêm trọng. Sự bóc lột ấy thực hiện thông qua các dự án, các
chương trình đầu tư; thông qua các cơ chế, chính sách (không phục vụ cho toàn
xã hội mà phục vụ cho một nhóm người) và thông qua cách điều hành, cách quản lý
mập mờ, không minh bạch, gây tiêu cực, tham nhũng… Họ thu lợi thông qua các
công ty “sân sau”, công ty con, công ty cháu, công ty nhánh của gia đình, của
“cánh hữu”. Nó ra đời trong (và gắn với) CNTB “man rợ”, CNTB “dã man”, chứ
không phải CNTB văn minh.
Rất đáng lưu ý
là, “CNTB thân hữu” không chỉ có trong xã hội tư bản (yếu kém và tha hóa) mà
còn có trong các xã hội khác, ở các nước mới bắt đầu vận hành nền kinh tế theo
mô hình kinh tế thị trường, khi mà ở đó “lợi ích nhóm”, “nhóm lợi ích”, “lợi
ích bè phái”, “tính thân hữu vì lợi ích” đang nổi lên và hoành hành; khi mà
đảng cầm quyền cùng nhà nước do nó lãnh đạo bị suy thoái về đạo đức, tham nhũng
trở nên phổ biến và pháp luật không được tuân thủ trong sự quản lý đất nước,
quản lý xã hội (tức là trình độ quản trị quốc gia yếu kém). Thực tiễn thế giới
cho thấy, CNTB thân hữu kìm hãm sự phát triển của quốc gia, làm cho đất nước
rơi vào “bẫy” thu nhập trung bình hàng thế kỷ không ra được, làm băng hoại đạo
đức xã hội (do lệch chuẩn giá trị); làm méo mó, biến dạng các chủ trương đường
lối; gây nên các khuyết tật của nền kinh tế và của xã hội, để hậu quả lâu dài.
CNTB thân hữu xuất phát từ các nguyên nhân, nguồn gốc: “Lợi ích nhóm” tiêu cực,
các dạng Maphia, tham nhũng có tổ chức, sự suy thoái đạo đức của cán bộ có chức
quyền, không có cơ chế kiểm soát quyền lực, để quyền lực tha hóa và không có cơ
chế tốt để dân làm chủ, để nhân dân có quyền lực thật sự, trình độ và năng lực
quản trị quốc gia yếu kém, luật pháp còn nhiều kẽ hở và việc chấp hành pháp
luật không nghiêm, bảo kê, bao che và dung túng cho các sai phạm. Ở đâu và khi
nào mà “nhóm lợi ích” không bị ngăn chặn có hiệu lực, hiệu quả, mà để nó phát
triển mạnh, lan tràn, hoành hành, vai trò của nhà nước lành mạnh bị vô hiệu
hóa, thì ở đó, tất yếu sẽ kéo theo, CNTB thân hữu xuất hiện và tồn tại, không
thể tránh được, không thể khác được, dù có muốn hay không.
Lâu nay Đảng ta
đã nhiều lần lưu ý nguy cơ chệch hướng. Nếu chệch hướng thì sẽ chệch đi đâu?
Chắc không thể trở lại chế độ phong kiến, vì trình độ phát triển đã vượt qua.
Cũng không thể chệch sang CNTB phát triển văn minh, vì trình độ phát triển của
nước ta chưa đạt đến, và nếu vậy thì có ý kiến cho rằng cũng không đáng sợ, bởi
chúng ta sẽ gần hơn với CNXH. Khả năng lớn nhất, hiện hữu, và cũng đáng sợ
nhất, nguy hiểm nhất, là chệch hướng sang CNTB thân hữu, con đường nguy hại cho
sự phát triển của quốc gia, dân tộc, đồng thời cũng nguy hại cho chế độ chính
trị xã hội.
Trở lại hậu quả
của “nhóm lợi ích”. Hậu quả thứ ba do “nhóm lợi ích” gây ra là sự suy đồi về
văn hóa, đạo đức xã hội, do hệ giá trị bị đảo lộn (đồng tiền và quyền lực chiếm
vị trí trung tâm và cao nhất, trong khi nhân cách bị đẩy sang bên cạnh và xuống
hàng thứ yếu) và do tha hóa quyền lực (tác nhân mạnh nhất). Việc phân hóa giàu
– nghèo sẽ ngày càng lớn, tạo ra bất bình đẳng và mâu thuẫn xã hội. Hỏng văn
hóa và gây ra mâu thuẫn xã hội thì hậu quả khôn lường, thâm sâu và lan tỏa rộng
trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, ảnh hưởng đến nền tảng xã hội và
sức mạnh nội sinh của dân tộc.
Hậu quả thứ tư
do “nhóm lợi ích” gây ra là làm lẫn lộn thật - giả, đúng - sai, khác nhau giữa
lời nói và việc làm, đường lối đúng không vào được cuộc sống…; làm mất lòng tin
của nhân dân đối với Đảng cầm quyền và đối với nhà nước, tức là làm hỏng nền
tảng chính trị, dẫn đến mất ổn định chính trị, mất sức mạnh của một quốc gia,
và từ đó các thế lực xâm lăng từ bên ngoài có thể lợi dụng thời cơ để xâm lấn,
chèn ép, dẫn đến nguy cơ mất độc lập, thậm chí là mất nước.
Hậu quả thứ năm
do “nhóm lợi ích” gây ra là chính sách sử dụng cán bộ méo mó, phát triển nạn
chạy chức chạy quyền, “buôn quan”, “buôn vua”, sắp xếp cán bộ trên cơ sở “quan
hệ, tiền tệ, hậu duệ”, chứ không phải sử dụng người có tài đức, làm hư hỏng đội
ngũ cán bộ; là sự phát triển, sự gia tăng các hoạt động bè phái, mất đoàn kết
nội bộ, phá vỡ các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng cầm quyền, từ đó
dẫn đến Đảng cầm quyền mất vai trò lãnh đạo, tan rã hoặc bị “nhóm lợi ích” thâu
tóm làm thay đổi hoàn toàn về bản chất, không còn là Đảng phục vụ nhân dân, và
nhà nước cũng hư hỏng, biến chất, không còn là nhà nước của dân, mà thành bộ
máy cai trị, tham nhũng và bóc lột nhân dân, từ đó, nòng cốt chính trị đổ vỡ,
bất ổn định chính trị từ bên trong.
Tình hình “nhóm
lợi ích” ở Việt Nam đã đến mức độ nào? đang và sẽ đi về đâu? Như chúng ta đã
biết, trước đây, trong lịch sử nhiều lần các triều đại phong kiến Việt Nam phải
sụp đổ, kể cả có lúc phải chia cắt đất nước là do “nhóm lợi ích” gây nên. Ngày
nay, tuy chưa có các công trình nghiên cứu cấp quốc gia một cách thật đầy đủ và
khoa học về “lợi ích nhóm ở Việt Nam”, tuy nhiên, qua thông tin, qua dư luận xã
hội, qua nghiên cứu của một số chuyên gia và cảm nhận của nhiều người, thì tình
hình “lợi ích nhóm” đã khá nghiêm trọng, tương đối phổ biến, ở cấp nào cũng có,
cấp cao hơn thì bệnh nặng hơn, ở lĩnh vực nào cũng có, kể cả ở những nơi mà xưa
nay trong tiềm thức xã hội thường cho rằng đó là nơi luôn trang nghiêm, trong
sạch. “Lợi ích nhóm” cũng chính là một kiểu tham nhũng nghiêm trọng nhất, tham
nhũng có tổ chức. Mặc dù Đảng và nhà nước ta đã có nhiều cố gắng trong đấu
tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực, nhưng thực tế xã hội vẫn diễn ra một
tình hình rất đáng lo ngại là ở nước ta đang có nguy cơ chuyển biến dần dần
sang “CNTB thân hữu”, do hoạt động của “nhóm lợi ích” gây nên. Thậm chí có ý
kiến cho rằng nước ta đã rơi vào trong CNTB thân hữu rồi(?). Ở các nước, việc
quản lý nhà nước và việc điều hành kinh tế tách biệt rành mạch, và ở họ doanh
nghiệp nhà nước cũng ít hơn ta. Còn ở ta, với đặc điểm cơ quan nhà nước vừa
quản lý về mặt nhà nước, vừa trực tiếp điều hành kinh tế, doanh nghiệp nhà nước
nhiều, lại yếu kém trong quản lý, không ít trường hợp đằng sau cái vỏ doanh
nghiệp nhà nước là tư nhân núp bóng, vì vậy, đề phòng “lợi ích nhóm” ở Việt Nam
còn phức tạp hơn các nước, nếu không đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả. Đây là
nguy cơ lớn nhất đang hiện hữu dần, đe dọa sự phát triển lành mạnh của đất nước
và sự tồn vong của chế độ theo định hướng XHCN (lành mạnh). Nguy cơ này bao
trùm, đáng lo hơn bất kỳ sự đe dọa nào, tác động chi phối chính, làm trầm trọng
các nguy cơ khác, tạo điều kiện cho các nguy cơ khác phát triển và gây tác hại.
Đây là điểm lớn nhất, cốt lõi nhất của cuộc đấu tranh về quan điểm lập trường;
là trọng tâm trong chống “tự diễn biến”. Nếu Đảng và Nhà nước ta không ngăn
chặn được hoạt động của “nhóm lợi ích”, để nó tiếp tục phát triển, dẫn đến lũng
đoạn ngày càng lớn hơn thì sự phát triển của đất nước bị nguy khốn và chế độ
chính trị cũng biến chất, cũng thay đổi theo chiều hướng xấu, chắc chắn không
còn là con đường XHCN chân chính nữa, mà sẽ là nơi phát triển CNTB thân hữu,
mong muốn của hàng triệu đảng viên cộng sản và nhân dân đã chiến đấu và hy sinh
xương máu sẽ trở nên xa vời và vô vọng, mong muốn thiết tha của Bác Hồ cũng
không thực hiện được, Đảng chân chính sẽ không còn và Nhà nước sẽ biến chất,
dân tộc sẽ bị bóc lột, bị tước đoạt quyền lực và tài sản của cải, chế độ xã hội
sẽ là một chế độ không có dân chủ và tự do, không có bình đẳng. Lúc này, hơn
lúc nào hết, các cấp ủy và toàn Đảng phải nhận thức rõ nguy cơ và quyết tâm bảo
vệ quyền lợi dân tộc, thành quả cách mạng và bảo vệ chính Đảng ta, không để
Đảng bị “nhóm lợi ích” và CNTB thân hữu thao túng, làm hư hỏng, biến chất, dẫn
đến đổ vỡ.
Chống “lợi ích nhóm” là công việc hết
sức khó khăn, phức tạp, vì không rõ “chiến tuyến”, thường ở trong trạng thái
lẫn lộn trắng đen, trong nó có ta và trong ta có nó, vừa là ta lại vừa là nó.
Ngoài việc cần nhận thức đầy đủ và sâu sắc tình hình và nguy cơ, cần thảo luận
rộng rãi trong Đảng và trên công luận; Đảng và cả hệ thống chính trị phải kiên
quyết đấu tranh chống “lợi ích nhóm”, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, hết sức hệ
trọng và cấp bách; tập thể lãnh đạo từ cấp cao nhất cần có quyết tâm chính trị
và thật sự gương mẫu trong việc đấu tranh chống “lợi ích nhóm”, sử dụng tất cả
các biện pháp có thể; khẩn trương nghiên cứu ban hành bổ sung, điều chỉnh các
cơ chế kiểm soát quyền lực (bằng quyền lực nhà nước, bằng quyền lực của nhân
dân và bằng công luận); cơ chế thực thi dân chủ rộng rãi, minh bạch thông tin
và qui định rõ trách nhiệm giải trình, điều trần; tạo hành lang pháp lý chặt
chẽ cho báo chí vào cuộc, cho nhân dân thực hiện quyền tham chính; đổi mới căn
bản công tác cán bộ, thực hiện tranh cử trước nhân dân đối với các chức danh
bầu cử và thi tuyển công khai đối với các chức vụ quản lý, đồng thời thực hiện
cơ chế giám sát hoạt động, kết quả công việc, thi hành việc bãi miễn và thay
đổi vị trí công tác của cán bộ khi xét thấy không có lợi cho cuộc đấu tranh
chống “lợi ích nhóm”.